1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nhân sinh quan phật giáo và sự thể hiện của nó ở một số tín đồ đạo phật hiện nay

72 722 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhân sinh quan Phật giáo và sự thể hiện của nó ở một số tín đồ đạo Phật hiện nay
Trường học Đại học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Triết học Phật giáo
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 329 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do yêu cầu khách quancủa sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của đất nước cũng như đóng gópmột phần nhỏ vào nhiệm vụ xây dựng một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bẩnsắc dân tộc mà Bộ Chính

Trang 1

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP BÁCH CỦA ĐỀ TÀI

Đạo Phật truyền vào nước ta khoảng đầu Công nguyên và đã trở thànhmột trong những hệ tư tưởng - tôn giáo có sức sống lâu dài, tồn tại cho đếnngày nay, đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của con người ViệtNam trong lịch sử Đạo Phật với quan niệm nhân sinh độc đáo của nó trởthành một bộ phận không thể thiếu của nền văn hoá dân tộc Ngày nay,trong bối cảnh công cuộc đổi mới của đất nước, do sự tác động mạnh mẽcủa nền kinh tế thị trường cùng với các học thuyết tư tưởng và tôn giáo khác,đạo Phật đã có những biến chuyển mạnh mẽ cùng với sự chuyển mình lớn laocủa đất nước Tình hình đó có tác động không nhỏ, theo cả hai chiều hướngtích cực, tiêu cực, tới đời sống xã hội, tới lối sống, đạo đức của xã hội nước

ta Đặc biệt, thủ đô Hà Nội là một trong hai trung tâm lớn của Phật giáoViệt Nam cũng không nằm ngoài dòng chảy trên Do yêu cầu khách quancủa sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của đất nước cũng như đóng gópmột phần nhỏ vào nhiệm vụ xây dựng một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bẩnsắc dân tộc mà Bộ Chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra trong Đại hộiĐảng lần thứ VIII, việc đứng trên lập trường triết học mác-xít để nghiên cứunhân sinh quan đạo Phật và sự thể hiện của nó ở các tín đồ đạo Phật hiện nay,chỉ ra những yếu tố tích cực, phát hiện những giá trị tinh tuý của nó cũng nhưnhững mặt hạn chế của nó chính là một việc làm có ý nghĩa thiết thực cả vềmặt lý luận cũng như về mặt thực tiễn Với tầm quan trọng và ý nghĩa như

vậy, tôi mạnh dạn chọn đề tài: "Nhân sinh quan Phật giáo và sự thể hiện của nó ở một số tín đồ đạo Phật hiện nay" (qua quan sát một số chùa ở Hà

Nội)

2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Trang 2

Nhân sinh quan Phật giáo (nguyên thủy) là một đề tài đã được nhiềunhà khoa học, Phật tử nghiên cứu, đặc biệt trong thời gian gần đây, cụ thể là:

- Năm 1984, Tiến sĩ Peter D Santina viết cuốn sách "Fundamentals

of Buddhism" (Nền tảng của đạo Phật) Cuốn sách được Thích Tâm Quang

dịch sang tiếng Việt năm 1996 Trong cuốn sách này, tác giả trình bày 12bài giảng về lịch sử ra đời của đạo Phật và những phần giáo lý căn bản nhấtcủa đạo Phật như: tứ diệu đế, lý nhân duyên, nghiệp, ngũ uẩn, Tác giảxuất phát từ quan niệm của một Phật tử ở phương Tây, có hiểu biết sâu sắcphần giáo lý nên khi trình bày, tác giả cố gắng làm rõ từng nội dung trongquan niệm nhân sinh của đạo Phật nguyên thủy

- Năm 1984, Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam - Viện triết học xuất

bản cuốn "Mấy vấn đề về Phật giáo và lịch sử tư tưởng Việt Nam" tập hợp

25 bài tham luận của các nhà nghiên cứu có tên tuổi của giới khoa họcnước ta như các giáo sư Trần Văn Giầu, Nguyễn Tài Thư, Nguyễn Đức Sự,Trần Bạch Đằng, Hà Văn Tấn, Phan Đại Doãn, Trần Đình Hượu, trongcuộc hội thảo về "Mối quan hệ giữa Phật giáo và lịch sử tư tưởng ViệtNam" Trong tập bài tham luận này, các tác giả đã phân tích và làm sáng tỏmối quan hệ tác động qua lại giữa Phật giáo và lịch sử tư tưởng Việt Nam,tính chất của Phật giáo và Phật giáo Việt Nam và đề cập đến một số tôngphái Phật giáo ở Việt Nam, ảnh hưởng của Phật giáo tới chủ nghĩa yêunước, tới văn hóa Việt Nam,

- Năm 1988, Nhà xuất bản khoa học xã hội xuất bản cuốn "Lịch sử

Phật giáo Việt Nam" của Viện Triết học do PGS Nguyễn Tài Thư chủ biên.

Cuốn sách đề cập đến quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo vàoViệt Nam từ đầu Công nguyên cho đến nửa đầu thế kỷ XX

- Năm 1994, tác giả Thích Tâm Thiện viết cuốn "Tìm hiểu nhân

sinh quan Phật giáo" do Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh xuất

bản Đây là cuốn nhập môn Phật học Tác giả trình bày Duyên sinh - Vô

Trang 3

ngã qua các thời kỳ, trong các bộ kinh Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, Lăng Già, cuối cùng nhận diện Phật giáo trong sự đối chiếu với các học thuyết triếthọc, thấy được vị trí và giá trị của Phật giáo với những nguyên lý nền tảngcủa Phật giáo Tuy nhiên, trong tác phẩm này, tác giả trình bày nhân sinhquan Phật giáo nguyên thủy dưới góc độ một Phật tử.

- Năm 1997, TS Nguyễn Hùng Hậu viết cuốn "Lược khảo tư tưởng

Thiền Trúc Lâm Việt Nam" Nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản Trong

đó tác giả phân tích khía cạnh bản thể luận, quan niệm nhân sinh của cácthiền sư thời Trần như Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Tuệ TrungThượng sĩ, Pháp Loa, Huyền Quang, Ở đây, tác giả mới đề cập giai đoạnPhật giáo phát triển đến đỉnh cao - thời kỳ Nhà Trần

Nhìn chung, các công trình trên đã nghiên cứu về nhân sinh quanPhật giáo về mặt lý luận, nhưng chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứunhững biểu hiện của nhân sinh quan Phật giáo ở các tín đồ Phật giáo tại HàNội - một trung tâm Phật giáo lớn của cả nước trong điều kiện công cuộcđổi mới của đất nước hiện nay

3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA LUẬN VĂN

- Mục đích của luận văn là:

+ Trình bày một cách có hệ thống về nhân sinh quan Phật giáo(nguyên thủy), rút ra những mặt tích cực và hạn chế của nó

+ Phân tích những biểu hiện của quan niệm nhân sinh ở các tín đồđạo Phật hiện nay (tập trung ở tín đồ Hà Nội)

- Để thực hiện mục tiêu trên, luận văn có nhiệm vụ:

+ Hệ thống hóa và phân tích những vấn đề thuộc nhân sinh quancủa Phật giáo như: Quan niệm về con người và cuộc đời con người, quanniệm về giải thoát và con đường giải thoát

Trang 4

+ Phân tích những biểu hiện của quan niệm nhân sinh Phật giáo ởtín đồ đạo Phật Hà Nội hiện nay qua niềm tin tôn giáo, việc thực hiện lễnghi và sự thực hành giới luật của họ Từ đó rút ra những kết luận về ảnhhưởng của nó đến đời sống xã hội nước ta hiện nay.

4 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ

nghĩa Mác - Lênin về triết học và lịch sử triết học, kết hợp với phươngpháp luận nghiên cứu triết học phương Đông

- Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Kết hợp các phương pháp: phân

tích với tổng hợp, lôgic với lịch sử,, quan sát, phỏng vấn,

5 CÁI MỚI CỦA LUẬN VĂN

Luận văn đã nghiên cứu một cách có hệ thống quan niệm nhân sinhPhật giáo (nguyên thủy), chỉ ra những giá trị tích cực cùng những hạn chếcủa nó; đi sâu nghiên cứu những biểu hiện của quan niệm nhân sinh đạoPhật ở các tín đồ đạo Phật ở Hà Nội trong công cuộc đổi mới của đất nước

ta hiện nay

6 Ý NGHĨA CỦA LUẬN VĂN

Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiêncứu, giảng dạy và tìm hiểu lịch sử tư tưởng Phật giáo Việt Nam

7 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luậnvăn gồm 2 chương, 6 tiết

Trang 5

mà còn là nội dung tư tưởng chủ yếu bao trùm lên toàn bộ hệ thống Đặcđiểm này của đạo Phật bị chi phối bởi chính hoàn cảnh lịch sử của đất nước

Ấn Độ cổ đại - nơi đã sản sinh ra đạo Phật

1.1 HOÀN CẢNH KINH TẾ - XÃ HỘI, VĂN HÓA - TƯ TƯỞNG CỦA

SỰ HÌNH THÀNH NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO

- Về điều kiện kinh tế - xã hội: Từ thế kỷ VI (trước Công nguyên)

đến thế kỷ I (sau Công nguyên), chế độ chiếm hữu nô lệ mang tính chất giatrưởng kiểu phương Đông đã khá phát triển ở Ấn Độ Do việc mở mang cáccông trình thuỷ lợi, sản xuất nông nghiệp phát triển Thủ công nghiệp táchhẳn khỏi nông nghiệp Nhiều thành phố trở thành trung tâm thủ côngnghiệp và thương nghiệp quan trọng thời kỳ này như Benares, Sravasti Nhiều con đường thương mại thuỷ bộ đã hình thành Ấn Độ đã giao dịchbuôn bán khá rộng rãi với các nước trong vùng như Trung Quốc, Ả rập,Trung Á Nhưng xã hội Ấn Độ vẫn bị bóp nghẹt bởi tính chất kiên cố của

tổ chức công xã nông thôn cùng với chế độ phân biệt màu da, chủng tínhkhắc nghiệt

Trang 6

Xã hội Ấn Độ lúc này được chia thành bốn đẳng cấp cách biệt:

1 Tăng lữ thuộc đẳng cấp Bàlamôn; 2 Vua chúa thuộc đẳng cấp Kshatiya;

3 Nông dân, thợ thủ công và thương nhân thuộc đẳng cấp Vaishya; 4 Nô

lệ thuộc đẳng cấp Shudra Bàlamôn và vua chúa là giai cấp thống trị; nôngdân, thợ thủ công, thương nhân và nô lệ thuộc giai cấp bị trị Bốn đẳng cấpnày theo chế độ thế tập, cha truyền con nối tạo thành một tổ chức xã hội bấtcông

