1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghĩa vụ công bố thông tin của công ty cổ phần đại chúng theo pháp luật việt nam

61 39 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thấy được tầm quan trọng của vấn đề, tác giả chọn đề tài “Nghĩa vụ công bố thông tin của công ty cổ phần đại chúng theo pháp luật Việt Nam” với mong muốn có thể làm rõ hơn những n

Trang 1

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2021

Trang 2

2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA QUẢN TRỊ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

NGHĨA VỤ CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẠI CHÚNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

SINH VIÊN THỰC HIỆN: NGUYỄN TIẾN TRỌNG KHÓA: 41 MSSV: 1651101030153

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: TS PHAN THỊ THÀNH DƯƠNG

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2021

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN Tôi cam đoan: Khóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Phan Thị Thành Dương, đảm bảo tính trung thực và tuân thủ các quy định về trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này

Tác giả

Nguyễn Tiến Trọng

Trang 4

ĐHĐCĐ Đại hội đồng cổ đông

UBCKNN Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước

SGDCK Sở Giao dịch chứng khoán

BCTN Báo cáo thường niên

LCK 2006 Luật Chứng khoán (Luật số 70/2006/QH11) ngày 29/06/2006 LCK 2019 Luật Chứng khoán (Luật số 54/2019/QH14) ngày 29/11/2019

HNX Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGHĨA VỤ CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẠI CHÚNG 6

1.1 Khái quát về nghĩa vụ công bố thông tin của công ty cổ phần đại chúng 6

1.1.1 Khái niệm nghĩa vụ công bố thông tin của công ty cổ phần đại chúng 6

1.1.2 Đặc điểm hoạt động công bố thông tin của công ty đại chúng 9

1.1.3 Học thuyết nền tảng của hoạt động công bố thông tin 12

1.1.4 Sự cần thiết phải điều chỉnh pháp luật đối với nghĩa vụ công bố thông tin của công ty đại chúng 15

1.1.5 Phân loại công bố thông tin của công ty đại chúng 19

1.1.6 Nguyên tắc công bố thông tin của công ty đại chúng 22

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 27

CHƯƠNG II: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ NGHĨA VỤ CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA CÔNG TY ĐẠI CHÚNG 28

2.1 Chủ thể thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin của công ty đại chúng 28

2.1.1 Công ty đại chúng 28

2.1.2 Người công bố thông tin 31

2.2 Cơ chế giám sát của cơ quan nhà nước quản lý có thẩm quyền 32

2.3 Thực trạng quy định pháp luật về nghĩa vụ công bố thông tin của công ty đại chúng và đề xuất hoàn thiện 33

2.3.1 Nội dung thông tin công bố 33

2.3.2 Thời hạn công bố thông tin 40

2.3.3 Phương tiện công bố thông tin 43

2.3.4 Tình hình thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán Việt Nam 44

2.3.5 Kiến nghị hoàn thiện nghĩa vụ công bố thông tin của công ty đại chúng 47

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 50

KẾT LUẬN CHUNG 51 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sau hơn 20 năm hình thành từ một thị trường chứng khoán (TTCK) non trẻ, TTCK Việt Nam đã có những bước tiếp không ngừng và phát triển với những sự hoàn thiện về mặt cấu trúc, tăng trưởng về chất lượng lẫn quy mô và tầm vóc Theo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), kể từ phiên giao dịch đầu tiên của TTCK Việt Nam ghi nhận sự tham gia của 02 công ty niêm yết (CTNY) với hai mã cổ phiếu là SAM và REF Đến năm 2006, số công ty cổ phần đại chúng (CTCPĐC) thực hiện niêm yết trên TTCK

là khoảng 200 công ty và con số này đến cuối năm 2019 là hơn 1.600 công ty Tính đến ngày 30/6/2020, tổng vốn hóa của TTCK Việt Nam đạt mức 5,5 triệu tỷ đồng, tỷ lệ vốn hóa thị trường/GDP đã tăng từ mức 0,3% năm 2000 lên mức 104% GDP tháng 6/2020 Trong đó, vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt trên 4 triệu tỷ đồng, tương ứng khoảng 64,5% GDP năm 2019 Theo tính toán, trong 20 năm qua, vốn hóa TTCK ước tính tăng trưởng

ở mức trung bình hơn 50%/năm.1 TTCK chứng tỏ vai trò kênh cung cấp vốn trung, dài hạn cho nền kinh tế, với sự phát triển không ngừng của mình, trong 6 tháng đầu năm

2020, mặc dù chịu ảnh hưởng từ đại dịch COVID-19, tổng mức huy động vốn cho nền kinh tế qua TTCK vẫn đạt khoảng 107 nghìn tỷ đồng Ước tính tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội hàng năm được thực hiện qua kênh TTCK Việt Nam ở mức bình quân 16,5%/năm giai đoạn 2016-2019.2 Đặc biệt sự thu hút không chỉ dừng lại ở các nhà đầu tư trong nước mà có cả các nhà đầu tư nước ngoài tham gia thị trường, có thể kể đến như các quỹ ngoại (DCVEIL, FTSE, ) cũng rất quan tâm TTCK Việt Nam

Trên TTCK, thông tin được ví như mạch máu, nguồn dưỡng chất cung cấp cho thị trường và là cơ sở để nhà đầu tư xây dựng chiến lược cũng như quyết định mức độ thành công của việc đầu tư Chính vì lẽ đó mà TTCK cũng là thị trường cực kỳ nhạy cảm với thông tin, nhà đầu tư sẽ phải chịu mức độ rủi ro rất lớn nếu thiếu thông tin hoặc thông tin không chính xác và ngược lại những nhà đầu tư nắm thông tin là những người nắm lợi thế vô cùng lớn Do đó công khai, minh bạch thông tin được coi là một trong những nhân tố quan trọng nhất giúp TTCK phát triển cũng như bảo vệ quyền lợi của nhà đầu

1 ThS Nguyễn Hữu Bình, “Thị trường chứng khoán Việt Nam: Sự trưởng thành sau 20 năm hình thành và phát triển”, http://consosukien.vn/thi-truong-chung-khoan-viet-nam-su-truong-thanh-sau-20-nam-hinh-thanh-va-phat- trien.htm, truy cập ngày 30/6/2021

2 Anh Minh, “Chuyên gia: TTCK Việt Nam cần có tầm nhìn và hành động đúng để sớm nâng hạng”,

http://baochinhphu.vn/Utilities/PrintView.aspx?distributionid=401241, truy cập ngày 30/6/2021

Trang 7

2

tư Đặc biệt tại những TTCK mới nổi như Việt Nam, tham gia thị trường chủ yếu là nhà đầu tư cá nhân và tâm lý đầu tư thường diễn ra theo số đông thì mức độ ảnh hưởng của thông tin càng lớn Nổi bật hơn cả phải kể đến thông tin của CTCPĐC bởi sự đa dạng nguồn tin, mật độ phủ sóng dày đặc trên các kênh thông tin tạo ra ý nghĩa tác động rất lớn đối với tâm lý đầu tư và thị trường so với các nhóm đối tượng khác như Sở Giao dịch chứng khoán (SGDCK), công ty giám sát, CTCPĐC, các quỹ đầu tư chứng khoán hay

kể cả những nhà đầu tư như cổ đông lớn,

Vì vậy, ngay từ thời điểm TTCK mới thành lập và trong suốt quá trình vận hành, các nhà làm luật cũng xác định rõ vai trò của CBTT đối với TTCK nói chung và CBTT của CTCPĐC nói riêng, từ đó thúc đẩy xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý điều chỉnh hoạt động CBTT, một bộ phận của hệ thống pháp luật chứng khoán và TTCK Mới nhất ngày 29/11/2019, Quốc hội khóa 14 chính thức thức thông qua Luật Chứng khoán 2019 (LCK 2019) thay thế Luật Chứng khoán 2006 (LCK 2006) và Luật sửa đổi, bổ sung năm

2010 đã không còn phù hợp với sự phát triển và những yêu cầu của thị trường hiện nay, cũng như chưa không bao quát đầy đủ về các nội dung thông tin phải công bố lẫn các chủ thể phải CBTT Nối tiếp sự ra đời của LCK 2019, Thông tư số 96/2020/TT-BTC được Bộ Tài chính ban hành ngay sau đó, để thay thế Thông tư số 155/2015/TT-BTC đã hết hiệu lực cũng như kịp thời hướng dẫn chi viết và cụ thể hoá các quy định CBTT của LCK 2019 với nhiều quy định được bổ sung, các yêu cầu chặt chẽ hơn so với trước Tuy nhiên, các văn bản này sẽ có hiệu lực đầu năm 2021, liệu những quy định mới về CBTT

có phù hợp và đáp ứng nhu cầu thị trường hiện tại và tương lai, đã khắc phục được những bất cập về CBTT trước đây hay chưa Bởi trên thực tế, chất lượng CBTT tại Việt Nam hiện nay chưa cao, đặc biệt nếu so với chuẩn mực công bố thông tin ở các thị trường tài chính đã phát triển.3 Trong khi yêu cầu về tính công khai, minh bạch thông tin của nhà đầu tư tham gia thị trường ngày càng cao, nhất là đối với các thông tin của CTCPĐC

Nhận thấy được tầm quan trọng của vấn đề, tác giả chọn đề tài “Nghĩa vụ công

bố thông tin của công ty cổ phần đại chúng theo pháp luật Việt Nam” với mong muốn

có thể làm rõ hơn những nội dung trên đồng thời cập nhật những quy định mới ban hành,

