1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phương hướng hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền con người trong xét xử hình sự ở nước ta hiện nay

87 946 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phương Hướng Hoàn Thiện Pháp Luật Bảo Đảm Quyền Con Người Trong Xét Xử Hình Sự Ở Nước Ta Hiện Nay
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 275 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quy định của pháp luật bảo đảm quyền con ngời trong xét xử hình sự ở nớc ta hiện nay 202.1 Quy định về tội phạm và hình phạt với việc bảo đảm quyền con ngời 2.1.3 Quy định hình phạt, mụ

Trang 1

Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t

Trang 2

Mục lục

Trang

Mở

Chơng 1: Quyền con ngời và vai trò của pháp luật

1.1 Khái lợc quyền con ngời và vai trò của pháp luật trong việc bảo đảm

1.2 Đặc trng quyền con ngời của bị cáo trong xét xử hình sự 16

Chơng 2 Quy định của pháp luật bảo đảm quyền con ngời

trong xét xử hình sự ở nớc ta hiện nay 202.1 Quy định về tội phạm và hình phạt với việc bảo đảm quyền con ngời

2.1.3 Quy định hình phạt, mục đích, hệ thống hình phạt 33 2.1.4 Quy định hệ thống chế tài đối với các cấu thành tội phạm

Trang 3

2.2.2.4 Nguyên tắc công bằng 63

2.2.3 Quyền của bị cáo khi tham gia tố tụng (xét xử) 68

2.2.3.1 Quyền đợc coi là vô tội khi cha có bản án kết tội

của Toà án đã có hiệu lực pháp luật 69 2.2.3.2 Quyền đợc đa ra xét xử theo đúng trình tự, thủ tục

2.2 3.3 Quyền đợc giao nhận quyết định đa vụ án ra xét xử 69

2.2.3.5 Quyền đề nghị thay đổi ngời tiến hành tố tụng 70 2.2.3.6 Quyền đa ra chứng cứ, yêu cầu, đề nghị của bào chữa 71

2.2.3.8 Quyền kháng cáo bản án hoặc quyết định sơ thẩm 73

Chơng 3: Phơng hớng hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền con ngời

trong xét xử hình sự ở nớc ta hiện nay 753.1 Quan điểm chung về phơng hớng hoàn thiện 753.2 Nội dung hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền con ngời

Trang 4

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Quyền con ngời là một trong những vấn đề thiêng liêng, cơ bản và cũngluôn luôn là khát vọng của toàn thể nhân loại Quyền con ngời đợc sinh ra và

đồng thời cũng phải bảo đảm thực hiện nh một lẽ tự nhiên Cho nên, nó khôngchỉ là vấn đề trọng yếu trong luật pháp quốc tế mà còn là chế định pháp lý cơbản trong pháp luật của các quốc gia

ở Việt Nam, sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, nớc Việt Namdân chủ cộng hoà ra đời, quyền con ngời đợc chính thức tuyên bố và ghi nhậnbằng pháp Quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam, với những nhiệm vụnặng nề mà vinh quang, xét cho cùng cũng chỉ là vì độc lập, tự do, vì chủnghĩa xã hội mà cốt lõi của nó là bảo đảm thực hiện quyền con ngời Phản ánhcác quá trình phát triển đó, từ Hiến pháp 1946, 1959, 1980 đến Hiến pháp

1992 đều thể chế hoá quyền con ngời, từng bớc mở rộng quyền con ngời Trêncơ sở đó, hệ thống chính sách pháp luật bảo đảm quyền con ngời ngày càng

đợc củng cố hoàn thiện

Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, Nhà nớc ta

đã chuyển hoá nhiều nội dung về quyền con ngời trong các tuyên bố, công ớcquốc tế mà Nhà nớc ta tham gia phê chuẩn, ký kết Bên cạnh các hoạt động

"lập pháp" đó, Nhà nớc ta đã có nhiều chính sách, biện pháp và hoạt động thực

tế bảo đảm thực hiện quyền con ngời Các cơ quan bảo vệ pháp luật khôngngừng đợc củng cố, phát triển, xã hội ngày càng công bằng, văn minh, tạo chomọi ngời có môi trờng tự do, bình đẳng để thực hiện quyền, nghĩa vụ củamình, đồng thời bảo vệ con ngời khỏi các hành vi xâm hại

Song, quyền con ngời luôn là lĩnh vực nhạy cảm, phức tạp nên bảo đảmthực hiện nó không phải chỉ dừng lại ở việc ghi nhận quyền con ngời mà cònphải thực thi nhiều biện pháp đồng bộ, đợc mọi cấp, mọi ngành, mọi ngờitham gia Trong đó, Toà án có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng Bởi vì, mộttrong những nhiệm vụ cơ bản trong xét xử của Toà án chính là hoạt động trựctiếp bảo vệ quyền con ngời đôí với bên bị hại và cả bên bị cáo - là những ngời

mà quyền con ngời của họ dễ có nguy cơ bị xâm hại Nhiều năm qua, theoquy định của pháp luật, Toà án đã tích cực tham gia đấu tranh phòng, chống viphạm pháp luật và tội phạm, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ các quyền

và lợi ích hợp pháp của công dân Song, trong xét xử vẫn còn oan sai; quyền

Trang 5

con ngời của bị cáo có lúc có nơi cha đợc tôn trọng còn bị vi phạm, cha cóbiện pháp bảo đảm hữu hiệu Điều đó, do nhiều nguyên nhân chủ quan, kháchquan khác nhau, song sự hạn chế, thiếu đồng bộ của pháp luật có tác động

đáng kể

Nh vậy, thực tiễn đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm đồng thờibảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đặt ra nhiệm vụ cấp bách -phải hoàn thiện pháp luật, tạo cơ sở pháp lý, bảo đảm quyền con ngời nhất làpháp luật trong lĩnh vực xét xử hình sự của Toà án

"Toà án và việc bảo vệ quyền và lợi ích của cá nhân và tổ chức" - Tạp chí Nhànớc và pháp luật, tháng 8-1999

Các công trình khoa học, bài viết này hoặc là tổng quát, hoặc đi sâunghiên cứu, phân tích, luận giải một số nội dung về quyền con ngời, các biệnpháp bảo đảm quyền con ngời, vấn đề bảo vệ quyền con ngời

Trang 6

Tiến sĩ Phạm Hồng Hải có bài: "Mấy ý kiến về bảo vệ quyền con ngờitrong tố tụng hình sự ở nớc ta" (tạp chí Nhà nớc và Pháp luật số 3 năm 1998)nêu lên một số vấn đề về vi phạm quyền con ngời từ phía cơ quan tiến hành tốtụng đối với bị can, bị cáo và từ phía các phần tử xấu đối với những ngời tiếnhành tố tụng.

Tuy nhiên, cha có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống quy

định của pháp luật nớc ta hiện nay về bảo đảm quyền con ngời trong xét xửhình sự

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài luận văn

* Đối tợng: Đề tài tập trung nghiên cứu việc hoàn thiện pháp luật bảo

đảm thực hiện quyền con ngời trong xét xử hình sự

* Phạm vi: Đề tài chỉ nghiên cứu về pháp luật bảo đảm thực hiện quyền

con ngời đối với bị cáo bị truy tố trớc Toà mà không đi sâu phân tích về phápluật bảo đảm quyền con ngời đối với các đối tợng khác trong các vụ án dân sự,kinh tế, hôn nhân, gia đình cũng nh các bên khác tiến hành hoặc tham gia

tố tụng hình sự

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài luận văn

* Mục đích: Đa ra các nội dung hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền

con ngời trong xét xử hình sự

Trang 7

Phơng pháp nghiên cứu đề tài luận văn là phơng pháp duy vật biệnchứng và duy vật lịch sử kết hợp với các phơng pháp cụ thể nh: phân tích -tổng hợp, khảo sát, so sánh.

6 Đóng góp khoa học của đề tài:

Góp phần làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về quyền con ngời, đặcbiệt là quyền con ngời trong xét xử hình sự Trên cơ sở đó đánh giá thực trạng

và đề xuất phơng hớng, nội dung hoàn thiện pháp luật trong xét xử hình sự

7 Kết cấu đề tài

Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3

ch-ơng, 6 tiết

Trang 8

Ch ơng I

Quyền con ngời và vai trò của pháp luật trong việc bảo đảm quyền con ngời

1.1 Khái lợc quyền con ngời

Mặc dù "quyền con ngời" mãi sau này (thế kỷ 18) mới đợc khẳng định,nhng những ý tởng về nó lại ra đời rất sớm cùng với sự phân chia giai cấptrong xã hội và hình thành Nhà nớc Khi mà trong các Nhà nớc chiếm hữu nô

lệ, con ngời bị coi là những "công cụ biết nói" thì những tiếng kêu cứu đòi quyền

đợc sống, đợc tự do, đợc quyền làm ngời cũng xuất hiện

Quyền con ngời , ngay từ đầu là một thuộc tính bản chất tự nhiên, là

"đặc quyền" Cho nên, khi các "đặc quyền" đó bị vi phạm, bị chà đạp thô bạotrong các Nhà nớc cổ đại thì đã có những cuộc khởi nghĩa của tầng lớp bị trị

nổ ra đòi lại những đặc quyền vốn sơ khai đó Do có những cuộc đấu tranh

"làm cho công lý bùng nổ để ngăn chặn kẻ mạnh không làm hại kẻ yếu" mà

đã xác lập nên Bộ luật Hamurabi Mặc dù còn nhiều hạn chế: là công cụ phục

vụ mục đích thống trị, song Bộ luật đó đã nêu lên đợc t tởng về bình đẳng, dânchủ, pháp luật hoá t tởng về quyền con ngời

Xã hội loài ngời ngày càng phát triển, các trờng phái triết học, pháp luậtdần hình thành, lớn mạnh Các trờng phái này đi vào nghiên cứu giải thích cácvấn đề tự nhiên, xã hội, con ngời Đáng chú ý là thế kỷ 17 - 18 trờng pháipháp luật tự nhiên với các đại diện nh: Spinoda, Hobbes, Kant đã mở ra mộttrang mới cho sự phát triển t tởng bảo vệ quyền cá nhân chống lại sự vi phạm

từ phía quyền lực, tức là bảo vệ các quyền hiển nhiên, có sẵn của con ngời,không phải quyền do Nhà nớc, pháp luật ban phát T tởng này góp phần thắnglợi vào cách mạng t sản lật đổ chế độ phong kiến tàn bạo, thiết lập Nhà nớc

mà ở đó con ngời với những giá trị đích thực của nó đợc nâng lên một bớc công dân của xã hội Nhà nớc chứ không phải thần dân của ông vua

-Khác với các Nhà nớc phong kiến và t bản phơng tây, chế độ Nhà nớcphong kiến Việt Nam trải qua hàng nghìn năm lịch sử, nói chung vẫn mangtính hà khắc Song, thời kỳ đó "phép vua" và "lệ làng" có tính dân tộc, nhân

đạo, tiến bộ và đợc thể hiện rõ nét trong Quốc triều Hình luật là Bộ luật do

Trang 9

Nguyễn Trãi soạn thảo, đợc ban hành năm 1843 có kế thừa, bổ sung nhữngluật lệ đợc ban hành từ rất nhiều năm trớc và đợc nhiều Bộ luật, luật sau nàytiếp thu những t tởng tiến bộ Và suốt các triều đại phong kiến Việt Nam, vuamệnh danh là con trời, cai trị trên nền tảng t tởng nho giáo bị các triết lý nhogiáo, điều chỉnh hành vi của mình Vua là cha mẹ của dân, buộc phải thích cáidân thích, ghét cái dân ghét bởi "ý trời là lòng dân" Do đó, vơng quyền củavua bị hạn chế, dân cũng có đợc một số yếu tố về các quyền dù còn nhỏ nhặtmang tính cộng đồng.

Nh vậy, trong các thời kỳ cổ đại và phong kiến, t tởng về quyền con

ng-ời đã đợc đề cập đến nhng còn rng-ời rạc Khi cách mạng t sản nổ ra thắng lợi vớinhững tiền đề t tởng và thành tựu của khoa học tự nhiên thì vấn đề quyền conngời mới đợc đặt ra nh một học thuyết, hay nói cách khác, quyền con ngời bắt

đầu đợc chính thức công khai thừa nhận Có thể nói rằng, sự kiện này đợc

đánh dấu bằng Tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ 1776 và sau

đó là Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp 1789 "Lần đầu tiêntrong lịch sử nhân loại , quyền con ngời chuyển từ phạm vi thỉnh cầu, yêu sáchsang phạm vi thực hiện, từ lĩnh vực triết học sang lĩnh vực pháp lý thực tiễn".[40,27]

Sau chiến tranh Thế giới thứ 2, cộng đồng quốc tế thông qua Liên hiệpquốc tuyên bố chính thức về các quyền và tự do của con ngời bằng Hiến ch-

ơng Liên hiệp quốc 1945 và Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm

1948 Cụ thể hoá quyền con ngời trong các văn bản trên, năm 1966, Liên hiệpquốc thông qua Công ớc Quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá(ngày 24/9/1982 Việt Nam gia nhập 2 Công ớc này) ở Việt Nam, Tuyênngôn độc lập năm 1945 đánh dấu bớc ngoặt quan trọng cho thời kỳ phát triểnmới về quyền con ngời trên đất nớc ta

Quyền con ngời là một trong những giá trị xã hội cao quý nhất đồngthời là vấn đề rộng lớn, phức tạp, đợc nhiều chuyên ngành khoa học nghiêncứu, do đó có nhiều quan điểm, định nghĩa khác nhau về quyền con ngời.Song, trớc hết, quyền con ngời đợc hiểu là những đặc quyền mà con ngời sinh

ra là tự nhiên có Đó là những đặc quyền mang tính tự nhiên mà nổi bật làquyền đợc sống, đợc bảo vệ, đợc tự do phát triển Mặc dù, những đặc quyền

đó có trớc, song chừng nào cha đợc công nhận thì chúng không thể đợc đa ra

áp dụng Do đó, để đạt tới cái gọi là quyền cần phải có sự ghi nhận mà cụ thể

Trang 10

là bằng pháp luật Các đặc quyền đợc pháp luật ghi nhận, điều chỉnh thì mớichính thức trở thành quyền của con ngời.