- Về văn hóa - tư tưởng: Ấn Độ cổ đại là một đất nước có một nền

triết học phong phú hết sức bề thế xuất hiện từ rất sớm Ngay từ thế kỷ XVtrước công nguyên đã xuất hiện bộ kinh điển Rg Vêđa Đó là những bài catán có tính chất thần thoại nhưng đã bao hàm nhiều tư tưởng về vũ trụ vànhân sinh quan Tiếp theo trong khoảng 1000-800 năm trước công nguyên

là thời đại Brahman Đến thời kỳ 800-600 năm trước công nguyên là triếthọc Upanishad Upanishad là một trong những bộ kinh quan trọng nhất củakinh Vêđa Xu hướng chính của Upanishad là nhằm biện hộ cho học thuyếtduy tâm tôn giáo, vốn có trong kinh Vêđa về cái gọi là "tinh thần sáng tạotối cao" sáng tạo ra thế giới này Upanshad cho rằng thế giới vô ngãBrahman hay "tinh thần vũ trụ tối cao" là thực thể duy nhất, tồn tại vĩnhviễn, là cái từ đó nảy sinh ra và chi phối mọi cái tồn tại Atman (tiểu ngã)chỉ là một phần hiện thân của Brahman (đại ngã); linh hồn sống của conngười chỉ là sự biểu hiện của "tinh thần tối cao" trong cơ thể con người Vìvậy, linh hồn cá biệt về bản chất là đồng nhất với "linh hồn tối cao" cũngtồn tại vĩnh viễn, tuyệt đối, bất diệt Trong Upanishad cũng đặt vấn đề làchính do những ham muốn, dục vọng và những hành động của con ngườinhằm thoả mãn những ham muốn trong đời sống trần gian đã gây nhữnghậu quả, gieo đau khổ cho kiếp này và cả những khiếp sau gọi là nghiệpbáo Karma Do vậy linh hồn bất tử bị sự luân hồi nên không nhận ra và trở

về đồng nhất với chân bản của nó được Muốn giải thoát linh hồn bất tửkhỏi sự chi phối của đời sống nhục dục, của thế giới hiện tượng cảm tính

Trang 7

như ảo ảnh thường biến, đạt tới sự đồng nhất với "tinh thần vũ trụ tối cao",con người phải tu luyện hành động karma- yoga và tu luyện tri thức jâna-yoga, nhận ra chân bản của mình.

Triết lý duy tâm tôn giáo của Upanishad giải thích căn nguyên củathế giới bằng nguyên lý " tinh thần vũ trụ tối cao" tuyệt đối, bất diệt là cơ

sở cho những học thuyết triết học duy tâm sau này và đã đóng vai trò là cơ

sở lý luận cho đạo Bàlamôn ở Ấn Độ cổ đại Kinh Upanishad đã đề cập đếnnhững vấn đề có ý nghĩa triết học thực sự như mối quan hệ giữa tinh thần

vũ trụ (Brahman) và linh hồn cá thể (Atman), Thuyết luân hồi, nghiệp,nhân quả v.v

Tóm lại, thế giới quan thần thoại, tín ngưỡng tôn giáo, chủ nghĩaduy tâm trong thánh kinh Vêđa, kinh Upanishad và đạo Bàlamôn đã trởthành hệ tư tưởng thống trị đời sống tinh thần của Ấn Độ cổ Uy thế của nómạnh mẽ tới mức, tư tưởng triết lý duy tâm ấy được mệnh danh là tư tưởngchính thống của Ấn Độ cổ và tất cả những môn phái triết học vô thần, duyvật, chống lại uy thế của khinh Vêđa và triết lý tôn giáo Bàlamôn đều bị coi

là những tư tưởng triết học không chính thống Sự thống trị khắc nghiệt về

xã hội, chính trị, tư tưởng trên đã làm nảy sinh những mâu thuẫn sâu sắctrong đời sống xã hội và tất yếu dẫn đến sự phản kháng của quần chúng laođộng đòi hỏi một sự tự do, công bằng, bình đẳng xã hội Đây chính lànhững nhu cầu của hiện thực lịch sử làm xuất hiện các trường phái tư tưởngmới ở Ấn Độ trong thời kỳ này Đạo Phật xuất hiện chính trong bối cảnhlịch sử trên với tư cách là một hệ tư tưởng phản đối chế độ phân biệt đẳngcấp xã hội, phủ nhận uy thế của kinh Vêđa, chống giáo lý duy tâm hoangđường của Bàlamôn giáo, bác bỏ uy quyền thần thánh và phương pháp tuhành khổ hạnh, xây dựng niềm tin vào chính con người Nó là sự khẳngđịnh một đạo lý, một đường hướng cứu khổ mới cho con người

Theo các sử liệu ghi lại, người sáng lập ra Phật giáo là mâu-ni, có tên thật là Siddhartha (Tất-đạt-đa), họ là Gautama (Gô-ta-ma),

Trang 8

Thích-ca-thái tử con vua Suddhodana (Tịnh Phạn) dòng họ Sakya, có kinh đô làthành Kapilavastu (Catylavê) ở phía Bắc Ấn Độ Phật Thích ca sinh năm

563 (trước Công Nguyên) Năm 29 tuổi ông đã quyết định từ bỏ cuộc sốngvương giả để đi tu Sau bảy năm liền tu luyện ông đã ngộ đạo và tìm ra conđường giải thoát con người khỏi những nỗi khổ đè nặng trong đời sống xãhội Ấn Độ cổ đại Sau khi tìm ra con đường giải thoát, ông truyền bá những

tư tưởng của mình cho chúng sinh ở Ấn Độ và tìm các đệ tử lập ra các đoànthể Phật giáo Ông mất năm 80 tuổi (năm 483 trước Công nguyên)

Tư tưởng triết lý Phật giáo ban đầu chỉ là truyền miệng, sau đóđược viết thành văn, thể hiện trong một khối lượng kinh điển rất lớn, gọi là

"Tam tạng " (Tripitaka) gồm ba bộ phận: 1 Tạng Kinh (Sutrapitaka) ghinhững lời Phật dạy về đạo Phật 2 Tạng Luật (Vinaya pitaka) gồm các giớiluật của đạo Phật 3 Tạng Luận (Adhidharma pitaka) gồm các bài kinh, cáctác phẩm luận giải, bình chú về giáo pháp của các cao tăng, học giả về saunày

Nơi sinh ra Phật giáo là Ấn Độ và Phật giáo là sản phẩm trực tiếpcủa xã hội Ấn Độ cổ đại với những mâu thuẫn đẳng cấp gay gắt Cho nênngay từ đầu, Phật giáo là tôn giáo của đại đa số những người đẳng cấp thấp

ở Ấn Độ, những người cần được an ủi về mặt tâm linh trước sự phân biệtđẳng cấp khắc nghiệt Chính vì vậy, Phật giáo đã quan tâm đến vấn đề nhânsinh: quan niệm về con người và cuộc đời con người, vấn đề sướng, khổ,vấn đề giải thoát

1.2 QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI

Đạo Phật ra đời khi mà xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ đã có một nền vănminh phát triển rực rỡ, với một di sản tư tưởng và tôn giáo rất bề thế Vìvậy, để cho triết thuyết của mình có thể đứng vững trước thuyết tạo thần

Trang 9

của đạo Bàlamôn, Đức Phật đã xây dựng thuyết nhân duyên sinh làm nền

tảng cho học thuyết của mình

Kinh Phật nói rằng: "Nhất thiết pháp, nhân duyên sinh"

Với thuyết nhân duyên sinh, Phật muốn nói lên một định lý: mọi sựvật, vạn pháp trên thế gian đều do các nhân duyên hội họp mà thành; sựvật, vạn pháp sẽ biến diệt khi nhân duyên tan rã

Nhân là nguyên nhân, là năng lực tiềm ẩn của mọi sự hình thành,biến đổi Không có gì là không có nguyên nhân Duyên là những quan hệ,những điều kiện, những ảnh hưởng chung quanh giúp cho nhân phát khởihiện hành Tất cả các hiện tượng đều nương nhau mà thành lập - Nói nươngnhau có nghĩa là sự vật tác động, kết hợp, chi phối, ảnh hưởng, đối đãi lẫnnhau mà thành Tất cả mọi hiện tượng đều có quan hệ mật thiết với nhau,không một hiện tượng nào được thành lập, ngoài sự nương vào nhau, ngoài

sự liên hệ trực tiếp với nhau Đó là nhân duyên

Nói về thuyết nhân duyên, trong kinh "Phật Tự Thuyết" (tiểu bộ I

tr 291) đã có câu:

Nhược thử hữu, tắc bỉ hữu,Nhược thử sinh, tắc bỉ sinh,Nhược thử vô, tắc bỉ vô,Nhược thử diệt, tắc bỉ diệt

Nghĩa là:

Cái này có thì cái kia có,Cái này sinh thì cái kia sinh,Cái này không thì cái kia không,Cái này diệt thì cái kia diệt [3, 95]

Kể từ đây: - Số thứ nhất l s à s ố thứ tự của t i li à s ệu tham khảo.

- Số thứ hai trở đi l s à s ố trang t i li à s ệu tham khảo.

Trang 10

Tất cả các pháp đều sinh diệt và tồn tại trong sự liên hệ mật thiếtvới nhau, không một pháp nào có thể tồn tại độc lập và trường tồn, nhấtthành bất biến.

Trong Kinh "Thủ Lăng Nghiêm "có đoạn viết:

Nhân duyên hòa hợp, hư vọng hữu sinhNhân duyên biệt ly, hư vọng danh diệt

Cho nên sinh cũng chẳng thực sinh, mà diệt cũng chẳng thực diệt.Khi nhân duyên hội họp thì nói là sinh, khi nhân duyên tan rã thì nói là diệt

Trong kinh "Đại Bát Niết Bàn" có viết:

"Nhất thiết chư pháp, bản vô hữu tính, nhân duyên cố sinh, nhânduyên cố diệt"

Nghĩa là:

Hết thảy mọi pháp,Đều không có tự tính,

Vì nhân duyên mà sinh,

Vì nhân duyên mà diệt

Ở một chương khác Phật lại nói:

Tòng duyên sinh cố,Danh chi vi hữu,

Vô tự tính cố,Danh chi vi vô [3, 96]

Có nghĩa là:

Tùy theo duyên mà hiện ra hình như có sinh, cho nên gọi là "có";bởi không có tự tính, cho nên gọi là "không" Sự vật chỉ "có" một cách giả

Trang 11

tạo, một cách vô thường, nhân duyên hội họp thì sự vật là "có", nhân duyêntan rã thì sự vật là "không".

