1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phát triển con người toàn diện, một tư tưởng đặc sắc về con người của hồ chí minh

192 574 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát triển con người toàn diện, một tư tưởng đặc sắc về con người của hồ chí minh
Trường học Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Thể loại tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 192
Dung lượng 506 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cho nên,việc nghiên cứu t tởng phát triển con ngời toàn diện của Hồ Chí Minh là hếtsức cần thiết để tìm ra những định hớng đúng đắn cho sự nghiệp giáo dục, đào tạo, phát triển con ngời ở

Trang 1

mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

T tởng Hồ Chí Minh là tài sản vô giá trong kho tàng lịch sử t tởngViệt Nam Đó là t tởng của "Ngời anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóakiệt xuất", ngời chiến sĩ lỗi lạc của phong trào giải phóng dân tộc, phongtrào cộng sản và công nhân quốc tế, ngời thầy vĩ đại, vị lãnh tụ kính yêu củadân tộc và cách mạng Việt Nam

Cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh đã trở thànhnền tảng t tởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta và của cáchmạng Việt Nam

Việc nghiên cứu, làm sáng tỏ hơn nữa tính cách mạng và tính khoahọc sâu sắc cũng nh giá trị to lớn, nhiều mặt của t tởng Hồ Chí Minh đốivới cách mạng Việt Nam trớc đây cũng nh trong giai đoạn hiện nay là đòihỏi cấp thiết có ý nghĩa thời đại to lớn

Lơng tâm, trách nhiệm, lòng kính yêu lãnh tụ và tinh thần khoa học

đã và đang cuốn hút hàng trăm nhà khoa học trong và ngoài nớc say mênghiên cứu t tởng Hồ Chí Minh

Trong di sản t tởng phong phú và vô giá của Hồ Chí Minh có t tởng:Phát triển con ngời toàn diện, một t tởng nhân văn rất đặc sắc Đây là sựtiếp nối và nâng cao những giá trị tinh túy nhất t tởng nhân văn của truyềnthống Việt Nam và thế giới Đây cũng là sự kế thừa và phát triển sáng tạo ttởng con ngời của chủ nghĩa Mác - Lênin

T tởng phát triển con ngời toàn diện của Hồ Chí Minh đã góp phần

to lớn vào việc đào tạo cho dân tộc Việt Nam những ngời con u tú, đủ sức

đa dân tộc Việt Nam vợt qua muôn vàn khó khăn, thử thách hiểm nghèo,

Trang 2

liên tục giành đợc những thắng lợi ngày càng to lớn, làm thay đổi tận gốc

địa vị của dân tộc Việt Nam trên chính trờng thế giới

Thực tế vinh quang đó đến nay đang đợc nghiên cứu và tổng kết

Hồ Chí Minh là bậc "Đại trí, đại nhân, đại dũng", là điển hình củacon ngời phát triển toàn diện về thể lực, đạo đức, trí tuệ, tài năng, là hìnhmẫu sinh động của con ngời hiện tại và tơng lai

Cho nên nghiên cứu, giới thiệu, phổ biến t tởng phát triển con ngờitoàn diện, của một ngời thực sự đã phát triển mọi mặt cá nhân mình là điềucực kỳ lý thú, bổ ích Việc làm này không chỉ cần thiết về lý luận mà cònnhằm làm cho mọi ngời hiểu và tiếp thu t tởng quan trọng này của Ngời,trên cơ sở đó noi gơng Ngời, phấn đấu vơn lên, hoàn thiện bản thân mình,tạo tiền đề cho sự phát triển xã hội

Hiện nay, việc giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dạy "chữ", dạy

"nghề", dạy "ngời" trong giáo dục ở nhà trờng, gia đình, xã hội đang có sựlệch lạc khá lớn Hầu hết chỉ chú trọng đến trang bị kiến thức khoa học,chuyên môn nghề nghiệp mà coi nhẹ việc giáo dục đạo lý làm ngời, tráchnhiệm công dân Điều này đang làm méo mó sự phát triển toàn diện nhâncách của một bộ phận không nhỏ thanh, thiếu niên cũng nh cán bộ, Đảngviên và nhân dân, ảnh hởng không tốt đến sự phát triển xã hội Cho nên,việc nghiên cứu t tởng phát triển con ngời toàn diện của Hồ Chí Minh là hếtsức cần thiết để tìm ra những định hớng đúng đắn cho sự nghiệp giáo dục,

đào tạo, phát triển con ngời ở Việt Nam trong quá trình đổi mới

Sự nghiệp đổi mới theo định hớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

đang đi vào chiều sâu Nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn cấp thiết đang

đặt ra đòi hỏi các nhà khoa học trên nhiều lĩnh vực khác nhau phải nghiêncứu và giải quyết, trong đó có vấn đề thiết kế và xây dựng chiến lợc về conngời thật sự khoa học, phù hợp với hoàn cảnh nớc ta, nhằm phục vụ choviệc phát triển nhanh và bền vững của đất nớc Đây là công việc rất khó

Trang 3

khăn, phức tạp, muốn hoàn thành nó trớc hết phải có những định hớng

đúng Trong thực tế, t tởng phát triển con ngời toàn diện của Hồ Chí Minh

đã, đang và sẽ cho chúng ta những chỉ dẫn quý báu, sáng suốt để xây dựngthành công chiến lợc con ngời trong điều kiện mới, nhằm đào tạo cho đất n-

ớc những con ngời mới, đủ tài, đức, sức khỏe, đa đất nớc đi lên chủ nghĩaxã hội

Vì vậy, nghiên cứu, làm sáng tỏ giá trị khoa học to lớn và ý nghĩathời đại sâu sắc của t tởng phát triển con ngời toàn diện của Hồ Chí Minh,tìm ra những cách thức, biện pháp đúng đắn để thực hiện tốt hơn t tởng đótrong thực tiễn là vấn đề có ý nghĩa thời sự cấp bách

Luận án này nhằm góp phần nhỏ vào việc giải quyết những vấn đềlớn, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng đó

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

T tởng Hồ Chí Minh đã đợc nhiều nhà khoa học trong và ngoài nớcnghiên cứu từ lâu, đặc biệt là sau Đại hội lần thứ VII (6-1991) của Đảngcộng sản Việt Nam Nhà nớc đã thành lập Hội đồng quốc gia nghiên cứu ttởng Hồ Chí Minh Nhiều đề tài khoa học cấp Nhà nớc về t tởng Hồ ChíMinh đã đợc nghiệm thu

Trong lĩnh vực t tởng nhân văn, trong vấn đề con ngời, nhiều nhànghiên cứu đã công bố:

- Hồ Chí Minh và con ngời Việt Nam trên con đờng dân giàu, nớc

mạnh của Phạm Văn Đồng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993.

- Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con ngời mới- In

trong cuốn "Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngời chiến sĩ cộng sản kiên cờng " của

Võ Nguyên Giáp, Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội, 1990

- T tởng Hồ Chí Minh về con ngời và chính sách xã hội do PGS.TS

Lê Sĩ Thắng chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996

Trang 4

- T tởng triết học về con ngời trong chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí

Minh của PGS.TS Nguyễn Tĩnh Gia, Chơng 5 - cuốn " T tởng triết học Hồ Chí Minh", Nxb Lao động, Hà Nội, 2000

- Về vấn đề con ngời trong t tởng Hồ Chí Minh của PGS Mai Trung Hậu, Chơng 5 - cuốn " T tởng triết học Hồ Chí Minh", Nxb Lao động, Hà

Nội, 2000

- T tởng triết học và thế giới quan Hồ Chí Minh của GS.TS Lê Hữu Nghĩa, Chơng 1- cuốn " T tởng triết học Hồ Chí Minh", Nxb Lao động, Hà

Nội, 2000

- Giải phóng con ngời và mu cầu hạnh phúc cho mọi ngời - cốt lõi

t tởng Hồ Chí Minh của TS Bùi Đình Phong, Tạp chí Lịch sử Đảng, tháng

3/1994

- Cội nguồn và bản chất t tởng nhân văn Hồ Chí Minh của PGS.TS

Nguyễn Văn Huyên, Tạp chí Triết học, số 4/1996

- T tởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giai cấp và dân tộc của GS.TS

Nguyễn Ngọc Long, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, số 4/1996

- "Trồng cây và trồng ngời" của GS Vũ Khiêu, Tạp chí Triết học, số

4/1990

- Nhân dân trong t tởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội của

PGS.TS Phùng Hữu Phú, Tạp chí Thông tin lý luận, số 7/1990

- T tởng Hồ Chí Minh về con ngời và chiến lợc trồng ngời của PGS

Song Thành, Tạp chí Công tác khoa giáo, tháng 12/1997 v.v

Những công trình này đã nêu lên và khái quát đợc những nét lớn,chủ yếu của t tởng nhân văn Hồ Chí Minh Một số bắt đầu đi vào khai thác,nghiên cứu những khía cạnh cụ thể của t tởng đó và cũng đã nêu lên những

ý kiến đặc sắc

Trang 5

Tuy nhiên, hoặc là do khuôn khổ chung của việc nghiên cứu t tởng

Hồ Chí Minh, hoặc do giới hạn của một bài nghiên cứu, việc nghiên cứu t ởng Hồ Chí Minh về con ngời còn nhiều mặt, nhiều vấn đề cha đợc đề cập

t-đến

Nhu cầu về lý luận và thực tiễn hiện nay đòi hỏi phải có nhữngchuyên khảo nhằm làm sâu sắc hơn, đầy đủ hơn t tởng về con ngời của HồChí Minh để cho bức tranh toàn cảnh về t tởng Hồ Chí Minh nói chung và ttởng về con ngời nói riêng vừa có bề rộng vừa có chiều sâu, phục vụ choviệc nhận thức, vận dụng và phát huy t tởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp

đổi mới

Vì vậy, tác giả chọn đề tài: "Phát triển con ngời toàn diện, một t

t-ởng đặc sắc về con ngời của Hồ Chí Minh" làm nội dung nghiên cứu của

luận án này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

a) Mục đích của luận án

Làm rõ những nội dung cơ bản của t tởng phát triển con ngời toàndiện của Hồ Chí Minh, nhằm khẳng định giá trị khoa học của t tởng đó vàvận dụng nó vào việc phát triển con ngời mới ở Việt Nam hiện nay

b) Nhiệm vụ của luận án

Để đạt mục đích trên, luận án phải giải quyết những nhiệm vụ sau:

- Làm rõ cơ sở lý luận của t tởng Hồ Chí Minh về phát triển con

ng-ời toàn diện

- Luận chứng những nội dung cơ bản trong t tởng phát triển con

ng-ời toàn diện của Hồ Chí Minh

- Nêu lên những vấn đề đang đặt ra trong thực tiễn phát triển conngời theo quan điểm toàn diện của Hồ Chí Minh ở nớc ta hiện nay

Trang 6

- Vận dụng t tởng Hồ Chí Minh về con ngời toàn diện vào xây dựngcon ngời Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.

4 Phơng pháp nghiên cứu

- Trong quá trình nghiên cứu, luận án vận dụng các quan điểm củachủ nghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh và đờng lối, quan điểm, chínhsách của Đảng, Nhà nớc về con ngời Luận án còn sử dụng các tài liệu điềutra, công trình nghiên cứu có liên quan

- Luận án sử dụng chủ yếu các phơng pháp của chủ nghĩa duy vậtbiện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đặc biệt là phơng pháp phân tích-tổng hợp; lôgíc-lịch sử, thống kê, so sánh v.v

5 Cái mới của luận án

Luận án phân tích, hệ thống hóa và làm sáng tỏ những nội dung cơbản t tởng phát triển con ngời toàn diện của Hồ Chí Minh; góp phần làmsâu sắc thêm t tởng nhân văn Hồ Chí Minh

Luận án luận chứng sự cần thiết phải vận dụng và phát huy t tởngphát triển con ngời toàn diện của Hồ Chí Minh vào sự nghiệp xây dựng conngời mới ở Việt Nam hiện nay

6 ý nghĩa luận án

Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu vàgiảng dạy môn học t tởng Hồ Chí Minh ở các trờng đại học và cao đẳng

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận

án gồm 3 chơng, 7 tiết

Trang 7

Chơng 1

Cơ sở lý luận của t tởng hồ chí minh

về phát triển con ngời toàn diện

1.1 T tởng giáo dục, đào tạo, phát triển con ngời của dân tộc Việt Nam - cội nguồn của t tởng Hồ Chí Minh về phát triển con ngời toàn diện

Trong những dòng chảy hợp thành của lịch sử t tởng Việt Nam, t ởng đào tạo phát triển con ngời là một bộ phận quan trọng, góp phần làmnên giá trị to lớn, nhiều mặt của t tởng truyền thống Việt Nam Có thể nói,

t-từ rất sớm, cha ông ta đã hết sức quan tâm đến vấn đề sống còn này của đấtnớc Trải bao thăng trầm của lịch sử, bao sự hng vong của các triều đại, t t-ởng đào tạo, phát triển con ngời của dân tộc Việt Nam đã tỏ rõ những giá trị

to lớn nhng đồng thời cũng bộc lộ những hạn chế của nó cần phải khắcphục và vợt lên

