TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG HỒ CHÍ MINH KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TIỂU LUẬN MÔN: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM, ANH CHỊ CHO BIẾT VAI TRÒ CỦA ĐẢNG TRONG VIỆC LÃNH ĐẠO
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG HỒ CHÍ MINH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN MÔN: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM, ANH (CHỊ) CHO BIẾT VAI TRÒ CỦA ĐẢNG TRONG VIỆC LÃNH ĐẠO NHÂN DÂN VƯỢT QUA NHỮNG THÁCH THỨC TRONG THỜI KỲ HỘI
NHẬP HIỆN NAY
CHẤM ĐIỂM
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2021
Trang 2DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
NỘI DUNG 1
1 Cơ sở lý thuyết 1
1.1 Những khó khăn của Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám 1945 1
1.2 Giải quyết những khó khăn sau Cách mạng tháng Tám 2
2 Cơ sở thực tiễn: Tình hình bối cảnh hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay 4
2.1 Cơ hội – thành tựu 4
2.2 Hạn chế – thách thức 7
2.3 Nhận xét 8
3 Từ bài học kinh nghiệm đến giải pháp vượt qua thách thức hiện nay 9
4 Kết luận 11
TÀI LIỆU THAM KHẢO 12
Trang 3DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
UNESCO
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên
hợp quốc
Trang 4NỘI DUNG
Hội nhập quốc tế là xu hướng tất yếu để phát triển đất nước Việt Nam giàu mạnh Trong quá trình này, nước ta đã và đang gặp phải những thách thức bên cạnh những thuận lợi Việc nắm vững bài học lịch sử, đặc biệt quá trình vượt qua khó khăn của Đảng sau Cách mạng tháng Tám là rất quan trọng Vì vậy, cần thấy
rõ vai trò của Đảng, từ đó tìm ra phương pháp giải quyết khó khăn hiện nay
1 Cơ sở lý thuyết
1.1 Những khó khăn của Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám 1945
Sau cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời đã phải đối mặt với nhiều khó khăn
Đối ngoại gặp nhiều cản trở Trên thế giới phe đế quốc chủ nghĩa nuôi dưỡng
âm mưu mới “chia lại hệ thống thuộc địa thế giới”, ra sức tấn công, đàn áp phong trào cách mạng thế giới, trong đó có cách mạng Việt Nam Do lợi ích cục bộ của mình, các nước lớn, không có nước nào ủng hộ lập trường độc lập và công nhận địa vị pháp lý của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Việt Nam bị bao vây cách biệt hoàn toàn với thế giới bên ngoài Cách mạng Việt Nam phải đương đầu với nhiều bất lợi, khó khăn, thử thách hết sức to lớn và rất nghiêm trọng
Ngoại xâm và nội phản hoành hành Quân đội các nước Đồng minh dưới
danh nghĩa giải giáp quân Nhật đã lũ lượt kéo vào nước ta Từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc, gần 20 vạn quân Trung Hoa Dân quốc kéo vào đóng ở Hà Nội và khắp các tỉnh Theo sau là Việt Nam Quốc dân đảng, Việt Nam Cách mạng đồng minh hội
về nước hòng cướp chính quyền của ta Từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam, quân Anh tạo điều kiện cho thực dân Pháp quay lại xâm lược
Còn 6 vạn quân Nhật chờ giải giáp Một bộ phận quân Nhật theo quân Anh đánh lực lượng vũ trang của ta, giúp cho quân Pháp mở rộng phạm vi chiếm đóng
Tình hình trong nước đặc biệt khó khăn Chính quyền cách mạng vừa mới