Thế giới vũ trụ, vạn pháp, con người đều cấu thành bởi vô số nhân

và trùng trùng duyên khởi Các pháp không có thực thể, chỉ vì nhân duyênhòa hợp chúng hiện hữu một cách giả hợp Bởi thế tìm kiếm đến cùngkhông thấy vạn pháp có "thủy" và xét đến muôn đời, muôn kiếp về saucũng không thấy vạn pháp có "chung"

Thuyết nhân duyên sinh cho chúng ta thấy chỉ có nhân và có duyênchứ không thực có sự vật Tất cả những pháp có mặt trên cuộc đời, thế giannày từ thế giới của sự vật, hiện tượng cho đến thế giới bí ẩn của ý niệm sâu

xa đều do các nhân, các duyên tương tác lẫn nhau mà hình thành: do cáinày có mà cái kia mới có Từ đó, Phật giáo cho rằng, sự vật không phải tựnhiên mà có, cũng chẳng phải do một đấng thiêng liêng nào tạo ra mà mọi

sự vật sinh ra là đều có nguyên nhân của nó Cái nguyên nhân một mìnhcũng không tạo ra được sự vật mà phải có đủ duyên mới tạo ra quả được.Quả sinh ra lại có thể nếu gặp đủ duyên, biến thành nhân, để rồi sinh ra quảkhác và lại thế nối tiếp nhau sinh sinh hóa hóa Nhưng Phật nhấn mạnh:Quả có thể khác nhân đã sinh ra nó, quả có thể hơn nhân nếu đủ duyên tốt.Trái lại, quả có thể kém nhân nếu gặp duyên xấu Sự vật là một chuỗi nhânquả, ảnh hưởng lẫn nhau không bao giờ đứt quãng, không bao giờ ngừng

Sự duyên khởi dây chuyền của một sự vật đối với tất cả sự vật, của tất cả sựvật đối với một sự vật thì gọi là pháp giới trùng trùng duyên khởi Đó là

thuyết nhân quả.

Giáo lý nhân duyên sinh của Phật giáo đưa đến hai hệ quả trực tiếp:thuyết vô thường và thuyết vô ngã, chi phối nhân sinh quan Phật giáo

Thuyết vô thường (Amicca) là một trong những thuyết cơ bản trong

giáo lý Phật, là một cơ sở lý luận cho phương thức sống, cho triết lý sốngcủa những con người tu dưỡng theo giáo lý Phật

Trang 12

Vô thường là không thường còn, là chuyển biến thay đổi Theothuyết vô thường chỉ ra các pháp (sự vật, hiện tượng, con người) luôn biếndịch, không có gì là thường trụ, bất biến Sự chuyển biến ra trong từngsátna (Kshana) - sự chuyến biến rất nhanh trong thời gian hết sức ngắn,ngắn hơn cả một cái nháy mắt, một hơi thở, một niệm, một sự chuyển biếnvừa khởi lên đã vụt chấm dứt Sự chuyển biến này diễn ra nhanh chóng,ngấm ngầm thường ta không nhận thức kịp mà kết quả là dẫn đến sựchuyển biến rõ rệt, kết thúc một trạng thái cũ chuyển sang một trạng tháimới Do vậy, vạn vật vô tình trong vũ trụ đều tuân theo qui luật: Thành - trụ

- hoại - không Mọi vật được cấu thành, trụ một thời gian, biến chuyển đi đếndiệt, hoại thành không

Các sinh vật đều tuân theo qui luật: Sinh - trụ - dị - diệt

Chung quanh ta, sự vật biến chuyển không ngừng Theo luật vôthường thì không phải khi vạn vật sinh ra mới gọi là sinh, khi vạn vật diệtmới gọi là diệt, mà từng phút, từng giây, từng sátna, sự sống và sự chết đãtừng liên tiếp xảy ra

Từ thuyết vô thường, Phật nói sang thuyết vô ngã (Anatta): Vô ngã

là không có cái Ta trường tồn vĩnh cửu Theo nguyên lý duyên sinh, các sựvật đều là các pháp duyên sinh Tất cả sự vật (các pháp) có hình, có tướngđều do những bộ phận hợp lại mà thành, đều là nhất hợp tướng, đều có thểchia chẻ ra được Tất cả sự vật đều đối đãi với nhau mà thành lập: Tâm đốivới cảnh, cảnh đối với thân, lớn đối với nhỏ, dài đối với ngắn, sống đối vớichết, có đối với không Tất cả sự vật đều do đối đãi với nhau mà thành nênđều vô ngã, đều không có tự tính: Thân vô ngã, tâm vô ngã, cảnh vô ngã

Với nguyên lý cơ bản trên đây, Đức Phật trình bày những vấn đề vềnhân sinh: Con người từ đâu mà có? Con người được sinh ra như thế nào?Cuộc đời con người ra sao? Con đường giải thoát cho con người ?

Trang 13

Khi trả lời cho câu hỏi "Con người do đâu mà sinh ra?" Phật xácđịnh con người là một chỉnh thể vũ trụ, là một tiểu vũ trụ, là kết quả của sựkết hợp giữa danh và sắc Nghĩa là con người có đầy đủ cả hai phần sinh lý

và tâm lý:

Cái ta sinh lý tức là thân (gọi là sắc uẩn).

Cái ta tâm lý tức là tâm (bao gồm thọ, tưởng, hành, thức).

Theo Kinh "Trung A Hàm", con người sinh lý chỉ là sự kết hợp củabốn yếu tố vật chất, bốn đại là: địa, thủy, hỏa, phong Các chất cứng, đặc,lỏng, chất sinh ra nhiệt và những rung động như hơi thở ra, sự hút không

khí vào khi kết hợp lại tạo thành sắc thân con người (cái ta sinh lý) Khi

chúng tách rời nhau trở về thể của nó thì không còn gì ở lại để có thể gọi làcon người được nữa nên cái mà ta gọi là con người sinh lý chỉ là một giảtướng, một nhất hợp tướng mà thôi

Còn cái ta tâm lý là gì ?

Theo Đức Phật, cái ta tâm lý bao gồm thụ, tưởng, hành, thức Khisắc thân con người được tạo thành thì lục căn (nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt, thân, ý)tiếp xúc với lục trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) mà sinh ra lãnh thọ(cảm giác) Sự cảm thụ đó sinh ra mọi ấn tượng, mọi cảm giác sướng, khổ,buồn, vui (tưởng) Sau khi tiếp xúc với cảnh vật sẽ tạo nên sự thay đổi biếnchuyển của tâm niệm, sinh lòng ham muốn hay ghét giận (hành) và cuốicùng là sự xuất hiện hiểu biết, phân biệt sự vật (ý thức) Đó chính là thụuẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn Như vậy, mọi cảm giác nhận thức vàsuy tưởng - tóm lại là những hoạt động tinh thần của con người, đều phụthuộc vào các giác quan và bộ não Mọi sự hoạt động tinh thần, mà không

có giác quan, nhất là không có bộ não thì không thể có được

Trang 14

"Thân thể người ta ví như một đám tro hồng nóng bỏng, mà cái lòlửa làm tro nóng chính là tinh thần người ta Cái tinh thần sẽ bị hủy đi khi cáithân ta bị hủy, cũng như ánh sáng của cây nến bị tắt khi cây nến hết" [3, 81].

Như vậy, Đức Phật cho rằng con người bao gồm có hai phần vậtchất và tinh thần kết hợp với nhau Nhưng con người không phải tự nhiên

mà sinh ra Con người là một pháp duyên sinh, con người sinh ra là donhân duyên hòa hợp và thức chuyển biến mà thành Phật phân tích có mườihai nhân duyên là: Vô minh duyên Hành, Hành duyên Thức, Thức duyênDanh Sắc, Danh Sắc duyên Lục nhập, Lục nhập duyên Xúc, Xúc duyênThụ, Thụ duyên Ái, Ái duyên Thủ, Thủ duyên Hữu, Hữu duyên Sinh, Sinhduyên Lão, Tử Các yếu tố vật chất khi hội đủ nhân và có duyên cần thiết

sẽ hợp thành những thực thể hữu hình (thân xác con người) gọi là "sắc" và

có "tâm" (ý thức) thì con người sống, hoạt động (tồn tại) Theo kinh "ĐạiTrương Duyên" nếu không có thức thì thân ngũ uẩn không thể hình thành.Mặt khác khi nhân duyên tan rã thì con người cũng không còn (chết đi) Sựtồn tại hữu hình của con người có ý thức chỉ là tạm thời (sắc sắc - khôngkhông) trong vòng luân chuyển liên tục của vô số nhân và trùng trùngduyên khởi

Với cách lập luận trên, đạo Phật đã chứng minh con người sinh ra là

do nhân và duyên, không có một đấng tối thượng siêu nhiên nào tạo ra conngười, cũng như con người không phải tự nhiên mà sinh ra Con người sinh

ra là do nhân duyên, nhân duyên hòa hợp thì con người sinh, nhân duyên tan

rã thì con người diệt Có thể nói yếu tố vô thần của đạo Phật thể hiện ở đây

Khi trả lời câu hỏi: "Con người chết rồi đi đâu?", Đức Phật chỉ rõ:Con người là một pháp duyên sinh, là sự kết hợp động của ngũ uẩn Vì vậykhi con người chết (ngũ uẩn tan rã) thì không còn cả thể xác lẫn linh hồn.Phật đã phủ nhận tư tưởng kinh Upanishad cho rằng có một linh hồn bất tử

Trang 15

(linh hồn vũ trụ tối cao) tồn tại vĩnh viễn Phật cho rằng chỉ có sự kết hợpmới của ngũ uẩn, mà động lực là nghiệp lực.

gây ra một kết hợp mới của ngũ uẩn cho kiếp sau Do đó, chỉ có một sự kết

hợp mới của ngũ uẩn được gây ra bởi một nghiệp lực chứ không có linhhồn bất tử chuyển từ kiếp này sang kiếp sau Mặc dù chúng sinh luân hồitrong lục đạo, nhưng đạo Phật quan niệm con người là một sinh vật tươngđối hoàn bị hơn cả trong các loài chúng sinh về tổ chức cơ thể và khả năng

tư duy nên trong Kinh "Hoa Nghiêm" có câu: "Nhân thị tối thắng" nghĩa là:Con người là hơn cả

Chỗ khác Phật lại nói: "Nhất thất nhân thân, vạn kiếp nan phục".Nghĩa là: Một khi mất thân người thì vạn kiếp khó mà trở lại làm người

Trang 16

Chính vì lẽ đó, Phật khuyên con người hãy tạo nghiệp thiện hoặc đãtrót tạo nghiệp ác thì cần phải sám hối và tu hành để chuyển nghiệp, hyvọng kiếp sau sẽ được trở lại làm người.