Chúng ta biết rằng, Việt Nam là một quốc gia nằm ở cửa ngõ vào

Đông Nam châu á, khí hậu khắc nghiệt, nóng lắm, ma nhiều, bão lớn Đó

là một môi trờng sống khó khăn, thiên tai thờng xuyên đe dọa sự tồn vongcủa cả cộng đồng cũng nh mỗi một cá nhân Điều này đặt ra nhu cầu kháchquan cần phải rèn luyện thân thể, phát triển thể lực đối với mọi ngời cũng

nh yêu cầu chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho nhân dân

Suốt mấy ngàn năm qua, nền kinh tế Việt Nam thực chất là kinh tếtiểu nông lạc hậu, dựa trên sản xuất nông nghiệp theo lối độc canh cây lúa

là chủ yếu Công nghiệp bản địa không có, thủ công nghiệp manh mún,

th-ơng nghiệp què quặt T tởng "Nhất nông vi bản" đè nặng lên toàn xã hội từvua quan, cho đến thờng dân Những ngời làm kỹ nghệ, thơng mại bị xếpvào loại kém nhất trong bậc thang xã hội (Sĩ, nông, công, thơng) Do đótính năng động của nền kinh tế rất kém

Trang 8

Trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, do nằm ở vị trí trấngiữ con đờng quan trọng và thuận lợi bậc nhất vào Đông Nam á (cả đờng

bộ và đờng biển), lại ở cạnh một quốc gia rộng lớn, luôn có tham vọng bànhtrớng xuống phía nam, nhân dân ta phải luôn luôn đơng đầu với các cuộcxâm lợc lớn đến từ phơng Bắc và phơng Tây Đặc điểm đó đòi hỏi con ngờiViệt Nam phải luôn cảnh giác, phải quan tâm đến rèn luyện sức khỏe, võnghệ, kỹ năng chiến đấu, đặc biệt là tinh thần sẵn sàng hy sinh để bảo vệ Tổquốc Vì vậy, việc giáo dục đạo đức, nghĩa vụ, trách nhiệm, đạo làm ngời đ-

ợc cha ông ta hết sức coi trọng Hơn nữa, điều kiện kinh tế thấp kém, khoahọc kỹ thuật lạc hậu nên phơng tiện kỹ thuật phục vụ cho chiến đấu kémtinh xảo, do đó các yếu tố thuộc về năng lực tinh thần đợc đề cao và chiếm

vị trí quan trọng bậc nhất trong nội dung đào tạo và phát triển con ngời củacha ông ta Cũng do nằm ở vị trí gặp gỡ, giao thoa của các nền văn hóa lớn:Văn hóa ấn Độ, văn hóa Trung Hoa và sau này là văn hóa Pháp, nên về đờisống tinh thần, t tởng chịu ảnh lớn của Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo và Ki-tô giáo Trong lĩnh vực đào tạo, phát triển con ngời cho chế độ phong kiếnViệt Nam, Nho giáo có u thế hơn các tôn giáo khác bởi nó có một hệ thốngphạm trù, khái niệm khá hoàn chỉnh để giáo dục, đào tạo, phát triển con ng-

ời với nội dung khá sâu sắc Hơn nữa, Nho giáo còn xây dựng đợc mẫu ngời

lý tởng cho xã hội phong kiến đó là những ngời "quân tử ", những " kẻ sĩ ",những "đại trợng phu" mà ở họ các năng lực, phẩm chất về mặt tinh thần đ-

ợc coi trọng và đề cao Điều này khá phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hộicũng nh t tởng, tâm lý của dân tộc Việt Nam vốn đề cao đạo làm ngời, tônvinh tinh thần xả thân vì Tổ quốc và nhân dân của các thành viên trongcộng đồng Nho giáo còn đề ra những phơng sách cụ thể để đào tạo pháttriển con ngời, trong đó nhấn mạnh yếu tố tự giác "tu thân" của các cá nhân

- có ý nghĩa quyết định - đó là điều đáng ghi nhận trong lý luận giáo dục,

đào tạo, phát triển con ngời bởi nó đề cao tính chủ động của con ngời trớchoàn cảnh

Trang 9

Trong quá trình hoàn thiện và phát triển của chế độ phong kiến ViệtNam, Nho giáo ngày càng chiếm vị trí quan trọng và trở thành hệ t tởngchính thống của giai cấp phong kiến Việt Nam Nó là cơ sở của thế giớiquan và phơng pháp luận chỉ đạo giai cấp phong kiến Việt Nam trong việcthiết kế bộ máy nhà nớc, quản lý xã hội, là định hớng cơ bản cho việc xâydựng và phát triển con ngời của xã hội Việt Nam trong suốt hơn một ngànnăm qua

Nảy sinh và phát triển trên mảnh đất hiện thực đó, đồng thời bị qui

định bởi những điều kiện mang tính khách quan của sự nghiệp xây dựng,bảo vệ và phát triển đất nớc, t tởng đào tạo, phát triển con ngời của dân tộcViệt Nam đã góp phần quan trọng đào tạo cho đất nớc, cho các triều đạiphong kiến Việt Nam không ít những ngời "văn võ song toàn" những ngời

"hiền tài", những anh hùng dân tộc, có đóng góp lớn cho sự nghiệp bảo vệ

và phát triển đất nớc, làm rạng danh dân tộc, dòng họ và gia đình, để lại tấmgơng muôn đời về lòng yêu nớc, thơng ngời, về tinh thần kiên cờng, bấtkhuất, sự mu trí dũng cảm, tinh thần quên mình vì dân vì nớc nh Hai Bà Tr-

ng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Đinh Tiên Hoàng, Lê Hoàn, Lý Công Uẩn, LýThờng Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Trần Bình Trọng, Lê Lợi, Nguyễn Trãi,Quang Trung, Nguyễn Trung Trực, Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu… Họ Họ

là niềm tự hào của dân tộc

Tuy nhiên, t tởng đào tạo, phát triển con ngời của dân tộc ViệtNam, qua thử thách của lịch sử cũng đã bộc lộ những hạn chế của nó Điềunày đã ảnh hởng lớn đến sự phát triển của dân tộc, nhất là ở những thời

điểm mang tính chất bớc ngoặt

Nghiên cứu triết lý, nội dung giáo dục, đào tạo, phát triển con ngờicủa ông cha ta trong suốt chiều dài lịch sử, chúng ta thấy những điểm chủyếu sau:

Trang 10

Thứ nhất: Thế giới quan, phơng pháp luận chi phối nhận thức nguồn

gốc, bản chất con ngời của cha ông ta suốt hơn một ngàn năm kể từ sauchiến thắng Bạch Đằng lần thứ nhất (938) trở đi là thế giới quan mang tínhchất tôn giáo nh Phật, Nho, Lão Trong đó Nho giáo - với t cách là hệ t tởngchính thống của nhiều triều đại - có ảnh hởng to lớn và lâu dài nhất

Theo Nho giáo (Khổng tử) con ngời là kết quả bẩm thụ tinh khí của

âm dơng, trời đất mà thành Vì vậy, con ngời phải tuân theo "thiên lý", hợpvới đạo "trung hòa" Con ngời sống hay chết, giàu hay nghèo, thành haybại… Họ đều do "thiên mệnh" quy định Trong "Luận ngữ" Khổng tử viết:

"Sống chết có mệnh, giàu sang do trời " (Luận ngữ - Nhan Uyên)

Nếu nh Khổng Tử cho rằng, con ngời khi mới sinh ra bản tính đềugiống nhau, nhng quá trình sống đã dẫn đến sự phân hóa bản tính của nó''tính tơng cận, tập tơng viễn" thì Mạnh tử lại coi "bản tính con ngời làthiện", còn Tuân tử khẳng định con ngời vốn "tính ác"

Mặc dù có cách nhìn nhận khác nhau về bản tính, bản chất con

ng-ời, coi nó là bẩm sinh nhng các đại biểu của Nho giáo đều cho rằng có thểthay đổi đợc tính xấu, giữ đợc tính tốt cho con ngời nếu biết giáo dục, đàotạo, phát triển con ngời một cách đúng đắn Vì thế, Nho giáo đã đề ra phơngchâm, t tởng: "Hữu giáo vô loài"; "dạy không biết mỏi, học không biếtchán" để "tồn tâm, dỡng tính, dỡng khí" trau dồi đức "nhân", nâng caophẩm chất, năng lực cho con ngời, góp phần tạo nên những hiền nhân, quân

tử, những đại trợng phu cho giai cấp phong kiến Mặc dù Nho giáo khi vàonớc ta đã bị "Việt Nam hóa" cho phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, phùhợp với truyền thống văn hóa và tâm lý của dân tộc ta, song, thế giới quanNho giáo vẫn ảnh hởng lớn đến các quan niệm, cách nhìn nhận về nguồngốc bản chất con ngời của cha ông ta theo hớng duy tâm chủ quan Thựctiễn cho thấy, nếu không hiểu đúng đắn vấn đề này thì sẽ không có cơ sở đểtác động có hiệu quả vào quá trình đào tạo, phát triển con ngời nhằm hoàn

Trang 11

thiện và nâng cao phẩm chất, năng lực về mọi mặt của mỗi cá nhân, phục

vụ cho sự phát triển của đất nớc

Thứ hai: Lý luận về giáo dục, đào tạo, phát triển con ngời của dân

tộc Việt Nam đợc thể hiện qua triết lý và nội dung giáo dục, đào tạo cũng

nh mẫu ngời lý tởng mà giai cấp phong kiến Việt Nam nêu lên, định hớngcho việc xây dựng và phát triển con ngời ở nớc ta trong suốt một ngàn nămqua

Khi phân tích triết lý phát triển con ngời của cha ông trong suốtchiều dài lịch sử, chúng ta thấy sự ảnh hởng ngày càng nặng nề của Nhogiáo, của mẫu ngời ''quân tử'' đối với quan niệm giáo dục, đào tạo, pháttriển con ngời của giai cấp phong kiến Việt Nam Tuy rằng trong thực tế, sựhình thành và phát triển của con ngời Việt Nam còn chịu ảnh hởng của Phậtgiáo, của Đạo giáo và đặc biệt là truyền thống yêu nớc, bất khuất, sự cần

cù, khéo léo, thông minh, tinh thần vợt mọi khó khăn và lòng thơng yêu conngời của dân tộc Việt Nam

Một trong những nội dung quan trọng của t tởng giáo dục, đào tạo,

phát triển con ngời mà cha ông ta hết sức chú trọng đó là giáo dục, bồi

d-ỡng đạo lý làm ngời Con ngời với t cách là chủ thể của xã hội bao giờ cũng

là tác nhân quan trọng nhất của mọi sự vận động và biến đổi xã hội Hành

động của con ngời trong xã hội không những bị chi phối bởi điều kiệnkhách quan mà còn chịu sự tác động rất lớn của nhân tố chủ quan nh lý t-ởng, quan điểm sống, trình độ hiểu biết, năng lực thực tiễn, nhu cầu, lợiích Vì vậy, để có những con ngời sẵn sàng xả thân vì quê hơng, đất nớc,vì cuộc sống yên lành của nhân dân, vì tơng lai tơi sáng của dân tộc, sốngtrung thực, nhân nghĩa, thủy chung, có ý chí, năng lực làm những việc "íchquốc, lợi dân" thì gia đình, nhà trờng và xã hội phải quan tâm giáo dục conngời về mọi mặt Con ngời khi đã ý thức đợc vai trò, trách nhiệm của mình

đối với cộng đồng, gia đình, anh em, bè bạn thì họ sẽ tự nguyện, tự giác

Trang 12

đứng ra gánh vác những nhiệm vụ khó khăn, gian khổ mà Tổ quốc và nhândân giao phó, không tính toán "đợc", "mất", "thiệt", "hơn" thậm chí cả sự

hy sinh của bản thân

Nội dung giáo dục, bồi dỡng đạo lý làm ngời của ông cha ta là sựkết hợp những giá trị văn hóa, văn hiến dân tộc nh "thơng ngời nh thể thơngthân", "bầu ơi thơng lấy bí cùng","lá lành đùm lá rách", "uống nớc nhớnguồn", "ăn quả nhớ ngời trồng cây"; là nhân nghĩa thủy chung, sắt son; làtinh thần đoàn kết để vợt qua những khó khăn thử thách "một cây làmchẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao"; là tinh thần kiên cờng,bất khuất "chết vinh còn hơn sống nhục" với những t tởng "từ bi, hỷ xả",

"cứu khổ, cứu nạn" của Phật giáo; "vô vi" của Lão giáo; "tam cơng, ngũ ờng","nhân nghĩa", "cần, kiệm, liêm, chính", "tứ đức" của Nho giáo Tấtcả hợp quyện lại tạo thành những nội dung cơ bản để giáo dục, bồi dỡng lẽsống, niềm tin, cách xử thế cho các thế hệ ngời Việt Nam, trong đó, triết lýnhân sinh của Khổng giáo giữ địa vị ngày càng quan trọng Có thể nói, chế

th-độ phong kiến càng đợc củng cố thì t tởng, quan niệm của Nho giáo cànggiữ vị trí quyết định trong nội dung giáo dục, đào tạo, phát triển con ngờicủa dân tộc Việt Nam

Trong nội dung giáo dục đạo làm ngời, cái mà cha ông ta hết sức

coi trọng đó là giáo dục con ngời giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề

"trung", "hiếu", với "ái quốc".

