Triết học Mác ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX là tính tất yếu khách quan đã đặt nền móng cho thành tựu tư tưởng vĩ đại của nhân loại. Kế thừa những thành tựu của các nhà duy vật trong lịch sử, đặc biệt là quan điểm của C. Mác và Ph. Ăng-ghen, Lê-nin phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin đã trở thành một học thuyết khoa học, cách mạng và nhân văn khi đề ra mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người và chỉ rõ lực lượng, con đường, phương thức nhằm đạt được mục tiêu đó. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, con người không chỉ là kết quả của sự tiến hoá cao nhất của tự nhiên và của sự phát triển xã hội, mà con người còn là chủ thể tích cực của mọi hoạt động, là chủ thể thực sự của các quá trình xã hội và là chủ thể sáng tạo duy nhất quyết định sự phát triển của xã hội. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tâm niệm con người là vốn quý nhất, là yếu tố quyết định thắng lợi của cách mạng, là người sáng tạo ra lịch sử các giá trị văn hoá, tinh thần. Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của tiến trình cách mạng. Vì lẽ đó, khi kiến tạo một xã hội mới, theo quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trước hết phải tích cực, chủ động xây dựng những con người, những nhân cách cho xã hội đó. Xã hội nào cũng có những con người đại diện cho nó. Xã hội phong kiến ở Việt Nam, có những nhân cách kẻ sĩ, bậc trượng phu, người quân tử làm nòng cốt xây dựng xã hội ấy. Xã hội tư sản đã coi các thương gia, nhân sĩ các nhà tư bản là nòng cốt xây dựng xã hội. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mục tiêu phấn đấu của cuộc cách mạng của chúng ta là chủ nghĩa xã hội, vì vậy "muốn có chủ nghĩa xã hội thì trước hết phải xây dựng những con người xã hội chủ nghĩa". Vận dụng các quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin trong tình hình mới trong Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban chấp hành trung ương 8 khóa XI thông qua ngày 4 tháng 11 năm 2013 về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo có nêu rõ mục tiêu tổng quát như sau: “Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân. Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả”. Để hiện thực hóa chủ trương của Đảng và chỉ đạo của nhà nước, Bộ giáo dục – đào tạo đã có nhiều cải tiến như : Tham mưu đầu tư cơ sở vật chất cần thiết cho dạy học hiện đại, đổi chương trình giáo dục, đổi mới kiểm tra đánh giá, đổi mới quản lý giáo dục, quan tâm đến phát triển đội ngũ người lao động trong lĩnh vực giáo dục .vv.. bằng nhiều thông tư và các cuộc vận động đã và đang mang lại sự thay đổi tích cực. Tuy nhiên hiệu quả trong quá trình hoạt động vẫn còn tồn tại một số hạn chế cần khắc phục trong thời gian tới. Trường THPT Việt Yên số 2 là một đơn vị thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, thực hiện nhiệm vụ giáo dục phổ thông và định hướng nghề nghiệp tại huyện Việt Yên. Những năm qua, nhà trường không ngừng phấn đấu xây dựng môi trường giáo dục có chất lượng cao từ đó xây dựng con người mới có đạo đức, tri thức và kỹ năng. Trong giai đoạn hiện nay nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường là nội dung được chi bộ Đảng và tập thể giáo dục nhà trường quan tâm hàng đầu. Chính vì những lí do trên tôi lựa chọn đề tài “ Vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về con người để nhận định tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng giáo dục ở trường THPT Việt yên số 2 trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài nghiên cứu của khóa luận. 2-Mục đích nghiên cứu của đề tài Qua nghiên cứu đề tài chúng ta thấy được tính đúng đắn và thực tiễn của chủ nghĩa Mác – Lênin còn nguyên giá trị trong công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. Sự kết hợp giữa thực tiễn và lý luận trong quá trình giáo dục con người mới tại trường THPT Việt Yên số 2 đã đánh giá khách quan những kết quả đã đạt được và đưa ra các biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo. 3-Đối tượng, phạm vi và giới hạn đề tài 3.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài Nghiên cứu quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và thực trạng công tác giáo dục ở Trường THPT Việt yên số 2. 3.2. Phạm vi nghiên cứu Thực trạng chất lượng giáo dục tại trường THPT Việt Yên số 2 từ 09/2018 đến 09/2021 và biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục đến năm 2025.
