1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

thi pháp nhân vật và thi pháp ngôn ngữ trong văn học trung đại

11 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 19,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tìm hiểu về Thi pháp nhân vật; tìm dẫn chứng minh họa ? Tìm hiểu về Thi pháp ngôn ngữ văn học; tìm dẫn chứng minh họa ? Bài làm CÂU 1 Tìm hiểu về Thi pháp nhân vật; tìm dẫn chứng minh họa? GIAI ĐOẠN THẾ KỶ XV XVII Nhìn chung thì giai đoạn này đã xây dựng hình tượng nhân vật theo phương pháp truyền thống chia nhân vật thành 2 tuyến (Nhân vật ác và nhân vật thiện) VD Truyền kì mạn lục – Nguyễn Dư Xây dựng nhân vật theo loại vẫn còn chi phối tác giả Nhân vật chia thành hai.

Trang 1

CHUYÊN ĐỀ VĂN HỌC Nhóm 2:

- Tìm hiểu về Thi pháp nhân vật; tìm dẫn chứng minh họa ?

- Tìm hiểu về Thi pháp ngôn ngữ văn học; tìm dẫn chứng minh họa ?

Bài làm CÂU 1: Tìm hiểu về Thi pháp nhân vật; tìm dẫn chứng minh họa?

GIAI ĐOẠN: THẾ KỶ XV - XVII

Nhìn chung thì giai đoạn này đã xây dựng hình tượng nhân vật theo phương pháp truyền thống : chia nhân vật thành 2 tuyến (Nhân vật ác và nhân vật thiện)

VD: Truyền kì mạn lục – Nguyễn Dư.

Xây dựng nhân vật theo loại vẫn còn chi phối tác giả Nhân vật chia thành hai loại THIỆN và ÁC Nhưng truyện đã đạt được hai thành công lớn: Nhân vật có

tính cách riêng; có bóng dáng con người cảm nghĩ bên cạnh con người hành động.

Tính cách của Ngô Tử Văn (Truyện chức phán sự đền Tản Viên) là khẳng khái, cương trực, không chỉ thể hiện qua lời dẫn chuyện của tác giả mà còn thể hiện qua ngôn ngữ và hành động của nhân vật: “Chàng vốn khẳng khái, nóng nảy, thấy sự gian tà thì không thể chịu được, vùng Bắc vẫn khen là một người cương trực…” Tính cách của Nhị Khanh (Truyện người nghĩa phụ Khoái Châu) là quy chung, tiết nghĩa, giàu tình yêu thương, qua các biến cố, sự kiện, càng ngày càng rõ nét Ít nhất có bốn biến cố, sự kiện làm nổi bật lên tính cách của Nhi Khanh: khuyên chồng đi theo cha để phụng dưỡng thân phụ lúc tuổi già: ở nhà bị ép gả cho tướng quân họ Bạch đã kiên quyết từ chối:Trọng Quỳ thua bạc, nàng quyên sinh chứ không chịu rơi vào tay Đỗ Tam; hiển linh báo mộng cho chồng: nuôi con khôn lớn

để sau này hai con đi theo cuộc khởi nghĩa Lam Sơn

Ở Truyền kì mạn lục bước đầu đã xuất hiện bóng dáng "con người cảm nghĩ" Khi diễn tả tâm trạng nhân vật, tác giả thường dùng thơ để "ngụ tình" Qua những vần thơ, các nhân vật gửi gắm, bộc lộ những cảm xúc, suy tự thầm kín trong lòng Đây

là hình thức đơn giản của nghệ thuật miêu tả nội tâm Tuy nhiên cũng có lúc nhà văn trực tiếp miêu tả "con người cảm nghĩ" Cốt truyện của Từ Thức lấy vợ tiên là cốt truyện dân gian nhưng khi xây dựng nhân vật Từ Thức, tác giả đã đi xa hơn văn học dân gian để thể hiện "con người cảm nghĩ" của nhân vật Nỗi lòng nhớ nhà, nhớ quê hương của Từ được khắc hoạ qua đoạn văn trực tiếp miêu tả nội tâm: "Từ khi chàng bỏ nhà đi thấm thoắt đã được một năm, ao sen đã đổi thay màu biếc