Quyền con ngời là những đặc quyền (quyền tự nhiên) của con ngời đợc pháp luật đảm bảo do cá nhân con ngời nắm giữ trong các quan hệ của mình với các cá nhân khác và với chính quyền.

Nh vậy, quyền con ngời là hệ thống các quyền của con ngời đợc xã hộithừa nhận và bảo đảm bằng pháp luật Chính vì vậy, quyền con ngời mang hai

đặc tính cơ bản là tính nhân đạo và tính pháp luật "Quyền con ngời tuy mang

đặc tính tự nhiên nhng có nội dung xã hội, bị chế ớc bởi từng hoàn cảnh lịch

sử, từng chế độ xã hội, từng Nhà nớc" [32,57] và đợc "mở rộng và cụ thể hoácùng với sự phát triển của xã hội loài ngời" [49,21]

Thực tiễn cuộc sống chỉ ra rằng, quyền con ngời là quyền của cá nhâncon ngời, nhng quyền đó chỉ có thể có đợc trong quan hệ gắn bó với các conngời khác trong tập thể, cộng đồng Hay nói cách khác quyền con ngời trở nênvô nghĩa khi con ngời tách khỏi tập thể, cộng đồng và ở trong tập thể, cộng

đồng nên quyền của cá nhân con ngời không thể tách rời nghĩa vụ của họ đốivới xã hội, Nhà nớc Vì rằng:"Trong tính hiện thực của nó, bản chất con ngời

là tổng hoà các mối quan hệ xã hội" [19,11]

Quyền con ngời là giá trị xã hội cao quí nhất Chủ tịch Hồ Chí Minh đãkhẳng định: "Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân" [48,276] Nhân dân

là những con ngời cụ thể có những quyền thiêng liêng, không ai có thể xâmphạm đợc

Vai trò của pháp luật trong việc bảo đảm quyền con ngời

Quyền con ngời và pháp luật là hai yếu tố không thể tách rời mà có tác

động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng Mặc dù quyền con ngời cótính"bẩm sinh" nhng nó không thể chính thức tồn tại nếu không có pháp luật

Trớc hết, vai trò quan trọng của pháp luật đối với quyền con ngời là nó ghi nhận (xác lập), củng cố, hoàn thiện quyền con ngời.

Pháp luật ghi nhận các quyền của con ngời đợc xã hội thừa nhận Thôngqua pháp luật, quyền con ngời đợc lên tiếng bảo vệ Để bảo đảm quyền conngời, pháp luật đa ra những điều cấm và những hành vi bắt buộc phải làmnhằm ngăn ngừa và chống lại các hành vi vi phạm quyền con ngời Quyền con

Trang 11

ngời đợc pháp luật xác lập là thiêng liêng, không thể xâm hại một cách tuỳtiện và đợc bảo vệ bằng các biện pháp giáo dục, thuyết phục và cỡng chế củaxã hội, Nhà nớc Quyền con ngời đợc pháp luật xác lập mang tính tối cao, ổn

định không dễ dàng thay đổi Điều 50 Hiến pháp 1992 khẳng định: quyền conngời đợc quy định trong Hiến pháp và luật - là những văn bản có giá trị pháp

lý cao nhất, nó buộc mọi ngời phải tôn trọng, phục tùng

Theo tiến trình phát triển của lịch sử loài ngời, trên phơng diện phápluật, quyền con ngời ngày càng đợc củng cố, hoàn thiện Từ chỗ các ý tởng vềquyền đợc sống nh một con ngời nhằm thoát khỏi "công cụ biết nói", t tởng vềquyền con ngời dần phát triển lên thành những học thuyết, thành các bộ luậtriêng lẻ và trở thành tiếng nói chung của cả cộng đồng quốc tế, không phânbiệt màu da, địa vị, thành phần Nhờ có pháp luật mà quyền con ngời trở thànhgiá trị chung của nhân loại, đợc loài ngời cùng nhau tôn trọng, bảo vệ "Chỉthông qua pháp luật quyền con ngời mới trở thành ý chí và mục tiêu hành

động chung của toàn xã hội, có tính bắt buộc chung đối với toàn xã hội"[49,47]

"Lịch sử Nhà nớc và pháp luật hàng nghìn năm qua và thực tiễn quốc tếcủa thế kỷ XX đã và đang chứng minh xác đáng một hiện thực sinh độngrằng: đợc xây dựng trên nền tảng của các t tởng pháp lý tiến bộ của nền vănminh nhân loại: công bằng, nhân đạo, dân chủ và pháp chế nên Nhà nớc phápquyền coi các quyền và tự do của con ngời là những giá trị xã hội cao quýnhất đồng thời là khách thể hàng đầu ghi nhận, tôn trọng và bảo vệ bằng phápluật, trong đó có pháp luật hình sự" [70;9,10] Vì vậy, hoàn thiện pháp luậtbảo đảm quyền con ngời có ý nghĩa đặc biệt trên cả phơng diện lý luận vàthực tiễn Nó "phải đợc xem là hoạt động thờng xuyên của Nhà nớc để mộtmặt đảm bảo cho mỗi một bớc phát triển của quyền con ngời, của dân chủ đều

đợc ghi nhận và củng cố bởi các quy định luật pháp phù hợp Mặt khác, cácquy định pháp lý phải mở đờng, định hớng thực hiện phát triển và thúc đẩyquyền con ngời trong đời sống quốc gia và quốc tế" [59,12]

Song, pháp luật không dừng lại ở việc ghi nhận bớc tiến của quyền con

ngời mà nó còn là phơng tiện, công cụ không chỉ của Nhà nớc mà cả của công dân để bảo vệ và thực hiện quyền con ngời.

Nhà nớc ban hành pháp luật là tạo cơ sở vững chắc cho mọi ngời tôntrọng, nghiêm chỉnh chấp hành và thực hiện các giá trị xã hội đợc thừa nhận,

Trang 12

bảo vệ, mà nổi bật trong các giá trị đó là quyền con ngời "Nhà nớc quản lý xãhội bằng pháp luật" (Điều 12 Hiến pháp 1992) Pháp luật là công cụ sắc bén,hữu hiệu của Nhà nớc để bảo đảm thực hiện quyền con ngời Với những đặc

điểm riêng của mình, pháp luật có tính bắt buộc cứng rắn nhất bằng cách xáclập những điều cấm mà bất cứ ai cũng không đợc vi phạm Đồng thời, phápluật đợc bảo đảm thi hành bằng bộ máy Nhà nớc cùng với sức mạnh (d luận)xã hội Vì thế, các quy định của pháp luật về quyền con ngời còn đợc bảo đảmbằng sự cỡng chế của Nhà nớc tránh mọi hành vi xâm hại Trên cơ sở củapháp luật, mọi hành vi vi phạm quyền con ngời, quyền công dân đều phải đợc

xử lý nghiêm minh Nh vậy, pháp luật còn là thớc đo việc bảo đảm thực hiệnquyền con ngời Qua công tác thực thi pháp luật mà rút ra những bài học bổ íchcho việc bảo đảm ngày một tốt hơn quyền con ngời

Cũng chính từ việc ghi nhận các quyền cơ bản của con ngời mà phápluật trở thành phơng tiện để công dân có điều kiện bảo vệ mình Quyền conngời đã đợc pháp luật ghi nhận tất yếu phải đợc bảo vệ khỏi bất cứ hành vixâm hại nào Do đó, pháp luật trớc hết là cơ sở vững chắc để công dân đòiquyền và lợi ích hợp pháp của mình Bên cạnh đó, pháp luật không thể khôngghi nhận trách nhiệm của Nhà nớc, công chức, viên chức Nhà nớc, các tổ chức

và cá nhân trong việc bảo đảm quyền con ngời Pháp luật là chuẩn mực chung,công bằng đối với mọi ngời Do vậy, pháp luật còn là đại lợng để kiểm tra,

đánh giá các quyết định, hành vi của Nhà nớc, công chức, viên chức Nhà nớc,các tổ chức và các thành viên khác trong việc bảo đảm thực hiện quyền conngời

Nhà nớc ban hành pháp luật để quản lý mọi mặt đời sống xã hội Conngời với các mối quan hệ của nó là đối tợng của sự quản lý Nhà nớc Do đó,

có thể xảy ra việc lộng quyền từ phía Nhà nớc và đối diện với nó, quyền củangời dân bị hạn chế Nhờ có các chuẩn mực, tiêu chí của pháp luật mà các saiphạm trên dễ bị phát hiện để khắc phục, sửa chữa Đối với công dân, để khôiphục các quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại, không có phơng tiệnnào bảo đảm hữu hiệu hơn là bằng pháp luật Vì vậy, cùng với việc xây dựng hệthống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ vì con ngời, cho con ngời thì việc tuyêntruyền, giáo dục pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao ýthức pháp luật cho mọi ngời dân để họ bảo vệ riêng mình và bảo vệ xã hội nói

Trang 13

chung Vậy nên "nhân dân phải bảo vệ luật nh bảo vệ chốn nơng thân củamình" [xem 48,6].

Là yếu tố điều chỉnh các quan hệ xã hội, pháp luật có vai trò quan trọnghàng đầu trong việc bảo đảm sự ổn định và phát triển các mặt của đời sống xãhội (chính trị, kinh tế, văn hoá ) - là điều kiện thiết yếu để thực hiện quyềncon ngời Bởi vì, quyền con ngời không thể đợc tôn trọng, bảo vệ trong một xãhội có nền kinh tế, văn hoá và chính trị khủng hoảng; mà chính trị muốn ổn

định thì đờng lối chính sách phải đợc thể chế hoá thành pháp luật mới có đủsức mạnh thực hiện trong xã hội Chính vì điều đó mà Hiến pháp, luật của cácnớc không thể không nhắc đến việc bảo vệ chế độ chính trị xã hội nh mộttrong những mục tiêu chính của mình Hay nói cách khác để thực hiện đờnglối bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nớc, quyền con ngời phải đợc thể chếhoá trong pháp luật

Đối với kinh tế-điều kiện quan trọng trong việc bảo đảm quyền con

ng-ời - pháp luật tạo khuôn khổ và môi trờng pháp lý an toàn, thuận lợi để pháthuy mọi tiềm năng cho sản xuất, kinh doanh phát triển đúng hớng, có hiệuquả Đối với các quyền của con ngời về kinh tế cũng đợc quy định bằng phápluật "Pháp luật là phơng tiện làm cho các quan hệ kinh tế trở thành quan hệpháp luật" [19,196] và cũng là phơng tiện hữu hiệu để các bên tham gia hoạt

động kinh tế bảo vệ lợi ích của mình

Sự nghiệp phát triển văn hoá, giáo dục, khoa học công nghệ tất yếucũng đòi hỏi phải đợc thể chế hoá bằng pháp luật và vì mục tiêu cho con ngời.Văn hoá giáo dục, khoa học công nghệ phải tạo ra môi trờng xã hội lànhmạnh, tự do để con ngời có điều kiện phát triển Trong môi trờng ấy, vừa có

điều kiện cho việc phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, vừa có điều kiện để mọingời học tập, vừa thuận tiện cho mọi ngời đợc hởng quyền thông tin đồngthời cũng hội tụ đợc những khả năng để đấu tranh không bị "đồng hoá" bởinhững yếu tố độc hại lai căng từ bên ngoài

Ngoài việc điều chỉnh hành vi con ngời, pháp luật còn là phơng tiện

đăng tải thế giới quan khoa học, các t tởng tiến bộ, có tác dụng giáo dục cácthành viên trong xã hội có ý thức pháp luật, văn hoá pháp lý để họ biết tôntrọng và bảo vệ quyền của các cá nhân con ngời trong đời sống cộng đồng

Trang 14

Ngày nay, pháp luật không phải chỉ đóng vai trò tích cực trong bìnhdiện của mỗi một quốc gia mà nó còn là phơng tiện quan trọng trong hội nhậpquốc tế Vấn đề quyền con ngời không thể chỉ là của một ngời, một cộng