Trang 1MỤC LỤC
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC GIÁO
DỤC Ở TRƯỜNG THPT VIỆT YÊN SỐ 2 GIAI ĐOẠN 2018 - 2021 13 2.1 Đặc điểm chung của huyện Việt Yên 132.2 Đặc điểm chung của trường THPT Việt Yên số 2 14 2.3 Thực trạng hoạt động giáo dục của Trường THPT Việt yên số 2
2.4 Nguyên nhân của những kết quả và tồn tại hạn chế 22Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG
THPT VIỆT YÊN SỐ 2 TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
24
3.2 Phương hướng, mục tiêu cụ thể của trường THPT Việt Yên số 2
trong những năm tới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục 25
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 2Stt Chữ Viết tắt Nội dung
Trang 31-Tính cấp thiết của đề tài
Triết học Mác ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX là tính tất yếu kháchquan đã đặt nền móng cho thành tựu tư tưởng vĩ đại của nhân loại Kế thừa nhữngthành tựu của các nhà duy vật trong lịch sử, đặc biệt là quan điểm của C Mác và Ph.Ăng-ghen, Lê-nin phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin đã trở thành một học thuyết khoahọc, cách mạng và nhân văn khi đề ra mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội,giải phóng con người và chỉ rõ lực lượng, con đường, phương thức nhằm đạt đượcmục tiêu đó Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, con người không chỉ là kếtquả của sự tiến hoá cao nhất của tự nhiên và của sự phát triển xã hội, mà con ngườicòn là chủ thể tích cực của mọi hoạt động, là chủ thể thực sự của các quá trình xã hội
và là chủ thể sáng tạo duy nhất quyết định sự phát triển của xã hội
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tâm niệm con người là vốn quý nhất, làyếu tố quyết định thắng lợi của cách mạng, là người sáng tạo ra lịch sử các giá trị vănhoá, tinh thần Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của tiến trình cách mạng
Vì lẽ đó, khi kiến tạo một xã hội mới, theo quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh,trước hết phải tích cực, chủ động xây dựng những con người, những nhân cách cho xãhội đó Xã hội nào cũng có những con người đại diện cho nó Xã hội phong kiến ởViệt Nam, có những nhân cách kẻ sĩ, bậc trượng phu, người quân tử làm nòng cốt xâydựng xã hội ấy Xã hội tư sản đã coi các thương gia, nhân sĩ các nhà tư bản là nòngcốt xây dựng xã hội Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mục tiêu phấn đấu của cuộc cáchmạng của chúng ta là chủ nghĩa xã hội, vì vậy "muốn có chủ nghĩa xã hội thì trước hếtphải xây dựng những con người xã hội chủ nghĩa"
Vận dụng các quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin trong tình hình mới trongNghị quyết số 29-NQ/TW của Ban chấp hành trung ương 8 khóa XI thông qua ngày 4tháng 11 năm 2013 về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo có nêu rõmục tiêu tổng quát như sau:
“Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo;đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tậpcủa nhân dân Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhấttiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồngbào; sống tốt và làm việc hiệu quả”
Trang 4Để hiện thực hóa chủ trương của Đảng và chỉ đạo của nhà nước, Bộ giáo dục –đào tạo đã có nhiều cải tiến như : Tham mưu đầu tư cơ sở vật chất cần thiết cho dạyhọc hiện đại, đổi chương trình giáo dục, đổi mới kiểm tra đánh giá, đổi mới quản lýgiáo dục, quan tâm đến phát triển đội ngũ người lao động trong lĩnh vực giáo dục vv bằng nhiều thông tư và các cuộc vận động đã và đang mang lại sự thay đổi tích cực.Tuy nhiên hiệu quả trong quá trình hoạt động vẫn còn tồn tại một số hạn chế cần khắcphục trong thời gian tới.
Trường THPT Việt Yên số 2 là một đơn vị thuộc hệ thống giáo dục quốc dân,thực hiện nhiệm vụ giáo dục phổ thông và định hướng nghề nghiệp tại huyện ViệtYên Những năm qua, nhà trường không ngừng phấn đấu xây dựng môi trường giáodục có chất lượng cao từ đó xây dựng con người mới có đạo đức, tri thức và kỹ năng.Trong giai đoạn hiện nay nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường là nội dungđược chi bộ Đảng và tập thể giáo dục nhà trường quan tâm hàng đầu Chính vì những
lí do trên tôi lựa chọn đề tài “ Vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về
con người để nhận định tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng giáo dục ở trường THPT Việt yên số 2 trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài nghiên cứu của
khóa luận
2-Mục đích nghiên cứu của đề tài
Qua nghiên cứu đề tài chúng ta thấy được tính đúng đắn và thực tiễn của chủnghĩa Mác – Lênin còn nguyên giá trị trong công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ởViệt Nam hiện nay Sự kết hợp giữa thực tiễn và lý luận trong quá trình giáo dục conngười mới tại trường THPT Việt Yên số 2 đã đánh giá khách quan những kết quả đãđạt được và đưa ra các biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường tronggiai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo
3-Đối tượng, phạm vi và giới hạn đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về conngười và thực trạng công tác giáo dục ở Trường THPT Việt yên số 2
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 5Thực trạng chất lượng giáo dục tại trường THPT Việt Yên số 2 từ 09/2018 đến09/2021 và biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục đến năm 2025.
4-Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tài liệu : Bằng hình thức đọc tài liệu về hệ thống quanđiểm về con người của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về con ngườimới
Phương pháp thu thập thông tin: Tìm hiểu thông tin trong các Nghị quyết, nghịđịnh, thông tư và các công trình nghiên cứu liên quan
Phương pháp thống kê: Thống kê số liệu từ năm 2018 đến năm 2021 tại trườngTHPT Việt yên số 2
Phương pháp xử lý số liệu, so sánh : Dựa vào các số liệu thực tiễn thu được, xử
lý, so sánh và đánh giá kết quả giữa các năm học nhằm rút ra các kết luận chính xácphù hợp với những nội dung nghiên cứu
5-Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận khóa luận gồm 3 chương và 9 tiết
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG THPT VIỆT YÊN SỐ
2 GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2018 ĐẾN NĂM 2021
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG THPT VIỆT YÊN SỐ 2 GIAI ĐOẠN HIỆN NAY.