3 Trần Linh Huân (2019), Một số góp ý hoàn thiện về quy định của Luật Chứng khoán trong việc bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư, Tài liệu Hội thảo Góp ý Dự thảo Luật Chứng khoán, Trường Đại học Luật TPHCM ngày 09/10/2019, tr 31

Trang 8

Tác giả Đinh Văn Sơn với tác phẩm Thông tin chứng khoán và giao dịch chứng

khoán tại SGDCK Hà Nội, Nhà xuất bản Tài chính, xuất bản năm 2010 Trong tác phẩm

tác giả đưa ra quan điểm về ảnh hưởng của thông tin đối với TTCK, đặc biệt là vai trò CBTT của CTCPĐC, đồng thời tác giả cũng đưa các các phân tích, đánh giá hệ thống quy định pháp lý đối với hoạt động CBTT cũng như có những góp ý hoàn thiện

Đề tài nghiên cứu khoa học “Hoàn thiện hệ thống công bố thông tin của công tin

đại chúng trên TTCK Việt Nam” của TS Tạ Thanh Bình, UBCKNN vào năm 2011 Đề

tài nghiên cứu làm rõ các thông tin phải công bố của CTCPĐC trên TTCK, phân tích đánh giá thực trạng để đưa ra các giải pháp hoàn thiện hệ thống CBTT của chủ thể này

Đề tài nghiên cứu khoa học “Một số giải pháp cơ bản để nâng cao hoạt động

công bố thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam” của ThS Trần Quốc Tuấn,

UBCKNN vào năm 2001 Đề tài nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận chung nhất của CBTT trên TTCK, nêu lên vai trò của hệ thống CBTT đối với TTCK ngay từ những ngày đầu thành lập, đồng thời nghiên cứu kinh nghiệm về hoạt động CBTT ở một số nước từ

đó rút ra bài học cho Việt Nam cũng như đề xuất các giải pháp hoàn thiện

Luận văn Thạc sĩ “Khung pháp lý điều chỉnh hoạt động công bố thông tin trên

thị trường chứng khoán Việt Nam, thực trạng và giải pháp hoàn thiện” của tác giả Trần

Văn Long, Trường Đại học Luật TPHCM vào năm 2004 Công trình nghiên cứu này trình bày khái quát về cơ sở lý luận của hoạt động CBTT trên TTCK; mô hình CBTT trên TTCK tập trung tại Thái Lan và Hàn Quốc Từ đó, nêu thực trạng khung pháp lý điều chỉnh cũng như giải pháp hoàn thiện hoạt động CBTT trên TTCK của các chủ thể

và các phương tiện CBTT qua hệ thống các văn bản pháp luật

Luận văn Thạc sĩ “Pháp luật về công bố thông của công ty đại chúng trên TTCK

Việt Nam” của tác giả Đỗ Nguyễn Ngọc Bích, Trường Đại học Luật TPHCM, vào năm

2011 Công trình nghiên cứu này đã tìm hiểu rất chi tiết về CBTT của CTCPĐC ở Việt Nam Tác giả phân tích cặn kẽ pháp luật Việt Nam về chủ thể và trách nhiệm CBTT của

Trang 9

4

CTCPĐC, người CBTT,…cũng như đề ra một số nguyên tắc và kiến nghị để hoàn thiện pháp luật

Bài viết “Hoạt động CBTT của công ty đại chúng và vấn đề bảo vệ nhà đầu tư

chứng khoán” của tác giả Đỗ Thị Thu Hà, Tạp chí Tài chính Kỳ 1- Tháng 10/2018, trang

48-50 Trong bài viết tác giả nghiên cứu về tình hình vi phạm pháp luật liên quan đến hoạt động CBTT của CTCPĐC cũng như các quy định pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư trong hoạt động CBTT, bất cập tồn tại và giải pháp nâng cao hiểu quả

Bài viết “Nâng cao chất lượng báo cáo tài chính của các công ty đại chúng” của

tác giả Trương Thị Thuỳ Dương, Tạp chí Tài chính Kỳ 1 Tháng 3/2017, Hà Nội Trong nghiên cứu tác giả đưa những bất cập, hạn chế của báo cáo tài chính (BCTC) nói chung

và đặc biệt là vấn đề CBTT BCTC nói chung, từ đó tác giả cho rằng cần tăng cường cơ chế giám sát đối với BCTC đặc biệt là thông qua các quy định về nghĩa vụ CBTT

Nhìn chung, các công trình cũng như đề tài nêu trên đã có những sự đóng góp quan trọng trong quá trình nghiên cứu pháp luật về CBTT trên TTCK Việt Nam đặc biệt

là đối với chủ thể CTCPĐC Tuy nhiên các đề tài trên đều thực hiện khi Thông tư số 52/2012/TT-BTC hoặc Thông tư số 155/2015/TT-BTC đang có hiệu lực thi hành, vì vậy tính đến hiện nay, chưa có đề tài nghiên cứu nào khai thác điểm mới tại Thông tư số 96/2020/TT-BTC về nghĩa vụ CBTT của CTCPĐC (cả CTNY lẫn công ty chưa niêm yết) cũng như các đề tài đa phần chú trọng phân tích lý luận, quy định pháp luật về CBTT trên TTCK Từ đó, tác giả mong muốn tìm hiểu các quy định mới tại LCK 2019 và Thông

tư số 96/2020/TT-BTC về nghĩa vụ CBTT của CTCPĐC cũng như có những phân tích, tìm hiểu sâu hơn ở khía cạnh các nội dung thông tin được công bố

96/2020/TT-Thứ ba, đề tài đưa ra những kiến nghị, giải pháp để hoàn thiện pháp luật về hoạt động CBTT của CTĐC trên TTCK tại Việt Nam

Trang 10

5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nghĩa vụ công bố thông tin của CTCPĐC trên thị trường chứng khoán Những nghĩa vụ này sẽ được phân tích trên cơ sở những lý luận chung và các quy định pháp luật tại Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu: Pháp luật quy định về CBTT được áp dụng trong nhiều đối tượng khác nhau như CTĐC, SGDCK, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật

về nghĩa vụ CBTT của CTĐC trên TTCK tại Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã vận dụng các phương pháp như: phương pháp tham khảo được sử dụng để thu thập, xử lý thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, từ

đó có được những phân tích, tổng hợp, đánh giá khái quát về vấn đề nghiên cứu; phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp luật được sử dụng phổ biến trong đề tài khi nghiên cứu những vấn đề mang tính lý luận Ở chương 1, phương pháp nghiên cứu chủ yếu và xuyên suốt là phương pháp phân tích, đánh giá Bằng việc phân tích những lý luận chung

về hoạt động CBTT của CTĐC theo pháp luật về doanh nghiệp, pháp luật về chứng khoán và pháp luật có liên quan, tác giả đã đưa ra được khái niệm, đặc điểm của hoạt động CBTT của dạng công ty này, nguyên tắc và sự cần thiết của hoạt động CBTT Ở chương 2, tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp Dựa trên những cơ sở lý luận đã phân tích được ở chương 1, tác giả tiếp tục phân tích, đánh giá các quy định pháp luật Từ đó, tác giả đưa ra những bất cập về quy định nghĩa vụ CBTT

của CTĐC và những kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định về vấn đề này

6 Bố cục của đề tài

Đề tài của nhóm tác giả bao gồm 03 phần: Phần mở đầu, Phần nội dung và Phần

kết luận Trong đó, Phần nội dung đề tài có 02 chương như sau:

Chương 1 Những vấn đề lý luận chung về công bố thông tin của công ty cổ phần đại chúng

Chương 2 Quy định pháp luật về nghĩa vụ công bố thông tin của công ty cổ phần đại chúng

Trang 11

6

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGHĨA VỤ CÔNG BỐ

THÔNG TIN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẠI CHÚNG

1.1 Khái quát về nghĩa vụ công bố thông tin của công ty cổ phần đại chúng

1.1.1 Khái niệm nghĩa vụ công bố thông tin của công ty cổ phần đại chúng

 Công ty cổ phần đại chúng

Với một nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển như hiện nay, các công ty cổ phần (CTCP) đã có sự phân hóa rõ nét về nhiều mặt, từ quy mô vốn, số lượng cổ đông cho đến cách thức vận hành và đặc biệt là các CTCPĐC (từ đây gọi tắt là công ty đại chúng) Ở Anh, công ty đại chúng (CTĐC) được gọi là public limited company, viết tắt

là Plc (đuôi Plc bắt buộc phải ghi sau tên công ty).4 CTĐC cần số vốn tối thiểu là 50.000 bảng Anh, được huy động vốn và giao dịch cổ phần rộng rãi, số cổ đông tham gia không giới hạn và có tối thiểu hai thành viên quản trị thường trực Ở Hoa Kỳ, CTĐC là loại “C Corporation” (CTCP có trên 100 cổ đông) Khác với S Corporation là hình thức công ty chỉ được phát hành một loại cổ phần duy nhất, có số cổ đông không vượt quá 100 và cổ đông phải là cá nhân mang quốc tịch Mỹ, C Corporation phải đóng thuế thu nhập công

ty và cổ đông khi nhận cổ tức phải khai thuế thu nhập lần nữa.5

Tuy nhiên, một số quốc gia không tiếp cận CTĐC dưới góc độ Luật Công ty/Luật Doanh nghiệp mà khái niệm CTĐC được tiếp cận ở LCK như :6 Điều 110 Luật Chứng

khoán Bulgari quy định:“Công ty đại chúng là công ty: đã phát hành cổ phần của công

ty theo các điều kiện của việc phát hành ra công chúng lần đầu, hoặc đã đăng ký với Ủy ban chứng khoán về việc phát hành chứng khoán với mục đích tham gia giao dịch tại TTCK được quản lý”.Hay theo Luật Chứng khoán Ba Lan (Khoản 4 Điều 4): “Công ty đại chúng là công ty có cổ phiếu của ít nhất một lần phát hành được chấp thuận cho giao dịch nơi công chúng”