"Trung" là khái niệm của Nho giáo, phản ánh một trong ba mốiquan hệ rờng cột của xã hội phong kiến (tam cơng), đó là quan hệ vua-tôi.Quan hệ vua - tôi là quan hệ có tính chất phụ thuộc, tôi phải phục tùng vuakhông điều kiện, thậm chí vua bảo chết cũng không đợc từ

Chữ ''hiếu'' đối với Nho giáo cũng rất quan trọng Nó đợc coi là nềntảng triết lý, là điều bất khả xâm phạm trong quan hệ của con cái với cha

mẹ Con có hiếu với cha mẹ, em kính nể anh chị đợc coi là đức tính quý

Trang 13

báu, là tình cảm tất yếu, tự nhiên của con ngời Chữ hiếu đi liền với chữtrung Chữ tình phải nhẹ hơn chữ hiếu Mặc dù đạo hiếu trong Nho giáo rấtkhắt khe, có phần độc đoán, song nó cũng có những điểm đáng trân trọng,giữ gìn, kế thừa và nâng cao.

Trong quá trình dùng Nho giáo để ý thức hệ hóa t tởng chính trị củaxã hội Việt Nam, giai cấp phong kiến Việt Nam đã lấy khái niệm "trung",

"hiếu" làm trụ cột để xây dựng mối quan hệ "quân - thần", "phụ - tử" Dùkhông còn khắc nghiệt nh trong xã hội phong kiến Trung Hoa - do bị khúcxạ bởi tâm lý, t tởng, truyền thống chính trị của nhân dân Việt Nam - song,khái niệm "trung", "hiếu" vẫn cột chặt suy nghĩ và hành động của xã hội, củacon ngời với vua chúa, với đấng sinh thành, tạo nên một tâm lý và phơngcách xử sự có lợi cho việc duy trì, củng cố chế độ phong kiến nói chung vàquyền lực của các vị vua chúa cũng nh của những ngời đứng đầu trong gia

đình nói riêng Vì thế, ''trung'', ''hiếu'' là một trong nhng tiêu chuẩn hàng

đầu mà các triều đại phong kiến nêu ra khi tuyển chọn nhân tài, tuyển chọncác tầng lớp quan lại cũng nh là nội dung chủ yếu để giáo dục, đào tạo cácnho sinh Hội thề đền Đồng Cổ (4/4 âm lịch) hàng năm của các quan lạithời Lý - Trần đã ghi: "Làm tôi bất trung, ai trái lời thề thần minh giết chết"

Cùng với việc giáo dục " trung quân", ''hiếu nghĩa'', cha ông ta cũng

hết sức coi trọng giáo dục, bồi dỡng lòng yêu nớc cho mỗi ngời Việt Nam.

Có thể nói, yêu nớc là giá trị hàng đầu trong bảng giá trị của truyền thốngdân tộc Việt Nam Cha bao giờ trong lịch sử Việt Nam, những kẻ phản bội

Tổ quốc đợc coi là ngời sống có đạo lý, trong khi đó, có những ngời dấybinh chống triều đình, chống lại vua chúa - nhất là những tên bạo chúa -vẫn đợc nhân dân phụng thờ Nho giáo nguyên nghĩa không dạy ngời ta yêunớc, song số đông những ngời Việt Nam dù xuất thân từ cửa Khổng, sânTrình vẫn là những ngời có tinh thần yêu nớc cao, luôn quan tâm đến vậnmệnh của đất nớc và lợi ích của quốc gia

Trang 14

Trần Hng Đạo - một hiền tài đời Trần, không vì chữ "hiếu" mà theolời trăng trối của cha giành lại ngôi vua về tay mình, dù lúc ấy ông có tất cả

điều kiện để thực thi ý tởng đó của cha là Trần Liễu Bởi hơn ai hết, ônghiểu trong cảnh nớc sôi lửa bỏng, vận mệnh đất nớc đang lâm nguy trớc sựxâm lợc của quân Nguyên - Mông thì cái cái chính yếu của tất cả con dânnớc Việt lúc này là phải đánh giặc cứu nớc Trần Hng Đạo đã hành độngtheo tiếng gọi của non sông chứ không theo lời trăng trối của ngời cha ích

kỷ

Vào đầu thế kỷ 15, đất nớc ta bị quân Minh đô hộ, hầu hết triều thầnnhà Hồ bị bắt và đa về phơng Bắc Trong tình cảnh đau thơng đó vẫn sángngời lên lòng yêu nớc của con ngời Việt Nam Cuộc chia ly giữa NguyễnTrãi với cha là Nguyễn Phi Khanh cùng lời nhắc nhở, dặn dò của ông vớiNguyễn Trãi: Không nên đi theo cha mà cần phải quay về lo cứu dân, cứunớc, đó mới là chữ "hiếu" lớn nhất Những lời tâm huyết đó của hiền nhânNguyễn Phi Khanh đã góp phần quan trọng làm nên một anh hùng dân tộc,một nhà văn hóa lớn của Việt Nam và thế giới: danh nhân Nguyễn Trãi

Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Thiếp, Phan Huy ích… Họ thế kỷ 18 đều là nhữngngời trởng thành dới triều Lê Sự mục nát của nhà Lê mà đỉnh cao của nó làviệc Lê Chiêu Thống vì lợi ích của dòng họ và bản thân đã bán rẻ đất nớccho nhà Thanh Trong bối cảnh đó, lòng yêu nớc đã đa các ông vợt qua chữ

"trung" thông thờng để đến với anh hùng áo vải Quang Trung - ngời đang

đại diện cho tinh thần quật cờng của dân tộc - Công lao của hiền tài NgôThì Nhậm, Nguyễn Thiếp, trong việc đại phá quân Thanh, bảo vệ non sông,

đất nớc cũng nh giúp Quang Trung kiến thiết lại nớc nhà, đã đợc sử sáchcũng nh nhân dân ghi nhận một cách sâu sắc

Nửa cuối thế kỷ XIX, khi triều đình nhà Nguyễn hèn nhát, một mặtliên tiếp cắt đất dâng cho thực dân Pháp xâm lợc, mặt khác lại ra lệnh chonhân dân các địa phơng phải bãi binh, ngừng chiến đấu Trong bối cảnh đó,

Trang 15

danh tớng Trơng Công Định đã khẳng khái tuyên bố: Triều đình hòa nghịthì cứ hòa nghị, việc của Định thì Định cứ làm, Định không nỡ ngồi nhìngiang sơn chìm đắm Và ông kiên quyết lãnh đạo nhân dân tiếp tục khángchiến.

Điểm qua một số trờng hợp cụ thể của các vị hiền nhân Việt Nam những ngời đợc giáo dục, đào tạo khá kỹ lỡng về đạo làm ngời - trong việc

-xử lý mối quan hệ giữa "trung", "hiếu" với "ái quốc", chúng tôi, một mặtmuốn khẳng định: yêu nớc là một trong những phẩm chất hàng đầu của conngời Việt Nam, mặt khác cũng muốn chứng minh rằng, nền giáo dục phongkiến Việt Nam dù chịu ảnh hởng khá nặng nề của Nho giáo vẫn tạo ra đợclớp ngời biết vợt qua những quan niệm chật hẹp về "trung", "hiếu" của Nhogiáo, biết hớng tới quyền lợi chung của cả dân tộc, đem hết tài năng, sức lực

để xây dựng và bảo vệ đất nớc, đặt quyền lợi của Tổ quốc lên trên quyền lợicủa gia đình, dòng họ

Giáo dục nhân nghĩa, thơng dân, coi trọng dân.

Nội dung kiến thức về nhân nghĩa mà hệ thống giáo dục dới chế độphong kiến Việt Nam trang bị cho con ngời là sự kết hợp những t tởng,quan điểm ''nhân nghĩa'' của Nho giáo với t tởng "từ bi, bác ái,'' của Phậtgiáo và lối sống nhân nghĩa, biết ơn ông bà, cha mẹ, kính trên nhờng dới,yêu làng xóm quê hơng của nhân dân ta, trong đó hạt nhân là t tởng nhânnghĩa của Khổng tử, Mạnh tử

Nhân là lòng thơng ngời, là tình cảm trung hậu với vạn vật, là lòngmong muốn cho vạn vật bao giờ cũng có cái khoái lạc sinh sống ở trên đời

Nghĩa là điều mà con ngời phải làm trong bất cứ hoàn cảnh nào,không vụ lợi

Ông cha ta cho rằng, có lòng nhân nghĩa mới hợp quần với nhau, coinhau nh anh em, xem cả đoàn thể nh một ngời, cả vũ trụ nh nhất thể Đã

nh một ngời thì hễ có chỗ nào đau là cả ngời thấy khó chịu Ngời bất nhân,

Trang 16

bất nghĩa thì chẳng khác gì ngời mắc bệnh tê, thân thể đau ở đâu cũngkhông hay biết Ngời không có nhân nghĩa thì ai đau khổ thế nào, bị tai nạn

ra sao cũng dửng dng không hề có cảm động chút nào

Còn theo Mạnh tử, nhân nghĩa là bản năng cố hữu của tâm Khi cónhân ở trong tâm thì tự nhiên có ái biểu hiện ra ở hành vi Khi có lòng trắc

ẩn thì tự nhiên có lòng tu, ố (xấu hổ, ghét), có lòng từ nhợng (nhờng nhịn),

có lòng thị phi (biết phải trái) Đó là bốn đầu mối của đạo làm ngời: nhân,nghĩa, lễ, trí Ông chủ trơng phải hết sức khuếch trơng các nhân tính củacon ngời

"Phàm ngời ta là có bốn đầu mối ở mình thì mở rộng cho đầy đủ,cũng nh lửa bắt đầu cháy, suối bắt đầu tuôn, nếu có thể sung mãn đợc bốnmối lớn ấy thì đủ giữ đợc bốn bể" (Mạnh tử - Công Tôn Sửu)

Trớc Mạnh Tử, Khổng Tử cũng đã nêu rõ đức nhân ở ngời quân tử

Đó phải là ngời thực hiện đạo trung thứ tức là "Cái gì mình không muốnlàm thì đừng làm cho ngời khác" (Kỉ sở bất dục vật thi nhân) và "Cái gìmình muốn dựng lên thì dựng cho ngời khác, cái gì mình muốn đạt đợc thìlàm cho ngời đạt" (Kỉ dục lập nhi lập nhân, kỉ dục đạt nhi đạt nhân)

Làm đợc điều trên là đạo thứ, làm đợc điều dới là đạo trung Nhân làcái gốc lớn của phép sinh hóa trong vũ trụ, thế gian nhờ đó mà đứng, vạnvật nhờ đó mà sinh, quốc gia nhờ đó mà còn, lễ nghĩa nhờ đó mà phát hiện

ra Nhân nghĩa là cái chuẩn, là lý tởng mà con ngời muốn thành ngời quân

tử phải phấn đấu để đạt tới Bởi vậy, Khổng Tử khuyên: "Ngời quân tử trongkhoảng bữa ăn cũng không trái nhân, vội vàng cũng phải nhân, hoạn nạncũng phải theo nhân" [123, tr 58]

Một trong những nội dung chủ yếu của t tởng giáo dục, đào tạo conngời của cha ông ta đó là giáo dục tình thơng yêu đồng loại, thơng yêu nhândân, những "dân đen", "con đỏ" Trong cách nhìn của cha ông về nhân cáchcon ngời, cái nổi bật đầu tiên cha phải là tài năng mà là đạo đức, thái độ với

Trang 17

đồng bào Đạo đức của con ngời đợc biểu hiện qua nhiều khía cạnh, hành vi

cụ thể, nhng trớc hết (và là cái quan trọng bậc nhất) đó là thái độ và hành vivới đồng loại, với những ngời cùng mẹ Âu Cơ sinh ra Nói thơng dân, thơng

đồng bào mà chỉ dừng lại ở khẩu đàm thì cha đủ, thậm chí còn vô nghĩa.Cái chính là phải biết hiện thực hóa lòng yêu thơng nhân dân bằng nhữngviệc làm cụ thể trong thực tiễn Cha ông ta đã rất có lý khi cho rằng cầnphải kiểm chứng, đánh giá con ngời qua hành động thực tiễn của họ Mộtngời chỉ đợc coi sống có đạo lý khi việc làm của ngời đó giúp ích cho nớc,cho dân, biết coi trọng nhân dân, luôn ra sức phấn đấu đem lại cho nhândân một cuộc sống ngày càng no đủ

Lịch sử Việt Nam đã ghi lại vô vàn những tấm gơng về lòng yêu

th-ơng nhân dân của những bậc "vua sáng", "tôi hiền","sĩ tốt", nh Lê Hoàn, LýNhân Tông, Lý Thờng Kiệt, Trần Hng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Lê ThánhTông, Nguyễn Du, Quang Trung, Phan Bội Châu Họ là những ngời luônquan tâm đến cuộc sống của nhân dân, chú trọng thực thi các chính sách

"thân dân", "khoan th sức dân", nhằm tạo lập cho nhân dân một cuộc sốngngày càng tốt đẹp để "khắp thôn cùng xóm vắng không còn tiếng oán sầu"

Để kiểm chứng, đánh giá thái độ, quan điểm, lòng yêu thơng nhân dân củacác vị quan lại, cha ông ta đã thực thi nhiều chính sách biện pháp rất cụ thể

Ví dụ, Lê Thánh Tông - vị vua anh minh của dân tộc - trong thời gian trị vìcủa mình đã định lệ ba năm khảo hạch các vị quan lại - những kẻ "chăndân" thay triều đình - một lần, với ba tiêu chí:

Có đợc nhân dân yêu mến không

Có lòng yêu nhân dân không

Trong hạt có dân trốn đi nơi khác không ?Nếu vị quan nào lời biếng, yếu hèn, đê tiện, không quan tâm đến đờisống nhân dân, ăn hối lộ, ức hiếp nhân dân thì bị xử phạt nặng, những ai đ-

ợc dân yêu mến sẽ trọng thởng [123, tr 63-64]

Trang 18

Giáo dục đức dũng, sống ngay thẳng, trong sạch, tôn trọng lẽ phải.