B NỘI DUNG
Trang 6Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Quan điểm của các nhà triết học trước Mác về con người
Trong nền triết học Trung Hoa suốt chiều dài lịch sử trên hai ngàn năm cổ trung đại, vấn đề bản tính con người được quan tâm hàng đầu giải quyết vấn đề này,các nhà tư tưởng của Nho gia và Pháp gia đã tiếp cận từ giác độ hoạt động thực tiễnchính trị, đạo đức của xã hội và đi đến kết luận bản tính người là Thiện (Nho gia) vàbản tính người là Bất Thiện (Pháp gia)
-Khác với nền triết học Trung Hoa, các nhà tư tưởng của các trường phái triết học
Ấn Độ mà tiêu biểu là trường phái Đạo Phật lại tiếp cận từ giác độ khác, giác độ suy
tư về con người và đời người ở tầm chiều sâu triết lý siêu hình (Siêu hình học) đối vớinhững vấn đề nhân sinh quan Kết luận về bản tính Vô ngã, Vô thường và tính hướngthiện của con người trên con đường truy tìm sự Giác Ngộ là một trong những kết luậnđộc đáo của triết học Đạo Phật
Trong suốt chiều dài lịch sử triết học phương tây từ Cổ đại Hy Lạp trải qua giaiđoạn Trung cổ, Phục hưng và Cận đại đến nay, những quan niệm về con người trongtriết học vẫn là một đề tài tranh luận chưa chấm dứt
Khi đề cập tới vấn đề con người các nhà triết học đều tự hỏi: thực chất con người
là gì và để tìm cách trả lời câu hỏi đó phải giải quyết hàng loạt mâu thuẫn trong chínhcon người Khi phân tích các nhà triết học cổ đại coi con người là một tiểu vũ trụ, làmột thực thể nhỏ bé trong thế giới rộng lớn, bản chất con người là bản chất vũ trụ Conngười là vật cao quý nhất trong trời đất, là chúa tể của muôn loài Chỉ đứng sau thầnlinh Con người được chia làm hai phần là phần xác và phần hồn Chủ nghĩa duy tâm
và tôn giáo thì cho rằng: Phần hồn là do thượng đế sinh ra; quy định, chi phối mọi hoạtđộng của phần xác, linh hồn con người tồn tại mãi mãi Chủ nghĩa duy vật thì ngược lại
họ cho rằng phần xác quyết định và chi phối phần hồn, không có linh hồn nào là bất tử
cả, và quá trình nhận thức đó không ngừng được phát hiện Càng ngày các nhà triết họccàng tiến sâu hơn trong việc làm rõ bản chất của con người và không ngừng khắc phụcnhững hạn chế của những lý luận trước đó
Tóm lại: Các quan niệm triết học nói trên đã đi đến những cách thức lý luận xemxét con người một cách trừu tượng Đó là kết quả của việc tuyệt đối hoá phần hồn thànhcon người trừu tượng - tự ý thức, còn chủ nghĩa duy vật trực quan thì tuyệt đối hoá phần
Trang 7xác thành con người trừu tượng (Sinh học), tuy nhiên họ vẫn còn nhiều hạn chế, các quanniệm nói trên đều chưa chú ý đầy đủ đến bản chất con người.
1.1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về con người
* Bản chất con người
Chủ nghĩa Mác – Lênin là học thuyết do con người và vì con người Do vậy,hình thành mối quan hệ đúng đắn về con người về vai trò của con người trong sự pháttriển xã hội nói chung, trong xã hội xã hội chủ nghĩa nói riêng là một vấn đề khôngthể thiếu được của thế giới quan Mác – Lênin
Theo quan niệm chủ nghĩa Mác – Lênin con người là khái niệm chỉ những cá thểngười như một chỉnh thể trong sự thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội của nó
Để tồn tại với tư cách là một con người trước hết con người cũng phải ăn, phải uống Điều đó giải thích vì sao Mác cho rằng con người trước hết phải ăn, mặc, ở, rồi mớilàm chính trị Nhưng chỉ dừng lại ở một số thuộc tính sinh học của con người thìkhông thể giải thích được bản chất của con người Không còn hoàn toàn mang tính tự
nhiên như ở con vật mà đã được xã hội hoá Mác viết: “Bản chất của con người
không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó bản chất của con người là tổng hoà của những mối quan hệ xã hội” con người
là sự kết hợp giữa mặt tự nhiên và mặt xã hội nên Mác nhiều lần đã so sánh con ngườivới con vật, so sánh con người với những con vật có bản năng gần giống với conngười để tìm ra sự khác biệt đó Mác đã chỉ ra sự khác biệt ở nhiều chỗ như chỉ cócon người mới làm ra tư liệu sinh hoạt của mình, con người biến đổi tự nhiên theoquy luật của tự nhiên, con người là thước đo của vạn vật, con người sản xuất ra công
cụ sản xuất Luận điểm xem con người là sinh vật biết chế tạo ra công cụ sản xuấtđược xem là luận điểm tiêu biểu của chủ nghĩa Mác về con người
