1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tăng cường vai trò nhà nước trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay

105 516 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tăng cường vai trò Nhà nước trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay
Trường học Trường Đại học Chính trị Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Chính trị học
Thể loại Luận văn Thạc sĩ Chính trị học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 295 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều tiết, quản lý và can thiệp vào kinh tế bằng những nội dung, giải pháp nào để phát huy vai trò, hiệu lực quản lýcủa Nhà nớc, bảo đảm quyền lực chính trị của giai cấp công nhân, nhân

Trang 1

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của luận văn

Sự nghiệp đổi mới toàn diện ở nớc ta, trớc hết và trọng tâm là đổimới kinh tế đồng thời từng bớc đổi mới chính trị, đợc thực hiện từ quyết

định quan trọng - Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986)

Đổi mới kinh tế - xây dựng và phát triển nền KTTT định hớngXHCN là một nhiệm vụ chiến lợc quan trọng trong thời kỳ quá độ lênCNXH ở nớc ta, phù hợp với yêu cầu khách quan của thực trạng kinh tế - xãhội của đất nớc và xu thế phát triển của thời đại

Trong đổi mới, Đảng cộng sản Việt Nam đã bớc đầu đề ra nội dung,hình thức và bớc đi cụ thể, thích hợp Từng bớc chuyển nền kinh tế từ tậptrung quan liêu bao cấp sang nền KTTT có sự quản lý của Nhà nớc, theo

định hớng XHCN

Thực hiện đờng lối đó, Nhà nớc Cộng hòa XHCN Việt Nam đóngvai trò hết sức quan trọng - quản lý và điều tiết nền KTTT, bảo đảm quátrình phát triển theo đúng định hớng XHCN

Thực tiễn từ 1986 đến nay, dới sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lýcủa Nhà nớc, sự nghiệp đổi mới của nhân dân ta đã và đang đạt đợc nhiềuthành tựu có ý nghĩa quan trọng, song cũng đặt ra nhiều vấn đề phức tạp -những thách thức, trở ngại lớn nh nghị quyết Hội nghị giữa nhiệm kỳ - khóaVII đã chỉ rõ, đặc biệt là nguy cơ chệch hớng XHCN

Cùng với nguy cơ, thách thức trong nớc, những diễn biến phức tạpcủa tình hình thế giới - xu hớng khu vực hóa, quốc tế hóa và toàn cầu hóa

đời sống kinh tế thế giới đem đến thời cơ, vận hội mới và những tháchthức lớn cho nớc đang ta

Những năm qua, Nhà nớc Cộng hòa XHCN Việt Nam đã tích cực

đổi mới theo hớng xây dựng Nhà nớc pháp quyền của dân, do dân, vì dân

Trang 2

Tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nớc đã phát huy vai trò, hiệu lựcquản lý, phát triển kinh tế - xã hội và đã đạt đợc một số hiệu quả rất quantrọng Song trong quá trình thực thi quyền lực còn tồn tại nhiều thiếu sót,khuyết điểm cần đợc khắc phục.

Trớc thực trạng đó, đặt ra vấn đề khách quan là Nhà nớc phải tự đổimới và hoàn thiện mình nh thế nào? Điều tiết, quản lý và can thiệp vào kinh

tế bằng những nội dung, giải pháp nào để phát huy vai trò, hiệu lực quản lýcủa Nhà nớc, bảo đảm quyền lực chính trị của giai cấp công nhân, nhân dânlao động và phát triển nền KTTT đúng định hớng XHCN

Vì những lý do trên, tác giả lựa chọn vấn đề "Tăng cờng vai trò nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa ở n-

ớc ta hiện nay" làm luận văn Thạc sĩ Chính trị học.

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, vấn đề nhà nớc và thị trờng,vai trò của nhà nớc trong nền KTTT đã đợc nhiều nhà khoa học trên thế giớinghiên cứu dới nhiều góc độ khác nhau Đặc biệt từ sau cuộc khủng hoảngnăng lợng (những năm 70) và khủng hoảng ở các nớc XHCN (Liên Xô và

Đông Âu tan rã) đã đặt lại vấn đề phải nghiên cứu về vai trò nhà nớc trong

đời sống kinh tế nh thế nào để đạt đợc hiệu quả Theo hớng trên, đã cónhiều công trình nghiên cứu nhng nhìn chung những kết quả đợc rút ra đềutập trung vào một số quan điểm:

Thứ nhất: Nhà nớc không thể can thiệp vào thị trờng (nhà nớc tối

thiểu, thị trờng tối đa), thị trờng có quy luật riêng, "Bàn tay vô hình" của thịtrờng sẽ tự nó giải quyết tất cả ở nơi nào có sự can thiệp của nhà nớc thì ở

đó thị trờng thất bại, kinh tế không phát triển đợc

Thứ hai: Nhà nớc hoàn toàn lãnh đạo, quản lý kinh tế bằng các kế

hoạch trong mọi lĩnh vực, mọi ngành kinh tế Đại diện cho những quan

Trang 3

điểm này là những nhà tân mác xít, họ cổ vũ và khẳng định mô hình kinh tế

kế hoạch hóa tập trung cao độ (kiểu Xô viết) coi đó là mô hình tối u cho sựphát triển

Thứ ba: Thừa nhận KTTT, đồng thời nhà nớc phải can thiệp tối đa

bằng các công cụ điều tiết vĩ mô (nhà nớc tối đa) Theo quan điểm này chỉ

có nhà nớc (bàn tay hữu hình) mới có khả năng hạn chế và khắc phụcnhững khuyết tật của KTTT, đặc biệt là trong lĩnh vực xã hội

Thứ t: Một quan điểm khác, không nói đến nhà nớc tối đa hay tối

thiểu, họ thừa nhận sự tham gia và can thiệp cần thiết theo chức năng củanhà nớc trong KTTT

ở nớc ta, nhận thức về vai trò nhà nớc trong nền KTTT cũng cónhiều thay đổi Từ tuyệt đối hóa vai trò nhà nớc đến nhận thức ngày càng

đúng đắn hơn về vai trò của nó trong nền KTTT Mặc dù vậy, những kếtquả nghiên cứu về quan hệ giữa nhà nớc và thị trờng còn cha thỏa đáng, cầnphải quan tâm nghiên cứu nhiều hơn nữa

Đảng ta chủ trơng xây dựng một nền KTTT định hớng XHCN làhoàn toàn đúng đắn Song vấn đề đặt ra là: Vai trò Nhà nớc Cộng hòaXHCN Việt Nam trong nền KTTT định hớng XHCN nh thế nào? Đây làvấn đề rất lớn cả về lý luận cũng nh thực tiễn và mới chỉ có những định h-ớng nhng cha đợc làm sáng tỏ về mặt khoa học

Cho đến nay, nhiều nhà nghiên cứu khi nói đến vai trò nhà nớctrong KTTT thờng vấp phải cách tiếp cận cơ giới, nghĩa là phân định nhà n-

ớc "tối thiểu", "tối đa", "điều tiết vĩ mô" Căn cứ vào kinh nghiệm nào đó,các nhà nghiên cứu dờng nh muốn quy định một sân chơi riêng biệt cho nhànớc trong KTTT

Theo ý kiến chúng tôi, cần khắc phục cách tiếp cận nh vậy Nênchăng, cần nhìn nhận vai trò của nhà nớc trong nền KTTT là giải quyết mối

Trang 4

quan hệ giữa quyền lực chính trị và kinh tế trong việc tìm con đờng pháttriển tối u cho một quốc gia Nhà nớc không chỉ là "tham gia", "can thiệp"

mà là "chủ thể" kinh tế có quyền lực chính trị trong nền KTTT Vì vậy luậnvăn này bớc đầu thử đặt ra và lý giải một hớng tiếp cận nh vậy

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu:

- Trên cơ sở lý luận khoa học chính trị của chủ nghĩa Mác - Lênin,

đờng lối quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam, kinh nghiệm tổ chức vàhoạt động của Nhà nớc ta, và nhà nớc của một số quốc gia, bớc đầu xác

định một cách tổng quát vấn đề vai trò quyền lực nhà nớc trong KTTT địnhhớng XHCN

- Nêu lên một số thực trạng và giải pháp về vai trò nhà nớc trongKTTT định hớng XHCN ở nớc ta, dới góc độ Chính trị học

Nhiệm vụ của luận văn:

Một là: Hệ thống hóa một cách khái quát các quan điểm của chủ

nghĩa Mác - Lênin và các lý thuyết hiện đại về vai trò, chức năng của nhà

nớc trong quản lý kinh tế và KTTT, từ đó làm rõ và phân tích vấn đề đó ở n

-ớc ta

Hai là: Phân tích thực trạng thực thi quyền lực của Nhà nớc Cộng

hòa XHCN Việt Nam trong nền KTTT định hớng XHCN ở nớc ta

Ba là: Đề xuất một số định hớng, giải pháp nhằm xác định vai trò

Nhà nớc trong nền KTTT ở nớc ta hiện nay

4 Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận:

Vận dụng lý luận và phơng pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác Lênin, quan điểm đờng lối của Đảng cộng sản Việt Nam về mối quan hệ

Trang 5

-chính trị và kinh tế, vai trò nhà nớc trong quản lý kinh tế và kinh tế XHCN;một số lý thuyết của khoa học kinh tế và khoa học chính trị hiện đại cũng

nh một số kinh nghiệm nớc ngoài để lý giải những vấn đề thực tiễn đặt ra

Phơng pháp nghiên cứu:

Chủ yếu vận dụng phơng pháp lôgíc - lịch sử và các phơng phápkhác: Chính trị học so sánh; xã hội học chính trị, so sánh, thống kê, định lợng

5 Giới hạn nghiên cứu

Tập trung nghiên cứu vai trò Nhà nớc Cộng hòa XHCN Việt Namtrong phát triển nền KTTT định hớng XHCN ở nớc ta từ Đại hội Đảng toànquốc lần thứ VI (12/1986) đến nay

6 Đóng góp của luận văn

Trên cơ sở hệ thống hóa những thành tựu nghiên cứu về quyền lựcnhà nớc trong các nền kinh tế, luận văn góp phần làm rõ vai trò quyền lựcNhà nớc Cộng hòa XHCN Việt Nam trong nền KTTT định hớng XHCN ởnớc ta

Đề xuất một số định hớng và giải pháp cho việc tăng cờng vai tròNhà nớc trong nền KTTT theo định hớng XHCN ở nớc ta hiện nay

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn đợc kết cấu thành 3 chơng, 8tiết và danh mục tài liệu tham khảo

Trang 6

Chơng 1

Lý luận chung về vai trò nhà nớc trong kinh tế và kinh tế thị trờng

1.1 Quyền lực nhà nớc trong phát triển kinh tế

1.1.1 Quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nớc trong phát triển kinh tế và kinh tế thị trờng

Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định rằng, nhà nớc luôn có chức năngkinh tế Nghĩa là, nhà nớc ra đời và tồn tại không phải chỉ thuần túy để làmchính trị, không chỉ quản lý xã hội mà còn quản lý và phát triển kinh tế.Nhà nớc chính là đại diện cho giai cấp thống trị về kinh tế và chức năngkinh tế của nhà nớc cũng chính là nhằm củng cố địa vị của giai cấp cầmquyền Khẳng định chức năng kinh tế của nhà nớc, phân tích mối quan hệgiữa kinh tế và chính trị, Lênin cho rằng: không có chính trị đơn thuần vàkinh tế đơn thuần mà chính trị và kinh tế luôn gắn bó với nhau, tác động,

ảnh hởng lẫn nhau

"Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế, lập luận một cách khác

đi là quên mất điều thờng thức của chủ nghĩa Mác" [20, tr 349], "Chính trịtức là kinh tế đợc cô đọng lại" [23, tr 147]

Chính trị thực chất là quan hệ giữa các giai cấp, các nhóm xã hội,các quốc gia dân tộc Trong đó trớc hết và cơ bản là quan hệ về kinh tế.Trong chính trị, vấn đề quyền lực chính trị (biểu hiện tập trung ở quyền lựcnhà nớc) là mục tiêu và trực tiếp mà bất cứ giai cấp, nhóm xã hội nào cũngmuốn nắm và chi phối Vì nắm đợc quyền lực nhà nớc là nắm đợc công cụcơ bản, trọng yếu để giải quyết quan hệ lợi ích với các giai cấp khác theo h-ớng có lợi cho giai cấp mình