Sống trong sạch, ngay thẳng, dám đơng đầu chống lại cái sai, bảo vệcái đúng là phẩm chất quan trọng của những con ngời mà cha ông ta mongmuốn đào tạo Đây cũng là yêu cầu, tiêu chuẩn đặt ra của xã hội, của thểchế chính trị đối với hệ thống giáo dục trong chế độ phong kiến Việt Nam.Không thể có một xã hội "thái bình, thịnh trị" nếu trong xã hội đó nhữngngời cầm quyền, những ngời "chăn dân" rặt những kẻ bất tài, vô đạo đức,tham lam, xu nịnh, nhu nhợc… Họ Vì vậy, trong lịch sử chế độ phong kiếnViệt Nam, các triều đại đều coi trọng sự trong sạch, trung thực, ngay thẳngcủa tầng lớp quan lại và có nhiều biện pháp để kiểm tra, giám sát, cổ xúycho sự liêm khiết của những "phụ mẫu chi dân" Để làm đợc "tôi hiền" trớchết phải sống trong sạch, không tham lam vơ vét nhũng nhiễu nhân dân.Trong bối cảnh chế độ phong kiến, khi tầng lớp tham gia bộ máy thống trịnắm trong tay nhiều quyền lực thì giữ đợc sự thanh liêm không phải dễ.Tầm cao, sự hơn ngời của ngời "tôi hiền", "sĩ tốt" là tự mình biết vợt quanhững cám dỗ đời thờng đó để sống trong sạch, chính trực Hơn thế nữa,bản thân sự trong sáng trong đời sống cá nhân, cho phép ngời ta dám nóilên sự thật, dám đấu tranh cho cái đúng, cái thiện, chống lại cái sai, cái xấu

xa vốn tồn tại phổ biến trong chế độ phong kiến

Lịch sử Việt Nam còn ghi lại những hình ảnh tiêu biểu của các bậchiền tài nổi tiếng cơng trực, có tiết tháo, không khuất phục trớc cờng quyền,dám lên tiếng can ngăn, phản đối sự tàn ác của những kẻ cầm quyền, nhữngthói h tật xấu trong xã hội, dũng cảm bảo vệ công bằng và lẽ phải nh: TôHiến Thành, Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đào Duy

Từ… Họ Các vị đó là sản phẩm tiêu biểu của một nền giáo dục luôn coi trọng

và đề cao việc bồi dỡng đức dũng, lối sống ngay thẳng, liêm chính, trungthực của dân tộc Việt Nam

Trang 19

Giáo dục trí dục, đề cao tinh thần hiếu học là một trong những nội dung quan trọng của t tởng giáo dục, đào tạo, phát triển con ngời của dân tộc Việt Nam

Cha ông ta cho rằng con ngời muốn đạt tới những đức tính cao đẹp,muốn hiểu thấu đáo đạo lý làm ngời thì cần phải học, bởi ''nhân bất học bấttri lý'' Những đức tính đó là Nhân, Trí, Tín, Trực, Dũng, Cơng, song nếukhông học để hiểu rõ lẽ phải trái thì kết quả đạt đợc sẽ có thể ngợc lại Theoquan điểm của cha ông ta, "nhân" mà không học thành ngu; "trí" mà khônghọc thành phóng đãng; "tín" mà không học thành hẹp hòi, cố chấp; "trực"

mà không học thành ngang ngạnh; "dũng" và ''cơng'' mà không học thànhloạn Vì vậy, việc giáo dục kiến thức về mọi mặt, nâng cao sự hiểu biết chomọi ngời để họ nhận thức đợc lẽ phải, trái, hiểu thấu đạo làm ngời là vấn đềvô cùng quan trọng để con ngời nhận thức đúng đắn, hành động tích cực,phấn đấu hết sức mình cho sự phồn vinh của đất nớc và hạnh phúc của nhândân

Hiếu học là truyền thống lâu đời của nhân dân ta Truyền thống đó

đợc cha ông ta hết sức coi trọng Vì vậy, trong nội dung giáo dục đạo làmngời, cha ông ta rất chú ý giáo dục, bồi dỡng lòng hiếu học, tinh thần vợtmọi khó khăn để học tập của con ngời Việt Nam Nhằm động viên, khuyếnkhích mọi ngời hăng hái học tập, cha ông ta đã sáng tạo ra nhiều hình thứcbiểu dơng, cổ vũ nh: Vào những ngày sóc, vọng hàng tháng (mùng 1 vàngày rằm) trờng Quốc Tử Giám và các trờng học ở huyện, tỉnh thờng tổchức các cuộc khảo khóa, bình văn Những văn bài hay của các nho sĩ đợc

đem đọc và bình luận, khen chê Điều này có tác dụng to lớn cổ vũ học trò,

sĩ tử say mê, cố gắng học tập đồng thời lôi cuốn mọi ngời hăng hái tham giahọc tập, rèn luyện văn chơng, võ nghệ

Các hình thức nêu danh, yết bảng các sĩ tử thi đỗ, việc khắc tên vàobảng vàng, bia đá, việc tổ chức lễ vinh quy bái tổ cho các ông nghè về làngcùng với sự ban thởng ân tứ của vua đã cổ vũ lớn lao cho việc học

Trang 20

Giáo dục nền nếp, trật tự, kỷ cơng, gia phong.

Chính danh định phận là một trong những t tởng quan trọng của họcthuyết Nho giáo và đây cũng là cơ sở của nội dung giáo dục trật tự, kỷ c-

ơng, gia phong cho con ngời của giai cấp phong kiến Việt Nam Danh phận

đã định rõ thì ngời nào có vị thế của ngời đó, trên ra trên, dới ra dới, theotrật tự phân minh, "vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con", đó lànguyên tắc, là tôn ti trật tự trong mỗi gia đình cũng nh ngoài xã hội Vì vậy,giáo dục tôn ti, trật tự, kỷ cơng, gia phong là nội dung quan trọng mà cha

ông ta rất quan tâm khi xây dựng những nhận thức về đạo lý làm ngời chocác thế hệ ngời Việt Nam Điều này có tác dụng không nhỏ trong việc giữgìn sự ổn định của xã hội, làng xóm, gia đình

Thứ ba: Trong quá trình thực thi việc đào tạo, phát triển con ngời,

giai cấp phong kiến Việt Nam đã sử dụng một phơng pháp giáo dục, đào tạodựa trên các phơng pháp của Nho giáo là chủ yếu

Chúng ta biết rằng, bất kỳ một phơng pháp nhận thức và hành độngnào của con ngời cũng đều bị chi phối bởi một thế giới quan và phơng phápluận nhất định Trong xã hội phong kiến Việt Nam, hệ t tởng chỉ đạo giaicấp phong kiến Việt Nam là Nho giáo Mặc dù chịu tác động không nhỏcủa những quan điểm giáo dục, đào tạo, phát triển con ngời của dân tộcViệt Nam, nhng về cơ bản, nền giáo dục phong kiến vẫn sử dụng nhữngbiện pháp giáo dục, rèn luyện con ngời của Nho giáo vào thực tiễn đào tạo,phát triển con ngời ở nớc ta Qua các tài liệu sử học và giáo dục học đã đợccông bố, chúng ta có thể khái quát lại một số nội dung chủ yếu trong phơngpháp giáo dục, đào tạo con ngời dới chế độ phong kiến nớc ta Điều này đợcthể hiện ở những nội dung chủ yếu sau:

Về phơng pháp trí dục:

+ Học tự kết hợp: Nguyên tắc kết hợp học tập với độc lập suy nghĩ

"Học mà không nghĩ thì mờ tối, chẳng hiểu gì, nghĩ mà không học thì khónhọc mất công không" (Luận ngữ)

Trang 21

+ Dụ đạo khải phát: Dạy học dùng cách ví von, hỏi han, hớng dẫn,khêu gợi, mở mang để ngời học tìm ra chân lý, giáo dục cho ngời họckhông chịu ảnh hởng của d luận mà tự mình suy xét ra kết luận.

+ Nhân tài thi giáo: Dạy học tùy theo đối tợng Tùy trình độ mônsinh, dạy mỗi ngời một khác, không đồng loạt Do vậy, dù ở trình độnào,học trò cũng có thể tiếp thu đợc

+ Học nhi thời tập: Học đi đôi với thực hành Con ngời phải giữ tâmtrung chính, việc làm thành thực, để sự biết và việc làm hợp làm một Đó làtrí mà hành, hành mà trí vậy Học phải chuyên tâm trí, không hời hợt Học

điều thiện để thực hành chứ không chỉ nói ra miệng mà thôi ở nhà trờng

cũ, hành ở đây chủ yếu là về đạo đức, t cách

+ Hiếu học, lạc học: Ngời đi học phải có chí, chí đã lập thì phải kiên

định, không thấy khó mà sợ, không thấy lâu mà nản Phải bồi dỡng ý chí,niềm tin, lòng say mê, tinh thần ham học, yêu thích học tập cho con ngờitheo tinh thần mà Khổng tử dạy: "Biết mà học không bằng thích mà học,thích mà học không bằng vui say mà học" (Luận ngữ - Ung giã), "Muốn sựhọc có vui thú thì phải luyện tập luôn Học mà cứ buổi buổi tập luôn, thìtrong bụng lại không thỏa thích hay sao" (Luận ngữ - Học nhi)

Về phơng pháp đức dục

Các phơng pháp trí dục trên thờng bao gồm cả đức dục Song, đi sâuvào việc giáo dục đức dục, ông cha ta còn chú trọng đến nhiều phơng phápkhác nh:

+ Tự tu dỡng, học tập theo con đờng khắc kỷ, đó là:

- Tự tụng: Thờng xuyên tự biện luận với mình về tri thức và hành vi

đạo đức, dựa trên chuẩn mực của các sách kinh điển, của xã hội, từ đó ngàycàng tiếp cận không chỉ với những nguyên lý của học thuyết mà còn vớihiện thực đời sống xã hội

Trang 22

- Tự kiểm: Tự kiểm điểm khi chỉ có riêng mình để thử thách mình

về sự thành ý, chính tâm Rèn luyện không để sự tức giận, sợ hãi, vui mừnglấn át khiến cho không nhận ra lẽ phải trái

- Tự trách: Tự đòi hỏi mình với yêu cầu ngày càng cao mỗi khi gặpthất bại, bao giờ cũng tìm nguyên nhân tự bản thân chứ không tìm lý dokhách quan (Tiên trách kỷ, hậu trách nhân)

- Tự giới: Tự răn mình, tự ngăn cấm mình không vi phạm nhữngthói h tật xấu

-Thận ngôn: Nói năng phải luôn thận trọng

- Vô tranh: Không tranh giành với ai, có ý thức nhờng nhịn ngời khác

+ Quan nhân: Ngời học phải quan sát ngời để xét mình, chú trọnghọc gơng tốt của thánh hiền, của ngời xa để rút ra bài học cho bản thân

+ Kết giao bằng hữu: Chọn bạn tốt để cùng nhau học tập "quân tửlấy văn mà họp bạn, lấy bạn mà giúp mình làm điều nhân" (Luận ngữ -Nhan Uyên) Ông cha ta đã dạy lớp lớp con cháu rằng: bạn với ngời trungchính thì sẽ học đợc điều hay, bạn với kẻ gian tà thì sẽ nhiễm điều dở Bởithế phải "chọn bạn mà chơi"