Như vậy, có thể thấy phần lớn các quốc gia trên thế giới xem hoạt động chào bán

cổ phiếu ra công chúng là tiêu chí đặc trưng để xác định tư cách CTĐC, chính hoạt động

này tạo nên “tính đại chúng” cho loại hình công ty này

4 Section 58, Companies Act 2006 (Luật Công ty Anh 2006)

5 Huy Nam (2010), “Thế nào là công ty đại chúng”, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, số 22, tr 24

6 Nguyễn Thế Thọ (2009), Giáo trình Pháp luật chứng khoán và TTCK, Nxb Thống Kê, tr 103-104

Trang 12

7

Tại Việt Nam, khái niệm về “Công ty đại chúng” xuất hiện khá trễ Mãi khi LCK

2006 được thông qua thì cơ sở pháp lý về định nghĩa thuật ngữ “Công ty đại chúng” mới được xuất hiện, cũng bắt đầu từ đây các nhà làm luật thiết lập cơ chế pháp lý riêng biệt

để điều chỉnh hoạt động của CTĐC Tuy nhiên trước khi LCK ra đời thực tế đã xuất hiện

mô hình CTĐC dưới dạng: (i) Các CTNY phát hành chứng khoán số lượng lớn ra công chúng, từ trước khi LCK 2006 có hiệu lực (Quyết định 07/2002/QĐ-VPCP về việc ban hành Điều lệ Mẫu áp dụng CTNY) (ii) công ty cổ phần phát hành riêng lẻ nhiều lần có

số lượng cổ đông lớn, theo Luật Công ty 1990, Luật Doanh nghiệp 1999.7 Hiện nay, khái niệm CTĐC được quy định tại khoản 1 Điều 32 LCK 2019: CTĐC là CTCP thuộc một trong hai loại hình sau đây:

- Công ty có vốn điều lệ đã góp từ 30 tỷ đồng trở lên và có tối thiểu là 10% số cổ phiếu có quyền biểu quyết do ít nhất 100 nhà đầu tư không phải là cổ đông lớn nắm giữ,

so với LCK 2006, quy định mới đã nâng điều kiện CTĐC về vốn điều lệ từ 10 tỷ đồng lên 30 tỷ đồng và sửa đổi, bổ sung điều kiện về cơ cấu cổ đông có tối thiểu 10% cổ phiếu

có quyền biểu quyết do ít nhất 100 nhà đầu tư không phải là cổ đông lớn nắm giữ

- Công ty đã thực hiện chào bán thành công cổ phiếu lần đầu ra công chúng thông qua đăng ký với UBCKNN, đây là hoạt động phát hành cổ phiếu ra công chứng và được thực hiện bằng một trong ba cách thức sau: (i) chào bán thông qua phương tiện thông tin đại chúng; (ii) chào bán cho từ 100 nhà đầu tư trở lên, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp; (iii) Chào bán cho các nhà đầu tư không xác định.8

Các CTCP khi trở thành CTĐC ngoài việc chịu sự điều chỉnh pháp luật về doanh nghiệp thì các công ty này còn phải tuân theo các quy định của LCK về CBTT, các quy chế Quản trị công ty Các CTCP khi đủ các điều kiện trở thành CTĐC phải thực hiện việc đăng ký với UBCKNN để trở thành CTĐC Như vậy có thể thấy rằng, định nghĩa

về CTĐC đã được xác định một cách rõ ràng, phù hợp thông lệ quốc tế cũng như tình hình kinh tế Việt Nam hiện nay

 Nghĩa vụ công bố thông tin của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán Trên TTCK, thông tin rất phong phú và đa dạng, có thể xuất phát từ rất nhiều nguồn khác nhau như từ CTĐC, tổ chức kinh doanh chứng khoán, từ cơ quan quản lý thị

7 Lương Đình Thi (2015), Pháp luật về quản trị công ty đại chúng ở Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại

học Quốc gia Hà Nội, tr 13

8 Khoản 1 Điều 32 Luật Chứng khoán năm 2019

Trang 13

8

trường hay từ nhà đầu tư, Các thông tin này phản ánh tình hình TTCK, tình hình tổ chức niêm yết,…dưới nhiều khía cạnh khác nhau Đó có thể là thông tin liên quan đến lệnh mua, bán chứng khoán, thông tin về tổ chức phát hành, thông tin về biến động giá chứng khoán hay các thông tin khác có ảnh hưởng đến TTCK Dưới góc độ kinh tế có thể hiểu, thông tin trên TTCK là tập hợp các số liệu, tin báo, những chi tiêu, tư liệu liên quan đến chứng khoán và TTCK, phản ánh tình hình TTCK, tình hình tài chính doanh nghiệp, tiềm năng, khả năng sinh lời của chứng khoán ở hiện tại và tương lai, giúp cho đối tượng tiếp nhận thông tin thông qua đó đạt được mục đích mong muốn Dưới góc độ pháp lý, thông tin trên TTCK là hệ thống tư liệu phản ánh mức độ tuân thủ pháp luật của các chủ thể tham gia thị trường, phản ánh mối quan hệ pháp luật trong nội bộ doanh nghiệp như quan hệ giữa cổ đông và thành viên Hội đồng quản trị (HĐQT), thành viên Ban Kiểm soát (BKS), Ban giám đốc thông qua việc thực hiện các quy định về CBTT cũng như quan hệ giữa doanh nghiệp và các chủ thể khác tham gia TTCK Như vậy, có thể hiểu thông tin trên TTCK là hệ thống các chỉ số, thông số, báo cáo, tin tức, nhận định liên quan đến chứng khoán và TTCK, đều trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến giá chứng khoán và quyết định của các chủ thể tham gia thị trường Qua đó thấy rằng, đối với các nhà đầu tư chứng khoán, thông tin luôn được xem như một dạng rủi ro ảnh hưởng trực tiếp đến TTCK nói chung cũng như doanh nghiệp nói riêng bởi lẽ khi rủi ro xảy ra đều dẫn đến thiệt hại về tài chính cho doanh nghiệp và rộng hơn là cho nền kinh tế.9

Và như đã phân tích ở trên, CTĐC trên TTCK với đặc thù bởi hoạt động chào bán

cổ phiếu ra công chúng với sự tham gia của số lượng lớn nhà đầu tư không phải cổ đông lớn vào công ty tạo nên quan hệ một cách gián tiếp lẫn trực tiếp của cổ đông/chủ sở hữu – công ty ở góc độ LDN; nhà đầu tư – CTĐC ở góc độ LCK hay cả quan hệ sở hữu tài sản dưới góc độ lý luận Và khi số vốn tham gia lẫn số lượng các nhà đầu tư càng lớn thì

sự ảnh hưởng của thông tin đến thị trường là không hề nhỏ, nhưng liệu các nhà đầu tư

có khả năng nắm hết tất cả thông tin trên hay không, nói cách khác nhà đầu tư mong muốn hay có quyền biết những thông tin nào, thông tin nào sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ khi tham gia vào TTCK Nhưng cũng phải giải quyết được câu hỏi, quyền và lợi ích hợp pháp của họ hình thành từ đâu mà phải được bảo vệ, chế định nào bảo vệ cho lợi ích của họ Và theo khái niệm tại Điều 274 Bộ luật

9 “Quản lý rủi ro thông tin trên thị trường chứng khoán: Thực trạng và giải pháp”, te-vi-mo/quan-ly-rui-ro-thong-tin-tren-thi-truong-chung-khoan-thuc-trang-va-giai-phap-132928.html truy cập ngày 10/6/2021

Trang 14

https://tapchitaichinh.vn/kinh-9

Dân sự 2015, “Nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung

là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền)” Như vậy xét trong mối quan hệ nhà đầu tư và CTĐC thì nghĩa vụ CBTT cũng chính là một phần của mối quan

hệ này (nội dung của quan hệ), việc thực hiện CBTT chính là vì bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư đặc biệt là các nhà đầu tư nhỏ lẻ, cá thể, khả năng phân tích thông tin và tìm hiểu thị trường còn hạn chế

Ngoài ra ở một khía cạnh khác hơn, nghĩa vụ CBTT còn là nghĩa vụ của CTĐC đối với cơ quan quản lý nhà nước, nghĩa vụ này là một công cụ pháp lý hiệu quả trong việc thực hiện chức năng giám sát hoạt động kinh doanh, thúc đẩy nâng cao trách nhiệm giải trình và tính minh bạch trong các hoạt động của công ty và công tác Quản trị công

ty.10 Từ đó, giúp hoạt động mua bán của TTCK vận hành một cách trôi chảy và đặt hiệu suất cao, góp phần tạo nên một TTCK bền vững, ổn định và phát triển

Qua tìm hiểu và phân tích trên, có thể đưa ra định nghĩa ngắn gọn về nghĩa vụ CBTT của CTĐC như sau: nghĩa vụ CBTT của CTĐC là việc CTĐC bắt buộc phải thực hiện hoạt động CBTT công khai, minh bạch các thông tin tài chính và phi tài chính liên quan đến hoạt động của chính tổ chức mình trên các phương tiện thông tin đại chúng để các cổ đông và công chúng đầu tư có thể tiếp cận một cách dễ dàng nhất đồng thời đảm bảo việc tuân thủ các quy định của pháp luật