Trang 7

Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng: tất cả các cuộc đấu tranh giai cấp

từ trớc tới nay, xét đến cùng đều vì mục đích kinh tế - giải phóng kinh tế và

đợc tiến hành trớc hết vì lợi ích kinh tế Và do đó một khi xã hội còn tồn tạigiai cấp, còn tồn tại nhà nớc thì tất cả những vấn đề chính trị và bất kỳ mộtthái độ nào cũng đều ảnh hởng từ vấn đề kinh tế

Vì vậy Lênin khẳng định: Trong quá trình phát triển xã hội, kinh tếquyết định chính trị còn khi hoạch định chính sách thì chính trị phải chiếmhàng đầu, chiếm vị trí u tiên, phải đa vào các chính sách, các quan hệ giaicấp các lực lợng kinh tế xã hội "Không có một lập trờng chính trị đúng thìmột giai cấp nhất định nào đó không thể nào giữ đợc sự thống trị của mình

và do đó cũng không thể hoàn thành nhiệm vụ của mình trong sản xuất"[21, tr 350]

Sự tác động của chính trị vào kinh tế thể hiện thông qua vai trò hoạt

động của nhà nớc - các thể chế và các chính sách của nhà nớc Sự tác động

đó luôn diễn ra theo hai hớng:

- Nếu sự tác động cùng chiều sẽ thúc đẩy sự phát triển kinh tế

Nghĩa là, nhà nớc trớc hết bằng các thể chế chính trị tạo ra các quan

hệ kinh tế phù hợp với sự phát triển của LLSX Nhà nớc nắm bắt các quyluật phát triển của nền kinh tế, tạo môi trờng pháp lý và hoạch định cácchính sách để phát huy các mặt tích cực của các xu hớng tích cực, đồng thờiloại bỏ những mặt, những nhân tố tiêu cực cản trở sự tác động của các quyluật kinh tế

- Sự tác động của nhà nớc theo hớng ngợc chiều sẽ dẫn tới kìm hãm

sự phát triển kinh tế - xã hội

Nghĩa là, nhà nớc duy trì các quan hệ kinh tế lỗi thời, không cònphù hợp với sự phát triển của LLSX hoặc bảo vệ lợi ích của giai cấp phản

động chống lại lợi ích của giai cấp đang lên, lợi ích của nhân dân lao động.Hoạt động bất chấp quy luật khách quan của kinh tế - xã hội

Trang 8

Nhà nớc với chức năng kinh tế, có vai trò hết sức to lớn đối với sựphát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, vai trò đó đợc phát huy và thực hiện

có hiệu quả hay không là phụ thuộc vào bản chất của từng chế độ chính trị

và bản chất giai cấp của từng nhà nớc

Các nhà nớc (chủ nô, phong kiến, t sản) đều bằng cách này hay cáchkhác kiểm soát các hoạt động kinh tế của xã hội, đặt ra những chính sách,luật lệ nhằm giữ vững vị trí thống trị của giai cấp cầm quyền Ngay dớiCNTB, mặc dù các thể chế thị trờng phát triển cao, nhà nớc TBCN tham giavào các quá trình kinh tế với rất nhiều hình thức (mà đỉnh cao là CNTB độcquyền nhà nớc - sự liên minh giữa nhà nớc và các tập đoàn t bản) cũng đềunhằm củng cố vị trí thống trị của giai cấp t sản - giai cấp cầm quyền

Khác với nhà nớc của các giai cấp bóc lột, nhà nớc XHCN là nhà

ớc kiểu mới - nhà nớc của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nhà

n-ớc thực hiện trấn áp giai cấp bóc lột - giai cấp t sản và bọn phản động, nhànớc dân chủ với quảng đại quần chúng Nhà nớc có nhiệm vụ kinh tế và vìlợi ích kinh tế của nhân dân lao động Trong hai chức năng trấn áp và xâydựng của nhà nớc XHCN, chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định rằng chứcnăng xây dựng là chủ yếu

Để làm đợc việc đó, giai cấp vô sản phải bằng quyền lực nhà nớccủa mình, tiến hành một cuộc cách mạng toàn diện trên tất cả các lĩnh vựccủa đời sống xã hội, trớc hết, trọng tâm là phát triển kinh tế, cải tạo nhữngcơ sở kinh tế cũ, xây dựng nền tảng kinh tế mới với các quan hệ kinh tếlành mạnh vì mục đích con ngời Với t cách là chủ thể kinh tế, nhà nớcXHCN sử dụng những yếu tố vật chất (đất đai, tiền vốn, lao động, tàinguyên) và tạo ra những quan hệ cần thiết để trực tiếp quản lý, sản xuấthoặc lu thông, dịch vụ trên những ngành, vùng chủ chốt Đồng thời, nhà n-

ớc là ngời đại diện cho ý chí và quyền lực của nhân dân, nắm trong tay cáccông cụ, phơng tiện quản lý (chính sách, kế hoạch, luật pháp, tài chính,

Trang 9

ngân hàng ) và kiểm soát việc sử dụng tài sản quốc gia, tổ chức quản lýsản xuất kinh doanh phát triển kinh tế theo quan điểm mục tiêu đờng lốiphát triển kinh tế của giai cấp lãnh đạo - giai cấp công nhân mà đại biểu là

Đảng cộng sản Trong thời kỳ này, nhiệm vụ của nhà nớc XHCN là phảilàm gì, làm nh thế nào để tạo ra năng suất lao động ngày càng cao để chiếnthắng hoàn toàn CNTB

Tuy nhiên, chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định bớc chuyển từ CNTBlên CNXH không phải một sớm một chiều mà là một thời kỳ quá độ lâu dài

- thời kỳ quá độ lên CNXH (Mác gọi là những "cơn đau đẻ" kéo dài) Đặctrng cơ bản của thời kỳ này là kết cấu kinh tế - xã hội mới còn tồn tại đanxen với kết cấu kinh tế - xã hội cũ Nền kinh tế có nhiều thành phần tồn tại,tác động đan xen với nhau, trong đó thành phần kinh tế XHCN thậm chí ch-

a thắng lợi hoàn toàn Vì vậy việc nhà nớc XHCN quản lý nền kinh tế nhiềuthành phần là một tất yếu của thời kỳ quá độ Chính Mác đã chỉ rõ: Khôngmột hình thức kinh tế nào, biến đi trớc khi nó còn phục vụ đợc cho các lựclợng sản xuất mà nó đã dọn khoảng đất trống cần thiết cho sự phát triển củacác lực lợng sản xuất ấy; Ngợc lại, không một hình thức kinh tế nào có thể

ra đời trớc khi xuất hiện đầy đủ các tiền đề vật chất cần thiết cho nó Vì kếtcấu nền kinh tế của thời kỳ quá độ lên CNXH còn tồn tại nhiều thành phầnkinh tế nên hệ thống các quy luật kinh tế hoạt động trong thời kỳ này rất đadạng Bên cạnh những quy luật kinh tế XHCN mới hình thành nhng cha pháthuy đầy đủ tác dụng của nó, vẫn còn những quy luật tơng ứng với các thànhphần kinh tế không XHCN còn hoạt động và phát huy tác dụng, tác động đếnnền kinh tế quốc dân với mức độ khác nhau

Vì vậy trong quá trình quản lý nền kinh tế, nhà nớc XHCN phải tính

đến việc vận dụng toàn bộ hệ thống các quy luật đó sao cho phù hợp, có lợicho CNXH Một mặt tạo ra những điều kiện vật chất và xã hội để các quyluật kinh tế XHCN phát huy ngày càng đầy đủ tác dụng của mình - là nhân

tố chủ đạo; mặt khác, chủ động vận dụng các quy luật kinh tế khác, hớng

Trang 10

theo quỹ đạo của CNXH Đây là việc khó khăn, phức tạp, dễ phạm sai lầm

"tả" hoặc "hữu khuynh" Do đó đòi hỏi nhà nớc XHCN phải có bản lĩnh, cókhả năng tổ chức quản lý giỏi, biết tìm ra những hình thức, phơng pháp mớiphong phú, đa dạng để hớng các thành phần kinh tế đi theo quỹ đạo củaCNXH

Từ thực tiễn nớc Nga, khi chấm dứt nội chiến và chuyển sang thờibình, Lênin đã nghiêm khắc rút ra những bài học của chính sách "cộng sảnthời chiến", phê phán những khuynh hớng t tởng chủ quan, nóng vội (muốnlập tức quốc hữu hóa, quốc doanh hóa, hạn chế không sử dụng các hìnhthức kinh tế quá độ đang còn tồn tại và còn tác dụng đối với việc phát triểnLLSX), dẫn đến hậu quả nghiêm trọng: Kinh tế không phát triển và gây sựbất bình của nhân dân đối với chính quyền Xô viết Theo Lênin - quá trìnhchuyển từ thời chiến sang thời bình "không những chỉ liên quan đến nhữngcơ sở của công cuộc kiến thiết kinh tế mà còn liên quan đến các cơ sở củanhững mối quan hệ giữa các giai cấp còn tồn tại trong xã hội chúng ta"

"Vấn đề này là vấn đề cần giải quyết" Không thực hiện đợc bớc chuyển ấy

sẽ là thất bại của Đảng của giai cấp công nhân

Lênin cho rằng, điều kiện thời bình phải xem xét lại tất cả các quan

điểm lý luận và thực tiễn sự phát triển kinh tế - xã hội nớc Nga, thậm chíthay đổi căn bản cách tiếp cận với CNXH Chính từ thực tiễn nớc Nga,Lênin đã đa ra NEP, trong đó Ngời nêu rõ những nhiệm vụ và chính sáchkinh tế mà nhà nớc chuyên chính vô sản phải thay đổi là:

- Nhà nớc vô sản phải thực hiện xây dựng một nền kinh tế nhiềuthành phần, phát triển các quan hệ thị trờng dới sự điều tiết của nhà nớcXHCN Các thành phần kinh tế đó bao gồm: (1) Kinh tế nông dân kiểu giatrởng; (2) kinh tế sản xuất hàng hóa nhỏ (chủ yếu là nông dân); (3) kinh tếCNTB t nhân; (4) kinh tế CNTB nhà nớc; (5) kinh tế của CNXH [21, tr 248]

Trang 11

Các thành phần kinh tế trên đây đan xen với nhau, trong đó thànhphần tiểu t sản (nông dân) chiếm u thế Các thành phần này đấu tranh vớinhau mà chủ yếu là cuộc đấu tranh giữa thành phần tiểu t sản và t bản tnhân với CNXH và CNTB nhà nớc Nghĩa là đấu tranh giữa khuynh hớngsản xuất nhỏ và sản xuất lớn Thắng lợi của CNXH phụ thuộc vào thắng lợicủa khuynh hớng sản xuất lớn.

Trong nền kinh tế của thời kỳ quá độ lên CNXH, Lênin đặc biệt chú

ý và luôn luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của thành phần kinh tế CNTBnhà nớc, đặt hầu hết sự chú ý của nhà nớc Xô viết vào việc phát triển thànhphần kinh tế này Thậm chí bớc sang giai đoạn thực hiện NEP, Lênin coi đó

là bắt đầu một thời kỳ quá độ, là một bớc tiến từ "một nớc Cộng hòa Xô viếtXHCN chuyển sang CNTB nhà nớc" [21, tr 247] và ở Nga từ kinh tế tiểu tsản đến CNXH và CNTB nhà nớc đều trải qua một con đờng [21, tr 254]CNTB nhà nớc theo Lênin là "sự chuẩn bị vật chất đầy đủ nhất cho CNXH,

là phòng chờ đi vào CNXH, là nấc thang lịch sử mà giữa nó (nấc thang đó)với nấc thang đợc gọi là CNXH thì không có một nấc thang nào ở giữa cả"[21, tr 250] CNTB nhà nớc (trong đó có cả chính sách tô nhợng) mà mục

đích của nó dới CNXH theo Lênin là kiểu quan hệ kinh tế mà bên trên có vẻmột sự liên minh với CNTB nớc ngoài, cái kiểu quan hệ kinh tế ấy sẽ tạocho chính quyền của giai cấp vô sản có khả năng tiến hành ở bên dới việctrao đổi tự do với nông dân, Lênin còn cho rằng "hoặc là những quan hệ kiểu

ấy hoặc là không có gì hết" [21, tr 82]

Vấn đề CNTB nhà nớc, vấn đề mà "ngay cả Mác cũng không viếtmột lời nào" là một đóng góp quan trọng của Lênin trong quá trình pháttriển chủ nghĩa Mác về xây dựng CNXH trong điều kiện còn lạc hậu vềkinh tế kỹ thuật Đây cũng chính là một chỉ dẫn quý báu của Lênin về việc

sử dụng quyền lực nhà nớc của giai cấp vô sản trong phát triển kinh tế

Trong điều kiện nớc Nga sau Cách mạng tháng Mời, Lênin coiCNTB nhà nớc là thành phần kinh tế cao hơn, đứng trên thành phần kinh tế