thành lập, chưa củng cố, lực lượng vũ trang còn yếu Nến nông nghiệp nước ta vốn lạc hậu, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề; hậu quả nạn đói cuối năm 1944 –
Trang 5đầu năm 1945 chưa khắc phục được Tiếp là nạn lụt lớn, làm vỡ đê ở chín tỉnh Bắc Bộ, hạn hán kéo dài Các cơ sở công nghiệp chưa kịp phục hồi sản xuất Hàng hóa khan hiếm, giá cả tăng vọt, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn
Ngân sách Nhà nước hầu như trống rỗng Trong lúc đó, quân Trung Hoa Dân quốc lại tung ra loại tiền Trung Quốc đã mất giá, khiến tài chính nước ta thêm rối loạn Tàn dư văn hóa lạc hậu của chế độ thực dân, phong kiến để lại hết sức nặng
nề Hơn 90% dân số không biết chữ Với những khó khăn đó, đất nước đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”
1.2 Giải quyết những khó khăn sau Cách mạng tháng Tám
Xây dựng chế độ mới và chính quyền cách mạng là bước đầu tiên Ngày
25-11-1945, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc,
nhận định tình hình và định hướng đi lên của cách mạng Việt Nam sau khi giành được chính quyền Chỉ thị đề ra nhiều biện pháp cụ thể giải quyết khó khăn hiện thời của cách mạng Việt Nam, trong đó nêu rõ cần nhanh chóng bầu cử Quốc hội
để đi đến thành lập Chính phủ chính thức, lập ra Hiến pháp, động viên lực lượng toàn dân; về ngoại giao phải đặc biệt chú ý “làm cho nước mình ít kẻ thù và nhiều bạn đồng minh hơn hết”; đối với Tàu Tưởng nêu chủ trương “Hoa – Việt thân thiện”, đối với Pháp “độc lập về chính trị, nhân nhượng về kinh tế” Về tuyên truyền, hết sức kêu gọi đoàn kết chống chủ nghĩa thực dân Pháp xâm lược
Chống giặc đói, đẩy lùi nạn đói là một nhiệm vụ lớn, quan trọng, cấp bách
lúc bấy giờ Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh tập trung chỉ đạo, động viên mọi tầng lớp nhân dân tham gia các cuộc vận động, như: tăng gia sản xuất, tiết kiệm với khẩu hiệu tăng gia sản xuất ngay, tăng gia sản xuất nữa; lập hũ gạo tiết kiệm, tổ chức Tuần lễ vàng, gây Quỹ độc lập, Quỹ Nam Bộ kháng chiến Bãi
bỏ thuế thân và nhiều thuế vô lý của chế độ cũ, thực hiện chính sách giảm tô 25%
Chống giặc dốt, xóa nạn mù chữ được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi
trọng Đảng và Hồ Chí Minh chủ trương phát động phong trào “Bình dân học vụ”, toàn dân học chữ quốc ngữ để từng bước xóa bỏ nạn dốt; vận động xây dựng nếp sống mới, văn hóa mới để đẩy lùi tệ nạn, hủ tục, thói quen cũ, lạc hậu
Trang 6Khẩn trương xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng
Ngày 6-1-1946, vượt qua mọi hành động chống phá của kẻ thù, hơn 90% cử tri trong cả nước đi bỏ phiếu Đây là lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, nhân dân
ta được thực hiện quyền công dân
Ngày 2-3-1946, kì họp đầu tiên ở Hà Nội, Quốc hội xác nhận thành tích của Chính phủ trong những ngày đầu xây dựng chế độ mới, thông qua danh sách Chính phủ liên hiệp kháng chiến và lập ra Ban dự thảo Hiến pháp Bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ hòa được Quốc hội thông qua ngày 9-11-1946
Lực lượng vũ trang được chú trọng xây dựng Việt Nam Giải phóng quân được chấn chỉnh và đổi thành Vệ quốc đoàn Ngày 22-5-1946, Vệ quốc đoàn được đổi thành Quân đội Quốc gia Việt Nam Cuối năm 1945, lực lượng dân quân, tự