1.1.2 Đặc điểm hoạt động công bố thông tin của công ty đại chúng

1.1.2.1 Hoạt động công bố thông tin của công ty đại chúng là nghĩa vụ bắt buộc theo quy định của pháp luật

Công ty đại chúng là loại hình công ty được thiết kế phù hợp để huy động vốn từ công chúng đầu tư thì TTCK chính là kênh quan trọng để loại hình công ty này có thể thực hiện mục đích trên TTCK chính là nơi diễn ra hoạt động mua bán hàng hóa là chứng khoán, trong đó một trong những người bán chứng khoán chính là CTĐC thông qua thị trường sơ cấp Để nhận được sự chú ý từ phía công chúng, CTĐC cần phải đưa

ra được thông tin hàng hoá một cách minh bạch Vì vậy để đảm bảo trật tự trên TTCK,

10 Báo cáo của Nhóm chuyên gia cao cấp về Luật Công ty và khuôn khổ pháp lý hiện đại cho Luật Công ty Brussels, 04/11/2002

Trang 15

vụ CBTT của các chủ thể tham gia TTCK Hoa Kỳ nằm rải rác trong các văn bản nên trên có thể kể đến như: nghĩa vụ CBTT về đơn đăng ký trở thành tổ chức phát hành chứng khoán, nghĩa vụ CBTT về việc được SEC chấp thuận đơn đăng ký trở thành tổ chức phát hành quy định tại Mục 7 (Section 7), nghĩa vụ CBTT về Báo cáo thường niên (Annual Report), Báo cáo tài chính (Financial Report) đã được kiểm toán quy định tại Mục 19 (Section 19).11

Còn ở Việt Nam, hiện nay các chủ thể trên TTCK hoạt động phải tuân thủ quy định của LCK 2019, đặc biệt hoạt động CBTT còn phải tuân thủ theo sự điều chỉnh của các quy định mới nhất tại Thông tư số 96/2020/TT-BTC Điểm a khoản 1 Điều 31 LCK

2019 ghi nhận CTĐC có nghĩa vụ “công bố thông tin theo quy định của Luật này”; đồng thời, với mỗi SGDCK đều có Quy chế CBTT bắt buộc mọi chủ thể tham gia như CTNY, công ty chứng khoán, nhà đầu tư… có nghĩa vụ phải thực hiện CBTT về mọi hoạt động của mình LCK 2019 bổ sung thêm nhiều đối tượng có nghĩa vụ CBTT có thể kể đến như12: quỹ đại chúng, công ty đầu tư chứng khoán đại chúng; nhóm người có liên quan, nhóm nhà đầu tư nước ngoài có liên quan sở hữu từ 5% trở lên số cổ phiếu có quyền biểu quyết của CTĐC; cổ đông sáng lập trong thời gian bị hạn chế chuyển nhượng của CTĐC, công ty đầu tư chứng khoán đại chúng; người nội bộ và người có liên quan của người nội bộ;…

Do đó, có thể khẳng định CBTT nói chung và CBTT của CTĐC nói riêng không phải là một hoạt động tự phát của các chủ thể tham gia thị trường, mà CBTT của CTĐC

11 Tạ Thanh Bình (chủ nhiệm đề tài) (2010), Hoàn thiện hệ thống CBTT của CTĐC Việt Nam, Đề tài nghiên cứu

khoa học cấp bộ, Ủy ban chứng khoán Nhà nước, mã số UB.11,04, tr 9

12 Nguyễn Thị Ngọc Anh (2020), Nghĩa vụ công bố thông tin của công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán

Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật Kinh tế, Trường Đại học Luật TPHCM, tr 13

Trang 16

11

là một nghĩa vụ bắt buộc do pháp luật quy định Đây chính là đặc điểm đầu tiên của hoạt động CBTT của CTĐC trên TTCK

1.1.2.2 Thông tin công bố mang tính đa dạng về hình thức lẫn nội dung

Tùy vào mục đích và tiêu chí xác định, mà nội dung cũng như hình thức thông tin được công bố cũng rất đa dạng Về mặt nội dung, các loại thông tin công bố cũng rất đa dạng như: thông tin về tài chính; thông tin về tình hình kinh doanh của doanh nghiệp; thông tin về tình hình QTCT hoặc những thông tin liên quan đến các hoạt động quan trọng khác như công ty sáp nhập mua bán, bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc nhận một bản án, quyết định từ Tòa án Về mặt hình thức, có thể kể đến như CBTT định kỳ, CBTT bất thường hay CBTT theo yêu cầu qua nhiều phương tiện khác nhau như Trang thông tin điện tử của tổ chức là đối tượng CBTT, hệ thống CBTT của UBCKNN, trang thông tin điện tử của SGDCK, Trang thông tin điện tử của Trung tâm lưu ký chứng khoán TTLKCK, Các phương tiện thông tin đại chúng khác theo quy định pháp luật (báo in, báo điện tử ) Điều này tạo cho việc CBTT có chiều sâu đáp ứng được các yêu cầu cũng như sự quan tâm cao của các nhà đầu tư Tuy nhiên, điểm chung của tất cả loại thông tin này đều phải là những thông tin có giá trị có thể ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu

tư, bởi nếu thông tin được công bố là “thông tin rác” thì hoạt động CBTT cũng trở nên

vô nghĩa

1.1.2.3 Hoạt động công bố thông tin của công ty đại chúng là một hoạt động thường xuyên của các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán, nó gắn liền với diễn biến hoạt động của công ty cũng như thị trường

Hoạt động CBTT là hoạt động thường xuyên của CTĐC Đây là yếu tố then chốt giúp thị trường hoạt động có hiệu quả, phát huy chức năng giám sát của chính thị trường đối với hoạt động của CTĐC Khi hoạt động CBTT được tiến hành thường xuyên thì tính minh bạch, công khai, liên tục của TTCK mới được đảm bảo Các yếu tố đó có ý nghĩa đặc biệt đối với các thị trường mới nổi như Việt Nam Đặc điểm này sẽ giúp các

cổ đông có điều kiện thực hiện tốt nhất quyền sở hữu đối với phần vốn tại công ty của mình nhằm phát huy cao nhất lợi ích với tư cách là chủ sở hữu, nhất là đối với các cổ đông thiểu số, cổ đông thuần túy là các nhà đầu tư không chuyên nghiệp, xa hơn là góp phần lớn vào việc tạo lập, củng cố niềm tin của nhà đầu tư cũng như các bên liên quan vào thị trường vốn, một thị trường vốn được coi là quan trọng nhất của các nước phát triển hiện nay

Trang 17

12

Tuy nhiên để hoạt động CBTT thực sự hiệu quả thì ngoài việc CBTT thường xuyên thì hoạt động CBTT của CTĐC còn đảm bảo luôn gắn liền với hoạt động của công

ty cũng như là thị trường Đặc điểm này xuất phát từ chính nội dung thông tin được công

bố bởi các CTĐC trên thị trường, bao gồm các thông tin về BCTC, thông tin về các cổ đông lớn, thông tin về người nội bộ và người có liên quan… Rõ ràng, đối với bản thân các CTĐC, việc CBTT gắn liền với diễn biến, hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình quản trị nội bộ của công ty, chịu tác động bởi nhiều yếu tố liên quan đến tình hình quản

lý doanh nghiệp, phản ánh trung thực hiệu quả hoạt động của công ty và diễn biến của toàn TTCK nói chung Nói cách khác, hoạt động CBTT của CTĐC trên TTCK là một kênh quảng bá khách quan về hình ảnh, uy tín, năng lực và tình hình quản trị hay hiểu ngắn gọn là tình hình sức khoẻ hiện tại của công ty Từ đó, mang lại một mức giá cao xứng đáng cho cổ phiếu của công ty, góp phần hình thành sự phát triển tích cực của thị trường Ngược lại, nếu tình hình sản xuất kinh doanh không hiệu quả, tình hình quản trị nội bộ lục đục, các giao dịch giữa công ty và người có liên quan của cổ đông nội bộ thiếu minh bạch, nghĩa vụ CBTT bị vi phạm nghiêm trọng từ đó làm mất lòng tin từ các nhà đầu tư sẽ dẫn đến giá trị cổ phiếu của công ty sụt giảm nhanh chóng, tỷ lệ thu hút đầu tư thấp, rủi ro trong đầu tư, kéo theo đó là sự hoạt động yếu ớt của toàn thị trường

Mục đích cuối cùng của nghĩa vụ CBTT của CTĐC trên TTCK là cung cấp những thông tin về CTĐC một cách kịp thời, chính xác, là động lực thúc đẩy hoạt động giao dịch chứng khoán được vận hành một cách trôi chảy, đảm bảo quá trình hình thành mua bán trên TTCK được diễn ra một cách có hiệu quả nhất Chính vì lẽ đó, CBTT của các chủ thể tham gia TTCK phải diễn ra thường xuyên, liên tục đảm bảo thông tin được công

bố đến các nhà đầu tư, các cơ quan quản lý nhà nước không bị gián đoạn và chậm trễ

1.1.3 Học thuyết nền tảng của hoạt động công bố thông tin

1.1.3.1 Học thuyết uỷ nhiệm (Agency theory)

Lý thuyết về uỷ nhiệm: lý thuyết người đại diện có nguồn gốc từ lý thuyết kinh tế