Trang 12

XHCN Vấn đề khác nhau của CNXH và CNTB nhà nớc chính là vấn đềchính trị, tức là vấn đề giai cấp cầm quyền Lênin nêu vấn đề, mà theo Ngời

là "chân lý": "tốt hơn là nên trớc hết hãy thực hiện CNTB nhà nớc để rồi sau

đó, đi đến CNXH" [23, tr 326] Đó là một trong những nhiệm vụ mấu chốtcủa nhà nớc vô sản Để đánh tan những hoài nghi, phê phán cách hiểu kinhviện về CNTB nhà nớc, Lênin giải thích rằng "CNTB nhà nớc mà chúng tanói đó là một thứ CNTB mà chúng ta có thể hạn chế, có thể quy định giớihạn, CNTB nhà nớc đó gắn liền với nhà nớc, mà nhà nớc chính là côngnhân, chính là bộ phận tiên tiến của công nhân, là đội tiền phong, là chúngta" [23, tr 102] Khi thực hiện CNTB nhà nớc Lênin coi trọng "sự lãnh đạochính trị của giai cấp vô sản" Sự lãnh đạo này phải hớng vào giải quyếtnhững nhiệm vụ mấu chốt, cấp thiết nhất Mà trong một nớc tiểu nông thì

đó là "phục hồi ngay những LLSX của kinh tế nông dân" [21, tr 263].Trong lĩnh vực này những ý kiến của Lênin đặc biệt có giá trị phơng phápluận cho các Đảng cộng sản ở các nóc nông nghiệp Trong các nớc ấy, cũng

nh ở nớc Nga "tìm cách ngăn cấm, triệt để chặn đứng mọi sự phát triển của

sự trao đổi t nhân, không phải là quốc doanh, tức là của thơng mại, tức là củaCNTB, một sự phát triển không thể tránh đợc khi có hàng triệu ngời sảnxuất nhỏ Chính sách ấy là một sự dại dột và tự sát đối với đảng nào muốn

áp dụng nó Dại dột, vì về phơng diện kinh tế, chính sách ấy là không thểnào thực hiện đợc; tự sát, vì những đảng nào định thi hành một chính sách

nh thế, nhất định sẽ bị phá sản" [21, tr 267]

Để thực hiện đợc các nhiệm vụ "quy định", "giới hạn" CNTB nhà

n-ớc, Lênin nhấn mạnh nhà nớc chuyên chính vô sản phải cải tiến phơng pháplàm việc của bộ máy Xô viết theo hớng tăng cờng quyền lực trong điều kiệnnền KTTT

Bộ máy nhà nớc Xô viết là chuyên chính vô sản, nhà nớc của giaicấp công nhân và nông dân, nhng bộ máy ấy không phải sau khi giành đợcchính quyền đã hoạt động tốt Vì theo Lênin, bộ máy đó cha thực sự là công

Trang 13

nông, còn nhiều tàn d phong kiến và t sản nên phải xây dựng lâu dài Những

đảng viên cộng sản làm việc trong bộ máy còn cha có kinh nghiệm quản lý,làm việc kém hiệu quả; bộ máy còn cồng kềnh và thiếu sự kiểm tra giám sát

từ phía nhân dân Vì vậy, việc xây dựng nhà nớc Xô viết là một nhiệm vụnối tiếp quan trọng sau khi hoàn thành cuộc cách mạng giành chính quyền

vĩ đại

"Tôi biết rõ ràng chúng ta có những khuyết điểm trong bộ máy tổchức quần chúng", nhng "vấn đề không phải là ở chỗ lấy việc cải tổ nhanhchóng để cải tiến bộ máy đó, mà vấn đề là ở chỗ phải quán triệt cuộc cải tạochính trị đó để đạt tới một trình độ kinh tế - văn hóa khác" [22, tr 401]

Lênin đa ra ví dụ về ủy ban đặc biệt toàn Nga - tổ chức an ninh đặcbiệt chống lật đổ Nhng chuyển sang giai đoạn mới cần phải xác định rõchức năng và quyền hạn của nó và giới hạn công tác của nó vào nhữngnhiệm vụ chính trị, mà chủ yếu là thực hiện các chính sách kinh tế mới -KTTT "Phải thu hẹp phạm vi hoạt động của các cơ quan chuyên giáng trảlại" [22, tr 403-404] "Sắc lệnh thì chúng ta có quá nhiều và chúng ta làmsắc lệnh đó một cách quá vội vàng nhng việc chấp hành thực tiễn đó thìkhông đợc kiểm tra lại" [23, tr 17] Vấn đề không chỉ ở chỗ ra sắc lệnh mà

là ở chỗ làm thế nào để thực hiện đợc các sắc lệnh đó

Lênin đã từng chỉ rõ vấn đề chính quyền là vấn đề cơ bản của mọicuộc cách mạng Nhng giai cấp công nhân sau khi đã giành đợc chínhquyền thì "cái mấu chốt không phải là chính quyền mà cái mấu chốt chính

là biết lãnh đạo" [23, tr 128]

Thực chất những quan điểm về xây dựng bộ máy chính quyền Xôviết mà Lênin nêu ra là khắc phục những sai lầm khuyết điểm trong quản lýnền kinh tế của nhà nớc trong nền kinh tế nhiều thành phần với những quan

hệ thị trờng Nghĩa là trong điều kiện mới, nhà nớc phải tăng cờng quyềnlực của mình không phải bằng các mệnh lệnh hành chính quan liêu mà phảibằng các thể chế kinh tế - chính trị, công cụ để quản lý kinh tế Phải có kế

Trang 14

hoạch, chiến lợc, hệ thống pháp luật và các chính sách kinh tế hợp lý, đúng

đắn để quản lý chứ không phải can thiệp vào các quá trình hoạt động kinh

tế nh trong thời chiến

Tóm lại, Lịch sử phong trào XHCN thế giới đã chứng minh tính

đúng đắn của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của nhà nớc XHCN trongphát triển kinh tế Mặc dù ngày nay hệ thống XHCN đã tan rã do nhiềunguyên nhân khác nhau mà ở đây chúng ta không đề cập đến, nhng môhình phát triển kinh tế thống nhất và có kế hoạch của Liên Xô và của các n-

ớc XHCN trớc những năm tám mơi của thế kỷ XX đã đa lại những kinhnghiệm thành công mẫu mực về nhà nớc XHCN quản lý nền kinh tế

Những luận điểm này đã mang lại nhiều thành công trong thực tiễncủa nhà nớc XHCN lãnh đạo, quản lý nền KTTT nh: Thời kỳ NEP của LiênXô, giai đoạn đầu của mô hình kinh tế tự quản ở Nam T; những thành quả

to lớn trong chính sách cải cách mở cửa của Trung Quốc; và đổi mới ở ViệtNam

Chủ nghĩa Mác - Lênin và thực tiễn của các nớc xây dựng CNXHchỉ ra rằng, nhà nớc XHCN có thể sử dụng các hình thức quản lý quá độ,hỗn hợp, trong đó có thể sử dụng các quan hệ thị trờng để quản lý và pháttriển nền kinh tế

Tuy nhiên, nhà nớc quản lý nền kinh tế XHCN nh thế nào, còn làvấn đề cha có câu trả lời cuối cùng và vấn đề đó còn tùy thuộc vào điềukiện từng nớc và bối cảnh chung của thế giới Nhng không thể phủ nhận vaitrò đặc biệt của nhà nớc XHCN trong phát triển nền kinh tế quốc dân, đặcbiệt là trong nền KTTT định hớng XHCN hoặc thị trờng XHCN

1.1.2 Vài nét về một số lý thuyết và kinh nghiệm thế giới về vai trò chức năng nhà nớc đối với sự phát triển kinh tế

Các tác giả nổi tiếng là Ađam Smít và Đavit Ricarđô do đánh giáquá cao vai trò của lao động, đất đai và mậu dịch tự do, nên chủ trơng nền

Trang 15

kinh tế phải đợc điều khiển bởi "bàn tay vô hình" Các ông cha đánh giá

đúng vị trí của nhà nớc trong đời sống kinh tế Lý thuyết của các ông làcơ sở cho chủ nghĩa tự do cũ và mới Chủ nghĩa tự do mới cổ vũ cho sựtham gia tối thiểu của nhà nớc vào KTTT Điển hình cho mô hình KTTTtheo chủ nghĩa tự do là Mỹ Từ thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XX, CNTBphát triển chủ yếu theo khuynh hớng này Đặc điểm hoạt động của giai

đoạn này của CNTB là dựa trên sự bóc lột không thơng xót giai cấp côngnhân và nhân dân lao động, lấy tự do cạnh tranh làm động lực Sự phát triểncủa CNTB thờng kèm theo khủng hoảng định kỳ, tổng khủng hoảng, chiếntranh xâm chiếm thuộc địa và thị trờng, cao hơn là chiến tranh thế giới đểphân chia thị trờng Nhà nớc trong sự phát triển này thực sự là công cụ

đắc lực của giới chủ t bản Nhân dân thế giới phải trả giá đắt về xã hội cho

sự phát triển TBCN Chính vì phải trả giá đắt về xã hội cho KTTT, chính vì

sự bất lực của nhà nớc trớc các thế lực tài phiệt, nửa cuối thế kỷ XIX đãxuất hiện sự liên minh giữa nhà nớc và t bản hình thành CNTB nhà nớc.Mặc dầu vậy CNTB nhà nớc cũng không giải quyết đợc những căn bệnhcủa CNTB đó là khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp, phân hóa giàu nghèo,phá hủy môi trờng, chạy đua mù quáng vì lợi nhuận

Những năm 30 đến những năm 50 của thế kỷ XX những cuộc khủnghoảng kinh tế nổ ra thờng xuyên cho thấy "bàn tay vô hình" không thể bảo

đảm những điều kiện cho phát triển kinh tế Trình độ xã hội hóa càng cao

đặt ra vấn đề cần phải có lực lợng nhân danh xã hội can thiệp vào quá trìnhkinh tế, điều tiết kinh tế Nhà kinh tế học ngời Anh - J.M Keynes đã đa ra

lý thuyết điều tiết KTTT Ông cho rằng để khắc phục tình trạng khủnghoảng kinh tế, nhà nớc phải can thiệp vào quá trình kinh tế, phải huy độngvốn để mở mang sản xuất kinh doanh, giải quyết công ăn việc làm, tăng thunhập cho dân c, làm cho cầu tiêu dùng tăng lên, khuyến khích mở rộng sảnxuất kinh doanh Để làm đợc việc đó nhà nớc phải can thiệp vào quá trìnhkinh tế cả ở vĩ mô và vi mô Tuy nhiên với quan điểm này, ông gần nh phủnhận những quan hệ khách quan của KTTT

Trang 16

Cuối giai đoạn này đã xuất hiện sự hoài nghi đối với KTTT Hơn thếnữa phong trào cộng sản và công nhân thế giới đấu tranh chống lại sự pháttriển thị trờng TBCN, đề xuất một mô hình phát triển mới cho nhân loại, môhình XHCN dựa trên nền kinh tế kế hoạch hóa thống nhất.