Theo Phật giáo, con người là một pháp do duyên sinh tạo nên Chonên con người cũng không nằm ngoài sự chi phối của quy luật Vô thường.Trong đời một con người từ lúc sinh cho đến lúc diệt, thân sinh lý và thântâm lý đã biến đổi không ngừng: sinh - lão - bệnh - tử Cái Ta ở sátna trước

đã không phải là cái Ta ở sátna sau, nhưng cũng không khác với cái Tatrước đó Đã có đổi thay tất phải có lúc tiêu diệt, không ai có thể dừng được

sự thay đổi nhanh chóng của thân Sự tồn tại của sắc thân con người mỏngmanh tạm bợ như hơi thở Một hơi thở ra mà không hít vào, tức là đời sốngcủa thân không còn, giờ tan rã sắp đến, nên có câu: "Nhân mạng tại hô hấpgian" Không chỉ sắc thân con người luôn biến chuyển; thụ, tưởng, hành,thức cũng biến động không ngừng Từng phút, từng giây, từng sátna, ta cónhững cảm giác mới, những nhận thức mới, những suy tưởng mới Conngười sinh ra rồi lại chết đi để một sinh linh mới ra đời Khi trả lời câu hỏi:

"Đời người ta dài bao nhiêu?" Phật cho rằng: "Đời người dài một niệm".Một niệm khởi lên rồi diệt đi, thế là một đời người hết Một niệm khác khởilên, tức là một đời người khác đời người trước tiếp tục Sự sống và chếttiếp diễn liên tục nối tiếp nhau bất tận như trên một cái vòng tròn theo quyluật luân hồi Hiểu theo Phật, chết không phải là hết, chết là điều kiện chomột cái sinh sắp tới Khi chết ngũ uẩn tan rã phân tán, nhưng nghiệp củacon người vẫn tiếp tục chi phối, khi gặp một điều kiện nhân duyên thuận lợicon người lại được tái tạo thành một sinh linh mới

Từ quan điểm Vô thường về con người, đạo Phật đi đến phủ nhận

sự tồn tại của cái Ngã (cái tôi, cái Ta của con người) Con người là kết quảcủa sự kết hợp giả tạm của ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) nhưngPhật lại cho rằng tứ đại: địa, thủy, hỏa, phong vốn là không, và ngũ uẩn

Trang 17

cũng chẳng có Ngũ uẩn tụ hợp sẽ sinh ra con người, ngũ uẩn ly tán thì conngười sẽ chết cho nên cái Ta chỉ là một giả tướng, một nhất hợp tướng màthôi chứ không có cái Ta thực tướng, cái Ta bất biến, cái Ta trường tồn Sắcthân con người do cha mẹ sinh ra, do tứ đại, ngũ uẩn hợp thành, là cái thânhiện hữu trong thế giới nhưng chỉ là ảo ảnh Phật nói:

"Sắc đã được cái vô ngã (tứ đại) làm cho sinh khởi; từ đâu là ngã được?Sắc đã được cái vô thường làm cho sinh khởi; từ đâu mà thường được?" [28,159]

Quan điểm Vô ngã của đạo Phật đã phủ nhận sự tồn tại đích thựccủa chính bản thân con người Như vậy, theo Đức Phật, cái Ta là giả tạm, làkhông thường còn Nhưng tại sao con người lại có cảm giác về sự bất biến,trường trụ của thân ta ? Sở dĩ ta có cảm giác đó là do các giả tướng diễn raliên tục, nối tiếp nhau với tốc độ rất nhanh đến nỗi ta không nhận thức kịp

và tưởng là bất biến Vì chấp cái "Ta" thường còn, bất biến, cho nên đếnphút cuối cùng của đời người, con ngưòi vẫn còn tham vọng, cố bám lấycái Ta, cái giả tưởng đó, có nhiều dục vọng, vị kỷ Vì vậy con người khôngthoát khỏi vòng sinh tử luân hồi, làm cho sinh sinh tử tử không bao giờngừng Chấp ngã, chấp có cái Ta thường còn là nguồn gốc của vô minh, mà

vô minh là đầu mối của luân hồi sinh tử, sinh ra đau khổ cho con người

Dựa trên nguyên lý duyên sinh, Phật giáo khi trình bày về vấn đề:

"con người từ đâu sinh ra?" và "con người được sinh ra như thế nào?" Đãnêu ra nhiều luận điểm triết học thâm trầm sâu sắc phủ nhận vai trò của mộtđấng siêu nhiên tối cao trong việc sáng tạo ra con người, khi cho rằng conngười là kết quả của sự kết hợp của ngũ uẩn Những tư tưởng "vô thường",

"vô ngã" đã chứa đựng những yếu tố biện chứng khi xem xét sự vật hiệntượng trong quá trình vận động của nó, thể hiện một sự nhận thức có chiềusâu Ở đây cũng bộc lộ quan điểm biện chứng không triệt để của đạo Phậtkhi tuyệt đối hóa sự vận động biến đổi đi đến phủ nhận sự tồn tại hiện thực

Trang 18

của con người, sự vật (coi con người, sự vật chỉ là giả tướng), dễ đem lại sự

bi quan và thái độ buông xuôi cho con người

Phật giáo không thừa nhận có "linh hồn bất tử" Tuy khác với cáctôn giáo khác khi cho rằng linh hồn cùng với thể xác đều tan rã khi conngười đã chết, tất cả đều trở về với những yếu tố ngũ uẩn ban đầu, song tưtưởng về sự đền bù hư ảo về một kiếp sau của vòng luân hồi vô tận có sựphán xét công minh của nghiệp báo và báo ứng, v.v vẫn là "thuốc phiện"cho nỗi bất lực của con người hiện thực trong đời sống xã hội ở trần gian

1.3 QUAN NIỆM VỀ CUỘC ĐỜI CON NGƯỜI

Toàn bộ quan niệm về cuộc đời con người được Đức Phật trình bàytrong Tứ diệu đế - bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật sau khi thành đạotại vườn Lộc Giã cho năm tỷ khưu trước khi đi theo Phật

Theo lời Đức Phật khi bàn về cuộc đời con người đã xuất phát từ Khổ

đế (Dukkha Arya Satya): "Ta chỉ nói khổ và con đưòng diệt khổ" [27, 272].

Phật giáo quan niệm cuộc đời con người là đau khổ, khổ đau là tấtyếu, là chân lý Đức Phật hết sức rung động trước những đau khổ của loàingười, cho rằng:

"Nước mắt của chúng sinh trong 3000 thế giới còn nhiều hơn nước

Trang 19

Trong kinh Phật nói về khổ nạn có thể chia theo hai tiêu chí: về mặtthể chất và về mặt tinh thần Sự khổ nạn về thể chất là khổ nạn do sinh nở,tuổi già, bệnh tật và chết.

1 Sinh khổ: đã có sinh là có khổ, vì đã sinh nhất định có diệt, bị luật

vô thường chi phối, nên có khổ Khi sinh ra, có một cơ thể sinh lý có hình,

có tướng nên phải chịu đựng và chống lại nóng lạnh, tìm cách duy trì cáithân tứ đại, phải đối phó với mọi tai nạn do thiên nhiên hay do con ngườigây ra, nên suốt đời phiền não, đau khổ

2 Lão khổ: Con người mong muốn trẻ và khỏe mãi nhưng cái già

cứ đến Cái già tiến đến đâu thì sự suy yếu đến đấy làm người ta phiền não

3 Bệnh khổ: Khi bị bệnh hành hạ, con người bị đau khổ.

4 Tử khổ: là cái khổ khi người ta chết Mọi người đều phải chết, dù

sớm hay muộn Người sắp chết mà biết mình sắp chết thì tâm lý cũng đầydao động, bi thương tương tự Ở đây, ta thấy rõ, chết thì không mấy đaukhổ, nhưng ám ảnh của cái chết gây nên nhiều khổ đau hơn Con ngườicàng muốn sống, ham sống thì lại càng sợ chết Chết có thể xảy đến bất cứlúc nào, vì bất cứ lý do nào, do đó mà ma lực ám ảnh của nó lại càng lớnhơn, kéo dài suốt cuộc sống Đó là khổ đau về cái chết

Trên đây là bốn cái khổ sinh lý, cái khổ về thể chất mà bất cứ aicũng gặp Những khổ nạn này là một phần không thể thiếu của cuộc sốngcon người cho dù cuộc sống chúng ta đã sung sướng hay tranh đấu như thếnào, khổ nạn do sinh nở, tuổi già, bệnh tật và sự chết là hoàn toàn khôngthể tránh khỏi Ngoài những khổ nạn về thể chất còn có những khổ nạn về tinhthần:

5 Sở cầu bất đắc khổ: Người ta thường chạy theo những điều mình

ưa thích Mong cầu khát vọng hết cái này đến cái khác Mong cầu được thì

lo lắng giữ lấy mãi, chỉ sợ nó mất đi; mong cầu chưa được hay không đượcthì phiền não Mong cầu được rồi, đến khi mất thì luyến tiếc phiền não

Trang 20

6 Ái biệt ly khổ: Những người yêu thương nhau, gắn bó với nhau

mà phải xa nhau, sự cách biệt, những chia ly đã đưa con người vào thế giớiđau khổ, bất hạnh, nhớ nhung, phiền não

7 Oán tăng hội khổ: Những người ghét nhau, căm thù nhau mà vẫn

phải sống chung với nhau, những gì mình ghét bỏ mà phải ôm ấp, nắm giữ,gặp mặt thì sẽ làm cho mình thất vọng, khó chịu, phiền bực, đó là đau khổ