đã được phát triển bởi Jensen và Meckling (1976), với sự ra đời của mô hình công ty mới – công ty cổ phần nơi mà có sự tách bạch giữa quyền sở hữu và quyền quản lý Lý thuyết người đại diện được định nghĩa là "mối quan hệ giữa các chủ sở hữu – cổ đông

và người đại diện – người điều hành và quản lý công ty" Trong lý thuyết này, các cổ đông là người chủ sở hữu hoặc ông chủ của các công ty, thuê những người đại diện – giám đốc điều hành, người quản lý để thực hiện công việc cho mình Chủ sở hữu ủy

Trang 18

13

nhiệm việc điều hành kinh doanh cho giám đốc hoặc người quản lý, người đại diện Tuy nhiên có một vấn đề đặt ra là khi những người đại diện tìm cách tối đa hóa lợi ích cá nhân, thì có thể gây ra bất lợi cho các cổ đông vì người đại diện có những đặc quyền cho phép chiếm đoạt giá trị của công ty cho bản thân họ, thay vì việc phải thực hiện hoạt động nhằm tối đa hóa lợi nhuận của công ty, vì lợi ích của chủ sở hữu công ty – cổ đông Jensenand và Meckling giải thích “Lý thuyết người đại diện bao hàm một hợp đồng theo

đó một hoặc nhiều người (các cổ đông) thuê người khác (giám đốc) thực hiện một số dịch vụ thay mặt họ trong đó bao gồm việc uỷ thác quyền ra quyết định cho người đại diện Nếu cả hai bên tham gia hợp đồng đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình thì có lý

do để tin rằng giám đốc - người đại diện sẽ không luôn luôn hành động vì lợi ích tốt nhất của cổ đông - chủ sở hữu”.13

Chính từ quan điểm lý thuyết này mà việc hình thành sự điều chỉnh hoạt động CBTT của CTĐC được các nhà làm luật đặt ra và ngày càng hoàn thiện, nhằm đảm bảo trạng thái cân bằng giữa cổ đông và người đại diện, đặc biệt là các nhà đầu tư trên TTCK: nhóm cổ đông thất thế về mặt thông tin Người đại diện chịu trách nhiệm trong việc đưa thông tin đến cổ đông về hoạt động giám sát những người điều hành, hoạt động của chính công ty và đảm bảo rằng quyền lợi của cổ đông sẽ được đảm bảo một cách đúng đắn, nhằm tăng cường việc giám sát và quản lý từ phía chủ sở hữu – cổ đông Những hoạt động này tác động vào nhân tố hệ thống pháp lý để nâng cao tính minh bạch của các CTĐC trên TTCK

1.1.3.2 Học thuyết về hành vi

Lý thuyết về hành vi: Giải Nobel kinh tế năm 2017 được trao cho Giáo sư Richard

H Thaler, đến từ Đại học Chicago, Hoa Kỳ cho những đóng góp của ông trong nghiên cứu về kinh tế học hành vi nhằm lý giải yếu tố tâm lý chi phối như thế nào tới các quyết định kinh tế Theo đó, hành vi của con người chỉ là những phản ứng (máy móc) quan sát được sau các tác nhân và nếu không quan sát được những phản ứng thì có thể nói rằng không có hành vi Sở dĩ lý thuyết về hành vi lại được áp dụng trong nghiên cứu luật học

và đặc biệt là nghiên cứu pháp luật về chứng khoán vì bởi lẽ mỗi hành vi được thực hiện thường gắn liền với những mục đích nhất định Thông thường hành vi sẽ được thực hiện

13 Christine A.Mallin (2013), “Corporate Governance”; Oxford University Press, tr 19

Trang 19

1.1.3.3 Học thuyết bất cân xứng thông tin ( Asymmetric Information theory)

Lý thuyết thông tin bất cân xứng: Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information) là trạng thái bất cân bằng trong cơ cấu thông tin giữa các chủ thể giao dịch

có mức độ nắm giữ thông tin không ngang nhau Một người sẽ có thông tin nhiều hơn

so với người khác về đối tượng được giao dịch Điều này dẫn tới nhiều vấn đề trong kinh

tế học, hợp đồng và tài chính, luật học Lý thuyết thông tin bất cân xứng lần đầu tiên xuất hiện vào những năm 1970, người đầu tiên giới thiệu về lý thuyết thông tin bất cân xứng là G.A.Akerlof Trong quá trình nghiên cứu tình huống mua bán xe ôtô trên thị trường, Ông cho rằng người bán xe có tính chủ động hơn đối với người mua Người bán

có thể biết rõ đặc tính của chiếc xe mình muốn bán và bán với giá cao.15 Lý thuyết thông tin bất cân xứng đã khẳng định được vị trí của mình trong nền kinh tế học hiện đại bằng

sự kiện năm 2001, các nhà khoa học nghiên cứu lý thuyết này là George Akerlof, Michael Spence và Joseph Stiglitz cùng vinh dự nhận giải Nobel kinh tế Trải qua gần nửa thế kỷ,

lý thuyết về thông tin bất cân xứng ngày càng trở nên vô cùng quan trọng và là trọng tâm nghiên cứu của kinh tế học hiện đại và cả luật học Thông tin bất cân xứng ngày càng phổ biến và trở nên tiêu cực khi tính minh bạch của thông tin, khả năng tiếp cận thông tin và cơ sở hạ tầng thông tin chưa được tối ưu hoá.16

Trang 20

15

Đối với các nền kinh tế mới nổi, thông tin không đối xứng có những tác động rất lớn Bởi lẽ, thông tin được coi là một loại tài sản có giá trị rất lớn đối với tất cả các nhà đầu tư trên TTCK Sở hữu thông tin nhanh chóng, chính xác là lợi thế rất lớn khi tham gia đầu tư trên TTCK Tuy vậy, không phải nhà đầu tư nào tham gia TTCK cũng có cơ hội được sở hữu một lượng thông tin như nhau cả về số lượng hay chất lượng, xuất phát

từ sự thiếu minh bạch của CTĐC Bất cân xứng thông tin tạo ra nhiều rủi ro tiềm ẩn, gây thiệt hại cho một số nhóm nhà đầu tư tham gia giao dịch, các chủ thể được coi là nhân

tố quan trọng nhất của thị trường nhưng cũng là chủ thế có vị thế yếu nhất của thị trường Tại TTCK Việt Nam hiện tượng thông tin không đối xứng có thể kể đến như: ngoài các thông tin bắt buộc phải công bố theo quy định pháp luật thì các CTĐC không chủ động cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời, sử dụng thông tin để thức hiện các giao dịch nội gián,…

1.1.4 Sự cần thiết phải điều chỉnh pháp luật đối với nghĩa vụ công bố thông tin của công ty đại chúng

1.1.4.1 Đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của nhà đầu tư

Riêng đối với nghĩa vụ CBTT của CTĐC, việc bảo vệ nhà đầu tư được thể hiện ở nhiều khía cạnh, nhưng trước hết là ghi nhận và đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của nhà đầu tư Trên TTCK, quyền tiếp cận thông tin tự bản thân nó thuộc nhóm quyền phi tài sản Thật vậy, tự bản thân thông tin không là tài sản của nhà đầu tư; mục tiêu cuối cùng của nhà đầu tư chứng khoán hướng tới là lợi nhuận mà không phải là thông tin Song việc tiếp nhận, sở hữu và sử dụng thông tin chính là tiền đề, điều kiện để phát sinh các quyền và lợi ích vật chất khác Không có quyền tiếp cận thông tin thì nhà đầu tư không còn là nhà đầu tư đúng nghĩa, lúc đó nhà đầu tư chỉ là con bạc trong canh bài đỏ đen hoặc họ chỉ kỳ vọng vào sự hên xui, may rủi hoặc là hành động theo đám đông Vì vậy, quyền được tiếp cận thông tin không đơn thuần là quyền luật định của nhà đầu tư

mà cũng chính là cơ chế để bảo vệ các quyền và lợi ích khác của nhà đầu tư.17

Ở một TTCK đang trong quá trình hoàn thiện, nâng thị trường đang là mục tiêu trước mắt cần hướng tới, nếu không những quy phạm pháp luật nhằm thúc đẩy chủ thể CTĐC thực hiện việc CBTT một cách bắt buộc thì sẽ không có cơ chế đảm bảo quyền tiếp cận thông tin cho nhà đầu tư thì TTCK sẽ biến thành sòng bài hoặc ở đó sẽ ngự trị

17 Nguyễn Văn Vân (2010), Quyền tiếp cận thông tin của nhà đầu tư chứng khoán, Tài liệu Hội thảo Pháp luật bảo

vệ nhà đầu tư chứng khoán - Thực tiễn và các giải pháp hoàn thiện, Đại học Luật TPHCM, tr 45