Giai đoạn từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến những năm 80 củathế kỷ XX, KTTT mất uy thế trớc kinh tế kế hoạch hóa (đặc biệt theo môhình Xô viết) Cuộc tổng khủng hoảng đầu những năm 70 đã làm tăng mốihoài nghi về KTTT Nhiều nớc, đặc biệt là các nớc mới giành đợc độc lậpdân tộc, các nớc đang phát triển lựa chọn con đờng phát triển phi thị trờng,hớng theo con đờng kế hoạch hóa tập trung kiểu Xô viết Một số nớc kếthợp mô hình KTTT với mô hình Xô viết tạo ra mô hình hỗn hợp

Giai đoạn từ những năm 80 đến nay, sau khi khắc phục đợc khủnghoảng, các nền KTTT có bớc phát triển mới trên cơ sở thay đổi cơ cấu, đầu

t công nghệ cao, có sự tham gia điều tiết của nhà nớc Lúc này các nền kinh

tế kế hoạch hóa tập trung đã bộc lộ những nhợc điểm cơ bản, lâm vàokhủng hoảng, thậm chí phải chấp nhận sụp đổ để cải tạo lại Đó là thất bạicủa việc tuyệt đối hóa vai trò nhà nớc trong phát triển kinh tế KTTT đãchứng minh đợc u thế và sức sống của mình Ngày nay, hầu hết các nớc trênthế giới hoặc là đang tồn tại và phát triển KTTT hoặc là chuyển đổi nềnkinh tế của mình sang KTTT

Hiện nay vấn đề tham gia của nhà nớc vào đời sống KTTT đã trởthành vấn đề không tranh cãi Vấn đề là nhà nớc tham gia nh thế nào, ở lĩnhvực gì mà thôi ở đây chúng ta thấy câu trả lời là không đơn nghĩa

Nhìn chung, các nhà khoa học và quản lý đều nhất trí cho rằng,trong nền KTTT, nhà nớc đóng vai trò đặc biệt quan trọng Nhà nớc nh làngời điều tiết thị trờng bằng cách tạo những khuôn khổ pháp lý cho cáchoạt động kinh tế; xây dựng những điều kiện cho cạnh tranh hợp pháp;chống độc quyền; xây dựng chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội trong tổngthể; tham gia khắc phục những thất bại của thị trờng

Trang 17

Nghiên cứu một số lý thuyết, chúng ta có thể rút ra một số vấn đề:Nhìn chung các lý thuyết cổ điển đều cho rằng thị trờng là nhân tố chínhcủa sự phát triển, trong đó nhấn mạnh những yếu tố sản xuất trực tiếp nhvốn, đất đai và tích lũy có ý nghĩa quyết định Tuy nhiên các lý thuyết nàychỉ phù hợp với giai đoạn phát triển thấp, chủ yếu dựa vào lao động cơ bắp,vốn, tài nguyên.

Một số lý thuyết hiện đại đã thấy đợc tầm quan trọng của khoa học

kỹ thuật, thị trờng và nhà nớc Nhng còn tuyệt đối hóa KTTT, hoặc khoahọc kỹ thuật, hay vai trò nhà nớc mà cha thấy đợc tiềm năng con ngời Một

số lý thuyết đã nhấn mạnh vai trò quyết định của các thể chế trong quá trìnhphát triển

Kinh nghiệm thế giới hiện đại cho thấy, việc phát triển kinh tếkhông thể áp dụng tuyệt đối một lý thuyết nào Hầu hết các nớc thành côngtrong phát triển kinh tế đều áp dụng một cách tổng hợp linh hoạt mềm dẻocác lý thuyết và kinh nghiệm khác nhau vào thực tiễn phát triển kinh tếtrong từng giai đoạn cụ thể của đất nớc Các nớc HPAEs đã cung cấp nhữngkinh nghiệm quý báu

Từ 1960 đến nay, HPAEs đã lựa chọn cho mình một khuynh hớngphát triển đúng đắn là: Kinh tế thị trờng với "sự can thiệp có lựa chọn" củanhà nớc; cách mạng công nghệ, đặc biệt là tin học; thực hiện công bằng xã hội

Từ năm 1960, HPAEs tăng trởng nhanh gấp đôi các nền kinh tế

Đông á, gấp 3 lần so với Mỹ La tinh và Nam á, gấp 5 lần so với châu Phi,cận xa mạc Xahara Tuổi thọ trung bình tăng từ 65 tuổi năm 1960 lên 71 tuổinăm 1990 Tỷ lệ ngời đói giảm năm 1960: 58% xuống 17% năm 1990.Tăng trởng GDP theo đầu ngời từ 1965 đến 1990: HPAEs từ 5 - 6% nămtrong khi các nớc Đông á (trừ HPAEs) chỉ tăng từ 2 - 3% năm, châu Phicận xa mạc Xahara 0,5% năm [16, tr 21]

Trang 18

HPAEs đã tập trung xây dựng một nhà nớc đủ mạnh để "can thiệp

có lựa chọn", nhà nớc đó đợc xây dựng dựa trên ba điều kiện: (1) Giải quyếtcác vấn đề hoạt động chức năng của các thị trờng; (2) thực hiện diễn ratrong môi trờng nền tảng đúng đắn; (3) nhà nớc đa ra và quản lý các chuẩnmực hoạt động kinh tế thích hợp Nh vậy các HPAEs đã tập trung vào xâydựng môi trờng thể chế cho các hoạt động kinh tế mà trong đó hoạch địnhcác chính sách đóng vai trò quan trọng Nhà nớc bằng các thể chế kinh tế -chính trị, đã can thiệp một cách có hệ thống thông qua nhiều kênh, vớinhiều hình thức: Hỗ trợ tín dụng tới các ngành đợc lựa chọn, kìm giữ tỷ suấttiền gửi ở mức thấp; duy trì mức trần đối với tỷ suất cho vay để tăng lợinhuận; bảo hộ các ngành thay thế nhập khẩu ở trong nớc, tài trợ các ngànhsuy giảm; hỗ trợ tài chính cho các ngân hàng nhà nớc; đầu t công cộng;phát triển các thị trờng xuất khẩu; thông tin kịp thời

ở các nớc Đông Bắc á, chính phủ không những đặt ra chuẩn mực

rõ ràng cho những can thiệp có lựa chọn mà còn giám sát đợc các hoạt độngcủa thị trờng trong khi chi phí cho những can thiệp này đều không quá cao.Trên thực tế, sự can thiệp có lựa chọn buộc các chính phủ dựa vào quản lýkinh tế vĩ mô một cách thận trọng Ví dụ các giải pháp chính phủ đa ra vàthực hiện là: Thực hiện đầu t cao luôn đạt 20% GDP và phân bổ nguồn vốnhợp lý, tập trung vào các ngành có hiệu quả kinh tế cao, đầu t lớn vào conngời (nguồn nhân lực), tài chính ổn định và bảo đảm

Ngoài ra các chính phủ, điển hình nhất là chính phủ Nhật Bản đã tạo

ra những cuộc chạy đua kết hợp với sự cạnh tranh trên cơ sở thị trờng vớinhững lợi ích hợp tác giữa khu vực nhà nớc với t nhân (các nớc Nhật Bản,Hàn Quốc đã phát triển các cơ cấu thể chế trong đó các công ty cạnh tranhvới nhau để giành giữ phần thởng có giá trị kinh tế Nhật thực hiện các cuộcthi đấu trên cơ sở thị trờng, ngăn cấm độc quyền Nhà nớc Nhật Bản chorằng, thà tạo ra cạnh tranh giữa một số ít công ty cân sức còn hơn để mộtcông ty lớn cạnh tranh với nhiều đối thủ nhỏ, đây là một nguyên tắc có thể

Trang 19

nhận thấy ở thi đấu thể thao theo hạng cân) Thực chất, nhà nớc tổ chức cáccuộc thi đấu và đa ra các luật lệ và trọng tài.

Thực hiện nguyên tắc ổn định kinh tế vĩ mô và chính sách gia tăngxuất khẩu, Chính phủ các nớc này đã rất tôn trọng các giải pháp chính sáchchính thống - đặc biệt là duy trì mức thâm hụt ngân sách ở mức có thể bù

đắp đợc, đồng thời đẩy mạnh xuất khẩu Do đó lạm phát luôn luôn đợckiểm soát, quản lý đợc nợ trong nớc và nớc ngoài Bằng cách lập ra các tổchức kiểm soát nh: Ban Tiền tệ ở Singapo, dựa vào luật lệ cân bằng ngânsách ở Inđônêxia, hệ thống tỷ giá hối đoái ở Thái Lan Các nớc này đã duytrì mức thâm hụt ngân sách ở mức có thể quản lý đợc, lạm phát ở mức thấp

và ổn định trong suốt thời kỳ tăng trởng đã không gây mất ổn định kinh tế

vĩ mô (tỷ lệ lạm phát trung bình từ 1961 - 1991 ở Hồng Công 8,8%;Inđônêxia: 12,4%; Hàn Quốc 12,2%; Malaixia 3,4%; Singapo 3,6%, ĐàiLoan 6,2%; Thái Lan 5,6%) [16, tr 184] Cùng với duy trì lạm phát ở mứcthấp, họ đã kiểm soát tốt nợ nớc ngoài (ví dụ nh ở Hàn Quốc: Năm 1984, làcon nợ đứng thứ 4 thế giới Từ năm 1986, chính phủ Hàn Quốc đã theo đuổimột chính sách giảm nợ tích cực dựa vào các khoản dự trữ ngày càng tăng

do xuất khẩu mang lại để thanh toán trớc kế hoạch, do đó: năm 1990, tỷ lệ

nợ so với GDP giảm xuống còn 14%) [16, tr 188] Cùng với những hành

động trên, các chính phủ HPAEs đã tập trung đối ứng nhanh khi nền kinh tế

bị sức ép về tài chính và những cú sốc về kinh tế, nhằm ổn định kinh tế vĩmô, vợt qua đợc những thách thức về chính trị Ví dụ: ở Thái Lan với cú sốcdầu lửa - những năm 1970 nền kinh tế đã bớc vào bùng nổ chi tiêu côngcộng và t nhân 1980 - 1981 thâm hụt trong khu vực công cộng chiếm 7%GDP Chính phủ mới đắc cử 1980 đã nhận thức đợc rằng: Cần phải điềuchỉnh kinh tế vĩ mô; lựa chọn chính sách tiền tệ bị hạn chế bởi tỷ giá hối

đoái cố định và thị trờng vốn tơng đối mở Do đó họ đã lựa chọn con đờngkhác thu hẹp tài chính, tiến hành từng bớc trong nhiều năm cắt giảm chitiêu và tăng thu nhập Kết quả là thâm hụt của chính phủ giảm từ 8% GDP

Trang 20

(năm 1981 - 1982) xuống còn 1,6% GDP (năm 1986 - 1987) Trong khi đóthu nhập thuế tăng từ 1,3% GDP (năm 1982) lên 16% (năm 1998) [16, tr.198-199].

Bên cạnh các chính sách ổn định kinh tế vĩ mô nh nguyên tắc tàichính ổn định và tiết kiệm công cộng cao, giữ đợc sức cạnh tranh Họ đãtập trung vào khuyến khích xuất khẩu, thực hiện tín dụng xuất khẩu, nhậpkhẩu có lợi cho sản xuất, miễn thuế cho các nhà xuất khẩu lớn, giảm bớtbảo hộ nhập khẩu đã góp phần làm ổn định kinh tế vĩ mô

Đặc biệt, để thực hiện đợc tăng trởng, các chính phủ đã tập trungvào việc tạo dựng nền thể chế mạnh với ý tởng tăng trởng cùng chia sẻ - đây

là giải pháp hữu hiệu trong việc tăng cờng vai trò nhà nớc trong lĩnh vực xãhội ở các nớc này

Thực hiện nguyên tắc đầu t lớn vào con ngời trên ý tởng tăng trởngcùng chia sẻ, các HPAEs đã tập trung vào xây dựng các thể chế cho tăng tr-ởng mạnh và mở rộng cho các nhóm ngời trong xã hội đều có lợi Tập trungvào việc tạo nguồn vốn con ngời (u tiên giáo dục ở các cấp thấp, phổ cậpgiáo dục tiểu học, mở rộng giáo dục trung học cơ sở, giảm tỷ lệ phát triểndân số, đào tạo nghề ), đồng thời tăng tiết kiệm và đầu t; phân bố hiệu quả

và thay đổi năng suất; thị trờng lao động linh hoạt Bên cạnh đó họ thựchiện cải cách ruộng đất và tạo ra một chế độ sở hữu công bằng, giải quyếtvấn đề nhà ở cho các đối tợng là các hộ gia đình có thu nhập thấp, Tất cảnhững điều đó đã bảo đảm đợc sự tăng trởng gắn kết với công bằng xã hội,hạn chế những thất bại của thị trờng

Để làm đợc việc đó, các HPAEs đã tập trung xây dựng một nhà nớcmạnh có đủ năng lực để tạo môi trờng pháp lý cho các hoạt động sản xuấtkinh doanh Bớc đầu tiên là tuyển dụng những công chức công minh, tàigiỏi, trung thực, có khả năng vạch ra chiến lợc có tính khả thi Tạo môi tr-ờng kinh doanh thuận lợi và hoạch định các chính sách bám sát với quyềnlợi của các khu vực, các lực lợng kinh tế

Trang 21

Xin nêu một ví dụ có tính chất kinh nghiệm về xây dựng một nhà

n-ớc mạnh - hệ thống pháp lý mạnh ở một số nn-ớc ASEAN (Inđônêxia,Singapo, Malaixia, Thái Lan, Philippin)