8 Ngũ thủ uẩn khổ: Người thế gian bị ngũ uẩn che lấp trí tuệ phải

chịu cái khổ luân hồi trong vô lượng kiếp, chịu vô lượng đau khổ

Vì vô minh, con người chấp thân sắc uẩn, chấp cảm thọ, tư duy hiểubiết, là của mình, là mình, là tự ngã của mình nên khi chúng thay đổi,biến dịch thì thấy đau khổ Người thế gian bị ngũ uẩn che lấp trí tuệ phảichịu cái khổ luân hồi trong vô lượng kiếp, chịu vô lượng đau khổ nên gọi làngũ thủ uẩn khổ

Những khổ đau về thể chất và tinh thần trên được đan lại với nhautrong cuộc đời chúng ta Nói cuộc đời con người là khổ đau không có nghĩa

là con người không có hạnh phúc hay thích thú trong cuộc đời Chúng ta cóthể hưởng niềm hạnh phúc, tuổi trẻ và sức khỏe Tuy vậy, những niềm hạnhphúc này, theo Phật, không trường tồn, không sớm thì muộn chúng ta sẽphải chịu khổ nạn

Qua sự phân tích trên, ta thấy quan niệm cơ bản nhất của đạo Phật

về cuộc đời con người đó là sự đau khổ Đức Phật phân tích những nỗi đaukhổ đó dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng mới thể hiện được cái khổđau về mặt tâm sinh lý của con người chứ chưa phân tích được sự khổ đaucủa con người bắt nguồn từ những nguyên nhân trong đời sống xã hội.Chính vì vậy mà phương pháp thoát khổ, vượt qua khổ trong Phật giáocũng mang nặng tính chất tâm lý Cần thấy nếu thổi phồng, nhấn mạnh mộtlĩnh vực tâm lý, tinh thần của con người thì sẽ đem lại một cách nhìn phiếndiện về con người và xã hội, không thấy được nguyên nhân xã hội của đau

Trang 21

khổ nên đạo Phật xa lánh các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội Tuy vậy, hơntất cả các học thuyết phương Đông khác, Phật giáo đã đi sâu phân tích mặtphát triển tự nhiên của con người (Sinh - Lão - Bệnh - Tử) chỉ ra đó là sựphát triển tất yếu của cơ thể sống con người mà nếu ai nhận thức được thì

sẽ không sợ hãi trước sự thay đổi của cuộc đời, thậm chí khi đứng trước cáichết họ không khiếp sợ, bạc nhược

Theo quan niệm của đạo Phật, các sự vật, vạn pháp trên thế giới đều

bị chi phối bởi quy luật nhân - quả (theo nguyên lý duyên sinh) Vì vậy, saukhi nhận ra những nỗi khổ đau mà con người phải chịu đựng trong cuộcđời, Đức Phật đi tìm nguyên nhân gây ra sự khổ đau đó và trình bày trongphần Tập đế Dukkha Samudaya Arya Satya)

Triết lý Phật giáo cho rằng nguyên nhân của nỗi khổ chính là dolòng ái dục của con người gây nên Nhưng ái dục lại bắt nguồn từ sự vôminh, từ cái tâm vọng động, mê lầm của chính con người Con ngườikhông nhận thức được bản chất của thế giới này và ngay cả thân xác conngười cũng đều do lý nhân duyên hoà hợp mà biến hiện và thay đổi vôthường Con người muốn tồn tại mãi nhưng thực tại cứ biến dịch Conngười muốn trường tồn nhưng thực tại và cuộc đời cứ luân chuyển trongvòng: Sinh - Lão - Bệnh - Tử, không ngừng nghỉ Vì thế con người ta sinh

ra vọng tưởng, chấp ngã, vị kỷ, tham dục, chiếm đoạt, gây nên những nỗikhổ triền miên trong cuộc đời

Dựa trên giáo lý duyên sinh, Đức Phật nhận thấy cuộc đời conngười bị chi phối bởi mười hai nhân duyên: Vô minh, hành, thức, danh sắc,lục nhập, thụ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử Trong mười hai nhân duyên, vôminh và hành là nguyên nhân (nghiệp nhân) quá khứ để sinh ra quả báo ởđời hiện tại (thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thụ) Mười hai nhân duyên nốitiếp nhau như dòng sông không bao giờ ngừng chảy Trong đó, do duyêntrợ, chúng liên hệ và chuyển hoá cho nhau, vừa là nhân lại vừa là quả củanhau Trong đời hiện tại, con người do Tham Ái, Thủ, Hữu (tạo nguyên

Trang 22

nhân hiện tại) sinh ra hai quả vị lai là Sinh và Lão Tử Như vậy, ba đời quákhứ, hiện tại và vị lai trở thành mối quan hệ nhân quả lẫn cho nhau, trong

đó hai quả vị lai và năm quả của hiện tại là "Khổ", Hữu và Hành là

"Nghiệp" của quá khứ và hiện tại; Thủ, Ái và Vô-Minh là "Hoặc" của quákhứ và hiện tại Khổ, Hoặc và Nghiệp cũng quan hệ lẫn nhau nên tạo thànhmột vòng tròn tuần hoàn không ngừng

2 chi vị lai 11 Sanh

Khổ 2 quả vị lai

12 Lão và TửKhi thuyết minh về mười hai nhân duyên, Đức Phật luôn nhấnmạnh đến Vô minh và Ái thủ, bởi chính vô minh là nguyên nhân của mọikhổ đau, còn Ái thủ trực tiếp gây ra mọi vọng động Vả lại cái nhân củakhổ đau, theo Phật là do con người vô minh không nhận chân được duyênkhởi tính của hiện hữu, từ đó lại sinh ra tham ái và chấp hữu

Mười hai nhân duyên chuyển liên tục từ khâu này sang khâu kháctrong ba thời gian: quá khứ, hiện tại, vị lai Vì thế cho nên chúng sinh bịchìm đắm mãi trong bể khổ trầm luân, quay lộn trong vòng luân hồi sinh tửkhông dứt Nhưng xét đến cùng, chẳng những trong nhiều đời mà trong

Trang 23

một đời, trong từng niệm, mười hai nhân duyên cũng duyên khởi ra nhau,liên tục không gián đoạn.

Vấn đề đặt ra là: theo nhà Phật do con người không hiểu được đạo

lý duyên sinh cho nên chịu muôn vàn đau khổ, quay lộn mãi trong vòngluân hồi sinh tử Vậy nên làm thế nào để giải thoát con người khỏi vòngluân hồi, thoát khỏi mười hai nhân duyên nối tiếp nhau không dứt? Phật chỉ

ra muốn làm cho cái vòng luân hồi mười hai nhân duyên không tiếp tụcđược nữa thì phải chặt đứt một mắt khâu trong mười hai nhân duyên đểchúng không làm nhân, làm duyên với nhau được Vấn đề này được ĐứcPhật trình bày trong phần Diệt đế và Đạo đế

1.4 VẤN ĐỀ GIẢI THOÁT

Các trường phái triết học ở Ấn Độ cổ đại chú trọng vào các lĩnh vựckinh nghiệm tâm linh và vấn đề cơ bản là tôi luyện tâm linh để giải thoátcon người khỏi những khổ đau, trở về với bản thể đại ngã Đạo Phật cũngkhông nằm ngoài đặc trưng đó Đạo Phật là đạo giải thoát Vấn đề giảithoát là một trong những vấn đề cơ bản của đạo Phật Đức Phật không chỉdừng lại ở chỗ nói về khổ nạn và nguyên nhân của khổ nạn con người phảichịu đựng trong cuộc đời mà quan trọng hơn là sau đó Đức Phật nói về việckết thúc khổ nạn, nói về mục tiêu của đạo Phật Kinh Phật có nói:

"Hỡi chư tăng, tựa như nước của bể cả, chỉ thấm nhuần một hương

vị, hương vị mặn của muối Đạo lý của ta cũng chỉ thấm nhuần một hương

vị, hương vị của đạo giải thoát"

Trong phần Diệt đế (Nirodha), Đức Phật nói về mục tiêu tối hậu củađạo Phật là giải thoát cho con người thoát khỏi nỗi khổ thoát khỏi luân hồi,

để đạt tới trạng thái Niết bàn Theo chữ Phạn, Niết bàn gồm hai phần, "Nir"

và "Vâna" "Nir" là hình thức phủ định nghĩa là không, "Vâna" có nghĩa là

ái dục Cho nên "Đã diệt trừ lòng tham,đã diệt trừ lòng nóng giận, oán thù,

Trang 24

đã diệt trừ si mê (vô minh), đó là Niết bàn" (Kinh Tạp A Hàm) [3, 86].Trong một đoạn kinh khác Phật lại nói: "Dứt được lòng vị kỷ, thì chứngđược cảnh giới Niết bàn" Theo "Tôn giáo từ điển": "Niết bàn là một thếgiới tinh thần sau khi đã tiêu diệt được luân hồi sinh tử" [7, 899] Nhữngđiều mà ta định nghĩa về Niết bàn chỉ có thể làm rõ mặt này hay mặt kiacủa Niết bàn mà thôi Vì chúng ta đã đem cái ý niệm nhị nguyên, tương đối,còn có sự phân biệt vật - ta, vô - hữu, sinh - diệt vào giải thích một trạng tháituyệt đối: Trạng thái diệt trừ mọi danh sắc, cảm giác, ý thức, ý niệm; trạngthái diệt mọi ái dục, vô vi, thanh, tịnh, vắng lặng, không vọng động, tịchdiệt, bất tử, an lạc, hoàn thiện, vĩnh hằng Niết bàn (Nirvâna) là cảnh giớisiêu thời gian và không gian, là cảnh giới an lạc, giác ngộ và giải thoát củabậc giác ngộ trong đạo Phật Chúng ta không thể dùng tư duy và ngôn ngữ

để định nghĩa hay mô tả trực tiếp Niết bàn được mà phải bằng chính sựchứng ngộ, trực giác

Vấn đề then chốt là phải hiểu rằng: Niết bàn chỉ do chính ta tự thấy

mà thôi Con người phải thấu hiểu về những khổ đau và tự mình thực hànhviệc loại trừ nguyên nhân sinh ra khổ đau để giải thoát cho mình khỏi phiềnnão vô minh, sân hận và tham ái, đạt tới sự an lạc thanh tịnh trong tâm hồn.Việc giải thoát do chính con người tự lực cánh sinh đảm nhiệm lấy Phậtquan niệm mọi chúng sinh đều bình đẳng ngang nhau trên con đường giảithoát Phật nói: "Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành" Người ta

ai cũng có Phật tính, nếu có công tu dưỡng thì cuối cùng cũng thành Phật.Phật không chỉ nói mọi người đều có khả năng thành Phật, mà Đức Phậtcòn nói tất cả chúng sinh đều bình đẳng trên con đường giải thoát Chính ởđây thể hiện được tinh thần chống bất bình đẳng của đạo Phật Đức Phật đãchỉ rõ: "Tình thương và nhu cầu là những dây liên lạc giữa mọi người.Không có đẳng cấp trong dòng máu cùng đỏ như nhau, không có đẳng cấptrong giọt nước mắt cùng mặn Mỗi người sinh ra không phải đã mang sẵntrong bào thai dây chuyền ở cổ hay dấu tin-ka ở trán " [43, 115]

Trang 25

Những lời nói trên có thể coi như một lời tuyên ngôn của Đức Phậtchống lại sự bất công, sự bất bình đẳng trong một xã hội có đẳng cấp Đâychính là yếu tố có tác dụng khích lệ rất lớn đối với con người sống trong xãhội Ấn Độ cổ đại có sự phân biệt dẳng cấp ngặt nghèo lúc bấy giờ Nhưngbằng cách nào để thực hiện được mục đích và lý tưởng giải thoát, xoá bỏ vôminh, vọng tưởng, làm mê tâm mờ tính, diệt mọi ái dục và đau khổ, đưađến sự an tịnh, trí tuệ cao siêu, giác ngộ và Niết bàn? Lý giải vấn đề này,Đức Phật đưa ra Đạo đế (Marga Satya) Đó chính là quan điểm về conđường, cách thức hay phương pháp giải thoát của đạo Phật.