đồng, một quốc gia mà còn là của toàn thể nhân loại Do đó, pháp luật là

ph-ơng tiện để các quốc gia tham gia hội nhập quốc tế và thực hiện các cam kếtquốc tế, bảo đảm cho quyền con ngời đợc tôn trọng thực hiện ở mỗi quốc gia

đồng thời phù hợp với luật pháp quốc tế

Vì mục tiêu chung là tạo điều kiện, môi tờng thuận lợi cho con ngờiphát triển toàn diện mà loài ngời hiện nay đang phải đối đầu với những tháchthức vô cung to lớn: đấu tranh chống tội phạm xuyên quốc gia, giải quyết ônhiễm môi trờng, dịch bệnh, xung đột sắc tộc, tôn giáo, chống đói nghèo

mà đòi hỏi phải có sự nỗ lực đấu tranh chung của cộng đồng thế giới

Nhằm thực hiện điều đó, Liên hiệp quốc - Tổ chức quốc tế lớn nhất hànhtinh - đã thông qua hơn 50 văn kiện quốc tế bảo vệ quyền tự do của con ngời

Với quá trình đó, mỗi một quốc gia phải xây dựng nghĩa vụ của mìnhtrong việc bảo đảm thực hiện quyền con ngời, trong đó có việc xây dựng hệthống pháp luật quốc gia phù hợp với pháp luật quốc tế và đặc biệt là nghiêmchỉnh thực hiện các cam kết nêu trong Công ớc, tuyên bố và điều ớc Quốc tế

mà nớc mình ký kết hoặc tham gia

Trớc tình hình khu vực hoá, quốc tế hoá hiện nay việc bảo đảm quyềncon ngời, quyền công dân đặt ra cho pháp luật các yêu cầu phát triển bứcbách, thích hợp, một mặt bảo vệ đợc quyền lợi chính đáng của công dân nớcmình, mặt khác không đợc tạo ra những phiền hà không đáng có cho ngời nớcngoài và kể cả ngời không quốc tịch Nh vậy, pháp luật là phơng tiện quantrọng trong việc bảo đảm quyền con ngời giữa các quốc gia và trong cộng

đồng quốc tế

1.2 Đặc trng quyền con ngời của bị cáo trong xét xử hình sự.

Quyền con ngời không những đợc pháp luật ghi nhận mà còn đợc phápluật bảo vệ Do đó, bất cứ một hành vi vi phạm quyền con ngời nào cũng phải

đợc xử lý theo pháp luật Song, tất nhiên quyền con ngời còn có quan hệ chặtchẽ với chủ quyền quốc gia, lợi ích của Nhà nớc, của các tổ chức, trật tự xãhội là những khách thể đợc pháp luật nói chung và luật hình sự nói riêng bảo

vệ Cho nên, những khách thể trên bị xâm hại do bất cứ ai thì ngời đó phải bị

xử lý theo quy định của pháp luật Quyền con ngời của bị cáo chỉ có thể đợc

Trang 15

coi là bảo đảm khi xét trong một tổng thể các mối quan hệ khác liên quan đếntội phạm do họ thực hiện Nh vậy, việc xử lý đối với họ buộc phải tuân thủnhững trình tự, thủ tục đợc quy định chặt chẽ trong pháp luật, vì dẫu sao,quyền con ngời của họ vẫn phải đợc tôn trọng Đối với bị cáo, quyền con ngờicủa họ là vấn đề hết sức nhạy cảm và có một số đặc trng sau:

Là ngời bị Toà án quyết định đa ra xét xử trên cơ sở kết luận điều tra và

cáo trạng của viện kiểm sát quyền con ngời của bị cáo dễ có nguy cơ xâm hại

từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng " Sự xâm hại đó có thể do trình độ nonkém trong tổ chức quản lý, do năng lực làm việc hoặc do thiếu tinh thần tráchnhiệm và cũng có thể do một bộ phận công chức thoái hoá biến chất, vô đạo

đức" [48,49] Đồng thời một số cán bộ có thẩm quyền cha nắm vững phápluật và tính thiếu chặt chẽ, cụ thể của pháp luật cũng là những nguyên nhân dẫn

đến việc xâm hại quyền con ngời

Trong thực tiễn cuộc sống, với cách thức tổ chức thật uy nghiêm mộtphiên toà, vị thế của bị cáo thờng là yếu hơn so với các cơ quan tiến hành tốtụng "Có vụ ngay tại công đờng mà Thẩm phán, công tố cũng công khai mớmcung, đe doạ nếu ngoan cố sẽ tăng hình phạt để ép buộc bị cáo nhận tộikhông đúng sự thật" [61,60] Do chỗ vị thế của họ nh vậy nên cũng có vụ ngờitiến hành tố tụng hỏi to tiếng làm bị cáo sợ nên cứ gật đầu hoặc dạ Nghiêmtrọng hơn là có trờng hợp, việc tổ chức phiên toà cha dân chủ nên đã kết tộioan bị cáo, nh vụ Bùi Minh Hải bị Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt tùchung thân về tội giết ngời và hiếp dâm nhng chính tên Tèo mới là thủ phạmgây ra vụ án này Tại cơ quan điều tra Bùi Minh Hải khai nhận tội (???) nhngtại phiên toà bị cáo không nhận tội, song Hội đồng xét xử vẫn buộc tội bị cáo

Hơn ai hết, bị cáo là ngời có nguy cơ cao bị tớc một hoặc một số quyền

Đành rằng chỉ có ngời nào phạm tội thì mới phải chịu trách nhiệm hình sự,song việc tớc bỏ hoặc hạn chế một số quyền công dân của bị cáo nh thế nàocho tơng xứng, phù hợp, đúng pháp luật là vấn đề vẫn đợc dặt ra bức xúc

Cũng chính vì quyền con ngời của bị cáo dễ có nguy cơ bị xâm hại cho

nên nó cần phải có một loạt các quy định bảo đảm nhằm tránh nguy cơ bị tớc

bỏ hoặc hạn chế trái pháp luật

Khác với các quan hệ pháp luật khác (hành chính, dân sự, kinh tế),trong quan hệ pháp luật hình sự (cả hình sự và tố tụng hình sự), hàng loạt cácquy định riêng đợc đặt ra nhằm đảm bảo quyền con ngời, quyền công dân của

Trang 16

các bên tham gia tố tụng nói chung và của bị cáo nói riêng Đó là các quy

định của pháp luật về quyền, nghĩa vụ của công dân, nghĩa vụ của Nhà nớc,của các cơ quan, ngời tiến hành tố tụng, quy định về tội phạm, hình phạt, trình

tự, thủ tục tiến hành tố tụng Tổng thể các quy định đó đợc tập hợp thànhnhững t tởng, nguyên tắc: công bằng, nhân đạo, dân chủ, pháp chế mà hớngtới mục tiêu chung là bảo đảm quyền con ngời Của bị cáo không bị tớc bỏ tráipháp luật Các quy định đó không chỉ nhằm tạo cơ sở pháp luật cần thiết chocác cơ quan, cá nhân tiến hành tố tụng và tránh đợc lạm dụng mà trớc hết vàchủ yếu là để bảo vệ con ngời, giúp mọi ngời biết rõ pháp luật để phòng tránhviệc vi phạm điều cấm của pháp luật, đồng thời cũng biết đợc quyền của mình

mà thực hiện, bảo vệ

Vì giá trị cao quý của quyền con ngời đợc xã hội thừa nhận, vì quyền

con ngời đợc bảo vệ bằng pháp luật, cho nên quyền con ngời của bị cáo chỉ có thể bị hạn chế theo quyết định của cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền trên cơ sở pháp luật ở nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam chỉ có Toà án là cơ

quan duy nhất đợc nhân danh Nhà nớc ra quyết định áp dụng các biện pháphình phạt đối với ngời thực hiện hành vi phạm tội Ngoài Toà án, không mộtcá nhân hay tổ chức nào có quyền đợc tớc bỏ các quyền của bị cáo Sự phánquyết của Toà án phải dựa trên cơ sở pháp luật và chỉ tuân theo pháp luật

"Khi quyết định hình phạt, Toà án phải tuân theo trình tự và các điều kiện ápdụng các loại hình phạt cụ thể và chỉ có thể tuyên những hình phạt đợc quy

Trang 17

Hiến pháp 1992) Không những thế các trờng hợp bị cáo bị kết án tử hình vẫn

có quyền viết đơn xin ân giảm

Nh vậy, quyền con ngời của bị cáo là vấn đề rất nhạy cảm, dễ có nguycơ xâm hại, cho nên pháp luật bằng những quy định của mình tạo ra các điềukiện, trình tự khác nhau, một mặt buộc các cơ quan, cá nhân có thẩm quyềntuân theo, mặt khác tạo cơ sở vững chắc cho bị cáo bảo vệ quyền, lợi ích củamình

Trang 18

Ch ơng 2

Quy định của pháp luật đảm bảo quyền con ngời

trong xét xử hình sự ở nớc ta hiện nay

Để bảo đảm quyền con ngời của bị cáo, pháp luật đa ra một loạt cácquy định buộc các bên tiến hành và tham gia tố tụng phải tuân thủ Pháp luậtbảo đảm quyền con ngời trong xét xử hình sự là tổng thể các qui phạm phápluật qui định về tội phạm, hình phạt và xét xử hình sự cùng các quy định khácnhằm bảo đảm cho các quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo và các bên cóliên quan không bị xâm hại trái pháp luật

Nh vậy, việc bảo đảm quyền con ngời trong xét xử hình sự phải đợc thểhiện trên tất cả các phơng diện vừa nêu Nó không dừng lại ở việc qui định tộiphạm, hình phạt mà còn qui định việc xét xử các vụ án hình sự Có nghĩa là nóphải đợc bảo đảm ở trong cả lĩnh vực lập pháp và áp dụng pháp luật, ở cả trongluật nội dung và luật hình thức ở đó, quyền, nghĩa vụ của các bên tiến hành vàtham gia tố tụng đợc khẳng định, sự thật của vụ án và trách nhiệm hình sự phải đ-

ợc xác định một cách khách quan, chính xác nhất ở đó, quyền, lợi ích hợp pháp

bị xâm hại phải đợc khôi phục lại, ngời phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự

t-ơng ứng với tính chất, mức độ nguy hiểm do họ gây ra

2.1 Quy định về tội phạm và hình phạt với việc bảo đảm quyền con ngời đối với ngời phạm tội.

2.1.1 Quy định trách nhiệm hình sự

Với phơng châm " biết để không thực hiện" và "phòng tội hơn trị tội",cho nên pháp luật hình sự , một mặt liệt kê cụ thể, rõ ràng những hành vi nguyhiểm cho xã hội bị cấm, mặt khác đa ra các quy định buộc mọi ngời phải tuyệt

đối tuân thủ Theo nghĩa đó, Điều 2 Bộ luật hình sự quy định" chỉ ngời nàophạm một tội đã đợc Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hìnhsự" Đây là cơ sở thống nhất, duy nhất của trách nhiệm hình sự Nó khẳng

định "chủ thể của một hành vi tội phạm chỉ có thể là một thể nhân cụ thể - tức

là một cá nhân chứ không phải là một tập thể hay một kiểu cộng đồng nào"[67,4] Nếu ai đó (bị cáo) đã phải chịu trách nhiệm hình sự thì ít nhiều, quyềncon ngời, quyền công dân của họ cũng phải bị hạn chế Cho nên, ở đây phápluật quy định là: trách nhiệm hình sự chỉ đợc đa ra áp dụng đối với ngời phạm

Trang 19

tội, tức là khi mà ngời đó thực hiện hành vi vi phạm điều mà pháp luật hình sựcấm, hay nói cách khác một ngời chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự bởi nhữnghậu quả do hành vi của chính ngời đó gây ra Ngoài việc vi phạm điều cấmcủa pháp luật hình sự - phạm tội ra, thì bất luận trong trờng hợp nào, tráchnhiệm hình sự cũng không thể đợc đa ra áp dụng Không những thế, chỉ cónhững dấu hiệu của hành vi đợc mô tả trong luật mới là cơ sở cho việc giảiquyết trách nhiệm hình sự Trách nhiệm hình sự thể hiện mối quan hệ giữaNhà nớc với công dân, là sự phản ứng của Nhà nớc đối với hành vi cụ thểnguy hiểm cho xã hội đợc luật hình sự quy định, tức là đối với tội phạm Hành

vi có thể đợc coi là tội phạm nếu có các yếu tố của một cấu thành tội phạm và

đợc luật hình sự quy định Các yếu tố cấu thành tội phạm theo luật hình sựViệt Nam bao gồm: khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan Vậy,cơ sở pháp lý của trách nhiệm hình sự là cấu thành tội phạm "Cấu thành tộiphạm là hệ thống các dấu hiệu cần và đủ cho việc thừa nhận rằng ngời nào đó

đã thực hiện một tội phạm nhất định và phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự.Chúng cần ở nghĩa rằng, thiếu sự có mặt của tất cả các dấu hiệu của cấuthành tội phạm ở sự tổng thể của chúng thì không thể buộc tội ngời đã thựchiện tội phạm và do đó không thể truy cứu trách nhiệm của ngời đó Chúng đủ

là vì rằng, không cần phải xác định thêm những số liệu bổ sung vào đó để cócơ sở buộc tội ngời tơng ứng trong việc thực hiện tội phạm [38,291] Nh vậy