Con người không chỉ là chủ thể của hoạt động sản xuất vật chất là yếu tố hàngđầu, yếu tố đóng vai trò quyết định trong lực lượng sản xuất của xã hội mà hơn nữa,con người còn đóng vai trò là chủ thể hoạt động của quá trình lịch sử Thông qua hoạtđộng sản xuất vật chất con người sáng tạo ra lịch sử của mình, lịch sử của xã hội loàingoài Từ quan niệm đó Mác khẳng định sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội
có ý nghĩa là sự phát triển phong phú bản chất con người, coi như là một mục đích tựthân Bởi vậy theo Mác ý nghĩa lịch sử mục đích cao cả của sự phát triển xã hội làphát triển con người toàn diện, nâng cao năng lực và phẩm giá con người, giải phóng
Trang 8con người, để con người được sống với cuộc sống đích thực Và bước quan trọng nhấttrên con đường đó là giải phóng con người về mặt xã hội
Quan niệm của Mác về định hướng phát triển xã hội lấy sự phát triển của conngười làm thước đo chung càng được khẳng định trong bối cảnh lịch sử của xã hộiloài người Ngày nay loài người đang sống trong bối cảnh quốc tế đầy những biếnđộng, cộng đồng thế giới đang thể hiện hết sức rõ ràng tính đa dạng trong các hìnhthức phát triển của nó xã hội loài người kể từ thời tiền sử cho đến nay bao giờ cũng làmột hệ thống thống nhất tuy nhiên cũng là một hệ thống hết sức phức tạp và chính vì
sự phức tạp đó đã tạo nên tính không đồng đều trong sự phát triển kinh tế xã hội ở cácnước, các khu vực khác nhau
* Con người là chủ thể sinh động nhất của xã hội
Sự “sinh động” ở đây có nghĩa là con người có thể chinh phục tự nhiên, cải tạo
tự nhiên Con người là sản phẩm tự nhiên, là kết quả của quá trình tiến hoá lâu dài củagiới hữu sinh, đã là con người thì phải trải qua quy luật sinh-tử, mỗi con người đều cónhu cầu ăn, mặc ở, sinh hoạt Con người chỉ có thể tồn tại được khi tiến hành laođộng sản xuất của cải vật chất để thoả mãn nhu cầu của mình và chính lao động sảnxuất là yếu tố quyết định hình thành con người và ý thức Lao động là nguồn gốc duynhất của vật chất, vật chất quyết định tinh thần theo logic thì lao động là nguồn gốccủa văn hoá vật chất và tinh thần
Với tư cách là con người xã hội, là con người hoạt động thực tiễn con người sảnxuất ra của cải vật chất, tác động vào tự nhiên để cải tạo tự nhiên, con người là chủthể cải tạo tự nhiên Quá trình cải biến tự nhiên, con người cũng tạo ra lịch sử chomình Con người không những là sản phẩm của xã hội mà con người còn là chủ thểcải tạo xã hội Bằng hoạt động lao động sản xuất con người sáng tạo ra toàn bộ nềnvăn hoá vật chất, tinh thần Bằng hoạt động cách mạng, con người đánh dấu thêm cáctrang sử mới cho chính mình mặc dù tự nhiên và xã hội đều vận động theo những quyluật khách quan song quá trình vận động của con người luôn xuất phát từ nhu cầu,động cơ và hứng thú, theo đuổi những mục đích nhất định và do đó đã tìm cách hạnchế hoặc mở rộng phạm vi tác dụng cuả quy luật cho phù hợp với nhu cầu và mụcđích của mình Nếu không có con người với tư cách là chủ thể sinh động nhất của xãhội thì không thể có xã hội, không thể có sự vận động của xã hội mà vượt lên tất cảchính là của cải vật chất
Trang 91.1.3 Quan điểm của Hồ Chí Minh và Đảng ta về con người và Giáo dục đào tạo
-Tư tưởng Hồ Chí Minh là một bước phát triển mới của chủ nghĩa Mác - Lênin,được vận dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn giải phóng dân tộc và xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam Điều cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc
gắn liền với chủ nghĩa xã hội và giải phóng con người Trong đó, vấn đề con người là
vấn đề lớn, được đặt lên hàng đầu và là vấn đề trung tâm, xuyên suốt trong toàn bộ nộidung tư tưởng của Người Tin ở dân, dựa vào dân, tổ chức và phát huy sức mạnh đoànkết toàn dân, bồi dưỡng, đào tạo và phát huy mọi năng lực của dân (ở từng cá nhânriêng lẻ và của cả cộng đồng), đó là tư tưởng được Hồ Chí Minh vận dụng và pháttriển trong toàn bộ sự nghiệp đấu tranh cách mạng giành độc lập dân tộc cũng nhưxây dựng đất nước Tư tưởng đó cũng chính là nội dung cơ bản của toàn bộ tư tưởng
về con người của Hồ Chí Minh.