Theo triết lý Phật giáo, có 37 phương pháp tạo thành con đường vàcách thức để giải thoát còn gọi là 37 đạo phẩm, gồm có: bốn niệm xứ, bốnchánh cần, bốn như ý túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi, tám con đườngchính Nhưng con đường và phương pháp giải thoát tiêu biểu và tập trungnhất vẫn là "Bát chính đạo" Đó là con đường trung đạo, con đường tránhđược khuynh hướng tu luyện ép xác khổ hạnh của đạo Jaina,vừa tránh đượcchủ nghiã khoái lạc của phái Lokayata Cả hai khuynh hướng trên, theoquan điểm Phật giáo, đều không thể dẫn đến trạng thái diệt ái dục, thanhtịnh, tịnh tiến và chính giác được Lợi dưỡng vật chất, sa vào thế giới vậtdục là đam mê theo đuổi cái giả tướng, làm mê tâm mờ tính, làm chậm trễ

sự tiến bộ tinh thần Còn tu luyện khổ hạnh làm suy giảm trí lực, khó có thểđạt được mục tiêu đã chọn Trong kinh "Chuyển Pháp Luân", Đức Phật đãnói: "Người xuất gia (Pabbajitena) có hai cực đoan (antã) cần tránh, mộtcon đường thấp hèn chủ trương cuộc sống chỉ cần khoái lạc, một conđường cực nhọc vô ích như chủ trương của phái khổ hạnh ép xác Con đườngtrung đạo thì ở giữa hai thái cực kia, có thể dẫn đến giác ngộ và giải thoát " [6,167]

Về con đường và cách thức để diệt trừ nguyên nhân nỗi khổ của conngười là vô minh đi đến giải thoát con người phải thực hiện tam học - bátchính đạo Vậy tam học là gì ? Bát chính đạo bao gồm những bước tu tập nào?

Trang 26

Tam học bao gồm: Giới học - Định học - Tuệ học.

Giới học là toàn bộ luân lý thực hành của đạo Phật, mục đích để

kiềm chế rồi đi đến diệt dục, tức là chấm dứt mọi sự say đắm trụy lạc,những dục vọng làm cho con người sống trong vô minh, không thấy đượcthực tướng của thế giới và con người

Giới là những điều luật để phòng ngừa và tránh cho thân thể, lời nói

và tâm ý khỏi phạm điều sai Giới chính là những phương tiện thay đổi lốisuy nghĩ, lối sinh hoạt hàng ngày của con người, hướng con người sốnghướng về thiện Giới là giai đoạn đầu, giai đoạn tất yếu, nền tảng để chuyểnsang giai đoạn tiếp theo - Định Không có sự thực hiện giới thì thân tâmkhông trong sạch Giới làm cho cá nhân con người trải qua những biến đổiđạo đức nhất định theo chiều hướng thiện Để thực hành giới, ta phải thực

hiện chính ngữ, chính nghiệp và chính mệnh Chính ngữ có nghĩa là phải

nói lời chân chính, không nói dối, không nói xấu, không nói lời hung dữ vàkhông nói chuyện vô ích Chính ngữ là giữ cho lời nói - phần cực kỳ quan

trọng quan trọng trong đời sống con người - hướng về thiện Chính nghiệp

nghĩa là phải hầnh động một cách chân chính: không giết hại chúng sinh,không trộm cắp hay lừa bịp người khác, tránh ngoại tình, gian dâm, tạo nên

sự tôn trọng trong đời sống, tôn trọng tài sản và tôn trọng việc giao tiếp cá

nhân Chính mệnh là sự bổ sung thêm cho những điều thiện mà chính

nghiệp đã nêu được áp dụng cho những người đi làm để nuôi sống gia đình

Có nghĩa rằng ta phải mưu sinh trong sự tôn trọng đời sống, tôn trọng tàisản và tôn trọng việc giao tiếp cá nhân, tránh buốn bán súc vật đem giết,tránh buôn bán rượu, Tác dụng của Giới là giữ cho xã hội hài hòa, an lạc.Việc giữ Giới sẽ tạo cho con người an lạc, thanh tịnh nội tâm và người đó

có thể đạt được nhiều kết quả trong các bước tu tập tiếp theo Người đó cóthể trau dồi và phát triển thiền định Người đó chỉ có thể đạt được trí tuệkhi đã tạo được nền móng căn bản của Giới đức cả bên trong lẫn bên ngoài,

Trang 27

trong môi trường cũng như trong tương quan đối với người khác, phòngngừa những hành động sai lầm, hành động tội lỗi và ngăn cản sự nảy sinhnghiệp ác, xấu trong con người, đem lại sự hướng thiện cho con người.

Đạo Phật không chỉ có một mục tiêu về hạnh phúc và thịnh vượng

mà còn có mục tiêu giải thoát Muốn giải thoát, con đường duy nhất có thểđạt được chỉ là do trí tuệ Muốn vậy, chỉ việc giữ Giới thôi chưa đủ, ta phảithanh lọc tâm ý, phát triển tâm ý qua thiền định đạo Phật tập trung vào tâmthức, coi đó như là chìa khóa để đạt đến sự chuyển biến con người để thoátkhỏi luân hồi sinh tử Vì vậy, tiếp theo Giới học là Định học

Định học là đình chỉ mọi ý nghĩ xấu, mọi tư tưởng xấu, mọi vọng

niệm, nguyên nhân phát sinh những hành động xấu đi đến gây nghiệp báoxấu Định còn tập trung tư tưởng suy nghĩ để làm mọi việc lành, từ đó nảysinh một trạng thái an lạc, tạo điều kiện cho tuệ phát ra

Muốn vậy phải thực hiện ba bước:

Thứ nhất: Chính tinh tấn tức là tập trung năng lực vào trạng thái

tinh thần để giảm thiểu hay loại bỏ những tâm bất thiện, tăng trưởng vàcủng cố các tư tưởng thiện như một phần của bản chất của tâm thức

Thứ hai: Chính niệm tức là luôn nghĩ đến đạo lý Vô Ngã diệt trừ

những kiến chấp mê lầm, đoạn trừ những tư tưởng, hành động bất chính.Chính niệm còn là tỉnh thức hay chú tâm lưu ý, tránh tình trạng tinh thầnrối loạn hay phiền muộn Thực hành chính niệm đóng vai trò quan trọngtrong việc tu thiền trong đạo Phật

Thứ ba: Chính định, Thiền hay tĩnh lặng Định là cách thực hành

tập trung tâm nhắm vào một đối tượng, giữ thân tâm phẳng lặng, yên tĩnh,không một vọng niệm khởi lên Đối tượng ở đây có thể là vật chất hay tinhthần Khi tâm tập trung làm một chỉ nhằm vào một đối tượng là đạt địnhtâm, tâm hoàn toàn gắn chặt vào đối tượng ngăn chặn được tất cả nhữngsuy nghĩ, phóng tâm, dao động, bần thần Đó là mục tiêu thực hành thiền

Trang 28

định Cách thức tu định có thể thực hiện ở bất cứ chỗ nào giữa rừng sâu,nơi đồng vắng, ở chùa, cội cây mé sông, vào bất cứ lúc nào: đi, đứng,nằm hoặc ngồi, miễn trí không tán loạn, nhất tâm vào một chỗ là được.Nhưng Phật cho rằng ngồi một chỗ để thiền định là tốt hơn hết vì dễ tậptrung suy nghĩ hơn cả.

Phương pháp thiền của đạo Phật là phương pháp chiêm nghiệmhướng nội - hướng về nội tâm con người Đối tượng của chiêm nghiệm lànội tâm, là chính dòng tình cảm, dòng tư duy của chính mình Thiền baogồm các bước tu luyện làm chủ ý thức, tâm lý của chủ thể, chuyển dần nộitâm từ tán loạn đến định tĩnh, từ chỗ chạy theo dục vọng, ngoại cảnh sangtrạng thái bất động, sáng suốt

Phương pháp thiền gồm nhiều cấp độ, nhiều tiểu tiết rất tinh tế.Điều đó chứng tỏ khoa học hướng về thế giới nội tâm con người, phân tích

ý thức, tâm lý, sinh lý, của văn hóa Ấn Độ đã đạt được tới trình độ rấtphong phú, rất sâu mà cho tới nay nền khoa học phương Tây vẫn kinhngạc và thán phục

Mô hình thiền của đạo Phật toát lên tinh thần rất riêng của triết họcPhật giáo khác hẳn truyền thống cũ Đạo Bàlamôn, phái Yoga dùng thiền

để xóa bỏ cá tính (Atman) để trở thành đồng nhất với Đại ngã duy nhất(Brahman) Ngược lại, đạo Phật dùng thiền để đạt đến giác ngộ, tức là đểgiác ngộ ngay lập tức, không qua suy luận, không qua ngôn ngữ Chỗ kháccăn bản này khiến cho Phật giáo không hòa với các trường phát triết họchữu thần luận trong triết học Ấn Độ cổ đại

Khi thực hiện thiền định, ta sẽ có thiền lực đem lại hai tác dụng:

trước hết, thiền đem lại sự thoải mái về vật chất và tinh thần, sự thư thái, hỉ

lạc, bình tĩnh, tịch tịnh cho con người; thứ hai, thiền khiến cho tâm trong

sáng có thể nhìn sự vật đúng chúng là như thế Thiền giúp cho tâm đạt trí

Trang 29

tuệ Khi chúng ta đạt được nhất tâm chúng ta mới sẵn sàng tiến tới việchiểu biết sâu xa.