"hành vi của ngời nào không có đầy đủ dấu hiệu của cấu thành tội phạm - cơ

sở của trách nhiệm hình sự thì ngời đó không phải chịu trách nhiệm hình sự

và hình phạt" [57, 45] Đây là một bảo đảm quan trọng cho trách nhiệm hình

sự không thể đặt ra tràn lan, vô cớ

Tuy vậy, cấu thành tội phạm mới chỉ là cơ sở cần và đủ cho việc thừanhận con ngời có lỗi và phải chịu trách nhiệm đối với hành vi, còn cha đủ đốivới việc lựa chọn biện pháp trách nhiệm đối với ngời đó Để cho việc cânnhắc, quyết định biện pháp trách nhiệm đối với ngời phạm tội - bị cáo, Toà ánkhông thể không xem xét nhân thân của họ Nhng ở đây, để bảo đảm côngbằng của pháp luật đối với tất cả mọi ngời, cũng có nghĩa là bảo vệ mọi ngờinói chung thì pháp luật chỉ thừa nhận cơ sở trách nhiệm hình sự là hành viphạm tội

Trang 20

Khác với các hệ thống pháp luật khác, pháp luật hình sự nớc ta khôngchấp nhận nguyên tắc "tơng tự", "án lệ" có thể trừng phạt con ngời một cáchtràn lan, mà khẳng định, mô tả tất cả mọi tội phạm vào một đạo luật duy nhất:

Bộ luật hình sự Do đó mà quyền con ngời, quyền công dân đợc bảo đảm vữngchắc hơn

Song Bộ luật hình sự mới dừng lại ở việc quy định "Cơ sở của tráchnhiệm hình sự" (Điều 2 BLHS) mà cha đa ra đợc định nghĩa thế nào là tráchnhiệm hình sự Nếu đa ra định nghĩa về chế định này bên cạnh các chế định

"tội phạm" và "hình phạt" đã đợc định nghĩa thì sức thuyết phục của Bộ luậthình sự sẽ cao hơn

2.1.2 Quy định phân loại tội phạm

Việc đặt ra các quy phạm pháp luật hình sự không phải là để trừng phạt

mà các quy phạm này "có khả năng tác động lên ý thức và ý chí của cá nhân,một mặt chúng kích thích các hoạt động hợp pháp, khuyến khích các hành vitích cực pháp luật; mặt khác lại có tác động kìm chế, đe doạ các động cơ dẫn

đến các hành vi vi phạm pháp luật của cá nhân" [21,204] Do vậy, việc quy

định tất cả mọi tội phạm trong một Bộ luật hình sự là quan trọng, nhng quantrọng hơn đối với việc quy định tội phạm là xác định rõ ràng giới hạn giữahành vi bị coi là tội phạm với các hành vi vi phạm pháp luật khác Bởi vì, nếukhông xác định cụ thể giới hạn đó thì có hành vi tuy cha đến mức phải truycứu trách nhiệm hình sự lại bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc ngợc lại, cótrờng hợp phạm tội lại coi là vi phạm pháp luật khác Điều đó vi phạm nguyêntắc công bằng - là nguyên tắc quan trọng đợc thừa nhận trong pháp luật ViệtNam

Trớc hết, phải khẳng định đợc rằng, tội phạm xuất phát từ những hành

vi (hành động hoặc không hành động) nguy hiểm cho xã hội Bởi vì theo Mác

"Chỉ theo mức độ tôi tự biểu hiện ra, theo mức độ tôi bớc vào lĩnh vực thực tế,thì tôi mới bớc vào phạm vi nằm dới quyền lực của nhà lập pháp Ngoài nhữnghành vi của mình ra, tôi hoàn toàn không tồn tại đối với pháp luật, hoàn toànkhông phải là đối tợng của nó Những hành vi của tôi đó là lĩnh vực duy nhấttrong đó tôi đụng chạm tới pháp luật, bởi vì hành vi là cái duy nhất vì nó màtôi đòi quyền tồn tại, quyền hiện thực, và nh vậy là do nó mà tôi rơi vào quyềnlực của pháp luật hiện hành" [42, 513] Do đó, các yếu tố khác nh: thái độ, ý

Trang 21

định, âm mu, quan điểm của con ngời khi cha đợc thể hiện trong thực tế bằnghành vi thì không thể coi là tội phạm đợc Còn tính nguy hiểm cho xã hội làdấu hiệu vật chất tổng hợp của mọi hành vi trái pháp luật Việc phân biệt tộiphạm với các vi phạm pháp luật khác dựa trên mức độ nguy hiểm cho xã hộicủa các hành vi, từ đó đa tới các phản ứng khác nhau của Nhà nớc đối với từngloại vi phạm pháp luật - pháp luật hình sự xác định chính xác giới hạn củahành vi phạm tội và hành vi không phạm tội và đợc khẳng định tại Điều 8BLHS "Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội đợc quy định trong Bộ luậthình sự, do ngời có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ýhoặc vô ý, xâm phạm độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ Tổquốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, anninh trật tự, an toàn xã hội, quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạmtính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi íchhợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của pháp luật xãhội chủ nghĩa

Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhng tính chất nguy hiểmcho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và đợc xử lý bằng cácbiện pháp khác"

Việc xác định giới hạn hành vi phạm tội và hành vi không phải là tộiphạm trong Bộ luật hình sự có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Bởi vì, nó quy địnhdứt khoát trong Bộ luật hình sự hành vi nào nguy hiểm cho xã hội hiện nay bịcấm (tội phạm hoá) mà sự vi phạm điều cấm đó phải bị xử lý bằng chế tài hình

sự (hình sự hoá) hoặc ngợc lại, loại bỏ ra khỏi Bộ luật hình sự hành vi nàonguy hiểm cho xã hội trớc đây bị cấm (phi tội phạm hoá) mà việc thực hiệnhành vi đó trong giai đoạn hiện nay không còn nguy hiểm nữa nên không cầnthiết phải xử lý bằng chế tài hình sự nữa (phi hình sự hoá) Việc xác định giớihạn chính xác hành vi phạm tội với hành vi không phạm tội còn có ý nghĩa

đặc biệt trong việc bảo đảm quyền con ngời, ở chỗ "nó quyết định hàng ngàn

số phận con ngời và xác định bộ mặt đạo đức của xã hội" [45,516]Chính vìvây, Mác viết "nhà làm luật có đạo đức trớc hết phải cho rằng đối với mìnhviệc làm nguy hiểm, bệnh hoạn nhất và nghiêm trọng nhất là khi đa vào lĩnhvực các tội phạm một hành vi mà không bị coi là tội phạm" [43,132]

Trang 22

Bộ luật hình sự năm 1985 của nớc ta đợc thi hành trong 15 năm đã

đóng vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệquyền, lợi ích hợp pháp của công dân, song cũng bộc lộ những bất cập cha đápứng đợc yêu cầu trong giai đoạn hiện nay Trớc tình hình đó ngày 21/12/1999Quốc hội nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua Bộ luật hình sự(1999), thay thế Bộ luật hình sự (1985) đợc Quốc hội thông qua ngày27/6/1985 Sự kiện này đánh dấu một bớc tiến quan trọng trong công tác lậppháp hình sự nớc ta đồng thời cũng là bớc tiến trong việc bảo đảm quyền conngời, quyền công dân

Trớc hết nó khắc phục đợc một số yếu điểm của Bộ luật hình sự trớc đónh: "cha có điều kiện thực tế để cá thể hoá hết hành vi phạm tội, cá thể hoátrách nhiệm hình sự và hình phạt vốn là một nguyên tắc quan trọng trong kỹthuật lập pháp hình sự cha có điều kiện để thể hiện đầy đủ nguyên tắc nhân

đạo xã hội chủ nghĩa của luật hình sự" [40,21]

Theo Nghị quyết số 32/1999/QH10 của Quốc Hội nớc Cộng hoà xã hộichủ nghĩa Việt Nam thì, việc áp dụng, thi hành Bộ luật hình sự sẽ tạo những

điều kiện cơ sở thuận lợi hơn cho việc bảo đảm thực hiện quyền con ngời,quyền công dân, chẳng hạn nh:

a Các điều luật xoá bỏ một hình phạt, một tình tiết tăng nặng, quy định

một hình phạt nhẹ hơn và các quy định khác có lợi cho ngời phạm tội thì

đ-ợc áp dụng đối với cả những hành vi phạm tội xảy ra trớc 0h ngày 1/7/2000.

b Ngợc lại, các điều luật quy định một tội phạm mới, một hình phạt

mới và các quy định khác không có lợi cho ngời phạm tội thì không áp dụng

đối với những hành vi phạm tội xảy ra trớc 0h ngày 1/7/2000 mà áp dụng quy

định tơng ứng của các văn bản pháp luật trớc đây để giải quyết

c Không xử lý về hình sự (kể từ ngày Bộ luật đợc công bố 04/01/2000) đối với ngời thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự trớc đây quy

-định là tội phạm nhng Bộ luật hình sự 1999 không quy -định là tội phạm

Nh vậy, để bảo đảm quyền con ngời, quyền công dân của mọi ngời nóichung và bị cáo nói riêng thì trớc hết đòi hỏi phải quy định dứt khoát, rõ rànghành vi bị coi là tội phạm và hành vi không phải là tội phạm Từ đó làm cơ sởcho việc phân hoá trách nhiệm tơng ứng: trách nhiệm hình sự và các tráchnhiệm khác

Trang 23

Đồng thời, ngay trong trách nhiệm hình sự, để bảo đảm quyền con ngời,quyền công dân cũng đòi hỏi phải có sự phân hoá đối với tội phạm và nhữngngời phạm tội Bởi vì, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của các tộiphạm và nhân thân của ngời phạm tội trong các trờng hợp (vụ án) khác nhauthì khác nhau Phân loại tội phạm một cách có căn cứ, đúng đắn là vô cùngquan trọng và cần thiết trong việc phân hoá trách nhiệm hình sự.

Bộ luật hình sự năm 1985 đã phân các tội phạm thành 2 loại: tội phạmnghiêm trọng và tội phạm ít nghiêm trọng Cách phân loại này đã bộc lộnhững mặt hạn chế, trong đó hạn chế lớn nhất là quy định khoảng cách quárộng giữa mức khởi điểm và mức cao nhất của khung hình phạt định cho mỗiloại tội phạm (từ trên 5 năm tù đến chung thân, tử hình; từ 5 năm tù trở xuống

đến 3 tháng tù), do đó ảnh hởng đến chính sách xử lý đối với ngời phạm tội,gây khó khăn cho việc phân hoá trách nhiệm hình sự và việc bảo vệ quyền, lợiích của bị cáo

Để khắc phục hạn chế này và cũng là tạo cơ sở cho việc áp dụng chínhsách xử lý thích hợp cho từng loại tội phạm, Bộ luật hình sự năm 1999 tạikhoản 2 Điều 8 đã phân tội phạm thành 4 loại nh sau:

- Tội phạm ít nghiêm trọng, là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xãhội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến 3 năm tù

- Tội phạm nghiêm trọng, là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội màmức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến 7 năm tù

- Tội phạm rất nghiêm trọng, là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mứccao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến 15 năm tù

- Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớncho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên 15 năm

tù, tù chung thân hoặc tử hình

Việc phân loại tội phạm trong Bộ luật hình sự 1999 có ý nghĩa to lớntrong việc hoàn thiện các chế định quan trọng trong luật hình sự Việt Nam,chẳng hạn, quy định về nguyên tắc xử lý (Điều 3), tuổi chịu trách nhiệm hình

sự (Điều 12), chuẩn bị phạm tội (Điều 17), thời hiệu truy cứu trách nhiệmhình sự (Điều 23), tái phạm, tái phạm nguy hiểm (Điều 19 BLHS)

Cách phân loại tội phạm thành 4 loại là tạo cơ sở để cụ thể hoá tráchnhiệm hình sự và để xây dựng các cấu thành tội phạm cụ thể thành nhiều

Trang 24

khung trên cơ sở căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội củahành vi phạm tội, bảo đảm tốt hơn cho việc cá thể hoá trách nhiệm hình sự vàhình phạt Cũng chính từ việc phân loại tội phạm sẽ tạo ra cơ sở để xây dựngnhiều chế định của Bộ luật tố tụng hình sự, chẳng hạn nh thủ tục rút gọn, mởrộng thẩm quyền cho Toà án cấp huyện

Việc phân loại tội phạm phản ánh đợc nội dung của tính chất và mức độnguy hiểm cho xã hội của mọi tội phạm, đồng thời nó đợc "đo lờng" bởi cácloại và mức hình phạt tơng ứng Chính vì vậy "việc đánh giá mức độ của tínhnguy hiểm cho xã hội của tội phạm với tính cách là cơ sở thống nhất của việcphân loại tội phạm và đợc cân nhắc trong khi xây dựng các chế định của phầnchung và phần các tội phạm cụ thể của Bộ luật hình sự là thẩm quyền của nhàlàm luật khi xây dựng và ban hành luật hình sự, chứ không phải là thẩm quyềncủa Toà án khi áp dụng luật" [73;82,83] Các loại, mức hình phạt quy địnhtrong Bộ luật hình sự là biểu hiện tập trung giữa các yếu tố chủ thể, mặt kháchthể, khách quan, mặt khách quan của tội phạm và đồng thời phù hợp với mức

độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm Do đó, việc phân loại tội phạm phải

đ-ợc dựa trên các căn cứ khoa học khác nhau, là cơ sở cho việc cá thể hoá hìnhphạt, tìm ra loại và mức hình phạt phù hợp, tơng ứng với tội phạm Và có nhvậy mới tạo ra đợc những tiền đề cần thiết cho việc bảo vệ quyền, lợi ích hợppháp của công dân, của bị cáo khỏi các hành vi xâm hại trái pháp luật, cũng làmột trong các yếu tố thể hiện nguyên tắc công bằng, nhân đạo trong luật hình

sự Việt Nam

Việc đa ra định nghĩa pháp lý về tội phạm hay "khái niệm tội phạm"trong Bộ luật hình sự là vô cùng cần thiết Nhng khái niệm đó cần đợc quy

định một cách ngắn gọn hơn, không cần liệt kê một cách dài dòng nh khoản 1,

Điều 8 BLHS hiện nay Mặt khác, để cho "khái niệm tội phạm" đợc hiểu theo

đúng nguyên nghĩa và nội dung của nó thì không nên đa các quy định về phânloại tội phạm vào Điều 8 này Hơn nữa pháp luật đã quy định "tội phạm" thìchỉ là tội phạm, chứ không thể là "không phải là tội phạm" nh khoản 4, Điều 8BLHS đợc Do đó, cần có sự điều chỉnh Điều 8 cho hợp lý hơn

Quy định chủ thể và lỗi của chủ thể:

Trang 25

Điều 8 Bộ luật hình sự quy định "tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xãhội đợc quy định trong Bộ luật hình sự, do ngời có năng lực trách nhiệm hình

sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý "

Ngời có năng lực trách nhiệm hình sự đạt đến độ tuổi nhất định do luậthình sự quy định thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đợc coi là chủ thểcủa tội phạm và trách nhiệm hình sự cũng chỉ đợc đa ra áp dụng đối với chủthể của tội phạm khi ngời đó có lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểmcho xã hội

Không có chủ thể của tội phạm thì sẽ không thể có hành vi phạm tội vàcàng không thể có thái độ chủ quan (lỗi) của con ngời thực hiện hành vi phạmtội Hay nói cách khác, không có chủ thể của tội phạm thì cũng không có lỗi,việc phạm tội và trách nhiệm hình sự chỉ là những khái niệm trên giấy màthôi

Chủ thể của tội phạm phải là ngời có năng lực trách nhiệm hình sự, tức

là ngời khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có khả năng nhận thức đợctính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi và có khả năng điều khiển đợchành vi đó theo ý định của mình nhằm đạt đợc mục đích đã xác định Bởi vì,trong trờng hợp đó, con ngời mới có khả năng nhận thức đợc đòi hỏi của phápluật, của xã hội, nhận biết đợc đúng sai, nhận thức đợc việc làm của mình và

nh vậy cũng mới có khả năng tự chịu trách nhiệm về hành vi của mình Cònnhững ngời không có năng lực trách nhiệm hình sự thì cho dù ngời đó có thựchiện hành vi nguy hiểm cho xã hội cũng đợc coi là ngời không có lỗi trongviệc thực hiện hành vi đó và do đó, không phải chịu trách nhiệm hình sự

Ngời có khả năng nhận thức và điều khiển đợc hành vi của mình phải làngời đạt đến độ tuổi nhất định (đợc quy định tại Điều 12 BLHS) và khôngthuộc trờng hợp quy định tại Điều 13 (tình trạng không có năng lực tráchnhiệm hình sự) BLHS

Các dấu hiệu nh: năng lực trách nhiệm hình sự và tuổi chịu trách nhiệmhình sự là bắt buộc chung cho mọi chủ thể của tội phạm

Năng lực trách nhiệm hình sự của con ngời, không phải có từ lúc sinh rahay còn nhỏ mà nó chỉ có đợc khi đạt đến độ tuổi nhất định và nó còn sẽ đợctiếp tục phát triển hoàn thiện trong một thời gian tiếp theo Trên cơ sở này, kết

Trang 26

hợp với tinh thần nhân đạo, tôn trọng quyền con ngời, Điều 12 BLHS quy

Việc quy định này là sự thu hẹp phạm vi xử lý hình sự đối với ngời chathành niên trong độ tuổi từ 14 đến dới 16 tuổi Trớc đây, Bộ luật hình sự 1985quy định ngời cha thành niên phải chịu trách nhiệm về tội nghiêm trọng (cáctội có mức hình phạt tù từ 5 năm) do cố ý Nhng nay, Bộ luật hình sự quy định

họ chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng (các tội cómức hình phạt tù từ 7 năm trở lên) do cố ý và tội đặc biệt nghiêm trọng Đây

là điểm sửa đổi quan trọng trong chính sách hình sự của Nhà nớc ta Do đó,trong Nghị quyết số 32/1999/QH10 về việc thi hành Bộ luật hình sự đã quy

định:

Kể từ ngày Bộ luật hình sự đợc công bố (4/1/2000) "Không xử lý vềhình sự đối với ngời cha thành niên từ đủ 14 tuổi đến dới 16 tuổi về tội phạm

có mức cao nhất của khung hình phạt đến 7 năm tù; nếu vụ án đang đợc điềutra, truy tố, xét xử thì phải đình chỉ, trong trờng hợp ngời đó đã bị kết án và

đang chấp hành hình phạt hoặc đang đợc tạm đình chỉ thi hành án thì họ đợcmiễn chấp hành phần hình phạt còn lại, "

Ngoài những dấu hiệu bắt buộc chung (năng lực trách nhiệm hình sự,tuổi chịu trách nhiệm hình sự) cho mọi chủ thể tội phạm thì đối với một số cấuthành tội phạm, chủ thể còn phải có thêm một số dấu hiệu đặc biệt khác nữa.Các dấu hiệu đó là những đặc điểm nhất định về nhân thân: "tội truy cứu tráchnhiệm hình sự ngời không có tội" (Điều 294 BLHS) chỉ có thể do ngời tiếnhành tố tụng thực hiện

Trong Bộ luật hình sự 1999, chủ thể của tội phạm đợc nhìn nhận đúngvới vị trí của họ Tại khoản 2 Điều 3 từ "ngời" đã thay thế cho từ "kẻ" nêutrong Bộ luật hình sự trớc đó, để tránh miệt thị, định kiến đối với bị cáo, dẫn

đến thiếu khách quan trong xét xử ở đây, Bộ luật hình sự cũng khẳng định ngờiphạm tội là con "ngời" và do chính họ phạm tội mà bị xử lý bằng hình sự

Trang 27

Trớc đây, ngời không tố giác tội phạm là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu,anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của ngời phạm tội đều phải bị truy cứu tráchnhiệm hình sự, tức là, là chủ thể của tội phạm Bộ luật hình sự 1999 khôngquy định những ngời đó là chủ thể của tội phạm, tức là họ không bị truy cứutrách nhiệm hình sự - trừ trờng hợp họ không tố giác tội phạm là các tội xâmphạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng.

Theo Bộ luật hình sự quy định thì, một ngời (chủ thể) chỉ phải chịutrách nhiệm hình sự về hành vi nguy hiểm cho xã hội khi ngời đó có lỗi trongviệc thực hiện hành vi đó Nh vậy, "luật hình sự Việt Nam không thừa nhậnviệc quy tội khách quan khi truy cứu trách nhiệm hình sự một ngời chỉ căn cứvào hành vi khách quan mà không xem xét đến lỗi của ngời đó" [20,375]

Lỗi là thái độ tâm lý của ngời phạm tội đối với hành vi nguy hiểm choxã hội do mình thực hiện và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra

Luật hình sự Việt Nam coi lỗi là một trong những cơ sở của trách nhiệmhình sự, là dấu hiệu không thể thiếu đợc của tất cả các cấu thành tội phạm Do

đó, Bộ luật tố tụng hình sự tại Điều 47 quy định các vấn đề buộc phải chứngminh trong vụ án hình sự, trong đó có vấn đề ai là ngời thực hiện hành viphạm tội; có lỗi hay không có lỗi; do cố ý hay vô ý

Luật hình sự chia lỗi thành 2 hình thức: cố ý phạm tội và vô ý phạm tội(Điều 9, 10 BLHS ) Điều 9 BLHS quy định về cố ý phạm tội đợc chia thành 2khoản phù hợp với cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp Sự phân chia này giúp choviệc đánh giá chính xác hơn tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, mặc

dù trong cùng một hình thức lỗi cố ý

Tơng tự nh vậy, Điều 10 cũng đợc chia thành 2 khoản quy định 2 "mức"khác nhau của vô ý phạm tội do quá tự tin và do cẩu thả tơng ứng với các mức

độ nguy hiểm khác nhau của hành vi phạm tội

Việc quy định các hình thức lỗi trong Bộ luật hình sự nói lên rằng, tộiphạm không những là kết quả của hành vi chống pháp luật mà còn là hệ quảcủa một thái độ, của sự nhận thức và nh vậy là cơ sở của trách nhiệm hình sự

Sở dĩ nh vậy vì "hành vi con ngời suy cho cùng là do điều kiện xã hội kháchquan quyết định" [67,9] song hành vi của con ngời lại thông qua nhận thức, ýchí của con ngời nên nó không hoàn toàn là kết quả của sự lệ thuộc tuyệt đốivào hoàn cảnh khách quan Vì rằng, con ngời có thể biết đợc hậu quả của

Trang 28

hành vi của mình và căn cứ vào đó mà quyết định có tiếp tục thực hiện hành vi

đó của mình hay không

Nh vậy, theo Tiến sỹ Đào Trí úc trách nhiệm hình sự phải là hệ quả củahai yếu tố:

1 Là trách nhiệm bởi những gì là hậu quả do hành vi của chủ thể gây ra;

2 Là trách nhiệm bởi hành vi đó cũng nh hậu quả của nó đều đã đợcchủ thể nhận thức và cân nhắc, tính toán, suy ngẫm, hiểu biết ở mức độ nhất

định và do đó, là biểu hiện của những mong muốn, tính toán chủ quan của chủthể [67,11]

Do đó, một hành vi xảy ra ngoài nhận thức chủ quan của cá nhân khôngthể là cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự và hậu quả do hành vi đó gây racũng không thể là cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự Bởi vì, chủ thểkhông có ý thức gì về hành vi và hậu quả đó Nếu trong trờng hợp ấy, giả sử,trách nhiệm hình sự vẫn đa ra áp dụng đối với họ thì sẽ không có ý nghĩa vàngợc lại, sẽ không nhận đợc sự đồng tình của chính ngời đó và xã hội nóichung

Vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà Bộ luật hình sự quy định các hìnhthức lỗi khác nhau Các hình thức đó tơng ứng với các mức độ nguy hiểm khácnhau của tội phạm Tội phạm đợc thực hiện với hình thức lỗi cố ý có mức độnguy hiểm cho xã hội hơn nhiều so với tội phạm đợc thực hiện với lỗi vô ý Do

đó, trách nhiệm hình sự áp dụng đối với các hình thức lỗi khác nhau vềnguyên tắc là không thể giống nhau Xu hớng của luật hình sự hiện nay là sửdụng trách nhiệm hình sự đối với các hành vi có lỗi cố ý Còn đối với lỗi vô ýchỉ áp dụng trách nhiệm hình sự đối với những hành vi vô ý trong những trờnghợp gây hậu quả nghiêm trọng; chẳng hạn nh một số tội xâm phạm an toàncông cộng, trật tự công cộng và việc quy định về tái phạm, tái phạm nguyhiểm

Nh vậy, việc phân biệt chủ thể tội phạm với các hình thức lỗi khác nhaunhằm tạo cơ sở cho việc áp dụng các biện pháp hình phạt đối với ngời phạmtội đợc đúng đắn, công bằng, không thiên vị nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợppháp của ngời phạm tội

Trang 29

Năng lực trách nhiệm hình sự và lỗi là các dấu hiệu bắt buộc đối vớimọi chủ thể của tội phạm nên cần đợc quy định rõ ràng, cụ thể trong luật hình

sự Song, Bộ luật hình sự hiện nay cha đa ra đợc qui định (hay định nghĩa)năng lực trách nhiệm hình sự mà chỉ mới đa ra quy định "tình trạng không cónăng lực trách nhiệm hình sự" (Điều 13 BLHS)

Bên cạnh đó, lỗi là gì và khi nào thì ngời thực hiện hành vi nguy hiểmcho xã hội đợc coi là có lỗi cũng cha đợc khẳng định trong Bộ luật hình sự