Đối với Hồ Chí Minh, con người vừa tồn tại với tư cách cá nhân, vừa là thành
viên của gia đình và của cộng đồng, có cuộc sống tập thể và cuộc sống cá nhân hài
hòa, phong phú Người đã nêu một định nghĩa về con người: "Chữ người, nghĩa hẹp
là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn Nghĩa rộng là đồng bào cả nước Rộng nữa là
cả loài người" Quan điểm đó thể hiện ở chỗ Người chưa bao giờ nhìn nhận con
người một cách chung chung, trừu tượng Khi bàn về chính sách xã hội, cũng như ởmọi nơi, mọi lúc, trong mọi hoàn cảnh, Người luôn quan tâm đến nhu cầu, lợi ích của
con người với tư cách nhu cầu chính đáng
Trong suốt cuộc đời hoạt động , Chủ tịch Hồ Chí Minh với những cống hiến tolớn đối với cách mạng Việt Nam Những cống hiến to lớn đó, tư tưởng Hồ Chí Minh
về giáo dục và đào tạo đã tạo nền tảng cho sự nghiệp xây dựng và kiến thiết nền giáodục nước nhà Những tư tưởng ấy không những có ý nghĩa lý luận sâu sắc mà còn đầy
ắp những bài học thực tiễn sinh động
*Về xây dựng và phát triển nền giáo dục toàn diện
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” đó là một
tất yếu lịch sử đã chứng minh và thực tiễn cách mạng Việt Nam kiểm nghiệm từ đó đãthấy rõ tầm quan trọng của giáo dục và đào tạo, Người luôn chú trọng một nền giáodục mới – một nền giáo dục với mục tiêu, nội dung và phương pháp phải hướng đến
Trang 10việc phát triển con người toàn diện, cũng như động viên mọi lực lượng tham gia xâydựng và phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo.
Một là: Phát triển toàn diện con người là mục đích cơ bản của nền giáo dục mới Hai là: Nội dung giáo dục phải phong phú, toàn diện lấy chất lượng làm cốt để phát triển
con người toàn diện cả về đức, trí, thể, mỹ
Ba là: Nền giáo dục mới phải đảm bảo quyền bình đẳng cho tất cả mọi công dân.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và đào tạo là nền tảng quan trọng để Đảng vàNhà nước ta hoạch định chiến lược giáo dục Việt Nam trong những năm qua và thờigian tới Nhận thức được vị trí, vai trò của giáo dục đào tạo đối với cách mạng Việt
Nam kế thừa tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn xác định “Giáo dục và
đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước”
Những kiến giải của Hồ Chí Minh về con người và giáo dục - đào tạo đã trởthành tải sản quý báu của dân tộc, là ngọn hải đăng soi đường cho sự nghiệp trồngNgười của Đảng và Nhà nước ta; là cơ sở cho việc xác định chiến lược đào tạo conngười, các chủ trương, chính sách, đường lối chỉ đạo phát triển nền giáo dục ViệtNam trong thời kỳ hội nhập và phát triển Quan điểm về đổi mới, phát triển giáo dục
và đào tạo đã được Đảng ta đề ra từ Đại hội toàn quốc lần thứ VI Đây chính là cơ sở,tiền đề để Đảng ta ngày càng hoàn thiện hệ thống quan điểm, đồng thời là cơ sở đểNhà nước hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về phát triển giáo dục và đào tạo.Điều này đã được thể hiện cụ thể trong các văn kiện Đại hội Đảng, các văn kiện Hộinghị Ban Chấp hành Trung ương và trong các văn kiện của Bộ Chính trị, Ban Bí thưcác khóa VII, VIII, IX, X, XI, XII,XIII cũng như trong chính sách phát triển giáo dục
và đào tạo của nước ta đã xác định một cách toàn diện và cụ thể hơn quan điểm vàđịnh hướng đổi mới giáo dục và đào tạo để phù hợp với tiến trình phát triển của đấtnước và khắc phục những tồn tại, yếu kém trong thời gian vừa qua
Phát triển giáo dục – đào tạo , khoa học công nghệ trong bối cảnh hiện nayđang chứa đựng những thời cơ và thách thức mới đan xen Cuộc cách mạng khoa học– công nghệ đã và đang diễn ra mạnh mẽ , tác động đến mọi quốc gia dân tộc Tốc độphát minh khoa học ngày càng gia tăng Khoảng cách từ phát minh đến ứng dụng rấtngắn Sự cạnh tranh về công nghệ cao diễn ra quyết liệt Muốn thực hiện cuộc cáchmạng khoa học và công nghệ trong thời kỳ toàn cầu hóa chúng ta phải phát triển giáo
Trang 11dục- đào tạo Giáo dục đào tạo phải được “chuẩn hóa”, “hiện đại hóa” và “quốc tếhóa” về nội dung, phương pháp và phương tiện dạy học Nhiều chi thức công nghệmới ra đời đòi hỏi con người phải học tập thường xuyên, học tập suốt đời Quá trìnhgiáo dục phải được tiến hành liên tục để người lao động có thể thích nghi được vớinhững đổi mới của tiến bộ khoa học công nghệ.
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Trường phổ thông trong hệ thống giáo dục quốc dân
Vị trí của trường phổ thông được xác định trong Điều 2 của Điều lệ trường phổ thông
(Thông tư 32/2020 ban hành ngày 15/9/2020): Trường trung học là cơ sở giáo dục phổ
thông của hệ thống giáo dục quốc dân Trường có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng.