Tuệ học là bước thứ ba trong con đường tu tập đi đến giải thoát.

Tuệ học là trí tuệ sáng suốt của người tu hành đã diệt được dục vọng, diệtđược tam độc là tham, sân, si, đã thấu được lý vô thường, vô ngã, do đó chỉnghĩ đến làm điều thiện, mưu lợi ích cho chúng sinh Tuệ học gồm hai

bước: Chính kiến tức là nhìn thấy đúng sự vật và biết rõ thực chất của sự vật đó là duyên sinh tạo nên, là vô thường, vô ngã Chính tư duy là tư duy

đúng với duyên sinh tính, vô ngã tính của các pháp Đây là con đường loại

bỏ các tà tư duy, các vọng niệm, đạt tới giác ngộ

Khi thực hiện được các bước tu tập trên đây, con người sẽ đạt tớitrạng thái thanh tịnh, an lạc, ung dung, tự tại,không vọng động, đạt tới giácngộ và cảnh trí Niết bàn Giới - Định - Tuệ, ba bước tu học trên có quan hệmật thiết với nhau Bởi người nào giữ Giới một cách nghiêm ngặt mới cóthể Thiền Định và nhờ có Thiền Định mới phát Tuệ (nhà Phật gọi là Huệ)

Có Tuệ mới đoạn tuyệt các tà tư duy, đạt đến giác ngộ

Cùng với "Tam học" và "Bát chính đạo", Đức Phật còn đưa ranhững phương pháp thực hành tu luyện tổng quát cho tất cả các Phật tử để

họ chủ động thực hiện điều tốt cho người và cho mình, đó là "Ngũ giới" và

"Lục độ" "Ngũ giới" gồm: 1 Bất sát; 2 Bất đạo; 3 Bất dâm; 4 Bất vọngngữ; 5 Bất ẩm tửu "Lục độ" tức "sáu phép tu" gồm: 1 Bố thí (Dana); 2.Trì giới (Sila); 3 Nhẫn nhục (Ksãnti); 4 Tinh tiến (Virya); 5 Thiền định(Dhyãna); 6 Bát nhã (Prãjã) Nếu đem "Lục độ" phối hợp với "Tam học"thì ta thấy "Bố thí", "Trì giới", "Nhẫn nhục", "Tinh tiến" thuộc về Giới;

"Thiền định" thuộc về Định; "Bát nhã" thuộc về Tuệ

Có thể nói "Tam học" và " Bát chính đạo" trong triết lý giải thoátcủa Phật giáo là cách thức tu luyện đạo đức, nhân sinh cho con người cótính chất toàn diện và tổng hợp nhằm xoá bỏ sự vô minh, mê lầm của con

Trang 30

người làm cho: tính thiện, tâm định, tuệ phát, giác ngộ đạt tới cõi Niết bàn.

Vì vậy trong Kinh "Pháp Cú", Đức Phật đã nói: "Con đường cao thượng làBát chính đạo Chân lý cao thượng nhất là Tứ đế Không luyến ái là trạngthái cao thượng nhất "[6, 173]

Phật giáo cho rằng khi đã hoàn toàn giác ngộ và thể nhập vào Niếtbàn thì ngay cả "Bát chính đạo" và mọi ý niệm về Niết bàn, về Phật vàPháp cũng phải từ bỏ nốt Đức Phật thường ví Bát chính đạo như conthuyền chở người tu hành qua sông mê (vô minh); và giáo lý của Ngườinhư ngón tay chỉ mặt trăng Người dạy "Giáo lý của ta như chiếc bè đểqua sông ","như ngón tay chỉ mặt trăng, đừng lấy ngón tay làm mặt trăng "[41, 121] Vượt qua được sông mê, thấy được mặt trăng thì phải biết rời bỏluôn thuyền, hay đừng nhìn mãi vào ngón tay trỏ Nếu không sẽ chẳng baogiờ vượt được sông mê, thấy được mặt trăng cả Đồng thời Đức Phật chủtrương mỗi người phải tự mình thực hiện các bước tu tập trên để đi đếngiác ngộ mà không có ai làm thay cho được

Như thế, tư tưởng giải thoát của Phật giáo thể hiện tính nhân bản rấtsâu sắc Nó quan tâm đến thân phận của mỗi con người và chủ trương giảithoát cho tất cả chúng sinh khỏi những nỗi khổ của cuộc đời bằng chính đờisống đạo đức và sức mạnh trí tuệ của con người Cho nên Đức Phật thườngnói Phật tại tâm và thường khuyên mọi người rằng chỗ dựa ở chính trongtâm mỗi người

Phật giáo lấy trọng tâm giáo lý là diệt khổ đạt tới Niết bàn(Nirvana) nhưng con đường tới Niết bàn là một quá trình tự phấn đấu củabản thân, do chính con người thực hiện chứ không phải do thượng đế hayđấng siêu nhiên nào đó ban phát Đức Phật cho rằng tự bản thân chủ thể đã

có sẵn tính siêu nhiên và đều bình đẳng với nhau về khả năng giải thoát.Khả năng giải thoát đó là khả năng tự gạt bỏ tính trần tục thuộc về bảnnăng của chính từng người

Trang 31

Niềm tin vào Đức Phật không phải là sự tôn sùng quy lụy mà có cơ

sở từ niềm tin vào chính "Phật tính" của bản thân mỗi người, không phânbiệt nguồn gốc, đẳng cấp, không phân biệt kẻ xấu hay người tốt trên conđường mong muốn "thoát khổ" đạt tới "Niết bàn" Đây là điểm tiến bộ, nổitrội trong Phật giáo thể hiện tinh thần bình đẳng tôn giáo

Niềm tin vào "Niết bàn" không giống niềm tin vào "Thiên đường",vào "Thế giới bên kia" do Thượng đế ban phát ở các tôn giáo khác Niềmtin tôn giáo trong Phật giáo là quyết tâm đầy lý trí về khả năng siêu nhiênvốn có của chính bản thân con người Thuyết báo ứng, nghiệp báo cho rằng

sự đền báo đích thực là do chính hành động của mình trongcuộc đời đãđược trả giá hoặc sẽ được trả giá

Tuy nhiên, quan niệm nhân sinh của Phật giáo nguyên thủy cónhững hạn chế nhất định Phật giáo nghiên cứu về con người chỉ giới hạn ở

việc nghiên cứu con người cá nhân hướng nội chứ không phải con người

xã hội Đạo Phật phủ nhận những ham muốn tự nhiên, những khát vọng củacon người Điều đó trái với thực tế, bởi vì chính khát vọng mới là động lựccủa sự vận động và phát triển xã hội Đạo Phật không có quan điểm lịch sử

về xã hội, không coi con người tồn tại như những thành viên của một quan

hệ sản xuất, quan hệ kinh tế hay quan hệ xã hội - chính trị mà chỉ xét conngười trong quan hệ đạo đức Đạo Phật không thấy con người thuộc cácgiai cấp đối kháng nhau trong xã hội, không thừa nhận sự đấu tranh giaicấp trong xã hội Đạo Phật không thấy được nguyên nhân xã hội đưa đến sựkhổ đau của con người Do đó, Phật giáo ít quan tâm chú ý tới việc làm thếnào cho của cải vật chất ngày càng phong phú, tới việc giải phóng conngười về mặt xã hội

Phật giáo không bàn tới lĩnh vực xã hội - chính trị, xa lánh các vấn

đề kinh tế và chính trị Nó chủ trương giáo dục con người cá nhân về mặtđạo đức làm cho con người ai cũng từ bi, hỷ xả và nhẫn nhục như nhau Nókhiến người ta không hướng vào hiện thực để tìm lời giải đáp cho hiện tại,

Trang 32

mà là hướng vào nghiệp, vào quả báo, vào tâm linh để mong được sự giảithoát thuần tuý về mặt tinh thần, đạo đức Do vậy, nó không kích thích conngười tìm tòi, khám phá, sáng tạo và hành động và vì vậy đạo Phật là mộtđạo chủ trương xuất thế (xa lánh những vấn đề của đời sống "trần tục").Đây chính là những nhược điểm của nhân sinh quan đạo Phật mà chúng tacần chú ý khi xem xét ảnh hưởng của nó trong thực tiễn hiện nay.

Về sau này khi Đức Phật nhập diệt, giáo lý và tổ chức đạo Phật đãphát triển thành ba dòng phái:

1 Phật giáo nguyên thủy (Theravada): còn gọi là tiểu thừa

(Himayana, tức là cỗ xe nhỏ) Dòng phái này chủ trương chỉ thờ Buddha,không thờ thần linh và mục đích của tôn giáo này là tu để bản thân giác ngộthành La Hán (Arhat)

Dòng tiểu thừa phát triển mạnh ở Đông Nam Á như Sri Lanka, TháiLan, Miến Điện, Lào, Campuchia còn gọi là Phật giáo Nam phương

2 Phật giáo đại thừa (Mahayana, tức cỗ xe chở nhiều người): chủ trương "tự giác" cho bản thân và "giác tha" cho chúng sinh đau khổ.