Sau khi thoát khỏi sự thống trị của đế quốc phơng Tây, giành đợc

độc lập dân tộc, các nớc này bớc vào xây dựng đất nớc Nhng qua nhiềuthập kỷ, kết quả mà họ thu đợc không nh mong muốn Đến những năm cuốithập kỷ 70, họ ý thức đợc rằng muốn phát triển KTTT thì trớc hết phải tạomôi trờng chính trị ổn định Do đó họ tập trung xây dựng một nhà nớcmạnh và hệ thống pháp luật kinh tế một cách đồng bộ Bộ máy nhà nớc đợcxây dựng trên cơ sở tập trung quyền lực, lấy hiệu quả trong hoạt động làmtiền đề thúc đẩy sự phát triển Bằng việc tập trung quyền lực, nhà n ớc đồngthời đa ra những thể chế và hoạch định chính sách phù hợp, đa vào bộ máychính quyền những cán bộ am hiểu và thạo nghiệp vụ chuyên môn, tích cựcloại trừ các quan chức tham nhũng Nhờ đó nhà nớc kiểm soát đợc các quan

hệ kinh tế - xã hội, huy động đợc các nguồn lực trong xã hội hớng vào việcphát triển đất nớc

Hệ thống pháp lý của các HPAEs luôn đợc điều chỉnh phù hợp vớithực tiễn của nền kinh tế và những biến chuyển của xã hội Nhờ hệ thốngcác văn bản pháp luật đồng bộ có tính khả thi, nhà nớc đã thu hút đợc cácnguồn đầu t trong và ngoài nớc và cũng qua đó nhà nớc kiểm soát, điềuchỉnh đợc nguồn đầu t sao cho quyền lợi ngời lao động và môi trờng sinhthái trong nớc đợc bảo vệ

Để có một nhà nớc mạnh, các HPAEs đã tập trung trí tuệ cao độ chocác hoạt động của nhà nớc thông qua cơ chế đào tạo sử dụng và nuôi dỡngnhân tài Đây là nội dung cốt lõi trong việc xây dựng nhà nớc pháp quyềntrong nền KTTT Để có đội ngũ đủ phẩm chất năng lực họ đã chú ý tìmnguồn phục vụ cả trớc mắt và lâu dài Đồng thời thực hiện chế độ thi tuyển

và trả lơng xứng đáng, xử lý nghiêm theo pháp luật những công chức viphạm pháp luật tham nhũng

Trang 22

Chính việc xây dựng một nhà nớc mạnh, không những đủ năng lựcquản lý kinh tế - xã hội đã đem lại khả năng đoàn kết dân tộc và khai thác

đợc mọi nguồn lực trên thực tế phục vụ cho sự nghiệp phát triển Đồng thờicũng tạo ra khả năng thực tế để toàn dân tham gia vào đấu tranh bài trừtham nhũng một cách hiệu quả

Việc xây dựng một nhà nớc mạnh, hệ thống pháp lý hoàn thiện và

đồng bộ, làm cơ sở cho mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế và giữ đợc độc lậpdân tộc Đây là lĩnh vực thành công nhất của các nớc HPAEs Họ đã biếttận dụng thời cơ trong bối cảnh quốc tế hóa nền kinh tế thế giới, biến ngoạilực thành nội lực để phát triển kinh tế Có thể nói, từ thập kỷ 70 đến nay,tuy các nớc này gặp không ít khó khăn trong nền KTTT (nhất là khủnghoảng tài chính những năm gần đây) Nhng bằng việc tập trung xây dựngmột nhà nớc mạnh có đủ năng lực và đã phát huy vai trò của nó trong nềnKTTT, đã giúp cho các nớc HPAEs có đợc sự thành công Nền kinh tế tăngtrởng ổn định trong nhiều thập kỷ

ở Mỹ la tinh các cải cách bắt đầu sau một cuộc khủng hoảng kinh

tế khu vực kéo dài 15 năm Các đờng lối cải cách đợc bắt đầu bằng việc từ

bỏ "con đờng thứ ba", tức là con đờng phát triển thỏa hiệp giữa mô hìnhkinh tế CNXH và CNTB Trớc cải cách, ở các nớc Mỹ la tinh, nhà nớc quản

lý một tỷ trọng 70 - 80% nền kinh tế, chủ yếu là các ngành công nghiệp, tàichính, tín dụng và coi đó là một đảm bảo cho phát triển kinh tế và độc lập

về chính trị Mặc dù vậy nền kinh tế vẫn không thoát khỏi trì trệ và khủnghoảng

Khi chuyển sang KTTT mở cửa vào những năm 80, cùng với việcxây dựng các thể chế thị trờng tự do các nớc này thực hiện quá trình phi nhànớc hóa tối đa các hoạt động kinh tế, ủng hộ DNTN, tạo điều kiện thuận lợicho đầu t nớc ngoài, cho phép rộng rãi các công ty nớc ngoài mở các doanhnghiệp tự đầu t tới 100% vốn

Trang 23

Với việc giảm bớt tỷ trọng thành phần nhà nớc trong nền kinh tếquốc dân, cùng với việc tự do hóa kinh tế và giảm thiểu sự can thiệp củanhà nớc trong những năm cải cách, kinh tế Mỹ la tinh khởi sắc, đạt mứctăng trởng GDP hàng năm từ 3 - 5%.

Mặc dầu vậy những thành công của KTTT ở Mỹ la tinh phải chịunhững trả giá cao về mặt xã hội Sự phân hóa giàu nghèo hết sức lớn, Mỹ latinh là nơi còn tồn tại nhiều bất công trong quá trình cải cách ở nhiều nớc,KTTT đã tạo ra sự bất ổn xã hội, tạo điều kiện cho các chế độ độc tài lêncầm quyền Điển hình của nớc trả giá đắt về xã hội cho thị trờng theo chủnghĩa tự do là Chi-Lê ở đất nớc này 6.677 tổ chức công đoàn và 34.000

đoàn viên công đoàn phải chịu đàn áp hoặc cấm hoạt động Những thànhquả xã hội của nhân dân lao động Chi-Lê hầu nh bị phá vỡ Cho

đến những năm cuối thế kỷ XX có 40% c dân Chi-Lê sống ở mức nghèokhổ [27, tr 20]

ở các nớc Đông Âu và Liên Xô cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hộicủa mô hình CNXH hành chính nhà nớc (nhà nớc quản lý nền kinh tế bằng

kế hoạch tập trung thống nhất theo phơng pháp hành chính quan liêu) đãbuộc các nớc này phải tiến hành các cuộc cải cách kinh tế Nội dung nhữngcuộc cải cách này là chuyển nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêubao cấp sang nền KTTT ở các nớc này khi hệ thống cung cấp của nhà nớckhông cung cấp đủ hàng hóa và dịch vụ, ngời dân đã bắt đầu tìm đến thị tr-ờng mà trớc hết là thị trờng chợ đen Và cũng chính lúc này quyền lực nhànớc suy giảm Cho đến đầu những năm 90, các cuộc cải cách theo hớngKTTT ở các nớc XHCN Đông Âu đã trở thành xu hớng không đảo ngợc đ-

ợc Các bớc quá độ sang KTTT ở các nớc này chủ yếu diễn ra theo ba giai

đoạn và gắn liền với các giai đoạn đó là sự chuyển đổi vai trò chức năng củanhà nớc trong nền kinh tế: (1) Tự do hóa nền kinh tế; (2) t nhân hóa và cổphần hóa các cơ sở kinh tế thuộc sở hữu nhà nớc và tập thể; (3) cấu trúc lại

Trang 24

nền kinh tế, trong đó gồm chuyển đổi cơ cấu, hệ thống quản lý và hệ thống

tổ chức nền kinh tế

Trong quá trình chuyển đổi này, tùy theo điều kiện từng nớc, cáccuộc cải cách đợc tiến hành theo phơng pháp khác nhau: theo "liệu phápsốc" và "liệu pháp êm dịu" Mặc dầu vậy sự thành công cũng không nhấtquán Đa số các nớc tiến hành "liệu pháp sốc" trong điều kiện tơng đối ổn

định về chính trị, tức là nhà nớc có vai trò chủ động, kiểm soát đợc tìnhhình, thì thành công về kinh tế sớm hơn Ví dụ: Ba Lan, Tiệp Khắc và cácnớc Ban Tích Trong lúc đó Nga và các nớc SNG khác thì ngợc lại Liênbang Nga trong bớc đầu cải cách thực hiện chủ trơng "nhà nớc tối thiểu thịtrờng tối đa" Điều này khác hẳn với truyền thống và tập quán của nớc Nga,

đã làm cho cuộc cải cách kinh tế ở đây kém thành công, diễn biến phức tạp,nhiều lĩnh vực, nhiều ngành kinh tế đã lọt vào tay mafia Nhà nớc từ chỗ chỉhuy toàn bộ nền kinh tế đến chỗ buông lỏng dẫn đến suy yếu quyền lực cảtrong kinh tế và trong xã hội

Sự yếu kém đó buộc Liên bang Nga phải nhận thức lại vấn đề vai tròcủa nhà nớc trong KTTT Hiện nay, nhìn chung d luận ở Liên bang Nga đềucho rằng, trong nền KTTT ở Nga cần có một nhà nớc mạnh và linh hoạt

Trong quá trình cải cách ở các nớc này cũng diễn ra cuộc tranh luận

về vai trò của nhà nớc trong KTTT Việc thay đổi chức năng kinh tế của nhànớc liệu có suy giảm quyền lực nhà nớc? Mặc dù mới quá độ sang KTTT, ởNga và SNG (tuy có trình độ kinh tế xã hội khoa học kỹ thuật và điều kiện

tự nhiên khác nhau) đều cho rằng nhà nớc trong nền KTTT thực hiện một

số chức năng cơ bản sau đây:

- Điều tiết thị trờng

- Khắc phục những hạn chế (thất bại) của thị trờng (chủ yếu là cáchàng hóa công cộng và dịch vụ xã hội)

- Bảo đảm xã hội

Trang 25

- An ninh quốc gia, hòa bình và an sinh công dân.

Tóm lại, Qua nghiên cứu một số lý thuyết và thực tiễn một số nớc,

- Khắc phục những khuyết tật của KTTT

- Đảm bảo xã hội và điều tiết xã hội cho dân c

- ổn định chính trị xã hội, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế

(3) Thực tiễn KTTT hiện đại cho thấy rằng sự thành công của pháttriển kinh tế không hoàn toàn phản ánh sự gia tăng tơng ứng sự can thiệpcủa nhà nớc vào kinh tế Quyền lực nhà nớc không hoàn toàn tỷ lệ thuậnhay tỷ lệ nghịch với việc tăng cờng kiểm soát các hoạt động kinh tế Vai trònhà nớc trong KTTT ở các nớc khác nhau sẽ khác nhau Một nền KTTTthành công đòi hỏi phải có một nhà nớc vững mạnh Việc tăng cờng quyềnlực nhà nớc trong nền KTTT chính là tìm ra phơng thức thích hợp để quản lýnhà nớc KTTT, "chung sống" với thị trờng có hiệu quả

1.2 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò

chức năng nhà nớc trong kinh tế thị trờng

Từ khi ra đời cho đến nay, mặc dù với tên gọi khác nhau trong từnggiai đoạn cách mạng, Đảng ta luôn khẳng định Nhà nớc ta là nhà nớc củagiai cấp công nhân và nhân dân lao động - Nhà nớc của dân, do dân và vìdân Nhà nớc đó có vai trò hết sức quan trọng trong cuộc đấu tranh giảiphóng dân tộc, thống nhất đất nớc và xây dựng CNXH

Trang 26

Cuộc cách mạng XHCN ở nớc ta là một quá trình biến đổi toàndiện, liên tục, sâu sắc và triệt để Đó là quá trình kết hợp cải tạo với xâydựng, mà xây dựng là chủ yếu Đó là quá trình xóa bỏ cái lạc hậu, phát huycái tiến bộ, cải tạo cái cũ, xây dựng cái mới Phải xây dựng cả lực lợng sảnxuất mới lẫn quan hệ sản xuất mới; xây dựng cả cơ sở kinh tế mới lẫn kiếntrúc thợng tầng mới; xây dựng cả đời sống vật chất mới lẫn đời sống tinhthần mới [3, tr 18].