Điều 28, của Luật giáo dục 2019 đã ghi rõ: Giáo dục trung học phổ thông đượcthực hiện trong 03 năm học, từ lớp mười đến hết lớp mười hai Học sinh vào học lớpmười phải có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở Tuổi của học sinh vào học lớp mười là
15 tuổi và được tính theo năm
Mục tiêu của giáo dục trung học phổ thông nhằm trang bị kiến thức công dân;bảo đảm cho học sinh củng cố, phát triển kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoànthiện học vấn phổ thông và có hiểu biết thông thường về kỹ thuật, hướng nghiệp; cóđiều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục họcchương trình giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp hoặc tham gia lao động, xâydựng và bảo vệ Tổ quốc
1.2.2 Những yêu cầu đối với giáo dục THPT trong giai đoạn hiện nay
Luật giáo dục 2019 đã xác định “Mục tiêu giáo dục nhằm phát triển toàn diện
con người Việt Nam có đạo đức, tri thức, văn hóa, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp; có phẩm chất, năng lực và ý thức công dân; có lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; phát huy tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế”. Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồnnhân lực, đã từng được khẳng định trong các văn kiện Đảng trước đây, đặc biệt làtrong Nghị quyết số 29 của Hội nghị Trung ương 8, khóa XI, khẳng định đây không
Trang 12chỉ là quốc sách hàng đầu, là “chìa khóa” mở ra con đường đưa đất nước tiến lên phíatrước, mà còn là “mệnh lệnh” của cuộc sống.
Trong Văn kiện đại hội XIII, kế thừa quan điểm chỉ đạo của nhiệm kỳ trước, Đảng ta đưa ra đường lối đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triểnnguồn nhân lực, xác định đây là một kế sách, quốc sách hàng đầu, tiêu điểm của sựphát triển, mang tính đột phá, khai mở con đường phát triển nguồn nhân lực Việt Namtrong thế kỷ XXI, khẳng định triết lý nhân sinh mới của nền giáo dục nước nhà “dạyngười, dạy chữ, dạy nghề”
Như vậy, các nghị quyết và những định hướng lớn của Đảng, Nhà nước và Quốc
hội đều đã khẳng định: Giáo dục và Đào tạo là quốc sách hàng đầu và chất lượng
giáo dục chính là yếu tố quyết định quan trọng nhất để làm nên thương hiệu củangành giáo dục
1.2.3 Nâng cao chất lượng giáo dục ở Trường phổ thông
1.2.3.1 Khái niệm về chất lượng, chất lượng giáo dục và chất lượng dạy học
Chất lượng: Theo từ Việt Nam định điển Bách khoa nghĩa: “Chất lượng là cái tạo ra
sản phẩm chất, giá trị của một người, một sự vật Đó là tổng thể những thuộc tính cơ bảnkhẳng định sự tồn tại của đối tượng và phân biệt nó với đối tượng khác”
Chất lượng giáo dục: “Chất lượng giáo dục là trình độ hiện thực hóa mục tiêu
giáo dục, thể hiện sự đổi mới và hiện đại hóa giáo dục theo định hướng XHCN cũngnhư khả năng thích ứng ngày càng cao của người học đối với những biến đổi nhanhchóng của thực tế Chất lượng giáo dục được xem xét, đánh giá một cách toàn diệnhay từng mặt, đối với cả ngành, từng địa phương, hay một trường học cụ thể, đối vớingười học trong từng giai đoạn, trong một hệ điều hành nhất định Chất lượng giáodục phổ thông là chất lượng của từng mặt đạo đức, trí dục, thể dục, mỹ dục, giáo dụclao động và hướng nghiệp hay nói cách khác đó là chất lượng của “Dạy chữ, dạyngười, dạy nghề thể hiện qua người học”
Chất lượng dạy học: Là sự thỏa mãn tối đa mục tiêu đã đặt ra đối với sản phẩm
GD&ĐT là sự hoàn thiện trình độ, kiến thức, kỹ năng, thái độ theo mức độ xác định
và khả năng đáp ứng được nhu cầu xã hội hóa cá nhân, đồng thời thỏa mãn được yêucầu đa dạng của kinh tế - xã hội luôn luôn phát triển Như vậy chất lượng gắn với hiệuquả trong và hiệu quả ngoài của sản phẩm GD&ĐT, chất lượng càng cao nghĩa là giatăng hiệu quả Chất lượng giáo dục có thể đặc trưng riêng cho từng đối tượng, quốc
Trang 13gia, địa phương, cộng đồng, nhà trường Tùy theo đối tượng mà cách nhìn chất lượng,hiệu quả khác nhau
Với đặc trưng, sản phẩm của quá trình dạy học là con người - thứ sản phẩmkhông được phép thứ phẩm, phế phẩm Giáo dục là một thứ ngành, nghề đòi hỏi chấtlượng lao động cao nhất cả về phía người giáo dục và người được giáo dục Chấtlượng giáo dục, dạy học được đánh giá qua những biểu hiện tài năng, đạo đức lốisống, lý tưởng của con người khi hoạt động dạy học, hoạt động giáo dục khi hoànthành Chất lượng dạy học là chất lượng dạy và chất lượng học, sự phát huy tối đanăng lực của thầy và năng lực của học sinh để sau khi kết thúc quá trình giáo dục thuđược sản phẩm là những học sinh có đủ phẩm chất, năng lực đáp ứng được yêu cầucủa xã hội, của thực tế cuộc sống
1.2.3.2 Nâng cao chất lượng giáo dục trong trường phổ thông hiện nay
Nâng cao chất lượng dạy học không đơn thuần chỉ là nâng cao các hoạt động dạyhọc mà phải nâng cao quá trình tác động tới tất cả các thành tố hoạt động sư phạm cótác động hỗ trợ, giúp đỡ phục vụ cho hoạt động giáo dục của giáo viên và học sinh.Nâng cao chất lượng giáo dục cũng không chỉ là nâng cao chất lượng tri thức văn hóa
mà phải xem xét đến chất lượng giá trị, ý chí, kỹ năng và thái độ người học thông quaquá trình dạy học
-Nâng cao chất lượng dạy học cũng là nâng cao các hoạt động toàn diện trongnhà trường, gồm các nội dung sau:
Thứ nhất: Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền về giáo dục
Thứ hai: Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên các cấp
Thứ ba: Nâng cao năng lực quản lý của cán bộ quản lý giáo dục các cấp.