Trang 2

Những đêm sương sa gió thổi, bóng trăng sáng nhòm qua cửa sổ, tiếng thuỷ triều nghe vẳng đầu giường, đối cảnh chạnh lòng, một mối buồn bâng khuâng quấy nhiễu khiến không sao ngủ được " Miêu tả "con người cảm nghĩ" bên cạnh "con người hành động" là một bước phát triển của nghệ thuật xây dựng nhân vật Truyền

kì mạn lục là bước khởi đầu của sự phát triển đó

GIAI ĐOẠN: THẾ KỶ XVIII - NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX

Văn học thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX đã đạt được những thành, to lớn trong việc xây dựng nhân vật Nhắc đến văn học giai đoạn này, ngoài việc nhớ đến tên tuổi các nhà thơ, nhà văn nổi tiếng với những tác phẩm, hủ, người ta còn nhớ đến các nhân vật trong các tác phẩm của họ Thế giới của những nhân vật đó rất phong phú và sinh động Đó là người chinh phụ, với nỗi khát khao ngày đêm được sum họp với người chồng biệt tăm nơi chiến trận; là người cung nữ với nỗi cô đơn đấy bức bối và sự vô vọng trong khát vọng hạnh phúc gia đình; Mỗi nhân vật một tính cách, đại diện cho những loại người khác nhau trong xã hội Các nhân vật đều sống trong những hoàn cảnh, môi trường "nghiêm ngặt" mà qua đó tính cách và bản chất của họ được lột tả một cách sâu sắc

Nhìn chung thì giai đoạn này đã xây dựng hình tượng nhân vật theo phương pháp truyền thống : chia nhân vật thành 2 tuyến chính diện và phản diện

+ Nhân vật chính diện được miêu tả theo lối lý tưởng hóa , bằng phương pháp ước lệ tượng trưng

Văn chương của thời tao nhân mặc khách, nên có khuynh hướng lý tưởng hóa, “văn chương hóa”, Các nhà văn thời ấy muốn tạo ra một thế giới nghệ thuật riêng khác với thế giới đời thường Cho nên, thế giới nghệ thuật của các trang văn thời này luôn được các nhà văn cách điệu hóa cao độ Hình tượng nghệ thuật càng cách điệu hóa càng đẹp

Quan niệm này đã làm nấy sinh thái độ xem thường văn xuôi, trong thơ ca Trong cái nhìn của các nhà văn và độc giả văn học thời phong kiến, văn xuôi gần với đời sống thực tại, ít được cách điệu hóa; thơ mới là thứ ngôn ngữ giàu tính cách điệu Con người trong văn chương phải đẹp một cách lý tưởng: tóc mây, mày liễu, mặt hoa, tay tiên, gót sen, vóc hạc, Cử chỉ, đi đứng, ăn nói tựa như đang sống trong thế giới của nghệ thuật sân khấu:

Hài văn lần bước dặm xanh

Một vùng như thể cây quỳnh cành dao

Chàng Vương quen mặt ra chào

Hai Kiều e lệ nép vào dưới hoa

(Nguyễn Du)

Trang 3

+ Còn nhân vật phản diện lại được khắc họa theo lối tả thực

Nhưng nhìn chung, văn chương thời ấy không chú ý tả thực Tả thực nếu có, chỉ dùng cho những nhân vật phản diện phàm tục như Mã giám sinh, Sở Khanh, Tú bà; Bùi Kiệm, Trịnh Hâm:

Thoắt trông nhờn nhợt màu da

Ăn chi cao lớn đẫy đà lám sao ?

(Nguyễn Du)

Con người Bùi Kiệm máu dê

Ngồi thề lê mặt như sề thịt trâu !

(Nguyễn Đình Chiểu)

Ngoài ra luôn có các nhân vật giai nhân tài tử, trai anh hùng gặp gái thuyền quyên Gái đẹp luôn được miêu tả: mặt hoa da phấn, “làn thu thủy nét xuân sơn”, lưng ong, gót sen; anh hùng thì râu hùm hàm én; đấng trượng phu, bậc quân tử được ví như cây tùng, cây bách nơi chốn lâm tuyền, sẽ làm rường cột cho quốc gia,

Khắc hoạ tâm trạng, miêu tả nội tâm nhân vật:

Nhưng Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong văn học giai đoạn này nổi bật

bởi tài năng khắc hoạ tâm trạng, miêu tả nội tâm nhân vật Đây cũng chính là

thành tựu đặc sắc nhất của Chinh phụ ngâm khúc Ngâm khúc là thể loại diễn tả tâm trạng, lần đầu tiên trong lịch sử văn học dân tộc xuất hiện những tác phẩm diễn

tả tâm trạng cá nhân sinh động và sâu sắc như vậy Trong các khúc ngâm chỉ có một nhân vật trữ tình và tâm trạng buồn thương nuối tiếc của nhân vật đó Chính kết cấu độc đáo của các khúc ngâm – kiểu kết cấu tâm lý lan toả, trùng điệp, kiểu kết cấu dòng ý thức, chỉ có sự bồi đắp mà không có sự phát triển, đối xứng hai phía quá khứ – tương lai qua trục hiện tại và nhạc điệu buồn da diết của thể thơ song thất lục bát đã góp phần to lớn vào việc miêu tả thành công tâm lý các nhân vật Đây là các nhân vật tâm lý mà tâm trạng sinh động với nhiều trạng thái buồn vui của họ mang tính điển hình cao

VD:

- Những thành công xuất chúng trong việc miêu tả đời sống nội tâm nhân vật phải

kể đến Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du

Nguyễn Du là một trong vài nghệ sĩ bậc thầy trên thế giới về nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật Trong đó nổi bật là việc miêu tả nội tâm nhân vật qua lời tự thoại

và qua việc "tả cảnh ngụ tình" Tiêu biểu phải kể đến đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích

Trang 4

và đoạn Kiều ở lầu xanh lần thứ nhất Miêu tả thế giới nội tâm nhân vật qua "tả cảnh ngụ tình” cũng là thủ pháp nghệ thuật cơ bản của các khúc ngâm khi khắc hoạ tâm trạng nhân vật Đây rõ ràng là một thủ pháp nghệ thuật điển hình của văn học giai đoạn này

� Con người hiện lên với thế giới nội tâm, với những tình cảm phong phú, phức tạp và sâu sắc của mình Các nhà văn, nhà thơ đã cho thấy nỗi dau tinh thần, sự giằng xé trong nội tâm con người còn đớn đau, vật vã và dai dẳng hơn nhiều so với nỗi đau thể xác Cuộc đấu tranh trong tâm hồn con người còn dữ dội hơn cả những

gì mà họ thể hiện ra bên ngoài Miêu tả đời sống nội tâm nhân vật là một trong những thành tựu nghệ thuật hết sức đặc sắc của văn học thế kỷ XVIII – nửa đầu thế

kỷ XIX

Xây dựng được những nhân vật trung gian:

Văn học thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX là giai đoạn đầu tiên trong lịch sử văn học dân tộc đã xây dựng được những nhân vật trung gian, thoát ra khỏi sự sảo mòn của hệ thống các nhân vật đối lập thiện ác theo kiểu tư duy truyền thống Đó là các nhân vật trong Đoạn trường tân thanh như Thúc Sinh hay phần nào đó là Hoạn Thư, những nhân vật vừa có mặt xấu vừa có mặt tốt Thúc Sinh có những tật xấu của một người đàn ông ham chơi, ươn hèn nhưng lại là người yêu thương, thuỷ chung với Kiều thật sự Thứ tình yêu chắp vá của chàng giống như ốc đảo giữa sa mạc đời Kiều, khiến nàng suốt đời vẫn phải mang ơn sâu nặng Còn Hoạn Thư nanh độc, ghen tuông hết mực sau khi hiểu được thân phận chìm nổi của người con gái vừa trắng trong vừa tài hoa như Kiều đã có phần cảm thông và nhẹ tay với nàng Đó cũng là điều khác biệt rất lớn giữa các nhân vật của Nguyễn Du với nhân vật của Thanh Tâm Tài Nhân

Đây là giai đoạn văn học đã xây dựng thành công nhiều tính cách điển hình Nhiều nhân vật trong các tác phẩm đã trở thành nhân vật của đời sống xã hội, những đặc điểm trong tính cách của họ được dùng để chỉ tính cách của một loại người nhất định

Câu 2: Tìm hiểu thi pháp ngôn ngữ văn học.

Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học, là hình thức biểu hiện của văn học Ngôn ngữ văn học trung đại Việt Nam thuộc phạm trù trung đại, mang những đặc trưng riêng của nó, phân biệt với ngôn ngữ hiện đại Ngôn ngữ văn học trung đại có những đặc trưng đáng chú ý sau:

1 Tính song ngữ với những yếu tố ngôn ngữ Hán cà yếu tố ngôn ngữ Nôm:

Trang 5

- Ngôn ngữ của VHTĐ có tính chất song ngữ với sự kết hợp hài hòa của yếu tố hán

và yếu tố Nôm

Yếu tố ngôn ngữ Hán:

Được thể hiện thông qua cách dùng những điển tích, điển cố và thi liệu Hán học Những yếu tố ngôn ngữ Hán được sử dụng trong VHTĐ với những trường hợp sau:

- Thể hiện những gì nghiêng về cái cao cả, tao nhã:

VD: Chẳng hạn trong lời của Thúy Kiều khi nói với Thúc Sinh tác giả sủ dụng

những yếu tố ngôn ngữ Hán vì Thúc Sinh là một chàng trai thư sinh cũng có học thức, đồng thời sử dụng ngôn ngữ Hán tạo tính trang nhã:

Sâm thương chẳng vẹn chữ tòng Tại ai lại chẳng phụ lòng cố nhân

- Khi cần thhể hiện tính chất hàm súc, cô đọng tác giả hay sử dụng những điển cố điển tích, thi liệu Hán Học:

VD: Kết thúc bài Thu vịnh – Nguyễn Khuyến hạ bút với một điển cố:

Nhân hứng cũng vừa toan cất bút

Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.

� Sử dụng điển cố ông Đào ( tức Đào Tiềm, biểu tự Nguyên Lượng, hiệu Uyên

Minh, lại có biệt hiệu là Ngũ liễu tiên sinh, là một trong những nhà thơ lớn của Trung Quốc thời nhà Tấn và Lưu Tống) thể hiện nỗi thẹn về nhân cách, về tài năng của Nguyễn Khuyến so với Đào Tiềm � Cái thẹn này làm cho con ngườu trở lên lớn lao, cao cả hơn

Yếu tố ngôn ngữ Nôm:

Được thể hiện thông qua cách sử dụng ngôn ngữ đời sống, thi liệu văn học dân gian Yếu tố ngôn ngữ Nôm được sử dụng trong VhTĐ với những trường hợp sau:

- Thể hiện những gì nghiêng về sự bình dị, mộc mạc đơn sơ:

VD: Chẳng hạn khi tái hiện lại một cuộc sống của một lão nông tri điền, Nguyễn

Trãi viết:

Ao cạn, vớt bèo cấy muống

Trang 6

Đìa thanh, phát cỏ ương sen.

(Thuật hứng -bài 24)

- Thể hiện những gì nghiêng về sắc thái cụ thể, sinh động Điều này được bộc lộ rõ khi tác giả sử dụng các từ láy (láy âm, láy vần, )

VD:

Hương cách, gác vân thu lạnh lạnh Thuyền kề bãi tuyết nguyệt chênh chênh.

(Bảo kính cảnh giời -bài 31)

� Ở hai câu thơ trên, có những ngôn ngữ Hán như: Hương cách, gác vân, nguyệt rất dễ khiến câu thơ rơi vào công thức ước lệ Những nhờ có hai yêu tố ngôn ngữ Nôm là hai từ láy: Lạnh lạnh; Chênh chênh Khiến câu thơ bình dị, cảnh hiện lên chân thực, củ thể, đầy sinh động chứ không còn tính chất ước lệ nữa

- Yếu tố ngôn ngữ Nôm còn được sử dụng trong những trường hợp thể hiện sự gần gữi, thân mật, đậm đà tính dân tộc:

VD:

Trong thơ Nguyễn Trãi – Tập thơ “ Quốc Âm thi tập” có nhiều từ chỉ quan hệ họ hàng, thân tộc Đặc biệt Nguyễn Trãi không sử dụng nhiều từ Hán – Việt, ông sử dụng nhiều từ thuần Việt Điều này tạo nên sự gần gữi, chân thành, đậm tính ruột thịt

Nuôi con mới biết lòng cha mẹ

Thấy loạn thì hay đời Thuấn, Nghiêu

Thơ Nguyễn Du sử dụng nhiều thành ngữ:

Vợ chàng quỷ quái, tinh ma Phen này kẻ cắp, bà già gặp nhau!

Kiến bò miệng chén chưa lâu,

Mưa sâu cùng trả nghĩa sâu cho vừa

� Tác giả sử dụng thành ngữ dân gian nhưng có tính sáng tạo, vẫn tạo được sự gần

gũi, thân thuộc với lời ăn tiếng nói hằng ngày Nguyễn Du đã tách thành ngữ Kẻ cắp gặp bà già (ý chỉ kẻ xảo quyệt ranh mãnh lại nhiều mánh khoé gặp người cao

Trang 7

tay, dày kinh nghiệm), chêm xen vào tạo ra một cách diễn đạt khác Kiến bò miệng

chén (ý chỉ sự luẩn quẩn, bế tắc của con người, muốn tìm sự giải thoát):=> Hoàn

cảnh Thuý Kiều khi sống tại nhà Thúc Sinh, bị Hoạn Thư đánh ghen

=> Cách nói báo hiệu cuộc báo oán báo ân diễn ra đầy căng thẳng.