+ Thân giáo trọng ngôn giáo: Sự làm gơng của ngời thầy quantrọng hơn lời giảng Muốn vậy, ngời thầy cũng phải luôn luôn tu dỡng, họchỏi để có tri thức uyên bác Thầy biết mời chỉ để dạy một

Kết hợp chặt chẽ đức dục với trí dục

Trẻ cắp sách đến trờng là tiếp thu chữ nghĩa của thánh hiền Bởi vậyviệc học đợc coi là điều rất quan trọng Xin học cho con, cha mẹ phải lễ giatiên ở nhà, chọn ngày lành tháng tốt sửa lễ đến nhà thầy xin học Thầy đồtrớc khi nhận học trò mới, lại phải cáo gia tiên và đức Khổng Tử, có khi lễtại văn chỉ làng Sau buổi lễ khai tâm, đứa trẻ từ nay phải sống và học tập

Trang 23

theo nề nếp Một thời gian dài, trớc khi học chữ, đứa trẻ phải học cáchkhoanh tay chào hỏi, cách đi đứng, nói năng lễ độ đối với thầy với bạn, vớicha mẹ, ông bà, anh chị ở nhà, với mọi ngời trong làng xóm Đi học phải cóthái độ chăm chỉ, cần mẫn, bài học phải thuộc, bài làm phải đủ Lời biếng là

bị phạt bằng đòn roi, quỳ ở góc nhà hoặc chui qua háng của trởng tràng Lạiphải hết sức coi trọng sách vở, chữ nghĩa của thánh hiền Nhặt đợc tờ giấy

có chữ phải đốt đi… Họ

Khi đã qua tiểu học trở thành một nho sĩ, phải chú ý từ cách ăn mặcquần áo, khăn, giầy, đi đứng khoan thai, nói năng lễ độ, c xử nho nhã, đúngmực Vậy là phải học lễ rồi mới học văn Đức và trí kết hợp chặt chẽ, tri vàhành đi đôi với nhau Quá trình tu dỡng, học tập đó có sự giám sát của thầy,của bạn, của hội đồng môn ở trờng, có sự chỉ bảo của cha mẹ, ông bà, anhchị, của họ tộc, của gia pháp, gia phong ở nhà, ở làng xã thì có hơng ớc, hội

t văn, và có d luận khen chê của xã hội Có thể nói, việc giáo dục, đào tạo,phát triển con ngời dới chế độ phong kiến Việt Nam bớc đầu cũng đã có sựkết hợp của gia đình, nhà trờng và xã hội

Gạt bỏ những mặt hạn chế, khiếm khuyết, tiêu cực, nhìn nhận và

đánh giá một cách khách quan, có thể nói, nội dung và phơng pháp giáodục, đào tạo, phát triển con ngời của cha ông ta đã góp phần vô cùng quantrọng đào tạo ra biết bao ngời con u tú, những "hiền tài", có đóng góp hếtsức to lớn vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nớc của dân tộcViệt Nam trong suốt hơn một ngàn năm qua

Sinh trởng trong một gia đình Nho học (ông ngoại là thầy dạy chữHán, bố là một vị đại khoa), ở một vùng quê nổi tiếng với truyền thống hiếuhọc, cần học Bản thân Hồ Chí Minh đã có nhiều năm đèn sách dới sự dạy

dỗ của các vị túc nho uyên thâm nhng sống gần gũi với đời sống thờng nhậtcủa ngời dân thôn quê Hơn nữa, với t chất thông minh, tinh thần ham học,

đặc biệt là sự yêu thích môn văn học và lịch sử dân tộc đã giúp cho Hồ Chí

Trang 24

Minh hiểu biết sâu sắc truyền thống lịch sử của đất nớc và con ngời nóichung cũng nh những t tởng, lý luận, nội dung giáo dục, đào tạo, phát triểncon ngời của cha ông ta nói riêng Trên cơ sở hiểu biết sâu sắc những giá trịtốt đẹp trong t tởng giáo dục, đào tạo, phát triển con ngời của dân tộc ViệtNam cũng nh những hạn chế, khiếm khuyết của nó, Hồ Chí Minh đã tiếpthu, kế thừa t tởng đó trên tinh thần "cái gì mà xấu, thì phải bỏ Cái gì

mà không xấu nhng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý Cái gì tốt,thì phải phát triển thêm lên" [84, tr 94-95]

Nhìn một cách tổng quát, Hồ Chí Minh đã kết thừa những giá trịcủa t tởng, giáo dục, đào tạo, phát triển con ngời của dân tộc Việt Nam ởnhững điểm chủ yếu sau:

Một là: Kế thừa một số khái niệm, phạm trù.

Chúng ta biết rằng, nền giáo dục đào tạo Việt Nam trớc đây đã sửdụng một hệ thống khái niệm, phạm trù khá phong phú, phần lớn có nguồngốc từ Nho giáo nh: Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm, Chính, Cần, Kiệm,Trung, Hiếu, Tài, Đức

Có thể nói, trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo,phát triển con ngời, Nhogiáo có u thế hơn các tôn giáo khác ở chỗ nó có một hệ thống phạm trù kháchặt chẽ và hoàn chỉnh với nội dung rất phong phú, chuyển tải đợc nhiềuvấn đề thuộc về triết lý nhân sinh, về đạo lý và tri thức để làm ngời Tronglịch sử, dân tộc ta đã từng mợn chữ Hán làm chữ viết của mình, mợn một sốkhái niệm phạm trù của văn hóa Hán, nhất là của Nho giáo để chuyển tải,biểu đạt những t tởng, quan điểm, nhận thức của mình Nhng tổ tiên chúng

ta đã biết phiên âm chữ viết phải vay mợn ấy bằng âm Hán Việt và đã phát

âm chữ Hán không giống ngời Hán, diễn đạt nội dung các khái niệm đócũng không hoàn toàn giống nghĩa nguyên thủy của nó Trải qua quá trìnhlịch sử lâu đời, những âm Hán Việt đã trở thành ngôn ngữ đại chúng củatoàn dân tộc và trong phạm vi tiếng nói thì các từ ngữ ấy ngày càng trở nên

Trang 25

thông dụng Trong lịch sử, tổ tiên chúng ta cũng đã có sự nỗ lực để sáng tạo

ra chữ viết cho riêng mình, đó là chữ Nôm Với chữ Nôm, các khái niệmvốn đợc vay mợn từ chữ Nho đã đợc Việt hóa một bớc cả ở tiếng nói lẫnchữ viết

Nói nh vậy để thấy rằng, trong quá trình kế thừa những khái niệmcủa Nho giáo, hệ thống giáo dục, đào tạo Việt Nam - nhất là ở các trờngdân lập, khi sử dụng các khái niệm của Nho giáo cũng đã có sự "Việt Namhóa" một bớc nội hàm của các khái niệm đó, phục vụ cho việc đào tạo, pháttriển con ngời trên đất nớc Việt Nam vốn có điều kiện kinh tế, chính trị, xãhội không tơng đồng với Trung Hoa Tuy nhiên, khi trình bày những điềutrên, chúng tôi không có ý phủ nhận ảnh hởng của các yếu tố tích cực củaNho giáo đối với nội dung cũng nh cách biểu đạt và hệ thống khái niệm,phạm trù của nền giáo dục, đào tạo Việt Nam hơn một ngàn năm qua.Trong điều kiện lịch sử cụ thể của nớc ta, điều này là rất cần thiết nhằm làmphong phú thêm ngôn ngữ của dân tộc Việt Nam đồng thời cũng giúp íchnhiều cho sự nghiệp giáo dục, đào tạo, phát triển con ngời của nhân dân tatrong suốt chiều dài lịch sử

Đối với Hồ Chí Minh, những khái niệm phạm trù của văn hóa Hán,nhất là của Nho giáo mà cha ông ta tiếp thu và vận dụng vào việc giáo dục,

đào tạo, phát triển con ngời có hiệu quả, có tác động tích cực đến sự hìnhthành và phát triển nhân cách của ngời Việt Nam trong lịch sử đã đợc Ngời

kế thừa một cách sáng tạo Hơn nữa, theo giáo s Trần Văn Giàu:

cụ Hồ Chí Minh là một ngời hiểu biết Nho giáo rất sâu,rất rộng nữa Nhng cụ không phải là một nhà Nho mà là một ngờibiết rõ những nhợc điểm, những sai lầm nữa của Nho giáo màtránh, lại thấm nhuần mấy u điểm của nó mà ứng dụng theo lợiích của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam, một dân tộc

đã nhiều trăm năm chịu ảnh hởng của Nho giáo [40, tr 36]

Trang 26

Vì vậy, việc Hồ Chí Minh sử dụng một số khái niệm, phạm trù mà

hệ thống giáo dục Việt Nam kế thừa từ văn hóa Trung Hoa, từ Nho giáo là

có chủ đích, trên cơ sở hiểu biết sâu sắc không chỉ t tởng, nội dung giáodục, đào tạo, phát triển con ngời của dân tộc Việt Nam mà còn trên sự hiểubiết sâu rộng những mặt tích cực của Nho giáo trong sự nghiệp "trồng ngời"

Trong t tởng phát triển con ngời toàn diện của Hồ Chí Minh, chúng

ta thấy Ngời rất hay sử dụng các khái niệm nh: Cần, Kiệm, Liêm, Chính,khi đề cập đến phẩm chất của con ngời Việt Nam trong thời đại mới nhất là

đối với cán bộ đảng viên Hồ Chí Minh cho rằng, cũng nh trời có bốn mùa,xuân, hạ, thu, đông; đất có bốn phơng đông, tây, nam, bắc; con ngời có bốn

đức cơ bản là cần, kiệm, liêm, chính, "thiếu một đức không thành ngời"; "tựmình phải cần, kiệm, liêm, chính" [85, tr 406], đối với cán bộ đảng viênngời yêu cầu "ai cũng phải thực hành bốn chữ cần, kiệm, liêm, chính" [85,

tr 622];"đạo đức cách mạng của ta là cần, kiệm, liêm, chính"[86-tr

490 ];"phải thi đua thực hành cần, kiệm, liêm, chính"; "cố gắng làm đúngbốn chữ cần, kiệm, liêm, chính" [85, tr 203]; "mở một chiến dịch giáo dụclại nhân dân bằng cách thực hiện cần, kiệm, liêm, chính" [84, tr 8] Có thểnói, tần số xuất hiện của các khái niệm: Cần, Kiệm, Liêm, Chính trong t t-ởng phát triển con ngời toàn diện là nhiều nhất trong các khái niệm, phạmtrù mà Hồ Chí Minh kế thừa từ t tởng giáo dục, đào tạo, phát triển con ngờicủa cha ông ta

Trí, Tín, Nhân, Dũng, Liêm cũng là những khái niệm mà Hồ ChíMinh hay dùng, nhất là khi nói về phẩm chất, năng lực của ngời quân nhâncách mạng, của ngời làm tớng "tớng giỏi (đủ cả trí, nhân, dũng, liêm) thì n-

ớc mạnh" [83, tr 519]; "nhiệm vụ của ngời làm tớng là phải trí, dũng, nhân,tín, liêm, trung" [85, tr 479]; "Quân sự giỏi song nếu không có đạo đứccách mạng thì cũng khó thành công Muốn có đạo đức cách mạng phải cónăm điều sau đây: Trí, tín, nhân, dũng, liêm" [85, tr 223]

Trang 27

Khái niệm Trung, hiếu đã đợc Hồ Chí Minh sử dụng rất nhiều đểgiáo dục các thế hệ cách mạng Việt Nam Từ tác phẩm "Đờng cách mệnh",cuốn sách giáo khoa cách mạng đầu tiên (1927) cho đến Di chúc thiêngliêng (1969), Ngời luôn nhắc nhở mỗi ngời Việt Nam, mỗi chiến sĩ cáchmạng cũng nh cán bộ, Đảng viên phải "trung với nớc, hiếu với dân "[84, tr.239]; "quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân" [91, tr 349]; "đối vớichính phủ phải tuyết đối trung thành, đối với nhân dân phải kính trọng lễphép" [85, tr 406]; "trọn đời trung thành với sự nghiệp cách mạng, với Tổquốc, với Đảng, với giai cấp" [90, tr 621]; "Ngời kiên quyết cách mạngnhất, lại là ngời đa tình chí hiếu nhất" [87, tr 60]; "phải hiểu chữ hiếu củacách mạng" [87, tr 60]; "chữ tình, chữ hiếu cũng phải hiểu một cách rộng"[87, tr 61]; "phải nâng cao chí khí cách mạng, trung với nớc, hiếu với dân"[91, tr 504]… Họ