Để đa cách mạng XHCN đến thắng lợi hoàn toàn, "Điều kiện quyết

định trớc tiên là phải thiết lập và không ngừng tăng cờng chuyên chính vôsản thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao

động" [3, tr 18]

Yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng XHCN đòi hỏi phải

có một nhà nớc mạnh có đủ năng lực quản lý đất nớc Ngay từ đầu, ĐảngCộng sản Việt Nam đã tập trung xây dựng và kiện toàn nhà nớc XHCN theohớng tăng cờng vai trò, hiệu lực của nhà nớc về tổ chức và quản lý kinh tế,văn hóa xã hội Xác định rõ vai trò nhà nớc - là công cụ thực hiện quyền lựcchính trị của nhân dân, tiến hành tổ chức xây dựng kinh tế nâng cao đờisống nhân dân lao động "Nhà nớc chuyên chính vô sản của ta phải là nhànớc của dân, do dân và vì dân, một tổ chức đủ năng lực tiến hành ba cuộccách mạng (cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học kỹ thuật,cách mạng t tởng văn hóa), xây dựng chế độ mới, nền kinh tế mới, nền vănhóa mới và con ngời mới, bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân lao động"[3, tr 61]

Để thực hiện vai trò đó - Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IV đã xác

định từng bớc thực hiện hệ thống quản lý kinh tế, nhằm vào những vấn đềquan trọng nhất là tổ chức lại nền sản xuất xã hội trong phạm vi cả nớc; cảitiến phơng thức quản lý kinh tế lấy kế hoạch làm chính; kiện toàn bộ máyquản lý kinh tế [3, tr 61]

Trang 27

Vai trò nhà nớc thể hiện rõ trong quản lý nền kinh tế bằng kế hoạchhóa toàn bộ nền kinh tế quốc dân, quản lý nền kinh tế tập trung thống nhất

từ trung ơng đến địa phơng

Tuy nhiên, với cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu bao cấp,cùng với sai lầm khuyết điểm nóng vội, chủ quan duy ý chí, can thiệp vàotất cả các hoạt động kinh tế (trói buộc các chủ thể kinh tế trong một cơ chếquản lý, kế hoạch hóa sản xuất cứng nhắc), kết quả là sản xuất trì trệ, dẫn

đến khủng hoảng kinh tế - xã hội

Nhận thức đợc những sai lầm khuyết điểm trên, bắt đầu từ Đại hội

Đảng toàn quốc lần thứ V (3/1982), Đảng Cộng sản Việt Nam bớc đầu đề

ra và từng bớc thực hiện đổi mới chính sách kinh tế và quản lý kinh tế Xác

định nền kinh tế gồm nhiều thành phần, nhiều trình độ kỹ thuật, nhiều quymô hoạt động, nhiều loại hình sản xuất kinh doanh và đang có nhiều mấtcân đối gay gắt Do đó, thích ứng với nền kinh tế ấy phải có cơ chế quản lýnăng động, có khả năng xóa bỏ tập trung quan liêu, bảo thủ trì trệ và baocấp tràn lan, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ Cơ chế quản lýmới phải mở rộng quyền chủ động cho cơ sở, địa phơng và ngành, đồngthời bảo đảm cho trung ơng nắm chắc những khâu cần quản lý Lấy kếhoạch nhà nớc làm trung tâm, đòn bẩy, vận dụng các quan hệ thị trờng - thị tr-ờng có tổ chức [3, tr 72-73]

Thực hiện chủ trơng đó, vai trò nhà nớc trong kinh tế cũng từng bớc

đợc chuyển đổi, từ quyết định toàn bộ các hoạt động kinh tế chuyển dầnsang quản lý kinh tế ở tầm vĩ mô

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, quyết tâm thực hiện đờng lối

đổi mới toàn diện trên mọi lĩnh vực Trớc hết là đổi mới kinh tế, đồng thờivới từng bớc đổi mới kinh tế là đổi mới chính trị - trọng tâm là đổi mới vaitrò nhà nớc trong quản lý kinh tế Thực hiện nền kinh tế hàng hóa nhiềuthành phần vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo

Trang 28

định hớng XHCN với cơ chế quản lý kinh tế hạch toán kinh doanh XHCN.Vai trò nhà nớc chuyển hẳn từ can thiệp sâu vào các hoạt động kinh tế sangquản lý kinh tế vĩ mô bằng các công cụ: Kế hoạch; pháp luật; chính sách vàsức mạnh kinh tế của các DNNN Báo cáo chính trị Đại hội VI xác định rõ:Cơ chế quản lý của nhà nớc đối với lĩnh vực kinh tế đó là quản lý hànhchính - kinh tế, đối với xã hội là quản lý hành chính - xã hội Song cần thấyrằng, đây không phải là thứ hành chính quan liêu mà là quản lý hành chínhphản ánh đúng các quan hệ xã hội khách quan thành những mệnh lệnh hànhchính có tính bắt buộc chung cho mọi ngời tuân theo - Nhà nớc quản lýbằng các thể chế nhà nớc trong mọi lĩnh vực.

Trong lĩnh vực kinh tế, Nghị quyết nhấn mạnh: phân biệt rõ chứcnăng của các cơ quan nhà nớc (các bộ, các tổng cục ) là quản lý hànhchính - kinh tế với chức năng của các đơn vị kinh tế cơ sở là quản lý sảnxuất kinh doanh Lâu nay do lẫn lộn chức năng này nên có tình trạng "cáccơ quan quản lý hành chính - kinh tế can thiệp sâu vào hoạt động sản xuất,kinh doanh của các đơn vị cơ sở nhng lại không chịu trách nhiệm gì về cácquyết định của mình; các đơn vị ở cơ sở mất quyền tự chủ, lại bị ràng buộctrách nhiệm với kết quả sản xuất kinh doanh Vì vậy, xảy ra tình trạng ngờilàm nhiều bị khuyết điểm nhiều, ngời làm ít bị ít khuyết điểm, hạn chế tínhnăng động sáng tạo của cơ sở, ỷ lại vào kế hoạch, mệnh lệnh bên trên Tiêuchí đánh giá về hiệu lực của bộ máy nhà nớc bị sai lệch, các cơ quan nhà n-

ớc buông lơi, không thực hiện chức năng quản lý hành chính - kinh tế củamình

Đổi mới t duy kinh tế theo tinh thần Nghị quyết Đại hội VI của

Đảng đòi hỏi nhà nớc phải tập trung thực hiện chức năng quản lý kinh tếcủa mình - theo các nhiệm vụ:

- Xây dựng kịp thời chính sách, cân đối các kế hoạch kinh tế dài hạn

và kế hoạch kinh tế hàng năm cho sự phát triển kinh tế - xã hội Với nớc ta,

Trang 29

phải xây dựng chiến lợc kinh tế - xã hội cho một thời kỳ phát triển tơng đốidài - thời kỳ quá độ lên CNXH.

- Xây dựng hệ thống pháp luật, chính sách, chế độ, thể lệ, địnhmức trong quản lý kinh tế

- Xây dựng cơ chế quản lý mới và hệ thống tổ chức quản lý kinh tếphù hợp với cơ chế đó, nhằm phát huy mạnh mẽ quyền chủ động trong sảnxuất kinh doanh của các đơn vị cơ sở

- Đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế, cán bộ khoa học kỹ thuật,công nhân kỹ thuật có đủ phẩm chất năng lực

Đại hội VII, VIII của Đảng tiếp tục đổi mới và nâng cao quá trìnhnhận thức về phát triển nền KTTT định hớng XHCN Thực hiện kinh tếnhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớctheo định hớng XHCN là chính sách nhất quán của Đảng Đi đôi với pháttriển KTTT không thể tách rời với việc xây dựng và vận hành có hiệu quảcơ chế quản lý mới "cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định h-ớng XHCN"

Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng đã khẳng định:

Sản xuất hàng hóa không đối lập với CNXH, mà là thành tựu pháttriển của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan, cần thiết cho côngcuộc xây dựng CNXH ở nớc ta

Trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở nớc ta, thị trờngtheo định hớng XHCN là một thể thống nhất với nhiều lực lợng tham giasản xuất lu thông, trong đó KTNN giữ vai trò chủ đạo, thị trờng trong nớcgắn với thị trờng thế giới

Thị trờng vừa là căn cứ, vừa là đối tợng của kế hoạch Kế hoạch nhànớc từ chỗ mang tính pháp lệnh thì hiện nay chủ yếu mang tính định hớng

và đặc biệt quan trọng trên bình diện vĩ mô Thị trờng có vai trò trực tiếp

Trang 30

h-ớng dẫn các đơn vị kinh tế lựa chọn lĩnh vực hoạt động và phơng án tổ chứcsản xuất kinh doanh.

KTTT định hớng XHCN ở nớc ta yêu cầu tất yếu phải nâng caonăng lực tự chủ của các chủ thể sản xuất kinh doanh, đồng thời xác lập đầy

đủ vai trò quản lý vĩ mô của nhà nớc nhằm phát huy tác dụng đi đôi vớingăn ngừa hạn chế tiêu cực của nó Điều đó đã đợc Đảng ta xác định nh làvấn đề có tính nguyên tắc trong đổi mới kinh tế và đổi mới nhận thức về vaitrò nhà nuớc trong KTTT: "Nhà nớc quản lý thị trờng bằng pháp luật, kếhoạch, chính sách, các công cụ đòn bẩy kinh tế và các nguồn lực của khuvực kinh tế nhà nớc" [2, tr 60]

Để thực hiện các chủ trơng đó, nhà nớc phải tăng cờng vai trò quản

lý của mình, xây dựng các thể chế kinh tế phù hợp với các quan hệ KTTT.Nhà nớc phải tạo lập đồng bộ các yếu tố của thị trờng, các loại hình thị tr-ờng nh: thị trờng hàng hóa - dịch vụ; thị trờng lao động; thị trờng bất độngsản; thị trờng vốn; thị trờng tài chính, tiền tệ

Nhà nớc phải hoàn chỉnh hệ thống pháp luật về kinh tế, tạo hànhlang pháp lý cho các chủ thể kinh tế hoạt động sản xuất kinh doanh Phápluật phải thực sự trở thành công cụ để nhà nớc quản lý nền kinh tế

Cùng với hệ thống pháp luật đồng bộ, nhà nớc phải tiếp tục đổi mớicông tác kế hoạch hóa điều tiết nền KTTT hớng theo mục tiêu CNH, HĐH

đất nớc Hệ thống kế hoạch phải quán triệt đờng lối chủ trơng của Đảng, đa

ra các mục tiêu vĩ mô, xác định tốc độ phát triển, cơ chế và các cân đối lớn,xác định chính sách, giải pháp để dẫn dắt thị trờng hoạt động theo hớngphát huy mặt tích cực hạn chế mặt tiêu cực của KTTT

Nhà nớc phải thực hiện tốt các chức năng định hớng sự phát triểnbằng cách đổi mới và hoàn thiện các thể chế tài chính, tiền tệ, trực tiếp đầu

t vào một số lĩnh vực mà t nhân không muốn đầu t hoặc không thể kinhdoanh đợc, một số lĩnh vực có vai trò dẫn dắt nền kinh tế phát triển theo

Trang 31

định hớng XHCN, thiết lập khuôn khổ pháp luật; hoạch định hệ thống chínhsách nhất quán, tạo môi trờng thể chế ổn định thuận lợi cho sản xuất kinhdoanh; khắc phục những hạn chế của KTTT; phân phối và phân phối lại thunhập quốc dân, bảo đảm về mặt xã hội cho công dân.