vệ đã tăng lên hàng chục vạn người
Kháng chiến chống thực dân Pháp trở lại xâm lược ở Nam Bộ
Đêm 22 rạng sáng 23-9-1945, được sự giúp đỡ của quân Anh, thực dân Pháp cho quân đánh úp trụ sở Ủy ban nhân dân Nam Bộ và cơ quan tự vệ thành phố Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai Trung ương Đảng Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo kháng chiến, huy động lực lượng
cả nước chi viện cho Nam Bộ và Nam Trung Bộ Hàng vạn thanh niên gia nhập quân đội, các đoàn quân “Nam tiến", sát cánh cùng với nhân dân Nam Bộ và Nam Trung Bộ chiến đấu Những cán bộ và chiến sĩ hăng hái, có kinh nghiệm chiến đấu đều dành cho đoàn quân "Nam tiến" Nhân dân Bắc Bộ và Bắc Trung ủng hộ nhân dân Nam Bộ và Nam Trung Bộ kháng chiến
Trước hoàn cảnh phải đối phó với Pháp ở Miền Nam và sự uy hiếp của quân Trung Hoa Dân quốc ở miền Bắc, Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương tạm thời hoà hoãn, tránh cùng một lúc ta phải đối phó với nhiều kẻ thù
Đấu tranh với quân Trung Hoa Dân quốc và bọn phản cách mạng ở miền Bắc
Trang 7Ta nhân nhượng một số yêu sách kinh tế, chính trị cho quân Trung Hoa Dân quốc: như tiêu tiền: “Quan kim”, Quốc tệ”, cung cấp một phần lương thực cho chúng; nhường 70 ghế trong quốc hội và 4 ghế bộ trưởng trong chính phủ
Đảng tuyên bố tự giải tán, rút vào hoạt động bí mật Ta kiên quyết vạch trần
âm mưu và hành động chia rẽ, phá hoại của bọn phản động tay sai, trừng trị theo pháp luật những kẻ phá hoại có đủ bằng chứng
Hòa hoãn với Pháp nhằm đầy quân Trung Hoa Dân quốc ra khỏi nước ta
Ngày 28-2-1946, Pháp và Trung Hoa Dân quốc kí hiệp ước Hoa – Pháp Hiệp ước Hoa – Pháp đặt nhân dân ta trước hai con đường phải lựa chọn: Hoặc chống Pháp, không cho Pháp đổ bộ lên miền Bắc; hoặc chủ động đàm phán, hoà hoãn với Pháp để tránh tình trạng phải đối phó với nhiều kẻ thù trong một lúc Đảng ta
đã chọn giải pháp "hoà để tiến"
Chiều 6-3-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt chính phủ ký với Pháp
"Hiệp định sơ bộ" Nội dung Hiệp định sơ bộ: Pháp công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do có chính phủ, nghị viện, quân đội, tài chính riêng nằm trong khối liên hiệp Pháp Chính phủ Việt Nam đồng ý cho mười lăm ngàn quân Pháp được ra miền Bắc làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật và rút dần trong thời hạn năm năm Hai bên ngừng mọi cuộc xung đột ở miền Nam đi đến cuộc đàm phán chính thức ở Pa-ri…
2 Cơ sở thực tiễn: Tình hình bối cảnh hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay
Ngoài những cơ hội, thành tựu mà hội nhập quốc tế đem đến, nó cũng đặt ra nhiều thách thức cho quá trình phát triển Điều này đòi hỏi vai trò lãnh đạo sáng suốt của các bộ, ngành và đặc biệt là Đảng để “lèo lái con tàu vươn ra biển lớn”
2.1 Cơ hội – thành tựu
Hội nhập về kinh tế: Thị trường kinh tế được mở rộng và thu hút vốn đầu tư nước ngoài là thành công đầu tiên cần nói đến Ngày nay, các doanh nghiệp Việt
Nam đã bước ra khỏi thị trường trong nước và những thị trường quốc tế truyền