2.1.3 Quy định hình phạt, mục đích, hệ thống hình phạt

Xuất phát từ nhu cầu tôn trọng và bảo vệ quyền con ngời, bảo vệ lợi íchcủa Nhà nớc, các tổ chức mà Nhà nớc đề ra Pháp luật nói chung và luậthình sự nói riêng Và để thực hiện pháp luật, Nhà nớc dùng hai biện phápchính là giáo dục thuyết phục và cỡng chế Trong đó giáo dục thuyết phục làcông việc quan trọng hàng đầu Song pháp luật, đặc biệt là pháp luật hình sựkhông thể mất đi tính cỡng chế của nó Hình phạt là biện pháp cỡng chế Nói

đến nó nhiều ngời nghĩ ngay đến các biện pháp trừng trị nghiêm khắc của Nhànớc Song hình phạt đợc đặt ra, trớc hết là để phòng ngừa, răn đe và sau đómới là cơ sở để Toà án cân nhắc trách nhiệm hình sự đối với ai cố tình viphạm những điều đợc pháp luật tuyên bố bảo vệ Đến lợt nó, bản thân hìnhphạt cũng phải bảo đảm nhân đạo, công bằng Mác khẳng định "cả lịch sử lẫn

lý trí đều xác nhận nh nhau cái sự thật là: sự tàn nhẫn không đếm xỉa tới bất

kỳ sự khác biệt nào làm cho sự trừng phạt trở nên hoàn toàn vô hiệu, bởi vì sựtàn nhẫn thủ tiêu sự trừng phạt với t cách là kết quả của pháp luật" [42, 179]

" Hình phạt là biện pháp cỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nớc nhằmtớc bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của ngời phạm tội" (Điều 8 BLHS) Hìnhphạt chỉ do Bộ luật hình sự quy định

Nh vậy, hình phạt là phản ứng của Nhà nớc, đồng thời cũng là sự lên áncủa xã hội đối với ngời phạm tội Tính tất yếu, tính không thoát khỏi trách nhiệmcủa ngời phạm tội không thể gây ra một sự nghi ngờ nào về bảo vệ quyền conngời, quyền công dân Điều này cũng có nghĩa là ngời phạm tội chịu hình phạtphải bị tớc bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của mình Để bảo vệ quyền con ngời,quyền công dân, đòi hỏi ở đây là: biện pháp hình phạt phải đợc quy định tơngxứng với tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội "Sự đo lờngtrách nhiệm đối với tội phạm đợc và cần phải dựa trên nguyên tắc công bằng và

Trang 30

hợp lý" [45,182] "Điều đó đặt ra những đòi hỏi rất cao đối với hoạt động lậppháp khi quy định các biện pháp trách nhiệm (hình phạt)" [73,101].

Thực tiễn cho thấy rằng, việc quy định và đặc biệt là áp dụng các biệnpháp hình phạt tơng xứng với mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội gặpkhông ít khó khăn Do đó, việc lập pháp cha bao giờ đợc coi là hoàn thiện

Đồng thời trong xét xử, số lợng các vụ án bị cải sửa theo cả hai hớng tăng vàgiảm mức hình phạt đối với các bị cáo còn nhiều

Trong luật hình sự - là luật chứa đựng những biện pháp hình phạtnghiêm khắc nhất, việc bảo đảm quyền con ngời, quyền công dân của ngờiphạm tội còn đợc thể hiện ở chỗ: Nhà nớc có quyền trừng trị ngời phạm tộinhng phải theo pháp luật, đồng thời phải có nghĩa vụ giáo dục, cải tạo họthành ngời có ích cho xã hội Ngời phạm tội buộc phải chấp hành hình phạtnhng cũng có quyền đợc giáo dục trở thành ngời lơng thiện

Hình phạt là biện pháp cỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nớc vì nó

có thể tớc bỏ hoặc hạn chế những quyền và lợi ích về vật chất, tinh thần vàthậm chí cả quyền sống của ngời phạm tội Đây là vấn đề nhạy cảm nhất củapháp luật đối với quyền con ngời Song không phải vì thế mà pháp luật sẽ phảimất đi hình phạt mà ngợc lại, pháp luật quy định hình phạt nhằm phòng ngừa,răn đe và để chống lại tội phạm Thuộc tính trừng trị vốn có của hình phạt tạocho chức năng bảo vệ của pháp luật đợc bảo đảm hơn

Tính cỡng chế của hình phạt còn mang nội dung giáo dục, cải tạo ngời

bị kết án, giúp họ trở thành ngời có ích cho xã hội Bởi vì, thông qua hình phạtngời bị kết án thấy đợc tính nguy hiểm cho xã hội do việc phạm tội của mình,thấy đợc trách nhiệm của mình đối với hậu quả do họ gây ra, thấy đợc sự phảnứng của Nhà nớc và sự lên án của xã hội đối với họ và thấy đợc việc phải cảitạo để trở thành ngời lơng thiện

Nh vậy, pháp luật hình sự không thể không quy định hình phạt với nộidung giáo dục thuyết phục và trừng trị gắn bó chặt chẽ với nhau

Trong lịch sử phát triển của xã hội loài ngời cho thấy có nhiều loại hìnhphạt khác nhau ở Việt Nam, hiện nay hình phạt đợc Bộ luật hình sự quy định

và do Toà án áp dụng Vấn đề là ở chỗ, việc quy định và áp dụng hình phạt thếnào để bảo đảm có hiệu quả của nội dung giáo dục thuyết phục và trừng trị

Trang 31

của hình phạt Không phải đối với bất kỳ trờng hợp phạm tội nào việc quy

định, vận dụng nội dung giáo dục, thuyết phục và trừng trị cũng nh nhau.Cónghĩa là, đối với tội phạm nghiêm trọng (rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiệmtrọng) thì nội dung trừng trị của hình phạt phải đợc tăng cờng Và ngợc lại, đốivới tội phạm ít nghiêm trọng thì nội dung thuyết phục lại phải đợc tăng cờng,nội dung trừng trị phải giảm đi Điều đó đợc thể hiện cụ thể trong các mứchình phạt của các cấu thành tội phạm Nh vậy, mức hình phạt nghiêm khắc sẽtơng ứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm và nhân thân ngời phạm tội

Điều này cũng đợc thể hiện tại Điều 3 BLHS: "Nghiêm trị ngời chủ mu, cầm

đầu chỉ huy, ngoan cố chống đối, lu manh côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợidụng chức vụ quyền hạn để phạm tội; ngời phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt,

có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả nghiêm trọng

Khoan hồng đối với ngời tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác ngời đồngphạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thờngthiệt hại gây ra

Đối với ngời lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, đã hối cải thì có thể ápdụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù, giao họ cho cơ quan, tổ chức hoặc gia

đình giám sát giáo dục"

Nhà nớc ấn định hình phạt đồng thời cũng quy định rõ mục đích củahình phạt Điều 27 Bộ luật hình sự xác định: "Hình phạt không chỉ nhằm trừngtrị ngời phạm tội mà còn nhằm giáo dục họ trở thành ngời có ích cho xã hội,

có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa,ngăn ngừa họ phạm tội mới Hình phạt còn nhằm giáo dục ngời khác tôn trọngpháp luật, đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm "

Nh vậy, mục đích của hình phạt là kết quả thực tế mà Nhà nớc mongmuốn đạt đợc khi quy định trách nhiệm hình sự đối với tội phạm và áp dụnghình phạt đối với cá nhân ngời phạm tội

Rõ ràng, hình phạt không nhằm làm đau đớn về thể xác và hạ thấp nhânphẩm con ngời

Nh đã phân tích, trong luật hình sự Việt Nam hình phạt mang nội dunggiáo dục, thuyết phục và trừng trị Hình phạt nhằm tạo cho ngời phạm tội nhậnthức đợc lỗi lầm của mình đồng thời nhận thức đợc sự cần thiết phải áp dụnghình phạt đối với họ và giúp họ thấy đợc sự cần thiết phải tự giác tôn trọng và

Trang 32

chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật Ngoài ra, hình phạt còn có mục đích giáodục ngời khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm

Tinh thần nhân đạo, coi trọng quyền con ngời của ngời phạm tội đợc thểhiện rõ hơn trong quy định mục đích của hình phạt, bằng việc lấy từ "giáodục" thay cho từ "cải tạo" Cụ thể là: hình phạt " còn giáo dục họ trở thành ng-

ời có ích cho xã hội" (Điều 27 BLHS 1999) chứ không phải là "cải tạo họ trởthành ngời có ích cho xã hội" (Điều 20 BLHS 1985) ít nhiều mang tính đoạ

đày Hình phạt do Bộ luật hình sự quy định không có tính nhục hình Các biệnpháp hình phạt đợc đặt ra đòi hỏi phải có hệ thống và công bằng

Hệ thống hình phạt là một chỉnh thể bao gồm các loại hình phạt đợcquy định trong luật hình sự và đợc sắp xếp theo một trình tự nhất định tuỳthuộc vào mức độ nghiêm khắc của mỗi hình phạt

Theo Bộ luật hình sự, hệ thống hình phạt của nớc ta đợc cấu thành từ 2loại: hình phạt chính và hình phạt bổ sung (Điều 28 BLHS)

Các hình phạt chính là hình phạt đợc tuyên độc lập đối với mỗi tộiphạm, ngời phạm tội chỉ có thể bị áp dụng một trong bảy hình phạt chính:cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, trục xuất, tù có thời hạn, từ chungthân, tử hình

Hình phạt bổ sung là hình phạt không thể tuyên độc lập mà chỉ có thểtuyên kèm theo hình phạt chính Hình phạt bổ sung không đợc áp dụng đối vớitất cả các loại tội phạm Đối với mỗi tội phạm, ngời phạm tội có thể bị ápdụng một hoặc một số hình phạt bổ sung là: cấm đảm nhiệm chức vụ, cấmhành nghề hoặc làm công việc nhất định; cấm c trú; quản chế; tớc một sốquyền công dân; tịch thu tài sản; phạt tiền (khi không áp dụng là hình phạtchính); trục xuất (khi không áp dụng là hình phạt chính) Ngoài các hình phạttrên, Toà án không đợc áp dụng bất cứ hình phạt nào khác

Hệ thống hình phạt nớc ta đa dạng, có các mức độ khác nhau thể hiện

đờng lối của Nhà nớc là kết hợp giữa giáo dục thuyết phục và cỡng chế trong

đấu tranh phòng, chống tội phạm, đồng thời là cơ sở cho việc cá thể hoá tráchnhiệm hình sự

Ngoài việc quy định nội dung của từng hình phạt, luật hình sự còn quy

định hình phạt nào thì đợc áp dụng với loại tội phạm nào Chẳng hạn, cảnh cáo

Trang 33

đợc áp dụng đối với ngời phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảmnhẹ nhng cha đến mức miễn hình phạt; phạt tiền đợc áp dụng là hình phạtchính đối với ngời phạm tội ít nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế,trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính và một số tội phạm khác.

Đồng thời, Luật cũng quy định những trờng hợp nào thì đợc áp dụnghình phạt nào, hình phạt nào không đợc áp dụng đối với đối tợng nào Chẳnghạn, Điều 30 BLHS quy định khi nào áp dụng hình phạt tiền là hình phạtchính, khi nào là hình phạt bổ sung; phạt tử hình không đợc áp dụng đối vớingời cha thành niên, phụ nữ nuôi con dới 36 tháng tuổi; không áp dụng hìnhphạt tiền đối với ngời cha thành niên (đủ 14 tuổi đến 16 tuổi) phạm tội Không

áp dụng hình phạt bổ sung đối với ngời cha thành niên phạm tội Nếu ngời chathành niên từ đủ 14 tuổi đến dới 16 tuổi phạm tội mà điều luật đợc áp dụngquy định phạt tù chung thân hoặc tử hình thì mức hình phạt đợc áp dụng caonhất không quá 12 năm tù (trớc đây là 15 năm); còn đối với ngời từ đủ 16 tuổi

đến dới 18 tuổi thì mức hình phạt đợc áp dụng không quá 18 năm tù (trớc đây

20 năm tù)

Ngoài việc quy định các loại hình phạt với các mức độ nghiêm khắckhác nhau, luật hình sự còn quy định rõ các mức thời gian tối thiểu và mứcthời gian tối đa đối với hình phạt tù, cải tạo không giam giữ

Trớc đây, luật hình sự quy định hình phạt cải tạo không giam giữ đợc ápdụng trong khoảng thời gian từ 6 tháng đến 2 năm đối với ngời phạm tội ítnghiêm trọng (Điều 24 BLHS 1985) Hiện nay, Bộ luật hình sự quy định loạihình phạt này đợc áp dụng từ 6 tháng đến 3 năm không chỉ đối với ngời phạmtội ít nghiêm trọng mà cả đối với ngời phạm tội nghiêm trọng (Điều 31 BLHS1999)

Nh vậy, phạm vi áp dụng hình phạt này đợc mở rộng hơn, tránh khuynhhớng nặng về hình phạt tù Hình phạt tù có thời hạn là từ 3 tháng đến 20 năm(Điều 33) Hình phạt tử hình, Bộ luật hình sự trớc đây quy định tại 44 điềunhng nay chỉ còn quy định tại 29 điều luật "Việc Toà án áp dụng các hìnhphạt nghiêm khắc đúng pháp luật kể cả hình phạt chung thân, tử hình đối vớimột số ngời phạm tội thuộc những trờng hợp đặc biệt nghiêm trọng xâmphạm tính mạng, tài sản, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của công dân (giết ng-