Trang 21

16

“tâm lý bầy đàn”.18 Khi đó, nhà đầu tư chỉ là người tham gia trò chơi may rủi, tri thức, tài năng, kinh nghiệm của nhà đầu tư chứng khoán sẽ trở nên thừa thãi và phù phiếm Ở góc độ tiếp cận ở pháp luật về doanh nghiệp cụ thể hơn là các CTCP, CBTT thúc đẩy nhà đầu tư tích cực hơn trong việc tham gia các nội dung của ĐHĐCĐ và thực hiện quyền biểu quyết về chiến lược phát triển của công ty thông qua các nghị quyết, nắm rõ còn triển khai nội dung Nghị quyết thuộc thẩm quyền của HĐQT, Tổng Giám đốc/giám đốc và BKS Do đó, khi thực thi Nghị quyết của ĐHĐCĐ, người quản trị dễ sử dụng quyền hành của mình dẫn dắt công ty đi vượt quá mục tiêu, tôn chỉ hoạt động của công

ty, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của cổ đông Ở góc độ pháp luật về chứng khoán và TTCK, CBTT mang đến cho nhà đầu tư tình hình tài chính hoạt động doanh nghiệp, tiếp cận sát sao hơn những diễn biến về tình trạng hoạt động của doanh nghiệp, từ đó có những quyết định chiến lược đầu tư hiệu quả Vì thế, nghĩa vụ CBTT tạo ra sự giám sát nhằm bảo đảm quyền được tiếp cận các thông tin từ đó giúp cổ đông giám sát hoạt động của người quản trị công ty

Ngoài ra, quy định về CBTT cũng thúc đẩy các nhà đầu tư cần phải chủ động tiếp cận các thông tin mà CTĐC phải công bố nhằm bảo vệ quyền lợi của mình, nếu phát hiện sai phạm của CTĐC cần phải báo cáo với cơ quan quản lý hoặc nếu có thiệt hại xảy

ra có thể thực hiện các chế tài dân sự nhằm bảo vệ quyền lợi của mình cũng như tạo ra tính răn đe đối với công ty Bởi vì phần lớn các vi phạm trên TTCK là vi phạm về hoạt động CBTT

Từ những phân tích trên, có thể kết luận rằng các nghĩa vụ CBTT của CTĐC không chỉ gián tiếp công nhận quyền được tiếp cận thông tin mà còn đảm bảo quyền này được thực thi trên thực tế nhằm bảo vệ một cách hữu hiệu quyền và lợi ích của nhà đầu

tư TTCK phải là địa chỉ tin cậy cho nhà đầu tư khi họ bỏ vốn đầu tư vào chứng khoán

Cơ quan có thẩm quyền của nhà nước có trách nhiệm ban hành các quy định pháp luật liên quan và thực hiện các hành vi để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trong khi cần thiết Có làm được như vậy mới duy trì và nâng cao niềm tin của các nhà đầu tư vào TTCK

Trang 22

17

1.1.4.2 Đảm bảo tính minh bạch trong hoạt động của các công ty đại chúng

Trên TTCK, CTĐC có vai trò là chủ thể cung cấp hàng hóa cho thị trường, do đó các công ty này phải tuân thủ chặt chẽ các quy định pháp luật về CBTT để đảm bảo tính minh bạch, chất lượng hàng hóa mà nó cung cấp theo quy định của cơ quan quản lý Hoạt động CBTT trên TTCK tạo động lực rất lớn cho việc tăng cường tính minh bạch của các chủ thể tham gia trên TTCK như: tăng cường trách nhiệm CBTT của CTĐC, đặc biệt là nâng chuẩn trách nhiệm CBTT của CTĐC quy mô lớn, CTNY; quy định chặt chẽ hơn nghĩa vụ CBTT của cổ đông lớn, cổ đông nội bộ; yêu cầu khắt khe hơn trong thực hiện nghĩa vụ CBTT của tổ chức kinh doanh chứng khoán Theo đó, nghĩa vụ CBTT của CTĐC được xem một trong những công cụ giám sát hữu hiệu của cơ quan quản lý lẫn nhà đầu tư đối với hoạt động của các CTĐC

Về phía cơ quan quản lý (SGDCK, UBCKNN), hoạt động CBTT của CTĐC giúp cho cơ quan quản lý có thông số về tài chính, thông tin về nội bộ, hoạt động của mỗi CTĐC để thực hiện việc quản lý, giám sát thị trường hiệu quả hơn: việc thông tin của doanh nghiệp dễ dàng được tiếp cận, và các thông tin kịp thời, đáng tin cậy giúp nhà quản lý có thể nhìn được tổng quan thị trường, từ đó có những chính sách điều chỉnh phù hợp, đưa ra đánh giá được hệ thống thông tin của thị trường có những khuyến cáo phù hợp đối với thị trường cũng như các chủ thể có liên quan, hạn chế và ngăn chặn các hành

vi vi phạm của các CTĐC trên TTCK bằng sự vào cuộc kịp thời của cơ quan quản lý có thẩm quyền khác được quyền kiểm tra, rà soát nội dung các thông tin công bố trước khi cho phép công bố ra công chúng

Về phía các cổ đông, nhà đầu tư, hoạt động CBTT thúc đẩy minh bạch hoá thông tin, giúp TTCK phát triển một cách ổn định, với tư cách là người chủ sở hữu doanh nghiệp, cổ đông của công ty hoàn toàn có quyền biết rõ tình trạng của doanh nghiệp mình, giám sát tình trạng người điều hành lạm dụng vị trí để thực hiện các giao dịch tư lợi gây ảnh hưởng lợi ích của các cổ đông, không báo cáo tình trạng doanh nghiệp, che giấu thông tin để trục lợi hoặc tạo ra các giao dịch nội gián CTĐC phải có ý thức trách nhiệm CBTT một cách rõ ràng từ đó đảm bảo tính minh bạch của chính mình để các nhà đầu tư có sự lựa chọn đúng đắn

Hiện này, những quy định pháp luật về nghĩa vụ CBTT của CTĐC ngày càng hoàn thiện hơn, chặt chẽ hơn nhờ đó mà tính minh bạch trong hoạt động của các CTĐC

đã được cải thiện đáng kể, trong đó doanh nghiệp đã quan tâm nhiều đến quản trị công

Trang 23

18

ty, phát triển bền vững, vai trò rất nền tảng trong việc thúc đẩy quá trình cổ phần hóa hiệu quả hơn Theo đó, CBTT của CTĐC trên TTCK có mục đích cao nhất là hướng tới minh bạch hóa thị trường nhằm tiến tới một thị trường hiệu quả, phát triển bền vững trong hiện tại cũng như trong dài hạn Bởi lẽ, minh bạch hóa thông tin trên TTCK là cần thiết vì sự minh bạch thông tin trong hoạt động của CTĐC không chỉ đem lại lợi ích cho các nhà đầu tư mà còn đem lại lợi ích cho sự phát triển của TTCK cũng như chính các CTĐC

1.1.4.3 Đảm bảo sự công bằng trên thị trường chứng khoán

Trong hoạt động kinh doanh lẫn trên thị trường nguyên tắc bình đẳng, công bằng

là rất quan trọng Khi có sự không công bằng trong việc tiếp nhận thông tin từ CTĐC sẽ dẫn tới sự mâu thuẫn về lợi ích giữa các cổ đông và công chúng đầu tư Hiện tượng rò rỉ thông tin chưa hoặc không được phép công khai Doanh nghiệp cung cấp thông tin không công bằng đối với các nhà đầu tư: ưu tiên cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư chiến lược, các nhà đầu tư tổ chức mà không công bố rộng rãi Thậm chí còn có hiện tượng lừa đảo, tung tin đồn thất thiệt, đơn vị truyền thông cung cấp thông tin sai lệch, không đầy đủ Chính vì thế, hoạt động CBTT trên TTCK cho thấy vị trí đặc biệt quan trọng, nhằm bảo đảm công bằng trong mua bán chứng khoán và hình thành giá chứng khoán, bảo vệ quyền lợi cho nhà đầu tư, góp phần vào sự phát triển của TTCK Công khai thông tin giúp cho việc bảo đảm sự tiếp cận công bằng các thông tin, tạo ra sự cạnh tranh hoàn hảo, thị trường hiệu quả, ngăn ngừa việc kiếm lợi không chính đáng, bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư Chính vì thế, CTĐC phải đảm bảo rằng mọi thông tin được công bố phải được công bố rộng rãi, bên cạnh đó còn phải đảm bảo sao cho mọi đối tượng có được khả năng cao nhất về mức độ tiếp cận về các thông tin của TTCK Các chủ thể này phải được tiếp cận như nhau về các thông tin của CTĐC “Nếu lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư không đảm bảo, khả năng thu hút đầu tư vào thị trường cũng sẽ gặp nhiều khó khăn”.19 Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Ân, hoạt động CBTT thúc đẩy sự công bằng trên TTCK có thể được hiểu ở hai khía cạnh:20

Khía cạnh thứ nhất, nó đòi hỏi sự công bằng giữa các đối tượng có nghĩa vụ CBTT với nhau Theo đó, pháp luật sẽ không tạo ra sự phân biệt đối xử thông qua việc áp đặt

19 Phạm Thị Giang Thu (2006), “Luật chứng khoán với việc mở rộng cơ hội đầu tư và khuyến khích đầu tư”, Tạp

chí Luật học, số 08/2006, tr 5

20 Nguyễn Thị Mỹ Ân (2007), Nghĩa vụ CBTT của CTĐC theo quy định của pháp luật Việt Nam, Khóa luận Cử

nhân Luật học, Trường Đại học Luật TPHCM, tr 25

Trang 24

19

các nghĩa vụ CBTT công bằng cho các đối tượng này Các chủ thể có nghĩa vụ đều phải thực hiện nghiêm túc trách nhiệm của mình, không chủ thể nào có quyền thực hiện ít hơn so với trách nhiệm và ngược lại, không có chủ thể nào bị buộc phải thực hiện nhiều hơn nghĩa vụ mà pháp luật đã quy định