Thực chất chức năng của nhà nớc theo quan điểm của Đảng ta: Nhà

nớc vừa là chủ thể kinh tế vừa là cơ quan duy nhất có quyền lực quản lý nhànớc nền kinh tế, định hớng và điều tiết nền kinh tế phát triển theo định hớngXHCN Sự thành bại trong quá trình quản lý, điều tiết trong nền KTTT củanhà nớc XHCN sẽ quyết định quy mô năng lực của nó trong đời sống chínhtrị xã hội và tính định hớng XHCN của nền kinh tế nớc ta

Trang 32

Chơng 2

Vai trò nhà nớc cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

trong phát triển kinh tế thị trờng

định hớng xã hội chủ nghĩa từ 1986 đến nay

2.1 Thực trạng nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội

chủ nghĩa ở Việt Nam từ 1986 đến nay

2.1.1 Một số đặc điểm chủ yếu của nền kinh tế Việt Nam trớc

và trong đổi mới

Trong quá trình thực hiện xây dựng CNXH, do nóng vội, chủ quanmuốn có ngay CNXH, nhng không lờng hết khó khăn của bớc chuyển từmột nền sản xuất nhỏ đi lên CNXH bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN,chúng ta đã nhanh chóng thực hiện công cuộc "cải tạo XHCN" theo môhình kinh tế Xô-viết với cơ chế quản lý kinh tế: kế hoạch hóa tập trungquan liêu bao cấp

ở miền Bắc từ sau 1954 và cả nớc sau 1975, hầu hết các quan hệkinh tế - xã hội chủ yếu dựa trên nền kinh tế kế hoạch hóa "tập trung cao

độ" T liệu sản xuất đợc quốc hữu hóa toàn bộ, hầu nh nền kinh tế dựa trênhai hình thức sở hữu toàn dân và tập thể Mọi hoạt động kinh tế đều do nhànớc quản lý bằng mệnh lệnh hành chính, nguyên tắc phân phối chủ yếu làbao cấp theo chế độ bình quân

Qua nhiều năm thực hiện, kết quả đạt đợc không nh mong muốn.Tăng trởng kinh tế trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1976-1980) không

đáng kể; kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1981-1985) GDP chỉ tăng 0,4% năm;trong khi mức tăng dân số bình quân 2,3% năm; sản lợng công nghiệp tăng0,6% năm; nông nghiệp tăng 1,9% năm; lạm phát lên tới hơn 700% năm(1985-1986) [24, tr 44]

Trang 33

Kinh tế tăng trởng thấp, gây khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài,trình trạng thất nghiệp tăng, tiền lơng không đủ sống, trật tự an toàn xã hộikhông đợc bảo đảm, tham nhũng và nhiều tệ nạn xã hội khác lan rộng, côngbằng xã hội bị vi phạm, nếp sống văn hóa tinh thần bị xói mòn, lòng tin vào

Đảng và Nhà nớc giảm sút [8, tr 3]

Nh vậy, thực hiện mô hình kinh tế trên, không những đã gây nhiều

tiêu cực trong đời sống kinh tế mà còn ảnh hởng đến đời sống chính trị - xã

hội Chủ nghĩa bình quân không kích thích đợc sản xuất Chế độ sở hữu

công cộng với hai hình thức sở hữu toàn dân và tập thể trong điều kiện nềnkinh tế cha phát triển cùng với việc quản lý kinh tế yếu kém của nhà nớc đãtrở thành sở hữu "không của ai cả", ngời lao động thờ ơ với sở hữu, bộ phận

có chức có quyền biến sở hữu đó phục vụ lợi ích cá nhân; tham nhũng, tham

ô, cửa quyền

Về xã hội, vì quá coi trọng thành phần kinh tế quốc doanh nên đãnhà nớc hóa mọi hoạt động kinh tế xã hội mà không tính đến các điều kiệnkhách quan và yêu cầu của đời sống kinh tế của nhân dân Bằng các biệnpháp hành chính chúng ta đã tạo dựng một xã hội cơ bản chỉ có hai giai cấp:công nhân và đồng minh chiến lợc của nó - giai cấp nông dân tập thể Đâycũng chính là hai giai cấp làm cơ sở cho chính quyền công nông Bộ máynhà nớc phình to, các xí nghiệp, cơ quan đợc xây dựng bừa bãi Công dânkhông làm việc trong lĩnh vực nhà nớc bị coi thờng, các thành phần phi nhànớc và các quan hệ thị trờng bị xem nhẹ, lợi ích ngời dân không đợc bảo

đảm, mất dần tình tích cực chính trị Những ngời có năng lực và muốn làm

ra của cải vật chất, không đợc phép thì không dám làm Những ngời đợclàm thì thụ động ngồi chờ kế hoạch và bao cấp của nhà nớc

Việc duy trì lâu mô hình và cơ chế quản lý kinh tế trên đã dẫn đến

sự trì trệ trong kinh tế Khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài, đời sống nhândân suy giảm dẫn tới dân mất lòng tin - thiếu tin vào sự lãnh đạo của Đảng

và quản lý của nhà nớc, hoài nghi với chế độ Các chính sách xã hội không

Trang 34

thực hiện đợc đầy đủ trong tất cả các ngành liên quan đến bảo đảm xã hội

nh giáo dục, y tế, văn hóa đều xuống cấp Ngay các đối tợng chính sách nhgia đình có công với cách mạng, gia đình thơng binh liệt sĩ cũng cha đợc

đãi ngộ đúng mức, liên minh công nông có nguy cơ bị phá vỡ Mối quan hệgiữa Đảng với Nhà nớc và nhân dân không đợc củng cố, Đảng và Nhà nớcmất dần dân Đờng lối của Đảng không đợc thực hiện một cách nghiêm túc,hiệu lực quản lý của nhà nớc suy yếu, pháp luật pháp chế không đợc tăng c-ờng, kỷ cơng xã hội bị đảo lộn quyền lực chính trị của nhân dân không đ-

ợc thực hiện trọn vẹn, mất dân chủ, việc thực thi quyền lực nhà nớc thiếuhiệu lực, nhà nớc trở thành bộ máy quan liêu Trong thực tế từng tồn tạitình trạng là nhà nớc càng muốn tăng cờng sự kiểm soát đối với đời sốngkinh tế bằng các mệnh lệnh bao nhiêu thì tình hình phát triển kinh tế càngkém đi bấy nhiêu

Nh vậy, thực tiễn cho thấy, mô hình kinh tế "CNXH Xô-viết" mặc

dù đã có những thành tựu to lớn trớc những năm 70 đã tỏ ra không đủ khảnăng đáp ứng đợc đòi hỏi khách quan của thời kỳ quá độ lên CNXH ởnhững nớc có điểm xuất phát kinh tế thấp nh nớc ta

Điều đó đặt ra cho toàn Đảng một thách thức lớn, tìm kiếm một môhình xây dựng CNXH phù hợp với điều kiện nớc ta: vừa tăng cờng đợcquyền lực nhà nớc XHCN - thành quả đấu tranh cách mạng hàng thập kỷcủa nhân dân ta chống thực dân đế quốc và bọn tay sai, vừa bảo đảm pháttriển kinh tế, nâng cao mức sống của nhân dân

Có thể nói sự kiện khởi đầu cho sự tìm tòi đổi mới bắt đầu từ Hộinghị Trung ơng lần thứ 6 khóa IV (tháng 9 - 1979) Hội nghị thảo luậnnhững vấn đề kinh tế - xã hội cấp bách Những biện pháp mà Hội nghịquyết định nhằm khắc phục tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội là:

- Coi việc đẩy mạnh sản xuất lơng thực, thực phẩm và nguyên liệucho công nghiệp là nhiệm vụ cấp bách

Trang 35

- Khuyến khích sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp "bung ra",

ổn định mức thu nghĩa vụ, trao quyền chủ động cho xí nghiệp, giải quyếthợp lý hơn lợi ích của nhà nớc, tập thể và ngời lao động (3 lợi ích)

- Khẳng định sự cần thiết tồn tại thị trờng tự do, trong quản lý nềnkinh tế phải kết hợp kế hoạch với thị trờng; khẳng định nền kinh tế miềnNam là một nền kinh tế 5 thành phần

Nghị quyết Trung ơng 6 lập tức đi vào cuộc sống, cùng với các Chỉ thị 100, Nghị quyết 25CP đã tạo ra những chuyển biến tích cực rõ rệttrong đời sống kinh tế - xã hội của đất nớc Cơ chế thị trờng dần dần đợchình thành, góp phần tạo lập một thị trờng thống nhất trong cả nớc Tình trạng ngăn sông cấm chợ, thu nghĩa vụ và thuế tùy tiện đợc giảmhẳn Hàng tiêu dùng sản xuất trong nớc mặc dù chất lợng còn kém nhng phong phú hơn, giảm đợc tình trạng căng thẳng thiếu lơng thực(năm 1981-1985 lơng thực huy động tăng gấp đối so với thời kỳ 1976-1980)

Đại hội V tiếp tục nhận thức sâu hơn về những sai lầm trong nhậnthức, t tởng, lý luận và tổ chức thực hiện Chỉ rõ trong quá trình xây dựngCNXH, chúng ta cha thấy hết khó khăn, nhận thức không đúng quy luật củaquá trình tiến từ sản xuất nhỏ đi lên sản xuất lớn XHCN, thiếu tri thức khoahọc, nóng vội chủ quan, bảo thủ trì trệ trong t tởng và lý luận Đại hội đề ranhiệm vụ đổi mới quản lý kinh tế Xác định nền kinh tế nớc ta gồm nhiềuthành phần, thích ứng với nền kinh tế đó phải có một cơ chế năng động, cókhả năng xóa bỏ tập trung, quan liêu bao cấp, bảo thủ trì trệ và bao cấp trànlan, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ Cơ chế quản lý mới phảibảo đảm đợc những yêu cầu:

Mở rộng quyền chủ động cho cơ sở, địa phơng và các ngành, trung

-ơng nắm chắc những khâu cần quản lý Cơ chế đó phải lấy kế hoạch nhà

nớc là trung tâm, coi trọng các đòn bẩy kinh tế, vận dụng các quan hệ thị tr

-ờng, chủ yếu là thị trờng có tổ chức, chống chạy theo thị trờng tự do

Trang 36

Đổi mới kế hoạch theo hớng nhà nớc nắm các khâu, các ngành chủyếu, cơ sở thực hiện tự chủ sản xuất kinh doanh

Bảo đảm các chính sách đòn bẩy kinh tế vì lợi ích nhà nớc và tậpthể, ngời lao động

Nhà nớc chuyển dần sang quản lý hành chính kinh tế bằng các thểchế, quản lý bằng pháp luật - nhất là pháp luật kinh tế

Mặc dù vậy, sau cuộc tổng điều chỉnh "giá lơng tiền" năm 1985 tìnhhình càng khó khăn, cuộc khủng hoảng kéo dài

Đại hội Đảng VI thực hiện đổi mới toàn diện đất nớc, trớc hết là đổimới t duy, trọng tâm là đổi mới t duy kinh tế theo hớng xây dựng nền kinh

tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lýcủa nhà nớc theo định hớng XHCN Đồng thời với đổi mới kinh tế là từngbớc đổi mới hệ thống chính trị, trọng tâm là đổi mới vai trò quản lý của nhànớc Quan điểm này đã đợc Đại hội VII, Đại hội VIII cụ thể hóa, tiếp tụcthực hiện và đợc ghi trong Hiến pháp 1992 "Nhà nớc phát triển nền kinh tếhàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc

định hớng XHCN"

Thực hiện chủ trơng đổi mới và các quyết định quan trọng của

Đảng, từ năm 1986 đến nay, kinh tế xã hội nớc ta đã có những bớc chuyểnbiến tích cực, phát triển nhanh chóng "Nớc ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh

tế - xã hội, nhng một số mặt còn cha vững chắc" [4, tr 67] Nền kinh tế đạt

đợc nhiều thành tựu quan trọng, tạo tiền đề bớc vào thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH đất nớc Tốc độ tăng trởng bình quân của nền kinh tế, 1986-19903,9% năm; 1991-1995 8,2% năm; 1996 9,34%; 1997 8,15%; 1998 5,8%;

1999 4,7% Sự phát triển kinh tế đã góp phần cải thiện đợc đời sống nhândân Nếu nh năm 1989 ngời nghèo chiếm 55% đến năm 1995 chỉ còn 38%[14, tr 262], tỷ lệ thất nghiệp giảm: ở khu vực thành thị 9 - 10% vào năm1990-1992, giảm xuống 6,08% vào năm 1994, 5,88% năm 1996 và 6,85%

Trang 37

năm 1998 Tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 12% năm 1992 tăng lên 17% năm

đạt tiêu chuẩn này Số lợng học sinh trung học phổ thông tăng cao, năm học

1998 - 1999 đã tăng 18,9% so với năm học 1997 - 1998; quy mô dạy nghềnăm 1999 tăng 21,8% so với năm 1998; quy mô giáo dục đại học 1998 -

1999 tăng gấp 2 lần so với năm học 1995 - 1996 [11, tr 6-8] Mạng lới y tế

đợc phát triển rộng khắp các vùng, các địa phơng trong cả nớc Năm 1998,cả nớc có 13.330 cơ sở y tế (199,1 nghìn giờng), trong đó có 1.944 bệnhviện và phòng khám khu vực (118,8 nghìn giờng),

119 viện điều dỡng, 11.201 trạm y tế (64,3 nghìn giờng); 22,43% số xã cóbác sĩ công tác tại trạm y tế, năm 1999 tăng lên 25%; hơn 90% trẻ em đợctiêm chủng [17, tr 25-28]