Trang 8thống để hợp tác với những thị trường quốc tế mới, giàu tiềm năng Đảng và Nhà nước luôn đặt chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế lên đầu Việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã đánh mốc quan trọng trong quá trình hội nhập “Sau khi gia nhập WTO, Việt Nam chính thức bước chân vào trường quốc tế và nỗ lực hội nhập kinh tế thế giới Sự góp mặt của Việt Nam trên sân chơi kinh tế toàn cầu thể hiện qua việc Việt Nam đã ký kết 12 Hiệp định Thương mại tự do, 4 Hiệp định đang trong vòng đàm phán và 1 Hiệp định đang trong quá trình xem xét (số liệu tính đến tháng 01/2016)”[7]
Việc quyết định ký kết, tham gia các Hiệp định Thương mại tự do thế hệ mới tác động lớn đến nền kinh tế Việt Nam thông qua việc mở rộng thị trường xuất nhập khẩu, theo đó, lượng hàng hóa xuất nhập khẩu sang các nước đối tác sẽ tăng lên, tăng cường củng cố các thị trường truyền thống, khám phá nhiều thị trường tiềm năng để thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược với các nền kinh tế quan trọng
Hội nhập về chính trị: gia nhập Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) – mở đầu của những mở đầu
“Hội nhập quốc tế về chính trị là quá trình các quốc gia tham gia vào các cơ chế quyền lực tập thể vì những mục tiêu, lợi ích của quốc gia mình”[6] Năm
1995, Việt Nam đã gia nhập ASEAN Nói về sự kiện này, nguyên Phó Thủ tướng,
Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm đã nhận định đây là một quyết sách kịp thời và đúng đắn, cho thấy ta đã nắm bắt xu thế toàn cầu hóa gắn với khu vực hóa
Hội nhập quốc tế về chính trị nói chung và gia nhập ASEAN nói riêng là phương thức mở đường, thúc đẩy hội nhập trong các lĩnh vực khác Nó đem lại cho Việt Nam lợi ích về nhiều mặt, đặc biệt phải nói đến chính trị - an ninh Giúp
ta củng cố môi trường hòa bình trong khu vực Ngoài ra, cũng tạo môi trường và không khí thuận lợi để Việt Nam thúc đẩy quan hệ các nước khác
Theo chủ trương của Đảng, Bộ Chính trị đã thông qua Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10-4-2013 về hội nhập quốc tế: “Đặc biệt chú trọng việc tham gia xây dựng Cộng đồng ASEAN, phát huy vai trò của Việt Nam trong ASEAN và
Trang 9các cơ chế, diễn đàn do ASEAN giữ vai trò trung tâm, nhằm tăng cường đoàn kết, gia tăng liên kết nội khối, củng cố quan hệ hợp tác với các bên đối thoại của ASEAN, thúc đẩy xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển trong khu vực”[2]
Hội nhập về văn hóa xã hội: tiếp thu các giá trị văn hóa tiến bộ từ đó bổ sung và làm giàu nền văn hóa Việt Nam mình
Sự hội nhập quốc tế của Việt Nam với các nền văn hóa nước bạn cũng đã tạo điều kiện cho người dân được hưởng thụ tốt hơn giá trị văn hóa nhân loại Ngoài
ra, các vấn đề xã hội như lao động, việc làm, bảo vệ môi trường, bảo trợ xã hội, chăm sóc bảo vệ trẻ em, phòng chống bệnh xã hội và bảo đảm bình đẳng giới ngày được tiếp thu, cải thiện Hội nhập quốc tế giúp Việt Nam nâng cao ý thức cũng
như chất lượng thực hiện các vấn đề xã hội
Tại Hội nghị tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII,
về “Xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa
dân tộc”, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nêu quan điểm và chỉ đạo về vấn đề