Yêu nớc, thơng dân là những khái niệm, phạm trù hết sức quantrọng trong nội dung giáo dục, đào tạo, phát triển con ngời của dân tộc ViệtNam Nó luôn đợc sử dụng để giáo dục nhân cách, đạo đức, ý chí, tình cảmcho các thế hệ ngời Việt Nam trong lịch sử

Các khái niệm này cũng giữ vị trí hàng đầu trong t tởng phát triểncon ngời toàn diện của Hồ Chí Minh Vì vậy, nó thờng xuyên xuất hiệntrong các bài nói, bài viết của Ngời, khi thì trong những bài báo sục sôi cămgiận tố cáo tội ác man rợ của bọn thực dân, phong kiến; khi thì ở những lờikêu gọi hừng hực khí thế cách mạng nh: Tổng khởi nghĩa giành chínhquyền (1945), Toàn quốc kháng chiến (1946), chống Mỹ, cứu nớc (1966)hay trên những diễn đàn quan trọng: Lễ tuyên ngôn độc lập (9/1945), Đạihội toàn quốc lần thứ hai của Đảng (2/1951), Đại hội toàn quốc lần thứ bacủa Đảng (9/1960) hoặc sâu lắng, súc tích trong Di chúc thiêng liêng(1969)

Trang 28

Ngay từ những bài báo, trang viết đầu tiên trong cuộc đời cáchmạng vẻ vang của mình, Hồ Chí Minh đã đề cập đến khái niệm yêu nớc, th-

ơng dân và khẳng định "chính chủ nghĩa yêu nớc" [90, tr 128] đã thúc giụcNgời ra đi tìm đờng cứu nớc, cứu dân, tìm đến chủ nghĩa Mác - Lênin, đếnvới chủ nghĩa cộng sản

Trong Đại hội toàn quốc lần thứ hai của Đảng (2/1951) Hồ Chí Minhlại khẳng định: "Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nớc Đó là truyền thống quýbáu của ta" [86, tr 171] Cho nên "phát triển tinh thần yêu nớc" [86, tr 171] làrất quan trọng để "làm cho tinh thần yêu nớc của tất thảy mọi ngời đều đợcthực hành vào công việc yêu nớc" [86, tr 172]

Từ đó, Hồ Chí Minh cho rằng, khi giáo dục, đào tạo, phát triển conngời, chúng ta cần phải làm cho mọi ngời đặc biệt là thế hệ trẻ hiểu sâu sắcnội dung của khái niệm yêu nớc, thơng dân, cố gắng phấn đấu, rèn luyện,bồi dỡng để làm cho "lòng yêu nớc" trong mỗi con ngời "ngày một nồngnàn" nhng cũng cần phải tránh t tởng cực đoan "chỉ biết yêu nớc mình màkhinh ghét nớc ngời" [85, tr 102]

Cần phải thấy rằng, trong quá trình sử dụng một số khái niệm, phạmtrù của Nho giáo, của nền giáo dục, đào tạo, phát triển con ngời Việt Namtrớc đây, Hồ Chí Minh đã loại bỏ những mặt hạn chế trong nội hàm cáckhái niệm đó, đa thêm vào những nội dung mới, mang tính cách mạng,nhằm cải biến một cách căn bản các khái niệm, phạm trù cũ, phục vụ cóhiệu quả sự nghiệp đào tạo các chiến sĩ cách mạng, đào tạo những con ngờimới xã hội chủ nghĩa ở nớc ta Điều này có ý nghĩa thực tiễn to lớn, giúpcho mỗi ngời Việt Nam (vốn đã quen với các khái niệm, thuật ngữ của Nhogiáo) có thể lĩnh hội, nắm bắt, tiếp thu, t tởng, lý luận, đờng lối, phơng phápcách mạng, tri thức văn hóa, khoa học, kỹ thuật… Họ để không ngừng hoànthiện và nâng cao phẩm chất, năng lực về mọi mặt của bản thân, góp phầnhình thành và phát triển con ngời toàn diện ở Việt Nam

Trang 29

Hai là: Kế thừa những mặt tích cực trong nội dung giáo dục đạo lý

làm ngời của cha ông

Trong nền giáo dục truyền thống, cha ông ta rất quan tâm giáo dụctriết lý nhân sinh, đạo lý làm ngời cho các thành viên cộng đồng Nội dungchủ yếu của nó là giáo dục con ngời sống có lý tởng, bản lĩnh, có ý chí vơnlên để tự hoàn thiện mình về mọi mặt, đem hết tài đức của mình xây dựngmột xã hội "thái bình, thịnh trị"; "vua sáng, tôi hiền"; là yêu nớc, thơng dân,sống nhân nghĩa, thủy chung; là đề cao đạo đức, tình đoàn kết trong quan

hệ xã hội, quan hệ giữa ngời với ngời Mặc dù không tránh khỏi nhữnghạn chế, khiếm khuyết nhng triết lý và nội dung giáo dục, đào tạo, pháttriển con ngời của cha ông ta đã góp phần quan trọng tạo ra những thế hệngời Việt Nam "giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thểchuyển lay, uy vũ không thể khuất phục" [86, tr 184], "trai thời trung hiếulàm đầu; gái thời tiết hạnh làm câu răn mình"; kiên cờng, bất khuất, cần cù,thông minh, sáng tạo cũng nh không ít những ngời "hiền tài" - nguyên khícủa quốc gia, những vị anh hùng dân tộc "văn võ song toàn" Họ đã cónhững đóng góp hết sức to lớn cho sự trờng tồn và phát triển không ngừngcủa dân tộc Việt Nam, làm rạng danh dân tộc, vẻ vang giống nòi Đó làniềm tự hào lớn của nhân dân ta Hồ Chí Minh viết: "Chúng ta có quyền tựhào về những trang lịch sử vẻ vang thời đại Bà Trng, Bà Triệu, Trần Hng

Đạo, Lê Lợi, Quang Trung Chúng ta phải ghi nhớ công lao của các vị anhhùng dân tộc, vì các vị ấy là tiêu biểu của một dân tộc anh hùng" [86, tr.171-172] Sự đánh giá đó của Hồ Chí Minh, trên một ý nghĩa nào đó cũng

là sự khẳng định những giá trị, những thành công trong việc giáo dục đạo lýlàm ngời của cha ông ta

Là ngời đợc giáo dục kỹ lỡng về đạo lý làm ngời, hiểu biết sâu sắcnhững giá trị tốt đẹp ấy trong truyền thống văn hóa dân tộc cũng nh trong ttởng giáo dục, đào tạo, phát triển con ngời của cha ông, Hồ Chí Minh cho

Trang 30

rằng, cần phải kế thừa một cách sáng tạo những giá trị đó vào sự nghiệp xâydựng và phát triển con ngời cho cách mạng Việt Nam Trong t tởng pháttriển con ngời toàn diện của mình, vấn đề giáo dục đạo lý làm ngời đợc HồChí Minh rất quan tâm Theo Hồ Chí Minh, con ngời dù bất kỳ ở đâu cũngphải sống có đạo lý Đối với dân tộc Việt Nam vấn đề này càng có ý nghĩaquan trọng Cha ông ta cho rằng, nếu con ngời thiếu nhân cách, sống không

có đạo lý thì dù tài giỏi đến đâu cũng không giúp ích đợc cho cộng đồng, xãhội thậm chí còn gây ra những tác hại cho đất nớc, cho nhân dân và tấtnhiên sẽ bị xã hội lên án, từ bỏ Vì vậy, giáo dục đạo lý làm ngời đợc gia

đình, trờng học và xã hội rất coi trọng

Cuộc cách mạng mà nhân dân ta tiến hành dới sự lãnh đạo của Đảngcộng sản là vì con ngời, nhằm đem lại cuộc sống ăn no, hạnh phúc cho

đông đảo quần chúng, tạo ra những điều kiện tốt nhất cho sự phát triển mọimặt của con ngời Việt Nam Cho nên, những ngời tham gia sự nghiệp vẻvang đó trớc hết phải là những ngời sống có đạo lý

Theo Hồ Chí Minh, đạo lý sống của ngời cách mạng "nghĩ chocùng là vấn đề ở đời và làm ngời ở đời và làm ngời là phải thơng nớc, th-

ơng dân, thơng nhân loại bị đau khổ, bị áp bức" [105, tr 138]; là phải "làmcho dân có ăn, có mặc, có chỗ ở, đợc học hành" [84, tr 152]; "đem tài dân,sức dân, làm lợi cho dân" [85, tr 65]; "Mình ăn no mặc ấm, cũng cần làm cho tất cả mọi ngời đợc ăn no, mặc ấm" [87, tr 682]; là "sống với nhau cótình có nghĩa"; "nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống với nhau không có tình

có nghĩa thì sao có thể hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin" [92, tr 554], sao làsống có đạo lý

Sự kế thừa những giá trị tốt đẹp này còn đợc thể hiện trong thực tiễngiáo dục, đào tạo, phát triển con ngời của Hồ Chí Minh Hai mơi bốn điềutrong cuốn sách giáo khoa "Đờng cách mệnh" đều đề cập đến đạo lý làmngời, dạy đạo lý sống cho các chiến sĩ cách mạng Việt Nam Đến thăm tr-

Trang 31

ờng Nguyễn ái Quốc trung ơng - nơi đào tạo cán bộ cao cấp của Đảng vàNhà nớc, dòng đầu tiên mà Ngời ghi vào sổ vàng truyền thống của trờng là

"Học để làm ngời" trớc khi làm cán bộ Trong nhiều bức th gửi học sinh,thầy cô giáo, cán bộ quản lý ngành giáo dục, Hồ Chí Minh luôn luôn nhắcnhở phải chú ý giáo dục đạo đức, ý thức, trách nhiệm công dân, đạo lý làmngời, coi đó là phẩm chất quan trọng đầu tiên của con ngời mới xã hội chủnghĩa và là tiền để cơ bản để phát triển các phẩm chất, năng lực khác củacon ngời

Hơn ai hết, Hồ Chí Minh ý thức sâu sắc rằng con ngời nếu không cómột triết lý nhân sinh đúng đắn, một quan điểm sống tích cực, sẽ sa vào lốisống tùy tiện, thực dụng, thấp hèn, dễ biến thành những vật cản trên con đ-ờng phát triển của cộng đồng, xã hội Do đó giáo dục, bồi dỡng đạo lý làmngời cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, cho tầng lớp trẻ là vấn đề đợc HồChí Minh hết sức coi trọng

Điều này một mặt cho thấy sự hiểu biết sâu sắc quá trình phát triểnnhân cách con ngời của Hồ Chí Minh, mặt khác cũng phản ánh đậm nétviệc Ngời kế thừa, tiếp thu và nâng cao những giá trị nhân văn trong truyềnthống văn hóa dân tộc mà cha ông ta đa vào trong nội dung t tởng giáo dục,

đào tạo, phát triển con ngời của dân tộc Việt Nam trong hàng ngàn nămqua

Ba là: kế thừa một số điểm tích cực trong phơng pháp giáo dục, đào

tạo, phát triển con ngời của dân tộc Việt Nam.

Trong lịch sử, cha ông ta đã sử dụng một hệ thống phơng pháp giáodục, đào tạo, phát triển con ngời khá phong phú Mặc dù còn có nhiều hạnchế song hệ thống phơng pháp ấy cũng có những mặt tích cực góp phầnkhông nhỏ vào việc đào tạo cho dân tộc Việt Nam biết bao ngời con u tú, có

đủ đạo đức, tài năng đa nhân dân ta vợt qua mọi thử thách hiểm nghèo trêncon đờng phát triển của mình Chính vì vậy, trong quá trình kế thừa, những

Trang 32

giá trị tốt đẹp của t tởng giáo dục, đào tạo phát triển con ngời của cha ông,

Hồ Chí Minh đã tiếp thu và vận dụng một cách sáng tạo những mặt tích cựccủa các phơng pháp ấy vào thực tiễn đào tạo, phát triển con ngời cho cáchmạng Việt Nam Những yếu tố, những mặt tích cực mà Hồ Chí Minh đánhgiá cao và kế thừa trong phơng pháp giáo dục, đào tạo, phát triển con ngờicủa cha ông đó là:

- Sự kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục đức dục với trí dục

- Kết hợp giữa tri và hành

- Động viên, khuyến khích, tinh thần tự giác vơn lên của mỗi con ngời.Trong t tởng phát triển con ngời toàn diện của Hồ Chí Minh, các ph-

ơng pháp này đợc vận dụng nhuần nhuyễn và rất sáng tạo

Kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục đạo đức cách mạng, lý tởng, quan

điểm sống với trí thức khoa học xã hội - nhân văn cho con ngời Việt Nam

để không ngừng nâng cao phẩm chất và năng lực về mọi mặt của họ là

ph-ơng pháp mà Hồ Chí Minh luôn luôn coi trọng và thờng xuyên sử dụng.Theo Hồ Chí Minh, có làm tốt điều đó chúng ta mới có thể tạo ra đợc nhữngcon ngời mới đức tài vẹn toàn cho cách mạng Trong t tởng phát triển conngời toàn diện của Hồ Chí Minh, đạo đức và tài năng, lý trí và tình cảm, lànhững yếu tố không thể tách rời trong nhân cách của cách mạng, nó phải đ-