Thứ tư: Tăng cường các nguồn lực đầu tư cho giáo dục đào tạo
Thứ năm: Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra giáo dục đào tạo
-Các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng, phải được xác định từ mụctiêu giáo dục phổ thông Muốn như vậy cần quan tâm đến các vấn đề sau:
+ Công tác xây dựng đội ngũ
+ Tăng cường cơ sở vật chất , phương tiện trang thiết bị dạy học, các phòng họcchức năng vì cơ sở vật chất trường học là phương tiện dạy học, là điều kiện thiết yếu
để tiến hành dạy học và giáo dục trong nhà trường
+ Chú trọng đến công tác xã hội hóa giáo dục, huy động các nguồn lực
Trang 14+ Đặc biệt phải đổi mới phương pháp dạy học.
+ Chú ý đến việc xây dựng nền nếp, kỷ cương trong công tác dạy học, thực hiênchức năng quản lý hành chính đưa các hoạt động vào kỷ cương bằng hệ thống nộiquy, quy định chặt chẽ
Chương 2
Trang 15THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG THPT
VIỆT YÊN SỐ 2 GIAI ĐOẠN 2018-2021 2.1.Đặc điểm chung của huyện Việt Yên
Việt Yên là huyện trung du và miền núi, nằm giữa hai lưu vực sông Cầu vàsông Thương, chiếm 4,5% diện tích của toàn tỉnh Nổi bật là lĩnh vực kinh tế liên tụctăng trưởng và là huyện đứng đầu tỉnh có tốc độ phát triển kinh tế cao Cơ cấu kinh tế
chuyển dịch tích cực, đúng hướng Tổng giá trị sản xuất (không bao gồm khu công
nghiệp) giai đoạn 2016-2020 đạt 38.773 tỷ đồng; tốc độ tăng trưởng bình quân đạt
14,12%, bằng 104,59% kế hoạch Trong đó, công nghiệp - xây dựng tăng trưởng20,97%, bằng 124% kế hoạch; nông - lâm nghiệp - thủy sản tăng trưởng 1,19%, bằng20,59% kế hoạch; dịch vụ tăng trưởng 11,25%, đạt 73,53% kế hoạch
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực: Khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm61,28%, tăng 18,69%; dịch vụ chiếm 23,99%, tăng 0,64%; nông - lâm nghiệp - thủysản chiếm 14,73%, giảm 18,09% so với năm 2015 Ước tổng vốn đầu tư toàn xã hộitrong giai đoạn 2016- 2020 đạt 36.576 tỷ đồng, đạt 243,84% kế hoạch, bằng 231%cùng kỳ giai đoạn 2011- 2015 Trong đó nguồn vốn đầu tư công trên địa bàn huyện3.910 tỷ đồng, bằng 1116% giai đoạn 2011-2015
Cùng với đó, các lĩnh vực văn hóa - xã hội đạt kết quả tốt Đến năm 2019, toànhuyện có 100% thôn, khu phố có nhà văn hóa và điểm sinh hoạt cộng đồng; 521 sânthể thao các loại và 17/17 hội trường văn hóa đa năng xã, thị trấn; 01 quảng trườngtrung tâm huyện bảo đảm phục vụ cho các sự kiện lớn Ước tỷ lệ hộ gia đình đượccông nhận danh hiệu Gia đình văn hoá năm 2020 đạt 89%, bằng 101% so với kếhoạch; làng, tổ dân phố được công nhận danh hiệu văn hóa đạt 76,12%, bằng 101% sovới kế hoạch; 01 thị trấn đạt chuẩn văn minh đô thị, 15/15 xã đạt chuẩn văn hóa nôngthôn mới
Huyện Việt Yên hiện có 62 trường học, tỷ lệ kiên cố hóa đạt 98% và 60/62trường đạt chuẩn quốc gia Chất lượng giáo dục luôn luôn duy trì trong nhóm cáchuyện, thành phố dẫn đầu; năm 2019, kết quả thi học sinh giỏi xếp thứ 3, điểm thi vàolớp 10 đứng thứ nhất toàn tỉnh Toàn huyện có 100% học sinh hoàn thành chươngtrình tiểu học vào lớp 6; học sinh tốt nghiệp THCS hằng năm đạt trên 98% Bên cạnh
đó, công tác giảm nghèo được chú trọng theo hướng bền vững Công tác chăm sóc,
Trang 16bảo vệ sức khỏe nhân dân được quan tâm chú trọng Quốc phòng an ninh được giữvững.