này Cụ thể, Thủ tướng yêu cầu “xây dựng các kế hoạch hành động nhằm phát huy nội lực,… hội nhập quốc tế để chủ động hội nhập văn hóa, vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, vừa giữ được bản sắc văn hóa, làm giàu truyền thống văn hóa dân tộc từ tinh hoa văn hóa nhân loại, đồng thời có đóng góp tích cực vào kho tàng văn hóa nhân loại”[4] Như vậy, Đảng ta đã đưa ra chủ trương hội nhập văn hóa thế giới với nội dung rõ ràng, cụ thể hơn
Về việc Việt Nam tham gia, hợp tác với các hiệp hội thế giới về giao lưu văn hóa xã hội, sự kiện đáng chú ý là Việt Nam tham gia Tổ chức Giáo dục, Khoa học
và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) Từ đây, Việt Nam cùng các nước thành viên giải quyết, đưa ra các giải pháp cho nhiều vấn đề toàn cầu liên quan đến mục tiêu hòa bình, phát triển văn hóa, đoàn kết và hợp tác các quốc gia Đặc biệt, thành công trong việc đề xuất UNESCO công nhận các danh hiệu di sản văn hóa phi vật thể, di sản thiên nhiên, di sản văn hóa thế giới, khu dự trữ sinh quyển, công viên địa chất toàn cầu và di sản tư liệu Điều này không chỉ nâng cao giá trị văn hóa xã hội Việt nam, còn thúc đẩy các vấn đề kinh tế, thương mại, du lịch,…
Trang 10Hội nhập về giáo dục: mở ra cơ hội nâng cao chất lượng giáo dục nước nhà
Hội nhập quốc tế mở ra rất nhiều cơ hội cho nước ta, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo Theo dự thảo Báo cáo Chính trị Đại hội XIII đã đánh giá
“hợp tác quốc tế về giáo dục và đào tạo tiếp tục được mở rộng”; “công tác đào tạo nhân lực ở nước ta đã có những thay đổi theo hướng tập trung nâng cao chất lượng; đào tạo gắn kết với nhu cầu lao động của địa phương, doanh nghiệp và các đơn vị
sử dụng lao động; bước đầu áp dụng các phương pháp đào tạo của các tổ chức đào tạo nhân lực quốc tế.”[3]
Trong 5 năm qua, hơn 70 thỏa thuận quốc tế và 23 điều ước quốc tế được Việt Nam ký, góp phần thiết lập hành lang pháp lý và triển khai nhiều dự án hợp tác như trao đổi sinh viên, giáo viên Còn có hợp tác giáo dục, nghiên cứu khoa học, đào tạo, trao đổi chuyên gia Các sở giáo dục, các trường cao đẳng, đại học phê duyệt và ký hơn 530 dự án liên kết đào tạo nước ngoài, khoảng 85.000 người tham gia nghiên cứu, với hơn 45.000 người đã hoàn thành chương trình Đây là nguồn nhân lực chất lượng cao giúp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước
2.2 Hạn chế – thách thức
Thị trường cạnh tranh khốc liệt: cuộc chiến cam go trên sân nhà
Việc mở cửa giúp ta vươn ra thế giới, nhưng đồng nghĩa với việc nhiều doanh nghiệp, nhà đầu tư nước ngoài tiến vào Việt Nam bởi thị trường nước ta đang rất sôi nổi và tiềm năng Các doanh nghiệp nước ngoài cạnh tranh trên chính thị trường nước ta gây một sức ép lớn đối với các doanh nghiệp, công ty Việt Nam Hiện tại, về doanh nghiệp Việt Nam, doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm trên 95%, đa phần về dịch vụ, phần nhỏ là hoạt động sản xuất, doanh thu thấp, chưa
có chính sách bảo hiểm cho người lao động từ đó nguồn lao động chất lượng còn thấp dẫn đến nhiều khó khăn cả trong lẫn ngoài với thời kì hội nhập hiện nay
Cùng với đó là nguồn ngân sách nước ta cho các lĩnh vực nói chung và kinh
tế nói riêng còn hạn chế Điều này trở thành một bài toán khó mà các doanh nghiệp trong nước phải vượt qua để giành lấy thành công trên chính đất nước mình