Đôi khi có sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố ngôn ngữ Hán và yếu tố ngôn ngữ Nôm tạo nên hiệu quả nghệ thuật cao:

VD: Kết hợp giữa cái thanh cao, tao nhã với cái bình dị, mộc mạc:

Kho thu phong nguyệt đầy qua nọc Thuyền chở yên hà nặng vạy then.

(Thuật hứng – bài 24)

� Chữ “thu” đối với chữ “chở” xem nguyên bản chữ Nôm là chữ thu thập, thu về, chứ không phải chữ thu mùa “Phong nguyệt” và “yên hà” tuy là từ gốc Hán, nhưng dùng trong thể Nôm, phải hiểu là gió trăng và khói sông Trong bài thơ chữ

Hán rất nổi tiếng có “yên ba” thì đó là “sóng khói” Sông rộng, sóng mạnh thường

có “yên ba” Ở đây Nguyễn Trãi thấy “yên hà” Như thế là, cái kho thu về gió trăng đầy qua nóc, con thuyền chở khói sông nặng “vạy then” Hình ảnh ở đây rất ảo diệu Kho là hữu hạn, thu vào gió trăng vô hạn Thuyền là hữu hạn, chở khói sông

là vô hạn Gió trăng dĩ nhiên đầy vượt qua nóc Còn khói sông tưởng nhẹ mà nặng vạy cả then thuyền Điều tất nhiên đối với điều huyền ảo

2 Ngôn ngữ chuộng về hình thức bên ngoài:

- Ngôn từ cũng được hiểu như những dấu hiệu biểu hiện hơn là lời nói, phát ngôn

- Xem ngôn ngữ là bức gấm thêu, được “dệt” bằng các “chữ” (tự) có âm thanh (bằng trắc), có chủng loại, màu sắc…theo các quy luật đối, niêm nhất định

- Ngôn từ được ví với nhạc, họa nhiều hơn là phát ngôn lời nói

- Làm thơ văn bắt đầu bằng luyện ý, luyện chữ, luyện câu…để đạt được cái tự do trong khuôn khổ gò bó Ngôn từ được biểu đạt bằng “ý tại ngôn ngoại”

Ví dụ:

Sử dụng những từ ngữ trang trọng mang tầm vóc vũ trụ chỉ hình ảnh người trai và quân đội nhà Trần:

“Hoành sóc giang sơn kháp kỷ thu Tam quân tỳ hổ khí thôn ngưu”.

Trang 8

(Tỏ lòng – Phạm Ngũ Lão)

Vẽ lên bức tranh khung cảnh đèo Ngang với những ngôn từ khắc họa hình ảnh, sự vận động trong cảnh:

“Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà,

Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.

Lom khom dưới núi, tiều vài chú, Lác đác bên sông, chợ mấy nhà”.

(Qua đèo Ngang – Bà Huyện Thanh Quan)

Nguyễn Du đã lựa chọn những từ ngữ giàu hình ảnh, sắc thái biểu hiện khi nói về tài “cầm kì thi họa” của Thúy Kiều:

Khi Kim Trọng khen Kiều khi nàng làm một bài thơ viết lên bức tranh Kim Trọng mới vẽ:

“Khen tài nhả ngọc phun châu, Nàng Ban, ả Tạ cũng đâu thế này!”

Khi miêu tả tài đánh đàn của Kiều:

“Trong như tiếng hạc bay qua Đục như nước suối mới sa nửa vời Tiếng khoan như gió thoảng ngoài Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa”.

Những đặc điểm ngôn ngữ trên của VHTĐ xuất phát từ quan niệm về “văn chương” của người trung đại Khái niệm “văn” dùng để chỉ văn hóa, học vấn, học thuật, rồi sau chỉ vẻ đẹp hình thức (văn của trời, văn của hổ, báo), chỉ sự trang sức cho đẹp, nhã; “văn chương” chỉ học vấn, vẻ đẹp bề ngoài Phan Kế Bính quan niệm: “Văn là gì? Văn là vẻ đẹp; chương là gì? Chương là vẻ sáng Lời của người

ta rực rỡ, bóng bẩy, tựa như ta có vẻ đẹp, vẻ sáng, cho nên gọi là văn chương.”