Khía cạnh thứ hai, sự công bằng còn áp dụng cho các nhà đầu tư Mọi nhà đầu tư

dù lớn hay nhỏ, khi tham gia vào TTCK, họ đều có cơ hội bình đẳng như nhau trong việc tiếp cận thông tin từ CTĐC Những thông tin được công bố phải đến với nhà đầu tư trên TTCK một cách kịp thời, đầy đủ, chính xác Không nhà đầu tư nào bị pháp luật hạn chế quyền tiếp cận thông tin hợp pháp của họ Pháp luật buộc CTĐC phải CBTT những loại thông tin cần thiết, theo thủ tục, thời điểm nhất định để đảm bảo các nhà đầu tư đều tiếp cận thông tin đó một cách công bằng, không ai có vị thế bất lợi hơn trong việc tiếp cận này

Nghĩa vụ CBTT của CTĐC được đặt ra nhằm bảo vệ và tạo điều kiện thực hiện quyền của cổ đông, đảm bảo sự đối xử bình đẳng đối với mọi cổ đông, trong đó có cổ đông thiểu số và cổ đông nước ngoài; đảm bảo những quyền lợi cơ bản của các cổ đông trong đó có quyền được tiếp cận thông tin; tránh việc các cổ đông thiểu số bị đối xử không công bằng, đảm bảo các cổ đông lớn, cổ đông nội bộ không lợi dụng ưu thế của mình để tiếp cận các thông tin nội bộ, được ưu đãi trong việc phân chia lợi nhuận hay khả năng tiếp cận cơ hội kinh doanh Bởi đôi khi Ban Giám đốc và nhà đầu tư nắm quyền kiểm soát (cổ đông lớn) cố gắng tìm cách khiến các nhà đầu tư khác, đặc biệt là nhà đầu

tư nước ngoài gặp khó khăn trong việc tiếp cận thông tin của công ty

Đồng thời để đảm bảo hoạt động CBTT được tối ưu hoá, pháp luật còn đặt ra nghĩa vụ cho các CTĐC phải sử dụng nhiều loại phương tiện công bố và đúng thời gian nhằm giúp cho nhà đầu tư có thể tiếp cận thông tin một cách nhanh chóng và dễ dàng hơn Điều này sẽ giúp hạn chế được tình trạng gián đoạn hoạt động của thị trường do việc tiếp cận, sử dụng thông tin một cách bất hợp pháp và không công bằng

1.1.5 Phân loại công bố thông tin của công ty đại chúng

1.1.5.1 Căn cứ vào ý chí của chủ thể công bố

Trang 25

20

CBTT bắt buộc: đây là hoạt động CBTT mà pháp luật bắt buộc CTĐC phải CBTT

Hàn Quốc, Nhật Bản,… đều có quy định về nghĩa vụ CBTT bắt buộc đối với các chủ thể tham gia Đơn cử như trên TTCK Hoa Kỳ, nghĩa vụ CBTT Bắt buộc đã pháp điểm hoá trong các đạo luật như Luật chứng khoán 1933 (Securities Act 1933), Luật về Giao dịch chứng khoán 1934 ( Exchange Securities Act 1934),…Những thông tin bắt buộc công

bố là những thông tin cơ bản nhất nhằm cung cấp cho nhà đầu tư và cơ quan quản lý một cách tổng thể lẫn chi tiết tình hình của CTĐC Thực tế cho thấy rằng, hoạt động CBTT bắt buộc thường được áp dụng cho những nền chứng khoán còn non trẻ, ở đó các chủ thể tham gia thị trường thường có tâm lý dè dặt, chần chừng, không có thói quen cũng như thiếu sự chủ động về ý thức trong việc công khai thông tin của chính mình

CBTT tự nguyện: Ở các nước có TTCK phát triển, hoạt động CBTT tự nguyện

đã được pháp luật ghi nhận, điều chỉnh và trở thành thông lệ khá phổ biến trong hoạt động CBTT của các chủ thể trên TTCK.22 Còn đối với pháp luật Việt Nam thì hiện này không có bất cứ quy định nào về vấn đề CBTT tự nguyện nhưng tình hình thực tế nhiều doanh nghiệp vẫn chủ động CBTT tự nguyện (như kết quả kinh doanh hằng tháng) CBTT tự nguyện của CTĐC là hoạt động CBTT về những nội dung, thông tin không nằm trong danh sách mà quy định pháp luật bắt buộc phải công bố và hoàn toàn dựa trên

cơ sở tự nguyện của chủ thể công bố Mặc dù xuất phát từ sự tự nguyện, song CTĐC vẫn phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, đầy đủ và công bằng của thông tin và không được lợi dụng CBTT tự nguyện để tác động đến giá chứng khoán và thực hiện các hành

vi trục lợi khác Hoạt động CBTT tự nguyện sẽ làm đa dạng hóa các loại thông tin và khuyến khích các CTĐC minh bạch hơn trong hoạt động của mình, góp phần thúc đẩy quản trị công ty hiệu quả Hoạt động CBTT tự nguyện mang lại nhiều lợi cho phía CTĐC như thu hút nguồn vốn từ thị trường, tạo tâm lý tích cực cho nhà đầu tư hiện hữu lẫn các nhà đầu tư tiềm năng,… đồng thời phía nhà đầu tư có nguồn thông tin thiết yếu để nắm bắt phần nào tình hình của CTĐC

1.1.5.2 Căn cứ vào hình thức công bố

21 Đỗ Nguyễn Ngọc Bích (2011), Pháp luật về CBTT của CTĐC trên thị trường chứng khoán Việt Nam, Luận văn

thạc sĩ luật học, Đại học Luật TP Hồ Chí Minh

22 Huy Hoàng (2002), Việt Nam - Mô hình và bước đi, Nxb TP Hồ Chí Minh, tr 125

Trang 26

điểm về CBTT định kỳ như sau :“CBTT định kỳ thông thường được quy định trong luật

chứng khoán hoặc các quy định về niêm yết chứng khoán, chẳng hạn các BCTC quý hoặc năm Những thông tin này đôi khi đi kèm cả những báo cáo về các cuộc họp, thảo luận, nhận định, phân tích tình hình của ban điều hành công ty, do vậy những thông tin này cũng phải được công bố và phải tuân thủ về mặt thời gian theo quy định, không được

và chuẩn bị kĩ lưỡng, chính vì thế dung lượng thông tin cung cấp khá lớn, đồng thời phải đáp ứng một số yêu cầu về chuẩn mực đặc thù, có thể kể đến như các BCTC năm, BCTC bán niên cần đảm bảo các chuẩn mực kế toán và phải có ý kiến của tổ chức kiểm toán độc lập

CBTT bất thường: Có thể hiểu CBTT bất thường như sau: CBTT bất thường xảy

ra khi có một sự kiện bất ngờ, quan trọng mà theo như quy định pháp luật hoặc UBCKNN xét thấy cần thiết, có khả năng ảnh hưởng lớn đến giá giao dịch chứng khoán, hoạt động sản xuất, kinh doanh, tình hình QTCT hoặc lợi ích của nhà đầu tư và sự kiện này nhà đầu tư có quyền được biết, CTĐC phải có ý thức tự giác CBTT những thông tin bất thường này trong một thời hạn nhất định và phải giải trình cho cơ quan quản lý bao gồm nguyên nhân, tình trạng hiện tại và hậu quả có thể xảy ra của sự kiện đó Trường hợp CTĐC không tự giác công bố sẽ phải công bố theo yêu cầu của cơ quan quản lý CBTT bất thường luôn phải đảm bảo tính kịp thời, minh bạch để các nhà đầu tư có thông tin một cách kịp thời nhất để có cơ sở đưa ra quyết định nhanh nhất của mình về các vấn đề liên quan Nhiều quốc gia quy định công ty phải CBTT ngay lập tức (công bố trong ngày) đối với các thông tin bất thường (như Mỹ, Úc, Hàn Quốc, Nhật Bản…) Theo Quy chế CBTT của SGDCK Hàn Quốc, Điều 7 Quy chế CBTT trên sàn giao dịch KOSPI (KOSPI

Market Disclosure Regulation) “Công ty niêm yết khi xảy ra các sự kiện ảnh hưởng lớn

đến tình hình hoạt động, sản xuất kinh doanh phải công bố ra thị trường ngay tức thì

23 Tạ Thanh Bình, tlđd (10), tr 23

Trang 27

có sự khó hiểu của các thông tin được công bố định kỳ còn mập mờ hoặc những hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp có dấu hiệu bất thường, cần thông tin để nắm bắt tình hình

1.1.6 Nguyên tắc công bố thông tin của công ty đại chúng

1.1.6.1 Công bố thông tin phải đầy đủ, chính xác, kịp thời theo quy định pháp luật

Thông tin trên TTCK là cơ sở để các nhà đầu tư phân tích, đánh giá, xác định giá

cả mua vào, bán ra, do đó có thể nói thông tin chính là thước đo phản ánh giá trị của một doanh nghiệp, đảm bảo hình thành giá cổ phiếu Các thông tin được công bố từ CTĐC

là căn cứ đầu tiên của hành vi mua bán chứng khoán đối với nhà đầu tư trên thị trường Mặt khác, đối với những loại thông tin đồn thổi, không chính thống sẽ có mức độ chính xác, độ tin cậy thấp nhất Những nhà đầu tư khi mua bán chứng khoán theo tin đồn sẽ gánh chịu nhiều thiệt hại, rủi ro cao hơn do mức độ tin cậy thấp của thông tin đó Có thể nói CTĐC có nghĩa vụ cung cấp tất cả các thông tin được xem là có thể ảnh hưởng đến nhận định, đánh giá của nhà đầu tư đối với giá trị và triển vọng của công ty