Dòng phái Đại thừa cho rằng trước khi thành Phật thì phải đạt tới Bồ-tát(Bodhisattva) Đại thừa không chấp nê kinh điển, thờ cả Phật và thờ cả Bồ-tát Dòng Đại thừa phổ biến ở Nêpan, Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản,Việt Nam còn gọi là Phật giáo Bắc phương

3 Kim cang thừa, còn gọi là Mật tông (Tantrayana hay Vajrayana):

có tính chất bí truyền kết hợp phù chú, bùa linh, để tự giải thoát, phổ biến

ở Tây Tạng và Mông Cổ [31, 362]

Chương 2

NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO

Trang 33

TRONG TÍN ĐỒ ĐẠO PHẬT HÀ NỘI HIỆN NAY

2.1 ĐẠO PHẬT DU NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN Ở VIỆT NAM NÓI CHUNG VÀ HÀ NỘI NÓI RIÊNG

Việt Nam vốn là nước có nền kinh tế tiểu nông lạc hậu Về mặt địa

lý, Việt Nam nằm trong bán đảo Đông Dương, tiện lợi cho việc giao lưuvới những nước trong khu vực trong đó có Ấn Độ và Trung Quốc Đây làhai nước có hai nền văn minh cổ xưa nhất của châu Á Như vậy sự ảnhhưởng của hai nền văn minh đó đối với Việt Nam là tất yếu

Việt Nam, những năm đầu Công nguyên, vốn là nước có nền kinh

tế nông nghiệp trồng lúa nước và đang ở thời kỳ Bắc thuộc Về tôn giáo,tầng lớp trên của xã hội đã bắt đầu chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo,tầng lớp dưới có quan niệm về ông trời - đấng gây phúc họa cho con người,tin ở các hiện tượng tự nhiên, có tín ngưỡng thờ tổ tiên

Đạo Phật được truyền vào Việt Nam từ đầu Công nguyên bằng haicon đường: Đường thuỷ thông qua con đường buôn bán với thương gia Ấn

Độ Qua việc buôn bán đó, những tư tưởng của Phật giáo cũng được đưavào (qua việc tiếp xúc với tín ngưỡng Phật giáo của thương gia Ấn Độ, quaviệc truyền bá của những nhà sư của Ấn Độ) Sau này Phật giáo từ TrungQuốc truyền sang nước ta theo đường bộ Phật giáo Việt Nam chịu ảnhhưởng Phật giáo Ấn Độ và Trung Quốc Sự truyền bá đạo Phật vào ViệtNam là cả một quá trình lâu dài từ đầu Công nguyên tới cuối thời kỳ Bắcthuộc và cả thời kỳ độc lập Hướng Tây Nam trực tiếp từ Ấn Độ sang trongbuổi đầu nhanh chóng được thay thế bằng hướng Bắc xuống Phật giáoTrung Quốc truyền vào nước ta gồm có: Thiền tông, Tịnh Độ tông và Mậttông

Trang 34

Thiền tông là phái chủ trương tập trung trí tuệ suy nghĩ (Thiền) để

tìm ra các chân lý của đạo Phật, vì vậy nó phổ biến chủ yếu ở tầng lớp trí

thức và tầng lớp thượng lưu Dòng Thiền thứ nhất do nhà sư

Tì-ni-đa-lưu-chi lập ra ở Luy Lâu (Thuận Thành - Bắc Ninh) Ông là người Ấn Độ, hànhđạo ở Trung Quốc vào Việt Nam năm 580, tu ở chùa Pháp Vân (ThuậnThành - Bắc Ninh) và truyền cho tổ thứ hai là Pháp Hiền Dòng Thiền nàytruyền được mười chín thế hệ (1216) Phái Thiền này chú trọng tu định,

tham Thiền song vẫn chú ý đến việc giáo hóa chúng sinh Dòng Thiền thứ

hai do nhà sư Vô Ngôn Thông (ở Quảng Châu - Trung Quốc) vào Việt

Nam năm 820, tu ở chùa Kiến Sơ (Phù Đổng - Bắc Ninh) lập ra, tổ thứ hai

là Cảm Thành, truyền được mười lăm đời (1221) Dòng thiền này cho rằng:

"chân lý" không ở đâu xa, mà ở ngay bản thân mỗi người Nhưng "chân lý"

đó chỉ có thể có được bằng giác ngộ trực tiếp, chứ không thể nắm được quangôn ngữ Ở đây, đã đặt vấn đề đốn ngộ và giác ngộ Có thể tóm tắt tưtưởng của phái Thiền tông này như sau: không lập văn tự, truyền phápkhông qua giáo lý, chỉ thẳng vào tâm, kiến tính thành Phật Như vậy, giáo

lý đạo Phật lúc này không chỉ đặt vấn đề giải thoát cho mọi đau khổ của

con người mà còn đặt vấn đề giác ngộ thành Phật Phái Thiền thứ ba do

nhà sư Thảo Đường lập ra vào thời Lý Thiền sư Thảo Đường là ngườiTrung Quốc, theo sư phụ sang ở Chiêm Thành Vua Lý Thánh Tông đánhChiêm Thành bắt được Ngài đem về nước (1069) Sau Ngài được Vua Lýphong làm quốc sư Dòng này truyền được sáu đời (1205) [29, 202]

Điều đáng chú ý là thời Trần, có vua Trần Nhân Tông, vốn nghiêncứu và thông tuệ giáo lý nhà Phật từ trước, sau khi xuất gia vào năm 1299

đã lên tu ở núi Yên Tử (Quảng Ninh) và tại đây đã lập ra Thiền phái TrúcLâm, thống nhất được các Thiền phái tồn tại trước đó và toàn bộ Giáo hộiPhật giáo thời Trần về một mối Tổ thứ hai của Thiền phái Trúc Lâm là nhà

sư Pháp Loa, tổ thứ ba là nhà sư Huyền Quang Sau này còn xuất hiện một

số Thiền phái khác (như phái Tào Động, phái Liên Tông, phái Lâm Tế,phái Liễu Quán, ) nhưng nhìn chung phạm vi ảnh hưởng không lớn

Trang 35

Tịnh Độ tông là phái chủ trương dựa vào sức mạnh siêu nhiên của

Phật Adiđà để giúp đỡ những người bình thường giác ngộ Tịnh độ tông gợi

mở cho tín đồ về một Niết bàn cụ thể - đó là nước Tây phương cực lạc.Tịnh độ tông cho rằng chỉ cần niệm tên Phật Adiđà thường xuyên là có thểđến Tây phương cực lạc Có thể nói, tịnh độ tông là con đường đơn giảnnhất để đến Niết bàn Vì vậy nó có ảnh hưởng rộng trong tầng lớp bình dân

Mật tông là phái chủ trương dùng những phép tu huyền bí như dùng

linh phù, mật chú, ấn quyết để mau chóng đạt đến giác ngộ và giải thoát.Tương truyền, Mật tông do Phật Đại Nhật (Mahavatnocama) chủ xướng vớihai bộ kinh cơ bản là Đại Nhật và Kinh Kim cương, vào Việt Nam vànhanh chóng hoà vào dòng tín ngưỡng dân gian với những truyền thống cầuđồng, dùng pháp thuật yểm bùa, trị tà ma và chữa bệnh

Cần chú ý: các tông phái Thiền tông, Tịnh Độ tông và Mật tông củaPhật giáo Trung Quốc khi truyền vào Việt Nam đã không còn tồn tại với tưcách ba tông phái độc lập Khi vào Việt Nam chỉ còn Thiền tông được tồntại với tư cách một dòng phái độc lập, còn Tịnh độ tông và Mật tông đã trởthành những yếu tố hoà lẫn vào Thiền tông Giáo sư Hà Văn Tấn đã nhậnxét về tình hình trên như sau: "Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, trước sauchỉ có các phái Thiền tông là tồn tại với tư cách là các phái độc lập Tịnh

Độ tông và Mật tông ở Việt Nam không hề trở thành các tông phái riêngbiệt, độc lập với Thiền tông mà chỉ là các yếu tố được Thiền tông tiếpnhận." [43-84, 85] Có thể thấy rõ là: Từ Trung Quốc truyền vào Việt Nam,Phật giáo đã có sự biến đổi cho phù hợp vói đặc điểm cư dân người Việtchứ không phải là người Việt tiếp nhận nguyên vẹn, giản đơn các tông pháiđạo Phật của Trung Quốc Vì vậy ở nước ta, Phật giáo khi được xét là mộtthực thể tôn giáo thì ba yếu tố này lại gắn chặt với nhau

Phật giáo khi du nhập vào Việt Nam đã có mối liên hệ qua lại mậtthiết với tư tưởng Việt Nam, văn hóa Việt Nam Vì vậy, một mặt Phật giáo

có những đóng góp vào văn hóa Việt Nam và mặt khác chính văn hóa Việt

Trang 36

Nam làm biến đổi Phật giáo, làm cho Phật giáo Việt Nam có những đặctrưng riêng khác với Phật giáo ở các nước khác trên thế giới Điều đó đượcthể hiện rõ nét trên các khía cạnh sau:

Thứ nhất, do đặc điểm đa số cư dân Việt Nam là cư dân trồng lúa

nước với tín ngưỡng bản địa là đa thần giáo nên khi Phật giáo với thuyếtnhân quả, luân hồi, nghiệp báo thâm nhập vào Việt Nam thì nó đã gặp gỡvới thế giới quan và nhân sinh quan người dân bản địa Vì vậy đối vớingười dân Việt, đạo Phật không chỉ là một triết thuyết mà quan trọng hơn

đó là một cuộc sống thiện, sống có đạo đức, trung thực, nhân ái, bao dung.đạo Phật ở Việt Nam được đông đảo quần chúng lao động ngheo khổ tiếpnhận Giáo sư Trần Đình Hượu đã khái quát ở Việt Nam: "Nước Phậtkhông chỉ dành cho người xuất gia, càng không phải dành riêng cho ngườigiàu sang, không phải quần chúng đến với Phật mà Phật đến với quầnchúng Kết quả của việc đó là người tu hành gắn với quần chúng nghèokhổ và nhà chùa gắn với làng xã" [41, 58]

Đạo Phật ở Việt Nam đã tiếp nhận hoà đồng với tín ngưỡng bản địa(thờ tổ tiên, thờ thành hoàng) Vì vậy, lối kiến trúc phổ biến trong các ngôichùa là "Tiền Phật, hậu Thánh" với việc trong chùa thờ cả Phật cùng các vịanh hùng dân tộc như Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt, Nguyên phi ỶLan Chính sự kết hợp này đã làm cho đạo Phật gần gũi hơn với mọingười dân, giúp cho đạo Phật thâm nhập vào quần chúng nhân dân, duy trì

và phát triển theo suốt chiều dài lịch sử dân tộc

Thứ hai, đạo Phật Việt Nam kết hợp chặt chẽ việc đạo với việc đời.

Tuy bản chất của đạo Phật là xuất thế nhưng Phật giáo Việt Nam lại rấtnhập thế Ngay ở giai đoạn đầu của Phật giáo Việt Nam thì giới tu hànhcũng là giới trí thức, họ không chỉ hoạt động truyền bá Phật giáo mà còndạy học và chữa bệnh, nhiều nhà sư đã từng tham chính hoặc làm cố vấncho các nhà vua về các vấn đề đại sự quốc gia Tiêu biểu như nhà sư NgôChân Lưu được Đinh Tiên Hoàng cử làm Tăng thống năm 971 và ban hiệu

Ngày đăng: 19/02/2014, 14:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w