Hệ quả: quan niệm ngôn ngữ văn học này làm cho văn xuôi phát triển chậm vì họ cho rằng văn xuôi gắn với ngôn ngữ phàm tục, ngôn ngữ đời sống

3 Ngôn ngữ mang tính nghi thức, khuôn mẫu, công thức khuôn sáo trong diễn đạt:

Trang 9

- Biểu hiện ở tính chất ước lệ, tượng trưng của VHTĐ Đó là việc sử dụng công thức khuôn sáo, sử dụng điển tích điển cố Xuất phát từ quan niệm “sùng cổ” của nhà nho, tôn sùng cổ nhân, khái quát hiện thực theo khuôn mẫu có sẵn mà cổ nhân

đã đặt ra

Ví dụ:

+ Khi nói về chí nam nhi:

“Nam nhi vị liễu công danh trái

Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu”.

(Công danh nam tử còn vương nợ Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu)

(Thuật hoài – Phạm Ngũ Lão)

“Trong vũ trụ đã đành phận sự, Phải có danh mà đối với núi sông.”

(Chí nam nhi – Nguyễn Công Trứ)

+ Mượn hình ảnh cây thông để chỉ người quân tử:

“Kiếp sau xin chớ làm người, Làm cây thông đứng giữa trời mà reo”.

(Cây thông – Nguyễn Công Trứ)

- Điều này dẫn đến việc sử dụng những câu, mẫu có sẵn, những lời lẽ nghi thức gặp ở khắp nơi, tạo thành những hình tượng “đấng”, “bậc” trong VHTĐ

Ví dụ: Quan niệm đấng bậc và quân vô loài trong “Truyện Kiều”:

Dùng từ Hán Việt khi nói về các nhân vật đấng bậc:

“Làn thu thủy, nét xuân sơn Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”.

Dùng từ Nôm khi nói về nhân vật thuộc quân vô loài:

“Thoắt trông nhờn nhợt màu da

Ăn gì to lớn đẫy đà làm sao!”

Trang 10

- Tính nghi thức đòi hỏi phải được đào tạo để biết dùng “chữ”, tỏ ra “hay chữ” Đặc điểm này làm cho ngôn ngữ văn học thành sáo ngữ, nặng chất sách vở, xa với lời nói hàng ngày

4 Ngôn ngữ mang tính trang trí:

- Khi mục đích ngôn chí, chỉ đạo chủ yếu đòi hỏi văn từ phải đạt, nhã, trung hậu, lập thành thì cái đẹp thường là điểm xuyết và người ta hình dung nó ở vị trí trang trí Nhu cầu trang trí đòi hỏi đưa ra các hình ảnh hoán dụ bóng bẩy, vui mắt, vui tai:

“Ngày xuân con én đưa thoi Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi”.

(Truyện Kiều)

“Trai du gối hạc lom khom cật Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng”.

(Đánh đu – Hồ Xuân Hương)

“Chim oanh vườn cũ đương bay nhảy Chồi quế sân sau muốn thập thò”.

(Nguyễn Khuyến)

- Tính trang trí biểu hiện ở tính chất cân đối, hài hòa, thích sử dụng văn biền ngẫu, khai thác các thể loại mang tính hài hòa bằng việc sử dụng các hình thức đối (hình thức, thanh điệu, tiểu đối,…) Các loại chơi chữ, các kiểu đối ngẫu đều có tác dụng trang trí, tạo thú vui tao nhã, mở rộng không gian cảm thụ

5 Ngôn ngữ thường cốt đắc thể, phù hợp phong cách thể loại, tình huống biểu cảm:

- Mỗi thể loại thường có loại phong cách ngôn ngữ thể hiện riêng

Như nhận xét của Lê Quý Đôn: “Các nhà thơ đều có sở trường riêng Người đài các, thị tụng thì thơ phải êm dịu, dồi dào, kẻ ở nơi quán thành, biên thú thì thơ phải hoang lạnh, hào tráng Nhà thơ ưa cảnh vật các mùa thì thơ phải có thú nhàn rỗi, phóng khoáng Thơ đạo chí (nói chí hướng) thì phải trang trọng, thơ điếu cổ (viếng

Ngày đăng: 25/04/2022, 15:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w