ời, giết ngời cớp tài sản công dân, hiếp dâm trẻ em) có ý nghĩa đặc biệt quan

Trang 34

trọng và cần thiết trong giai đoạn hiện nay nhằm đấu tranh có hiệu quả vớiloại tội phạm này, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của cá nhân" [28,6] Việc quy

định hình phạt tử hình là cần thiết, nhng hiện nay phạm vi áp dụng hình phạtnày đã đợc thu hẹp đáng kể, chỉ còn áp dụng đối với một số trờng hợp phạmtội đặc biệt nghiêm trọng Điều này thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà n-

ớc, coi trọng quyền sống của con ngời Hơn nữa, "trên thực tế, tính chấtnghiêm minh và chức năng răn đe, giáo dục, phòng ngừa của pháp luật nóichung và hình phạt nói riêng chủ yếu phụ thuộc vào việc thực thi pháp luật chứkhông phải ở việc quy định hình phạt thật nặng" [41,40]

Việc quy định thời hạn tối thiểu (3 tháng) và thời hạn tối đa (20 nămtrong trờng hợp phạm một tội và 30 năm trong trờng hợp phạm tội nhiều tội)của hình phạt tù là tạo điều kiện cho việc cá thể hoá trách nhiệm hình sự, mởrộng khả năng lựa chọn một hình phạt tơng xứng với tính chất và mức độ nguyhiểm cho xã hội, phù hợp với những đặc điểm nhân thân ngời phạm tội Songtrên thực tế, với điều kiện cải tạo hiện nay thì mức hình phạt 3 tháng tù giam

sẽ khó có khả năng giáo dục ngời phạm tội trở thành "ngời có ích cho xã hội".Hơn nữa, quy định nh vậy cũng có thể là kẽ hở cho các cơ quan tiến hành tốtụng hợp pháp hoá việc tạm giữ, tạm giam sai pháp luật bằng việc tuyên phạt

bị cáo 3 tháng tù giam để trừ vào thời gian ngời phạm tội đã bị tạm giữ, tạmgiam

Bên cạnh đó, việc quy định mức tối đa của hình phạt tù đối với trờnghợp phạm nhiều tội là 30 năm là phù hợp với lý luận về sự công bằng nhng ch-

a thật sự hoàn toàn phù hợp với thực tiễn Bởi lẽ, thứ nhất: "hàng năm số bị

cáo bị phạt tù chung thân chiếm một tỷ lệ khá cao Thế nhng qua thực tếkhông có trờng hợp nào ngời bị phạt tù chung thân chấp hành phạt quá 20

năm" [64,38]; thứ hai: mức án 30 năm không phải là biện pháp hữu hiệu để

"trừng trị" và "giáo dục" ngời phạm nhiều tội nh mục đích của hình phạt đặt

ra Bởi vì, không hẳn là việc áp dụng hình phạt tù lâu tới mức 30 năm mới đủ

độ để giáo dục, cải tạo ngời phạm nhiều tội

Trong hệ thống hình phạt của Bộ luật hình sự, hình phạt tù vẫn chiếm uthế Trong khi đó, các hình phạt không phải là tù cha thực sự có vị trí cânxứng với hình phạt tù "Sự quá nghiêng về hình phạt tù trong luật hình sự nớc

ta dẫn đến mất cân đối trong hệ thống hình phạt giữa hình phạt tù và các hìnhphạt không phải tù, khó đảm bảo tính thống nhất nội tại giữa tội phạm và hình

Trang 35

phạt; dẫn đến tình trạng áp dụng hình phạt tù phổ biến trong thực tiễn xét xử"[70,27] Do vậy, có "thực tế đáng lo ngại là đối với một số ngời phạm tội ítnghiêm trọng do vô ý, có nhân thân tốt đáng lẽ và cần phải đợc cải tạo, giáodục trong môi trờng sống và công tác của mình mà không cần tách ly khỏi xãhội thì Toà án lại quyết định hình phạt tù với thời hạn ngắn" [73,124] Điều đó

ảnh hởng rất lớn đến quyền, lợi ích của ngời phạm tội

Nh vậy, đến nay lời dạy của Lê Nin vẫn còn nguyên giá trị, "tác dụngngăn ngừa của hình phạt hoàn toàn không phải hình phạt đó nặng mà ở chỗ là

đã phạm tội thì không thoát khỏi bị trừng phạt Điều quan trọng không phải ởchỗ là tội phạm phải trừng phạt nặng mà ở chỗ không một tội phạm nào không

bị phát hiện ra" [39,120] Vì lẽ đó, khuynh hớng tăng nặng hình phạt để nhằm

đạt mục đích của hình phạt là không thuyết phục Bởi vì: "ngời ta thờng nói

đến sự nghiêm trị, nhất là trong những trờng hợp tệ nạn xã hội phát triển trànlan và hậu quả quá tai hại Điều này đúng vì trị một ngời để cứu muôn ngời".Nhng nếu xét sâu xa nguồn gốc của tệ nạn xã hội thì đó không phải là mộtgiải pháp duy nhất hữu hiệu bởi đó chỉ là "trị đằng ngọn chứ không phải trị

đằng gốc" Kinh nghiệm ở một số nớc cho thấy sự nghiêm trị đã không ngănchặn đợc một cách hiệu quả các tệ nạn này [59,3]

2.1.4 Quy định hệ thống chế tài đối với các cấu thành tội phạm

Việc quy định các loại tội phạm khác nhau, các biện pháp hình phạtkhác nhau tạo cơ sở để định ra các mức độ nghiêm khắc khác nhau trong hệthống chế tài của luật hình sự Các mức độ đó là tiền đề quan trọng để Toà án

áp dụng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Và do đó, chế tài là yếu tố cụ thể,trực tiếp tác động đến quyền con ngời của bị cáo Vì lẽ đó, việc xây dựng hệthống chế tài đòi hỏi phải đảm bảo nguyên tắc tơng xứng giữa mức độ nghiệmtrọng của tội phạm và mức độ nghiêm khắc của chế tài, đồng thời phải bảo

đảm tơng xứng và hợp lý giữa các tội trong phần các tội phạm của Bộ luậthình sự Bởi vì, nh Mác viết "Nếu nh khái niệm phạm tội giả định phải có sựtrừng phạt, thì tội phạm thực tế lại giả định phải có một mức độ trừng phạtnhất định Tội phạm thực tế là có giới hạn Vì vậy, cả sự trừng phạt cũng phải

có giới hạn, dẫu chỉ là để cho nó có tính chất thực tế - nó phải đợc hạn chế bởinguyên tắc của pháp luật để trở thành hợp pháp Vấn đề là ở chỗ làm cho sựtrừng phạt trở thành hậu quả thực tế của việc phạm tội Dới con mắt của kẻphạm tội, sự trừng phạt phải là kết quả tất yếu của hành vi của ngời đó, do đó

Trang 36

phải là hành vi của chính ngời đó Giới hạn của hành vi của y phải là giới hạncủa sự trừng phạt" [42, 181].

Để mức độ nghiêm khắc của hình phạt đợc biểu hiện bằng các chế tài

cụ thể tơng xứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm, không thể khôngtính đến năng lực trách nhiệm hình sự, lứa tuổi, các hình thức lỗi, động cơ,mục đích của ngời phạm tội Vì không nh vậy thì quyền con ngời của họ sẽkhông đợc bảo đảm Điều này đợc thể hiện rõ nét trong luật hình sự ViệtNam; chẳng hạn đối với ngời cha thành niên trong các độ tuổi khác nhau cócác mức hình phạt khác nhau, tội giết ngời với tội vô ý làm chết ngời có mứchình phạt khác nhau

Việc quy định chế tài còn căn cứ vào tính chất, giá trị, ý nghĩa, vai trò,tầm quan trọng của các quan hệ xã hội bị xâm hại, tính chất của hành vi vàhậu quả do tội phạm gây ra Chẳng hạn hình phạt đối với tội cố ý gây thơngtích hoặc gây tổn hại sức khoẻ của ngời khác (Điều 104 BLHS) nghiêm khắchơn so với hình phạt đối với tội gây rối trật tự công cộng (Điều 245 BLHS);hoặc giết ngời không vì các động cơ, mục đích đợc quy định tại khoản 1

Điều 93 BLHS thì thuộc khoản 2 có mức hình phạt ít nghiêm khắc hơn, hoặcngời phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng bao giờ cũng chịu mức hình phạtnghiêm khắc hơn trờng hợp tơng tự nhng không có tình tiết đó

Đối với các tội phạm về sở hữu, về kinh tế, luật hình sự quy định việc

định lợng giá trị để làm cơ sở phân biệt tội phạm với vi phạm hành chính,

đồng thời cũng là cơ sở để quy định các chế tài cho tơng xứng với các mức độnghiêm khắc khác nhau của tội phạm, tránh tình trạng xử lý tuỳ tiện Chẳnghạn thông thờng ngời nào có hành vi chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 500.000

đồng trở lên mới cấu thành tội phạm Tuy nhiên trờng hợp chiếm đoạt dới500.000 đồng cũng cấu thành tội phạm trong trờng hợp gây hậu quả nghiêmtrọng hoặc đã bị xử phạt hành chính hoặc cha đợc xóa án tích về hành vichiếm đoạt (Điều 137, 138, 139 BLHS) và chẳng hạn, Điều 154 Bộ luật hình

sự quy định các mức hình phạt khác nhau tơng ứng với số lợng hàng hoá, tiền

tệ do ngời phạm tội vận chuyển qua biên giới nhiều hay ít Bộ luật hình sựhiện nay quy định hình phạt tiền vừa là hình phạt chính, vừa là hình phạt bổsung nhng phần lớn là hình phạt bổ sung Do đó, Bộ luật cha thể hiện đúng vaitrò của hình phạt tiền Bên cạnh đó, khoảng cách tối thiểu và tối đa của hình

Trang 37

phạt này còn quá rộng (từ 10 đến 100 triệu đồng: khoản 4 Điều 153, khoản 1

Điều 158 ; từ 5 đến 50 triệu đồng: khoản 1 Điều 155, khoản 1, Điều 159);dẫn đến việc dễ tuỳ tiện khi áp dụng

Để tránh đợc việc xâm hại quyền con ngời của ngời phạm tội - bị cáothì việc xây dựng và áp dụng chế tài đối với họ đòi hỏi phải đảm bảo nguyêntắc công bằng, có nghĩa là chế tài "không chỉ phù hợp nghiêm khắc với mức

độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội đợc mô tả trong luật, có phân hoá cao

mà còn phải cân xứng với các chế tài quy định đối với việc thực hiện các tộiphạm khác" [38;9,10]

Một mặt, vì tính không đồng loại của các hành vi phạm tội, mặt khác đểtạo cho việc phân hoá trách nhiệm hình sự nên trong luật hình sự nớc ta tất cảchế tài đợc quy định trong phần các tội phạm đợc xây dựng theo kiểu tuỳ nghilựa chọn đối với chế tài quy định hình phạt chính Ví dụ, lựa chọn giữa hìnhphạt tù có thời hạn với tù chung thân hoặc tử hình (khoản 1 Điều 84 BLHS);cảnh cáo hoặc phạt tiền với cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn (khoản

1 Điều 161 BLHS)

Về hình phạt tù, chế tài quy định mức tối thiểu và mức tối đa, tạo choToà án khả năng lựa chọn một hình phạt tơng xứng áp dụng đối với ngời phạmtội Nhng mặt khác, khoảng cách quá xa giữa mức tối thiểu và mức tối đatrong từng khung hình phạt (từ 5 năm đến 15 năm: khoản 2 Điều 80, khoản 2

Điều 81 ; từ 12 đến 20 năm , chung thân hoặc tử hình ) cũng tạo ra cơ sởcho sự tuỳ tiện, hay "chạy chọt", không thống nhất trong áp dụng hình phạt.Trong khi đó, hình phạt hiện nay cần có những căn cứ pháp luật đảm bảo phânhoá trách nhiệm hình sự và cá thể hoá hình phạt nhằm góp phần thiết lập, xâydựng Nhà nớc pháp quyền của dân, do dân, vì dân

Nh vậy, để đảm bảo quyền con ngời, quyền công dân của ngời phạmtội, đòi hỏi phải xây dựng đợc hệ thống chế tài công bằng, tạo cho Toà án khảnăng cá thể hoá hình phạt Từ đó đặt ra vấn đề quan trọng là "cần tìm ra một

sự tơng quan tối u giữa các giới hạn có tính nguyên tắc của hoạt động của cáccơ quan áp dụng pháp luật hình sự với giới hạn ở đó luật giao cho các cơ quan

đó thẩm quyền độc lập ra quyết định Vấn đề về sự kết hợp giới hạn của luật

và giới hạn của sự phán xét độc lập tơng đối của Toà án có ý nghĩa rất lớn

Trang 38

trong việc giải quyết những vấn đề trách nhiệm và hình phạt đối với ngời cólỗi" [22,93].