ợc kết hợp chặt với nhau Muốn vậy, khi tiến hành giáo dục, đào tạo, pháttriển con ngời phải kết hợp chặt chẽ giữa hai mặt đó, phải quan tâm, đếngiáo dục cả tri thức đạo đức và tri thức văn hóa, khoa học, kỹ thuật để nângcao phẩm chất, năng lực cho mỗi cá nhân Đó là điều luôn luôn đợc Hồ ChíMinh quan tâm bởi theo Ngời "có tài phải có đức, có tài mà không có đức làngời vô dụng Có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó"; "có tài màkhông có đức ví nh một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhng lại để thụtkét thì chẳng những không làm đợc gì ích cho xã hội, mà còn có hại cho xãhội Nếu có đức mà không có tài ví nh ông bụt không làm hại gì, nhng cũng

Trang 33

không có lợi gì cho loài ngời" [88, tr 126] Vì vậy, kết hợp chặt chẽ giữagiáo dục đức dục với trí dục là phơng pháp hết sức quan trọng để đào tạocho cách mạng những con ngời "vừa hồng, vừa chuyên" nhằm kế tục xứng

đáng sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và nhân dân ta Đó là quan

điểm nhất quan của Hồ Chí Minh mà ngời nêu ra trong t tởng phát triển conngời toàn diện của mình

"Tri và hành" phải đợc kết hợp chặt chẽ với nhau là một quan điểmrất đáng chú ý trong phơng pháp đào tạo, phát triển con ngời của nền giáodục truyền thống Việt Nam Mặc dù trong thực tế vấn đề này cha đợc hệthống giáo dục, đào tạo trớc đây ở nớc ta làm tốt, các kinh nghiệm khi thựchiện phơng pháp này để lại cho hậu thế cũng còn ít, song tinh thần tiến bộ,

ý nghĩa tích cực của nó trong việc xây dựng, hoàn thiện và phát triển nhâncách con ngời là điều đáng ghi nhận và cần phải tiếp thu Khi xây dựng ph-

ơng pháp giáo dục, đào tạo, phát triển con ngời, Hồ Chí Minh hết sức quantâm kế thừa, nâng cao và hiện thực hóa những giá trị của nó vào thực tiễn

"trồng ngời" ở nớc ta Trong t tởng phát triển con ngời toàn diện của mình,khi đề cập đến phơng pháp giáo dục, đào tạo Hồ Chí Minh luôn luôn nhấnmạnh đến phơng pháp này với tinh thần:Kết hợp học với hành, lý luận phải gắn với thực tế, học tập kết hợp với lao

động sản xuất Hồ Chí Minh viết: "Lý luận cốt để áp dụng vào thực tế Chỉhọc thuộc lòng để đem lòe thiên hạ thì lý luận ấy cũng vô ích Vì vậy,chúng ta cần phải cố gắng học, đồng thời học thì phải hành" [85, tr 263];

"lao động trí óc mà không biết lao động chân tay, chỉ biết lý luận mà khôngbiết thực hành thì cũng là tri thức một nửa… Họ Trong lúc học tập lý luận cũngphải kết hợp với thực hành và tất cả… Họ đều phải: lý luận kết hợp với thựchành, học tập kết hợp với lao động sản xuất" [89, tr 174]; theo Hồ ChíMinh, nếu thực hiện tốt phơng pháp kết hợp chặt chẽ giữa "tri và hành";giữa nhận thức với hoạt động thực tiễn, làm cho mọi ngời biết lấy việc phục

Trang 34

vụ sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc làm mục đích tối cao cho việchọc tập, nâng cao trình độ mọi mặt của mình thì sẽ là biện pháp hữu hiệuthúc đẩy sự ra đời phát triển của con ngời toàn diện ở nớc ta.

Động viên tinh thần hiếu học, cần học là phơng pháp mà cha ông ta

a dùng Trải qua chiều dài lịch sử, nó đã tỏ rõ giá trị to lớn trong việc thúc

đẩy con ngời tự giác vơn lên về mọi mặt để hoàn thiện và nâng cao phẩmchất, năng lực bản thân, góp phần tạo ra những thế hệ ngời có những đónggóp tích cực cho sự trờng tồn và phát triển không ngừng của dân tộc ViệtNam

Nếu nh trớc đây, cha ông ta có những hình thức động viên có kếtquả tinh thần ham học cho con ngời nh: nêu danh, yết bảng các sĩ tử thi đỗ;khắc tên vào bảng vàng, bia đá; tổ chức lễ vinh quy bái tổ một cách trịnhtrọng; ban thởng yến tiệc, mũ áo, ruộng đất, tớc lộc thì sinh thời Hồ ChíMinh, căn cứ vào điều kiện cụ thể của đất nớc lúc này cũng có những hìnhthức khen thởng xứng đáng những ngời chăm học, học giỏi: tặng giấy khen,bằng khen; danh hiệu học sinh giỏi, danh hiệu cháu ngoan Bác Hồ, ngời tốtviệc tốt; gửi ra nớc ngoài tiếp tục đào tạo; u tiên tuyển chọn vào biên chế;nâng lơng trớc thời hạn; đề bạt vào những cơng vị lãnh đạo phù hợp

Những biện pháp cụ thể, thiết thực đó đã góp phần to lớn cổ vũ tinhthần học tập của đông đảo các tầng lớp nhân dân, nhất là thể hệ trẻ, hìnhthành nên những phong trào thi đua sôi nổi trong ngành giáo dục nh "dạytốt, học tốt"; "tiếng trống Bắc Lý";những tấm gơng tiêu biểu về tinh thần v-

ợt mọi khó khăn để học tập nh Nguyễn Ngọc Ký, Hoa Xuân Tứ… Họ, những

đội tuyển học sinh giỏi Nga Văn, Toán, Vật lý giành đợc những giải caotrong các kỳ thi quốc tế đã làm rạng rỡ dân tộc Việt Nam Điều này đáp ứng

đợc một phần mong ớc thiết tha của Hồ Chí Minh trong bức th Ngời gửi các

em học sinh nhân ngày khai trờng đầu tiên của nớc Việt Nam dân chủ cộnghòa (9/1945) "Non sông Việt Nam có đợc vẻ vang hay không, dân tộc Việt

Trang 35

Nam có bớc tới đài vinh quang sánh vai với các cờng quốc năm châu đợchay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu" [84, tr.32].

1.2 T tởng phát triển con ngời toàn diện của chủ nghĩa Mác - Lênin - tiền đề lý luận cơ bản cho sự hình thành t tởng

Hồ Chí Minh về phát triển con ngời toàn diện

Con ngời phát triển toàn diện là ớc mơ cháy bỏng của nhân loại từkhi họ ý thức đợc vai trò chủ thể của mình trong quan hệ với tự nhiên, nhằmnhân sức mạnh của con ngời lên một tầm cao mới, phục vụ có hiệu quả hơncho công cuộc khai thác, chế ngự, làm giàu, làm đẹp tự nhiên

Do trình độ phát triển của xã hội, của lực lợng sản xuất, do điềukiện kinh tế, chính trị ở mỗi thời kỳ rất khác nhau, nên nội hàm và ngoạidiên của khái niệm con ngời phát triển toàn diện cũng khác nhau Xu hớngchung là: Nội hàm của khái niệm con ngời phát triển toàn diện ngày càngphong phú hơn với nhiều chất mới, phù hợp yêu cầu đặt ra của thực tiễn xãhội cũng nh những tri thức về đức, trí, thể, mỹ mà loài ngời đã tích lũy đợctrong quá trình nhận thức và cải tạo thế giới, phát triển bản thân Xã hội pháttriển càng cao thì khái niệm con ngời toàn diện càng đợc mở rộng và bổ sung

đầy đủ hơn Nhiều mặt, nhiều khía cạnh ở giai đoạn trớc cha có (hoặc cha đợc

đặt ra) thì ở giai đoạn sau đã xuất hiện nh là những thành tố không thể thiếu

đợc trong chỉnh thể của sự phát triển con ngời, giúp con ngời phát triển mộtcách hài hòa, cân đối và toàn diện hơn

Tuy nhiên, khảo sát và nghiên cứu vấn đề con ngời phát triển toàndiện trong lịch sử nhân loại, cho phép chúng ta hiểu sâu hơn những căn cứcũng nh tính nhân văn cao cả của quan điểm "Phát triển con ngời toàn diện

" mà các kinh điển của chủ nghĩa Mác đã nêu lên

Trang 36

Thực tế cho thấy, trong xã hội có đối kháng giai cấp, có áp bức bóclột, về mặt lý luận việc đào tạo những con ngời phát triển mọi mặt đã đợcnêu ra nh là một yếu tố không thể thiếu đợc cho sự phát triển của xã hội,cho việc duy trì ách thống trị của giai cấp bóc lột cũng nh là mục tiêu tựthân trong quá trình phát triển tự nhiên của con ngời Song, do điều kiệnphân công lao động ngày càng ngặt nghèo; do mục đích khai thác triệt đểsức lực của ngời lao động nhằm thu lợi nhuận tối đa của giai cấp bóc lột,

đặc biệt là trong xã hội t bản chủ nghĩa, cho nên con ngời đã bị "tha hóa"

đến cùng cực, quá trình phát triển của con ngời- do bị chế ớc bởi điều kiệncủa lao động bóc lột - bị "phiến diện hóa" hết sức sâu sắc Điều này dẫn đếnnhững hậu quả nặng nề cho xã hội và cho sự phát triển lành mạnh của mỗicon ngời, nhất là đối với giai cấp cần lao Mẫu ngời phát triển toàn diện đợc

đặt ra, không phải cho mọi thành viên xã hội nói chung mà chỉ giành chomột thiểu số ngời lắm tiền, nhiều của Cái phi nhân văn trong sự phát triểncon ngời dới chế độ áp bức bóc lột là ở chỗ, sự phát triển tự do và toàn diệncủa ngời này nhằm tớc đoạt sự phát triển tự do và toàn diện của của ngờikhác, buộc những ngời khác trở thành nô lệ về mọi mặt cho một cá nhânhay một thiểu số bóc lột

Sự vận động và phát triển của xã hội cũng nh khả năng tự vơn lên đểhoàn thiện, nâng cao phẩm chất, năng lực của bản thân con ngời là khôngcùng Những gì phản tiến bộ, phản nhân văn trong quá trình phát triển conngời sẽ bị lịch sử đào thải, những gì tích cực, tiến bộ sẽ đợc nhân loại ghinhận và kế thừa, nhằm góp phần khắc phục những thiếu sót, sai lầm và hạnchế của lý luận về phát triển con ngời toàn diện đã xuất hiện trong các xãhội có đối kháng giai cấp - những xã hội chà đạp thô bạo nhân phẩm conngời, làm thui chột khả năng phát triển mọi mặt của con ngời, coi con ngờichỉ là những "công cụ biết nói", những "chiếc đinh ốc" là "bộ phận của dâychuyền sản xuất" mà thôi

Trang 37

Giới hạn lịch sử mặt về lý luận và thực tiễn của vấn đề phát triểncon ngời toàn diện trong các xã hội có áp bức bóc lột đã đợc khắc phục bởi

sự xuất hiện chủ nghĩa Mác - Lênin Với t cách là học thuyết về giải phóng

và phát triển con ngời, chủ nghĩa Mác - Lênin đã đa ra những quan điểm hếtsức đúng đắn để phát triển con ngời một cách toàn diện, hài hòa, cân đối,nhằm đa con ngời "từ vơng quốc tất yếu sang vơng quốc tự do"

Trớc hết, các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác đã chỉ ra đợc bản chấtxã hội của con ngời Đó là phát hiện mang tính chất lịch sử và có ý nghĩa

đột phá để có thể nhận thức đúng đắn về con ngời Hơn nữa, nó cũng chỉ raquy luật hình thành, phát triển nhân cách của con ngời và đây cũng là tiêuchí căn bản để phân biệt con ngời với các động vật khác

Trong Luận cơng về Phoi-ơ-bắc, Mác đã nêu lên luận điểm nổi tiếng:

"Bản chất con ngời không phải là cái gì trừu tợng vốn có của nó Trong tínhhiện thực, bản chất con ngời là tổng hòa các quan hệ xã hội" [74, tr 11] Việcnhận thức đúng đắn bản chất của con ngời là điều kiện hết sức quan trọng

để chủ nghĩa Mác - Lênin đề ra lý luận và phơng pháp khoa học nhằm pháttriển con ngời một cách toàn diện, mang lại cho con ngời những năng lựcmới để con ngời thực sự trở thành ngời chủ chân chính trong mọi quá trìnhphát triển xã hội

Theo Mác, việc hình thành bản chất con ngời bao giờ cũng thôngqua quá trình xã hội hóa, tiếp thu kinh nghiệm văn hóa vật chất và tinh thầncủa loài ngời, thông qua giao tiếp, giáo dục, đào tạo, lao động mà hình thành

Lịch sử loài ngời đã trải qua các hình thái kinh tế xã hội khác nhau

mà mỗi hình thái đều có những mối quan hệ đặc trng chi phối nhận thức vàhành động của con ngời Con ngời vừa cất tiếng chào đời là đã phải gianhập ngay vào những mối quan hệ xã hội đó một cách trực tiếp hoặc giántiếp Mỗi ngời dù muốn hay không cũng sẽ trở thành "cái giá mang nhữngmối quan hệ đó" Các quan hệ xã hội đã tạo thành hoàn cảnh sống của con

Trang 38

ngời, tác động sâu sắc đến quá trình phát triển bản thân mỗi một con ngờicũng nh của cả cộng đồng Chủ nghĩa duy vật lịch sử đã chỉ ra rằng, tồn tạixã hội quyết định ý thức xã hội, tồn tại cá nhân quyết định ý thức cá nhân.