Thành công trên cho thấy mô hình phát triển KTTT định hớngXHCN ở nớc ta là hoàn toàn phù hợp Việc thực hiện đa dạng hóa các hìnhthức sở hữu, thừa nhận sự tồn tại các thành phần kinh tế đã khắc phục đợctình trạng làm chủ "không của ai cả", khơi dậy đợc tiềm năng sản xuất, ngờilao động thấy rõ và có quyền lợi trong kinh tế Hạn chế đợc những tiêu cựctrong việc lợi dụng chế độ sở hữu công cộng trớc đây

Thực hiện phân phối theo lao động và thừa nhận thu nhập chính

đáng từ kết quả lao động, khuyến khích làm giàu hợp pháp đã làm cho tínhtích cực chính trị của ngời dân đợc phát huy

Trang 38

Cơ cấu giai cấp, xã hội đã có những chuyển biến phù hợp và tíchcực, công - nông xích lại gần nhau hơn, vai trò vị trí của giai cấp công nhân

và những ngời lao động trong nông nghiệp tăng lên

Dân chủ đợc mở rộng, ngời dân đợc tham gia vào việc lãnh đạo của

Đảng, quản lý của Nhà nớc làm cho vai trò quyền lực nhà nớc tăng cờng và

đợc thực thi một cách hiệu quả hơn trong thời kỳ bao cấp Ngời dân đã yêntâm sống và làm việc theo pháp luật

Kinh tế tăng trởng, đời sống nhân dân đợc nâng lên, niềm tin củanhân dân vào chế độ, vào Đảng, Nhà nớc đợc củng cố Cơ sở chính trị - xãhội của Đảng và Nhà nớc vững mạnh hơn làm cho vai trò lãnh đạo của

Đảng, quyền lực Nhà nớc ngày càng đợc tăng cờng và phát huy

KTTT ở nớc ta mới ở giai đoạn sơ khai, cha đạt đến một trình độKTTT hiện đại Biểu hiện: Trình độ phát triển hàng hóa dịch vụ còn thấp,sản xuất lơng thực vẫn là chủ yếu (70% số ngời đang độ tuổi lao động làmnghề nông) Công nghiệp chế biến hàng nông sản còn nhỏ yếu, một số vùngsâu, vùng xa kinh tế tự nhiên còn tồn tại; thị trờng dân tộc cha thống nhất,

đang trong quá trình hình thành; thị trờng hàng hóa dịch vụ còn hạn hẹp lạinhiều tiêu cực (hàng giả, hàng nhập lậu, hàng nhái nhãn hiệu ); thị trờnghàng hóa sức lao động mới manh nha nhng thiếu sự quản lý của nhà nớc;sức lao động giản đơn quá nhiều trong khi lao động ngành nghề chuyênmôn quá thiếu; các thể chế kinh tế (tài chính, ngân hàng ) đã đổi mới nhngcòn nhiều trắc trở, giải ngân kém, thiếu kiểm soát ; còn sự bất bình đẳnggiữa kinh tế nhà nớc và các thành phần kinh tế khác; cơ sở hạ tầng thấp kémcha đáp ứng đợc đòi hỏi của vận động thị trờng; quan hệ đối tác giữa thị tr-ờng nội địa với thị trờng nớc ngoài còn nhiều khó khăn nhất là sự yếu kém

về trình độ thuần thục của thị trờng, công nghệ, vốn Hệ thống luật pháp,cơ chế chính sách còn cha đồng bộ, thiếu nhất quán, thực hiện changhiêm

Trang 39

Đặc điểm đó cho thấy việc phát triển KTTT định hớng XHCN trongnhững năm tới phải tăng cờng hơn nữa vai trò nhà nớc trong quản lý và điềutiết nền kinh tế.

2.1.2 Thực trạng và những vấn đề đặt ra trong phát triển nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

* Thực trạng:

Nhìn lại kinh tế Việt Nam từ 1986, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã phân tích và rút ra kết luận đúng đắn về thực trạng kinh tế - xãhội hiện nay ở nớc ta

Thứ nhất, từ một nền kinh tế bao cấp, chuyển sang KTTT, nhng đến

nay sự phát triển sản xuất hàng hóa vẫn còn khá chênh lệch giữa các vùng vàcác ngành Nông nghiệp, nông thôn tuy đã có bớc phát triển, sản lợng lơngthực xuất khẩu đứng thứ ba trên thế giới nhng vấn đề an ninh lơng thực vẫn làvấn đề chúng ta phải quan tâm Bộ mặt nông thôn ngày nay đã có bớc thay đổi(hệ thống điện, đờng, trờng, trạm) song còn quá khó khăn, nhất là vùng sâu,vùng xa Đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, dân trí thấp

Thứ hai, KTTT nội địa mới sơ khai lại gắn với KTTT thế giới hiện

đại do CNTB chi phối Việc thu hút vốn đầu t nớc ngoài do thế và lực kinh

tế yếu kém cùng với các thủ tục phiền hà, trên thực tế chúng ta cha vợt khỏibớc đi mò mẫm nên còn nhiều lúng túng Sự cạnh tranh thị trờng nội địa vớithị trờng thế giới còn thấp, các DNNN cha phát huy đợc vị trí nòng cốt củakinh tế nhà nớc - cha giữ vai trò chủ đạo - để rơi vào tình trạng phụ thuộc,

bị động, phát sinh nợ nần chồng chất và dễ chịu sự tác động của nhữngcuộc khủng hoảng kinh tế tài chính thế giới

Thứ ba, KTTT mới phát triển bớc đầu, nhng đã chịu sự tác động khá

mạnh cả tích cực và tiêu cực, tăng trởng kinh tế không bền vững (tăng trởngkinh tế năm 1998, 1999 suy giảm, GDP chỉ đạt đợc 5,8% (1998)

và 4,7% (1999)) Trong khi đó hiện tợng lừa đảo, gian lận trong kinh tế

Trang 40

đã phát sinh và có nguy cơ phát triển càng sâu rộng, thất thoát tài sản, vốnhàng ngàn tỷ đồng, tệ nạn xã hội phát triển làm băng hoại các giá trị

đạo đức

Thứ t, trong lĩnh vực bộ máy tổ chức cán bộ, tổ chức thực hiện còn

nhiều bất cập và hạn chế Cha thực hiện tốt, cha tôn trọng quyền tự do sảnxuất kinh doanh của nhân dân và các doanh nghiệp, luật pháp, chính sáchcha nhất quán, còn nhiều tiêu cực làm cho nhân dân cha mạnh dạn bỏ vốnkinh doanh theo luật khuyến khích đầu t (kể cả Việt kiều), nhân dân cònmang nặng tâm lý tìm hiểu, nghe ngóng, thăm dò thái độ, chính sách củanhà nớc, nên vốn đầu t trong nớc còn quá thấp, cha phát huy đợc yếu tố nộisinh

Thứ năm, các thành phần kinh tế trong nền KTTT ở nớc ta đã biết

phối hợp, liên minh liên kết trong sản xuất kinh doanh trên cơ sở một hànhlang pháp lý chung dẫn đến hoàn thiện và công bằng Nhng u thế về nhiềumặt vẫn thuộc về các DNNN Các DNNN phần lớn đang thua lỗ, trì trệ và làcon nợ lớn nhất của quốc gia Hiện nay chính sách đổi mới DNNN, cổ phầnhóa DNNN đã cải thiện đáng kể thực trạng DNNN Nhng những điểm yếu

cố hữu của nó vẫn tồn tại, đó là kém năng động, kém tính cạnh tranh, mặc

dù có u thế về huy động vốn

Thứ sáu, phân hóa giàu nghèo còn khoảng cách lớn, tiêu cực trong

kinh tế và trong xã hội cha đợc ngăn chặn

Tóm lạ i, nền kinh tế nớc ta hiện nay bên cạnh những thời cơ vận

hội vẫn đang đứng trớc thử thách rất lớn; nhiều bộ phận của cơ chế cũ đã

đ-ợc xóa bỏ, nhng một số vẫn còn tồn tại Thị trờng đã mở rộng nhng khôngphải đã hoạt động thuần thục

* Những vấn đề đặt ra:

Thứ nhất, từ một nớc nông nghiệp chủ yếu, muốn trở thành một nớc

công nghiệp hiện đại đòi hỏi chúng ta phải đầu t lớn vào các lĩnh vực, nhất

Ngày đăng: 19/02/2014, 14:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Ban tuyên huấn Trung ơng (1987), Đề cơng giới thiệu Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sách giáo khoa Mác - Lênin, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề cơng giới thiệu Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Ban tuyên huấn Trung ơng
Nhà XB: Nxb Sách giáo khoa Mác - Lênin
Năm: 1987
[2]. Ban t tởng văn hóa Trung ơng (1996), Tài liệu nghiên cứu Văn kiện Đại hội VIII của Đảng, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu Văn kiện "Đại hội VIII của Đảng
Tác giả: Ban t tởng văn hóa Trung ơng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
[3]. Đảng cộng sản Việt Nam (1977), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1977
[4]. Đảng cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
[5]. Đảng cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (Dự thảo) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Năm: 2000
[6]. Đảng cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (Dự thảo) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Năm: 2000
[7]. Đảng cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
[8]. Đảng cộng sản Việt Nam (1991), Chiến lợc ổn định và phát triển kinh tế xã hội đến năm 2000, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lợc ổn định và phát triển kinh tế xã hội đến năm 2000
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
[9]. Lê Xuân Đình (1999), "ổn định tiền tệ và năng động hóa môi trờng đầu t", Cộng sản (23) Sách, tạp chí
Tiêu đề: ổn định tiền tệ và năng động hóa môi trờng đầu t
Tác giả: Lê Xuân Đình
Năm: 1999
[10]. Nguyễn Thị Hằng (2000), Xóa đói giảm nghèo một điểm sáng của thời kỳ đổi mới đất nớc, Báo Nhân Dân (16334) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xóa đói giảm nghèo một điểm sáng của thời kỳ đổi mới đất nớc
Tác giả: Nguyễn Thị Hằng
Năm: 2000
[11]. Phạm Minh Hạc (2000), "Ba năm thực hiện nghị quyết Trung ơng hai (khóa VIII) về giáo dục và đào tạo", Xây dựng Đảng (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ba năm thực hiện nghị quyết Trung ơng hai (khóa VIII) về giáo dục và đào tạo
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Năm: 2000
[12]. Phạm Quang Huấn (1999), Bao giờ có tập đoàn kinh doanh lành mạnh, Thời báo kinh tế (81) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bao giờ có tập đoàn kinh doanh lành mạnh
Tác giả: Phạm Quang Huấn
Năm: 1999
[13]. Đỗ Mời (1997), Văn kiện Hội nghị BCHTW lần thứ 3 (khóa VIII), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị BCHTW lần thứ 3 (khóa VIII)
Tác giả: Đỗ Mời
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
[14]. Ngân hàng thế giới (1998), Nhà nớc trong một thế giới đang chuyển đổi, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.262 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nớc trong một thế giới đang chuyển "đổi
Tác giả: Ngân hàng thế giới
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
[15]. Phan Xuân Sơn (2000), "Chính sách cổ phần hóa và t nhân hóa - một số kinh nghiệm nớc ngoài vào Việt Nam", Sinh hoạt lý luận (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách cổ phần hóa và t nhân hóa - một số kinh nghiệm nớc ngoài vào Việt Nam
Tác giả: Phan Xuân Sơn
Năm: 2000
[16]. Trung tâm Châu á - Thái Bình Dơng (1997), Sự thần kỳ Đông á, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự thần kỳ Đông á
Tác giả: Trung tâm Châu á - Thái Bình Dơng
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1997
[17]. Tổng cục Thống kê (1999), "Sự nghiệp y tế ở nớc ta trớc ngỡng cửa của thế kỷ 21", Con số và sự kiện (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự nghiệp y tế ở nớc ta trớc ngỡng cửa của thế kỷ 21
Tác giả: Tổng cục Thống kê
Năm: 1999
[18]. Đoàn Duy Thành (1999), "Kinh tế thị trờng và sự vận hành của cơ chế thị trờng ở Việt Nam", Cộng sản (18) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế thị trờng và sự vận hành của cơ chế thị trờng ở Việt Nam
Tác giả: Đoàn Duy Thành
Năm: 1999
[19]. Trần Hữu Thung (1999), "Việc làm của ngời lao động bảo đảm và nâng cao chất lợng cuộc sống", Cộng sản (21) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việc làm của ngời lao động bảo đảm và nâng cao chất lợng cuộc sống
Tác giả: Trần Hữu Thung
Năm: 1999
[20]. V.I.Lênin (1977), Toàn tập, tập 42, Nxb Tiến bộ, Matxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1977

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w