2.2 Đặc điểm chung của trường THPT Việt Yên số 2
Trường THPT Việt Yên số 2 được thành lập ngày 26/5/1999 theo Quyết định
số 28/QĐ-UB của Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang Tuy nhiên, đây là ngôi trường cótiền thân là Trường Phổ thông Vừa học vừa làm Việt Yên được thành lập từ năm
1977, đến năm 1996 được chuyển đổi thành Trường Phổ thông cấp 2-3 Tự Lạn Chođến nay, Trường THPT Việt Yên số 2 có bề dày truyền thống hơn 40 năm từ những
cơ sở ban đầu của Trường Phổ thông Vừa học vừa làm Việt Yên
Trong giai đoạn hiện nay với tinh thần đoàn kết, sáng tạo, với nỗ lực của quýthầy cô Ban Giám hiệu cũng như tập thể sư phạm và các thế hệ học sinh, nhà trường
đã phát huy mọi nguồn lực, tranh thủ sự quan tâm, giúp đỡ của các cấp chính quyền,của các cơ quan ban ngành của tỉnh, huyện và nhân dân các xã để tăng cường xâydựng cơ sở vật chất, quan tâm nâng cao chất lượng đội ngũ, cán bộ quản lý và nhàgiáo, không ngừng đổi mới sáng tạo, thi đua dạy tốt, học tốt, chất lượng giáo dục toàndiện, giáo dục mũi nhọn của nhà trường hàng năm được nâng lên rõ rệt
Khuôn viên nhà trường có diện tích 18.849m2,có tường rào kiên cố, kiến trúchiện đại, đảm bảo an toàn; có cổng trường và các cổng phụ kiên cố, thiết kế đẹp Nhàtrường có sân vận động rộng rãi, sử dụng tốt cho các hoạt động lớn và học sinh họcthể dục thể thao.Sân trường được lát gạch, trồng cây xanh, có hệ thống bồn hoa; Hệthống cây xanh không ngừng được cải thiện
Nhà trường có 33 phòng học kiên cố, bàn ghế đủ sử dụng, phục vụ; hệ thốngđiện chiếu sáng và quạt điện được trang bị đầy đủ và được tu sửa thường xuyên Tất
cả các phòng học được lắp đặt tivi thông minh, trong đó có 03 phòng học lắp đặt thiết
bị tương tác hiện đại
Nhà trường có 5 phòng học bộ môn: có 02 phòng thực hành môn Tin học với
40 máy sử dụng được, có kết nối mạng Internet, 01phòng thực hành Vật lý, 01 phòngthực hành Hóa học và 01 phòng thực hành Sinh học Các phòng khác như Phòng tổchuyên môn: có đầy đủ mỗi tổ chuyên môn 01 phòng Thư viện có tương đối đầy đủtài liệu phục vụ giảng dạy và học tập; có trang Website phục vụ công tác của nhà
Trang 17trường, tuy nhiên hoạt động chưa thực sự hiệu quả Có đầy đủ phòng chức năng choBan giám hiệu, Chi bộ, kế toán, văn thư, thủ quỹ, các tổ bộ môn, Công đoàn, Đoànthanh niên cộng sản Hồ Chí Minh; Có 01 phòng họp, được trang bị đầy đủ các thiết bịcần thiết.
Nhà trường có nhà xe giáo viên, nhà xe học sinh, có công trình vệ sinh côngcộng riêng cho giáo viên, học sinh và đảm bảo sử dụng tốt, đảm bảo vệ sinh môitrường; Nhà trường có công trình nước sạch cấp đủ nước uống và sử dụng hàng ngàycho cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh, có trạm điện riêng cung cấp đầy đủ chosinh hoạt và dạy học.Trong những năm qua việc huy động nguồn lực xã hội hoá trang
bị mỗi phòng học 01 bảng trượt phục vụ công tác đổi mới phương pháp dạy học,trang bị 02 màn hình Led, nâng cấp sân khấu có mái che, tạo điều kiện cho việcnâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường Nhà trường làm tốt công tác
sử dụng, bảo quản hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học hiện có, bổ sungthêm 10 máy vi tính đảm bảo yêu cầu phục vụ công tác dạy và học
Đội ngũ cán bộ, giáo viên và nhân viên trong nhà trường hiện nay:
Bảng 1 Thống kê đội ngũ cán bộ, giáo viên và nhân viên nhà trường năm học 2021
2020-Nội dung Tổng số Nữ Dân tộc
Trình độ đào tạo
Ghi chú
Chưa đạt chuẩn
Đạt chuẩn
Trên chuẩn