Điều này có nghĩa là thừa nhận hoàn cảnh, điều kiện sống là nguồn gốc trựctiếp của t tởng, của tri thức, kinh nghiệm và tâm lý con ngời, là động cơ hoạt

động của con ngời Bởi thế, nếu không xuất phát từ hệ thống những quan hệxã hội nhất định thì không hiểu đợc bản chất của con ngời ở một thời đại,một giai cấp, một dân tộc Hơn nữa, thông qua việc nghiên cứu và nắm bắtbản chất cá nhân của một xã hội, ngời ta có thể hiểu đợc bản chất củanhững mối quan hệ xã hội đang giữ vai trò chủ đạo

Vì vậy, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, nhận thức đúng

đắn bản chất của con ngời là điều kiện hết sức quan trọng để đề ra lý luận

và phơng pháp khoa học nhằm phát triển con ngời một cách toàn diện,mang lại cho con ngời những phẩm chất, năng lực mới để con ngời làm chủngày càng tốt hơn các quá trình phát triển xã hội

Một điều cần lu ý là, trong khi nhấn mạnh mặt xã hội của con ngời,các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác không hề phủ nhận hoặc xem nhẹ mặt tựnhiên, mặt sinh vật của con ngời Các ông khẳng định, vấn đề con ngời chỉ

đợc giải đáp một cách đầy đủ, đúng đắn nhất khi chúng ta xuất phát từ quanniệm về sự thống nhất biện chứng giữa hai nhân tố tự nhiên và xã hội trongcon ngời để hình thành nên một thực thể sinh vật - xã hội mang tính chấtvẹn toàn, trong đó xã hội là cái qui định, chi phối cái sinh vật, còn cái sinhvật là tiền đề, điều kiện cho sự phát triển của xã hội

Thực tiễn cho thấy, con ngời không thể xuất hiện nếu không có mặtsinh vật Xét theo thời gian, cái sinh vật là cái có trớc để hình thành nên cáixã hội Mác viết: ''Cũng nh sự tồn tại của con ngời là kết quả của một quátrình trớc đó mà cuộc sống hữu cơ đã đi qua - chỉ đến một giai đoạn nào đócủa quá trình này, con ngời mới trở thành ngời" [80, tr 690] Bởi vậy, nó là

Trang 39

điều kiện, tiền đề cần thiết và rất quan trọng cho sự hình thành và phát triểncái xã hội Mặt sinh vật trong con ngời là những quá trình và quy luật sinh

lý xảy ra giống nh ở một số sinh vật có tổ chức cơ thể tiến hóa cao Chẳnghạn, quy luật trao đổi chất, quy luật biến dị - di truyền Quá trình tồn tại vàphát triển của nhân loại đã chứng minh: Những ngời bị rối loạn cơ chế ditruyền hay hệ thần kinh bị tổn thơng - tức là phát triển không bình thờng vềmặt sinh vật - sẽ không phát triển bình thờng về mặt xã hội Do đó, theoMác để con ngời phát triển một cách toàn diện, hài hòa cân đối không thểxem nhẹ mặt thể lực, sức khỏe của con ngời

Sự xuất hiện của triết học Mác- Lênin đã làm sáng tỏ vấn đề trênmột cách khoa học Lần đầu tiên trong lịch sử t tởng nhân loại, mối quan hệgiữa cái sinh vật và cái xã hội đã đợc các nhà duy vật biện chứng giải quyếtmột cách thấu đáo, đúng đắn, trong đó các ông khẳng định: Cái xã hội đóngvai trò quyết định thể hiện ở chỗ, một mặt, nó hạn chế cái sinh vật, "lọc bỏ"dần cái sinh vật, làm cho cái sinh vật có tính xã hội, không còn là cái sinhvật thuần túy; mặt khác, nó tạo ra một không gian rộng lớn làm cho cái sinhvật phát triển hơn, theo hớng nhân văn

Có thể nói, những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về bảnchất xã hội của con ngời, về mối quan hệ biện chứng giữa cái sinh vật và cáixã hội trong con ngời đã bác bỏ hoàn toàn những nhận định của các nhà t t-ởng thù nghịch với chủ nghĩa Mác - Lênin rằng, chủ nghĩa Mác không chú

ý đến tính tự nhiên của con ngời, đồng thời đặt cơ cở khoa học mới cho việc

đào tạo và phát triển con ngời một cách toàn diện, hài hòa, cân đối, để conngời có đủ năng lực làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội, làm chủ quá trìnhphát triển của mỗi cá nhân, trên cơ sở đó thúc đẩy cả cộng đồng cùng pháttriển

Sự phát triển đầy đủ, toàn diện các phẩm chất, năng lực của con

ng-ời là mong muốn đã xuất hiện từ rất sớm trong tâm thức và t tởng nhân loại

Trang 40

Nhng do điều kiện thấp kém về trình độ phát triển của xã hội, của lực lợngsản xuất và nhất là do sống trong chế độ áp bức, bóc lột của giai cấp chủ nô,giai cấp địa chủ phong kiến và giai cấp T sản nên khát vọng đó của con ng-

ời đã không thực hiện đợc Cùng với sự ra đời của chủ nghĩa Mác - Lênin,mô hình về xã hội tơng lai xã hội, xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩagiàu tính nhân văn cũng xuất hiện Điều này đã đợc Mác và Ăngghen xác

định một cách rõ ràng trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản: "Thay cho xã

hội T bản cũ, với những giai cấp và đối kháng giai cấp của nó, xuất hiệnmột liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi ngời là điều kiện cho sựphát triển tự do của tất cả mọi ngời" [76, tr 569]

Đó là bản chất tốt đẹp, là mục đích cao cả của xã hội mới, biểu hiệntính vợt trội về mặt nhân văn của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủnghĩa trong tiến trình phát triển của nhân loại

Trên cơ sở phân tích quy luật phát triển của xã hội mới, Mác đãvạch ra tính tất yếu của xã hội tơng lai - xã hội xã hội chủ nghĩa và cộngsản chủ nghĩa - là phải hình thành nên những con ngời phát triển toàn diện

và ông coi đó là nấc thang tất yếu, là kết quả hiển nhiên của sự nghiệp giảiphóng và phát triển con ngời do giai cấp công nhân khởi xớng và lãnh đạo

Sự nghiệp cao cả này, nhằm khắc phục triệt để tình trạng phát triển quèquặt, phiến diện của con ngời do chịu tác động của tha hóa lao động trongchủ nghĩa t bản "Quy luật" phi nhân tính này đã chà đạp thô bạo nhân cáchcon ngời thể hiện ở chỗ sự thống trị tuyệt đối của lao động vật hóa đối vớilao động sống; ở sự gạt bỏ ngời sản xuất trực tiếp ra khỏi việc kiểm soát các

điều kiện, t liệu và sản phẩm của ngời lao động; ở chỗ kết quả lao động củacon ngời biến thành một lực lợng độc lập thống trị lại con ngời và thù địchvới con ngời

Phân tích toàn diện bản chất và nội dung của xã hội t bản chủ nghĩa,Mác đã chỉ ra hàng loạt những tác hại của quy luật tha hóa lao động đối với

Ngày đăng: 19/02/2014, 14:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Ngọc Anh (1995), "Nguồn lực con ngời trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa", Nghiên cứu lý luận, (2), tr. 13-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn lực con ngời trong quá trình côngnghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Phạm Ngọc Anh
Năm: 1995
2. Bác Hồ với quê hơng Nghệ Tĩnh (1990), (Kỷ yếu hội thảo khoa học), Nxb Nghệ Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bác Hồ với quê hơng Nghệ Tĩnh
Tác giả: Bác Hồ với quê hơng Nghệ Tĩnh
Nhà XB: NxbNghệ Tĩnh
Năm: 1990
3. Hoàng Chí Bảo (1995), "Xác định hệ quan niệm và hệ thống t tởng Hồ Chí Minh", Báo chí và tuyên truyền, (3), tr. 10-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định hệ quan niệm và hệ thống t tởng HồChí Minh
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 1995
4. Hoàng Chí Bảo (1995), "Hồ Chí Minh, biểu tợng văn hóa làm ngời", Nghiên cứu lý luận, (5), tr. 25-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh, biểu tợng văn hóa làm ngời
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 1995
5. Nguyễn Trọng Bảo (chủ biên) (1998), Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý kinh doanh trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạovà cán bộ quản lý kinh doanh trong thời kỳ công nghiệp hóa,hiện đại hóa
Tác giả: Nguyễn Trọng Bảo (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
6. Vũ Đình Bách (1998), Các giải pháp thúc đẩy tăng trởng kinh tế ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp thúc đẩy tăng trởng kinh tế ở ViệtNam
Tác giả: Vũ Đình Bách
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
7. Ban t tởng văn hóa Trung ơng (2000), Tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu các văn kiện (dự thảo) trình đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tham khảo phục vụnghiên cứu các văn kiện (dự thảo) trình đại hội toàn quốc lầnthứ IX của Đảng
Tác giả: Ban t tởng văn hóa Trung ơng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
8. Ban t tởng văn hóa Trung ơng (2000), Tài liệu hỏi đáp về các văn kiện (dự thảo) trình Đại hội IX của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hỏi đáp về các văn kiện(dự thảo) trình Đại hội IX của Đảng
Tác giả: Ban t tởng văn hóa Trung ơng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
9. Phan Huy Chú (1992), Lịch triều hiến chơng loại chí, Nxb Khoa học xãhội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chơng loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nxb Khoa học xãhội
Năm: 1992
10.Nguyễn Trọng Chuẩn (chủ biên) (1991), Về sự phát triển của xã hội ta hiện nay, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về sự phát triển của xã hội tahiện nay
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1991
11.Nguyễn Trọng Chuẩn (1990), "Nguồn nhân lực trong chiến lợc phát triển kinh tế xã hội", Triết học, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn nhân lực trong chiến lợc pháttriển kinh tế xã hội
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 1990
12.Nguyễn Trọng Chuẩn (1996), "Vai trò động lực của dân chủ đối với sự hoạt động và sáng tạo của con ngời", Triết học, (5), tr. 3-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò động lực của dân chủ đối với sựhoạt động và sáng tạo của con ngời
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 1996
13.Cù Huy Chử (1996), T tởng Hồ Chí Minh về văn học và mỹ học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: T tởng Hồ Chí Minh về văn học và mỹ học
Tác giả: Cù Huy Chử
Nhà XB: NxbChính trị quốc gia
Năm: 1996
14.Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn (1995), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn
Tác giả: Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1995
15.Vũ Đình Cự (1996), Khoa học và công nghệ là lực lợng sản xuất hàngđầu, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học và công nghệ là lực lợng sản xuất hàng"đầu
Tác giả: Vũ Đình Cự
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
16.Phạm Nh Cơng (1990), "Chủ tịch Hồ Chí Minh nhà cách mạng, nhà văn hóa lớn", Triết học, (1), tr. 3-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ tịch Hồ Chí Minh nhà cách mạng, nhà vănhóa lớn
Tác giả: Phạm Nh Cơng
Năm: 1990
17.Phạm Nh Cơng (1998), Vấn đề xây dựng con ngời mới, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề xây dựng con ngời mới
Tác giả: Phạm Nh Cơng
Nhà XB: Nxb Khoa họcxã hội
Năm: 1998
18.Nguyễn Hữu Dũng - Trần Hữu Trung (1997), Về chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chính sách giải quyếtviệc làm ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hữu Dũng - Trần Hữu Trung
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
19.Phan Hữu Dật (chủ biên) (1994), Phơng sách dùng ngời của cha ông ta trong lịch sử, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phơng sách dùng ngời của cha ông tatrong lịch sử
Tác giả: Phan Hữu Dật (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994
20.Thành Duy (1990), Chủ tịch Hồ Chí Minh - Nhà t tởng, danh nhân văn hóa thế giới, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ tịch Hồ Chí Minh - Nhà t tởng, danh nhân vănhóa thế giới
Tác giả: Thành Duy
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1990

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w