Có thể khẳng định rằng, sự thể hiện tập trung của công bằng là ở luật.Cho nên, nếu luật quy định trách nhiệm hình sự, tội phạm, hệ thống hình phạt, hệthống chế tài càng rõ ràng, cụ thể, thì công bằng, dân chủ, nhân đạo, pháp chếcàng đợc bảo đảm Nhng trong thực tiễn thì những quy phạm có đầy đủ đếnbao nhiêu đi chăng nữa cũng không bao hàm hết đợc những tình tiết của tộiphạm, cũng nh không thể tạo dựng hết đợc những "khuôn mẫu" cho việc ápdụng các biện pháp trách nhiệm đợc tơng xứng với tội phạm Do đó, phải có

sự phán xét của Toà án và nh vậy, sự phán xét (xét xử) với quyết định của Toà

án có quan hệ trực tiếp đến quyền con ngời, quyền công dân của bị cáo Chonên, những hành vi phạm tội trong lĩnh vực này cần phải có hình phạt thíchhợp Vì vậy, Bộ luật hình sự hiện nay quy định chế tài đối với các tội xâmphạm hoạt động t pháp mà đặc biệt là do cán bộ t pháp thực hiện nghiêm khắchơn nhiều so với quy định trớc đây Chẳng hạn, tội ra bản án trái pháp luậtquy định mức hình phạt cao nhất là 15 năm (thay vì 7 năm theo luật trớc đây)

và không áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với tội này Đồng thời, tộibức cung trớc đây chỉ quy định đối với ngời (nào) tiến hành điều tra, hiện nay mởrộng cả đối tợng là ngời (nào) tiến hành truy tố, xét xử nữa và mức hình phạt caonhất đối với tội này là 15 năm (trớc đây 5 năm)

2.2 Quy định về xét xử hình sự với việc bảo đảm quyền con ngời

đối với bị cáo

2.2.1 Các nguyên tắc xét xử

Theo giáo s luật học - Viện hàn lâm pháp luật Nhà nớc MatxcơvaI.A.Đmitriep thì "xét xử là hình thức thực hiện chức năng Nhà nớc đặc biệtcủa cơ quan t pháp riêng có của Toà án mà kết thúc bằng việc ra bản án hoặcquyết định bắt buộc thực hiện đối với tất cả những ngời có liên quan" [16,48].Các bản án, quyết định đó tác động trực tiếp đến quyền, lợi ích của con ng ời

Do đó, để bảo đảm quyền con ngời, quyền công dân của bị cáo thì ngoài việcquy định cơ sở trách nhiệm hình sự, hệ thống hình phạt, hệ thống chế tài

đúng đắn còn phải tạo cho hoạt động xét xử án hình sự hay cụ thể hơn là ápdụng pháp luật đợc nghiêm minh, chính xác Vì nếu pháp luật đợc xây dựng

đúng đắn mà việc áp dụng nó (thông qua xét xử) sai lệch thì mục đích củapháp luật chẳng những không đạt đợc mà các quan hệ xã hội (trong đó có

Trang 39

quyền con ngời) đợc nó bảo vệ còn bị vi phạm thô bạo, nhân dân thiếu tin ởng vào cơ quan bảo vệ pháp luật Do vậy, pháp luật quy định các nguyên tắc

t-nh là t-những t tởng chỉ đạo, t tởng xuất phát, hớng cho Toà án tìm ra sự thậtcủa vụ án, xác định bị cáo có tội hay không có tội và áp dụng chế tài đối vớingời phạm tội đợc đúng đắn

Các nguyên tắc trong xét xử hình sự là một chỉnh thể thống nhất, khôngthể quá chú ý đến nguyên tắc này mà hạ thấp nguyên tắc kia hoặc tập trungvào nguyên tắc này mà bỏ qua nguyên tắc khác Tuy nhiên, có những nguyêntắc chỉ áp dụng trong thủ tục, trình tự này mà không áp dụng trong thủ tục,trình tự khác đợc

Các nguyên tắc đó vừa thể hiện quyền, vừa là nghĩa vụ của Toà ántrong xét xử hình sự Nó tạo ra "khuôn khổ" hay "hành lang pháp lý" để Toà

án tuân theo và chỉ đợc làm những gì pháp luật cho phép Các nguyên tắc đó

đợc khẳng định trong Hiến pháp, Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự

- Trớc hết phải khẳng định rằng: Toà án nhân dân tối cao, các Toà ánnhân dân địa phơng, các Toà án quân sự và các Toà án khác do luật quy định

(gọi chung là Toà án) là những cơ quan xét xử của nớc Cộng hoà xã hội chủ

nghĩa Việt Nam Có nghĩa là chỉ có Toà án là cơ quan duy nhất có quyền xét

xử, có quyền tuyên bố ngời nào đó phạm tội và có quyền áp dụng các biệnpháp hình phạt đối với ngời phạm tội Theo Điều 126 Hiến pháp nớc Cộng hoàxã hội chủ nghĩa Việt Nam thì, Toà án có nhiệm vụ là: bảo vệ chế độ xã hộichủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của Nhà nớc, của tậpthể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân

Toà án nhân danh Nhà nớc thực hiện chức năng xét xử Thông qua xét

xử án hình sự, Toà án xem xét việc ngời bị truy tố trớc toà có phạm tội haykhông, mức độ phạm tội của họ thế nào và cân nhắc áp dụng biện pháp hìnhphạt đối với họ cho xứng với mức độ nghiêm trọng của vụ án mà họ thực hiện,xảy ra trên thực tế Đồng thời cũng qua đó, Toà án phải tìm ra nguyên nhân,

điều kiện dẫn đến tội phạm và đa ra những yêu cầu đòi hỏi các cơ quan, tổchức liên quan khắc phục, ngăn ngừa

- Việc xét xử của Toà án có Hội thẩm tham gia Khi xét xử Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán (Điều 129, Hiến pháp, Điều 16 BLTTHS)

Trang 40

Đây là quy định thể hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm chonhân dân trực tiếp tham gia quản lý công việc Nhà nớc Việc xét xử của Toà

án nhân dân có Hội thẩm nhân dân tham gia, của Toà án quân sự có Hội thẩmquân nhân tham gia Để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo là ngờicha thành niên, luật quy định phải có Hội thẩm nhân dân là giáo viên hoặc cán

bộ Đoàn thành niên Cộng sản Hồ Chí Minh tham gia xét xử Hội thẩm không

đợc tham gia xét xử nếu có lý do xác đáng cho rằng họ có thể không vô ttrong khi thực hiện nhiệm vụ này

Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán trong việc giải quyếtmọi vấn đề phát sinh trong quá trình xét xử Kết quả cuối cùng của việc xét xửcủa Toà án là quyết định Quyết định đợc biểu quyết theo đa số Trong đó,Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán Vì vậy, "nguyên tắc này ảnh hởng đếntính chính xác của bản án và do đó ảnh hởng gián tiếp đến việc bảo đảm cácquyền của bị can, bị cáo" [35,167]

Theo qui định của pháp luật, thành phần của Hội đồng xét xử sơ thẩmgồm 1 Thẩm phán và 2 Hội thẩm, trong trờng hợp vụ án nghiêm trọng, phứctạp thì gồm 2 Thẩm phán và 3 Hội thẩm, xét xử phúc thẩm gồm 3 Thẩm phán

và khi cần có thể thêm 2 Hội thẩm, xét xử sơ chung thẩm gồm 3 Thẩm phán

và 2 Hội thẩm Không phải tất cả các giai đoạn của quá trình xét xử đều cóHội thẩm nhân dân tham gia

Theo xu hớng chung, thành phần Thẩm phán trong các hội đồng xét xửphải chiếm đa số Bởi lẽ, trong thực tế hiện nay, so với Thẩm phán thì trình độpháp lý của Hội thẩm còn hạn chế Hội thẩm đợc bầu từ những ngời có uy tín,phẩm chất tốt kể cả những ngời đang công tác hoặc nghỉ hu Còn theo quy

định tại Điều 44 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân năm 1993 thì,Thẩm phán do Chủ tịch nớc bổ nhiệm từ những ngời "trung thành với Tổquốc, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực, có kiến thức pháp lý,nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xãhội chủ nghĩa có đủ sức khoẻ, đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ đợc giao" Do

đó, nếu trong hội đồng xét xử, thành phần của Hội thẩm chiếm tỉ lệ lớn hơn sovới Thẩm phán thì việc biểu quyết theo đa số rất có thể dẫn đến tính thiếuchính xác của bản án, quyết định của Toà án Và trong trờng hợp này, coi nhThẩm phán chỉ đóng vai trò "phụ" vì việc quyết định đã nghiêng về số Hộithẩm chiếm đa số Hơn nữa về mặt này, không có đủ cơ sở để khẳng định

Ngày đăng: 19/02/2014, 14:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chấp hành Trung ơng Đảng cộng sản Việt Nam. Văn kiện Hội nghị Ban chấp hành Trung ơng lần thứ Ba (khoá VIII). Lu hành nội bộ, tháng 6 n¨m 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghịBan chấp hành Trung ơng lần thứ Ba (khoá VIII)
2. Nguyễn Thị Bình. Bàn về quyền con ngời. Tạp chí Cộng sản, tháng 5 năm 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về quyền con ngời
3. Phạm Thanh Bình, Nguyễn Vạn Niên. Các tội xâm phạm hoạt động t pháp.Nxb chính trị quốc gia, H, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tội xâm phạm hoạt động t pháp
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
4. Trần Văn Bính (chủ biên). Toàn cầu hoá và quyền công dân ở Việt Nam (nhìn từ khía cạnh văn hoá). Nxb Chính trị quốc gia. H, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cầu hoá và quyền công dân ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia. H
5. Bình luận khoa học Hiến pháp nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992. Nxb Khoa học và xã hội. H, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Hiến pháp nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam1992
Nhà XB: Nxb Khoa học và xã hội. H
6. Bộ luật hình sự của nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1985.Nxb Chính trị quốc gia.H, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự của nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia.H
7. Bộ luật hình sự của nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999.Nxb Chính trị quốc gia. H, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự của nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia. H
8. Bộ luật Tố tụng hình sự của nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nxb Chính trị quốc gia. H, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Tố tụng hình sự của nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: NxbChính trị quốc gia. H
9. Lê Cảm. Về một số quy định của phần chung dự án Bộ luật hình sự sửađổi. Tạp chí Nhà nớc và pháp luật, tháng 4 năm 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một số quy định của phần chung dự án Bộ luật hình sự sửa"đổi
10.Lê Cảm. Những điểm mới cơ bản của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999.Tạp chí dân chủ và pháp luật, tháng 3/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điểm mới cơ bản của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999
11. Lê Cảm. Hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nớc pháp quyền. Nxb Công an nhân dân. H, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam trong giai đoạn xây dựngNhà nớc pháp quyền
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân. H
12.Nguyễn Ngọc Chí. Về chế định loại trừ trách nhiệm hình sự. Tạp chí Nhà nớc và pháp luật, số 4 năm 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chế định loại trừ trách nhiệm hình sự
13.N.N Cốp tun. Về vai trò của Toà án trong việc chứng minh trong các vụ án hình sự dới ánh sáng các nguyên tắc hiến định. Tạp chí Nhà nớc và Pháp luật (Liên Bang Nga), tháng 6-1998, tiếng Nga Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vai trò của Toà án trong việc chứng minh trong các vụ ánhình sự dới ánh sáng các nguyên tắc hiến định
14.Hà Hùng Cờng. Việt Nam nỗ lực xây dựng và hoàn thiện pháp luật bảo vệ các quyền con ngời. Báo nhân dân ngày 31/3/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam nỗ lực xây dựng và hoàn thiện pháp luật bảo vệcác quyền con ngời
15. Đảng cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII. Nxb Chính trị quốc gia. H, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứVIII
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia. H
16.I.U.Đmitriép, G. G. Treremnức. Cơ quan t pháp trong hệ thống phân chia quyền lực và việc bảo vệ quyền và tự do của con ngời. Tạp chí Nhà nớc và pháp luật (Nga), số 8 năm 1998 tiếng Nga Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ quan t pháp trong hệ thống phân chiaquyền lực và việc bảo vệ quyền và tự do của con ngời
17.Trần Văn Độ. Vấn đề phân loại tội phạm. Tạp chí Nhà nớc và pháp luật, số 4 n¨m 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề phân loại tội phạm
18.Trần Văn Độ. Lỗi và các hình thức của nó trong luật hình sự Việt Nam.Khoa luật trờng đại học tổng hợp quốc gia Matxcơva mang tên Lô mô nôxèp. M, 1986, tiÕng Nga Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lỗi và các hình thức của nó trong luật hình sự Việt Nam
19.Trần Ngọc Đờng (chủ biên). Lý luận chung về Nhà nớc và pháp luật. Nxb Chính trị Quốc gia, H, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận chung về Nhà nớc và pháp luật
Nhà XB: NxbChính trị Quốc gia
20.Trần Ngọc Đờng (chủ biên). Các ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Nxb Chính trị quốc gia. H, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các ngành luật trong hệ thống pháp luật ViệtNam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia. H

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w