Do đó, đối với hoạt động CBTT của CTĐC nguyên tắc cơ bản đầu tiên chính là nguyên tắc yêu cầu về tính đầy đủ, chính xác, phải tôn trọng tính trung thực vốn có của thông tin, không được xuyên tạc hoặc thay đổi thông tin nhằm công bố các thông tin sai lệch hoặc có những hành vi cố ý gây hiểu nhầm thông tin, không được CBTT nửa vời, lập lờ Một số thông tin quan trọng cung cấp định kỳ dưới dạng tài liệu phải được kiểm

24 KOSPI Market Disclosure Regulation, Korea, tr 123

Trang 28

bị ảnh hưởng bởi tin đồn và điều này sẽ làm sai lệch giá cổ phiếu và gây ra những thiệt hại không thể lường được đối với nhà đầu tư Ngoài ra, việc CBTT ngay lập tức nhằm giảm bớt các vi phạm về giao dịch nội gián có thể xảy ra Với ý nghĩa đó, việc CBTT

đúng thời hạn đóng vai trò quan trọng, thể hiện sự khách quan trọng CBTT “Hệ thống

CBTT sẽ giúp cho các tổ chức niêm yết nhanh chóng đáp ứng các yêu cầu đòi hỏi thông

liên tục, không ngừng, bao hàm cả những thông tin bất thường và định kỳ liên quan đến CTĐC như các BCTC bán niên hoặc năm, kèm với các báo cáo về các cuộc họp của HĐQT hoặc quy định về CBTT bất thường trong vòng 24 giờ Đồng thời, quy tắc này còn có nghĩa là một số thông tin có thể được công bố chậm hoặc không công bố khi pháp luật quy định cho phép Chẳng hạn, đó là các thông tin theo quy định là thông tin mật,

có ảnh hưởng đến an ninh quốc gia.26

Hiện nay, xu hướng CBTT qua website thể hiện tính ưu việt và được các cơ quan quản lý nhà nước như UBCKNN, SGDCK và các CTĐC ưu tiên sử dụng so với các phương tiện CBTT khác vì đảm bảo tốt nhất về tính kịp thời, nhanh chóng, liên tục, phù hợp với thông lệ tại các TTCK phát triển trên thế giới như Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Australia,…

1.1.6.2 Đối tượng công bố thông phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin công bố

Trách nhiệm của đối tượng CBTT được hiểu là việc tuân thủ nghĩa vụ của CTĐC đảm bảo tôn trọng các nguyên tắc, quy định pháp luật về CBTT trên TTCK và phải chịu

25 Trần Quốc Tuấn (2001), Một số giải pháp cơ bản để nâng cao hoạt động CBTT trên TTCK Việt Nam, Đề tài

nghiên cứu cấp cơ sở, Hồ Chí Minh, tr 27

26 Tạ Thanh Bình, tlđd (10), tr.4

Trang 29

24

hậu quả bất lợi, những chế tài do Nhà nước áp dụng nếu vi phạm Trên thực tế CTĐC không thể tự mình tiến hành việc CBTT, mà thực hiện bởi các cá nhân được ủy quyền vì thế trách nhiệm CBTT của CTĐC phải được gắn liền với cá nhân trực tiếp thực hiện CBTT cũng như thành viên HĐQT công ty và Ban Giám đốc Do đó, các thành viên này cũng chịu trách nhiệm trong việc CBTT minh bạch, chính xác, kịp thời trên thị trường đồng thời có thể phải cùng liên đới chịu trách nhiệm đối với các thông tin được công bố liên quan đến CTĐC, bao gồm: (i) đảm bảo hình thức và nội dung CBTT của công ty cũng như tính minh bạch của những thông tin này; (ii) chịu trách nhiệm về các báo cáo được công bố cho tất cả các cổ đông và những người có quyền lợi liên quan đến công ty Các báo cáo đó bao gồm: BCTN cũng như các BCTC đi kèm; (iii) theo dõi để các thông tin công bố ra công chúng được lập và trình bày theo những chuẩn mực chuyên môn cao nhất và đảm bảo các BCTC được kiểm toán tốt nhất; (iv) đảm bảo tính kịp thời của CBTT, đồng thời đảm bảo tính hữu ích, đơn giản và thuận lợi khi tiếp cận các thông tin này.27 Vì vậy, các CTĐC cần có sự thiết lập một bộ máy CBTT chuyên trách, với mục đích xây dựng và thực thi các quy định về CBTT, bổ nhiệm cán bộ chuyên trách để thực hiện các vấn đề về CBTT

Nguyên tắc này được pháp luật ghi nhận rằng: “Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan đến hoạt động chứng khoán và TTCK thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.”.28 Hiện nay, trách nhiệm của các đối tượng CBTT đối với thông tin được công bố trên TTCK được ghi nhận tại Nghị định 156/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và TTCK Việc đặt ra nguyên tắc này với cơ chế xử lý góp phần giảm tình trạng yếu kém, đảm bảo tính chính thống của các nguồn thông tin từ phía CTĐC, thúc đẩy sự cải thiện trong hệ thống CBTT của CTĐC và nâng cao trách nhiệm của CTĐC, tạo thuận lợi trong việc giám sát từ UBCKNN và SGDCK

1.1.6.3 Đối tượng công bố thông tin phải đồng thời báo cáo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và tổ chức nơi chứng khoán đó niêm yết, đăng ký giao dịch về nội dung thông tin công bố

27 Tạ Thanh Bình, tlđd (10), tr.5

28 Khoản 1 Điều 132 Luật Chứng khoán 2019

Trang 30

25

Nguyên tắc này xuất phát từ cơ chế quản lý của nhà nước đối với hoạt động CBTT Tùy theo mức độ phát triển của thị trường, đặc thù của hệ thống pháp luật mà mỗi quốc gia có mô hình quản lý và mức độ tác động của nhà nước đối với các quan hệ phát sinh trên TTCK có thể khác nhau Tại Trung Quốc, Ba Lan, Hungary… cơ quan quản lý nhà nước về TTCK là cơ quan thuộc Chính phủ, nhưng ở một số nước khác, cơ quan quản lý này có vị thế độc lập gồm thành viên là đại diện có thẩm quyền của các bộ, ngành như

Bộ Tài chính, Bộ Thương mại, Ngân hàng trung ương và các chuyên gia trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ, chứng khoán Tuy nhiên, các thành viên vẫn phải do Chính phủ bổ nhiệm với nhiệm kỳ cụ thể.29

Ở Việt Nam, thẩm quyền quản lý nhà nước về chứng khoán và TTCK thuộc về UBCKNN Nội dung quản lý nhà nước của UBCKNN được quy định tại Điều 9 LCK

2019 Với địa vị pháp lý là cơ quan quản lý nhà nước thuộc Bộ Tài chính, UBCKNN có quyền: “e) Quản lý, giám sát hoạt động liên quan đến chứng khoán và TTCK của các tổ chức, cá nhân; g) Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và TTCK; k) Thực hiện thống kê, dự báo về hoạt động chứng khoán và TTCK; hiện đại hóa công nghệ thông tin trong lĩnh vực chứng khoán và TTCK; m) Ban hành văn bản hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ, văn bản khác thuộc phạm vi quản lý của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước;”

Ngoài chức năng ban hành các văn bản hướng dẫn, UBCKNN còn có chức năng tham mưu soạn thảo các văn bản quy phạm pháp luật về chứng khoán và TTCK nói chung và về hoạt động CBTT nói riêng Do đó, việc các CTĐC báo cáo cho UBCKNN

để UBCKNN có cơ sở, thông tin quan trọng để thực hiện chức năng của mình một cách tốt nhất Ngoài UBCKNN, CTĐC còn phải báo cáo với tổ chức nơi chứng khoán đó niêm yết hoặc đăng ký giao dịch về nội dung thông tin công bố Bởi để thực hiện các quyền

và nghĩa vụ được ghi nhận tại Điều 46 LCK 2019, SGDCK cần có các thông tin về nội dung công bố để có thể giám sát hoạt động, đảm bảo thị trường diễn ra một cách minh bạch, công khai Đây là yêu cầu trên của nguyên tắc này nhằm đảm bảo sự giám sát, quản lý kịp thời từ UBCKNN, các SGDCK đối với hoạt động CBTT của CTĐC, nhất là

29 Lê Vũ Nam (2010), Quản lý Nhà nước về chào bán chứng khoán ra công chúng: Nhìn từ góc độ bảo vệ nhà đầu

tư, Kỷ yếu Hội thảo Pháp luật bảo vệ nhà đầu tư chứng khoán - Thực tiễn và các giải pháp hoàn thiện, Đại học Luật

TPHCM, tr 1

Ngày đăng: 25/04/2022, 11:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Tạ Thanh Bình (chủ nhiệm đề tài) (2010), Hoàn thiện hệ thống CBTT của CTĐC Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Ủy ban chứng khoán Nhà nước, mã số UB.11,04 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện hệ thống CBTT của CTĐC Việt Nam
Tác giả: Tạ Thanh Bình
Nhà XB: Ủy ban chứng khoán Nhà nước
Năm: 2010
15. Nguyễn Thuỳ Dung (2016), Thực thi pháp luật của hoạt động công bố thông tin của công ty đại chúng trên TTCK Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội, 16. Đỗ Thị Thu Hà (2019), Pháp luật về công bố thông tin của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực thi pháp luật của hoạt động công bố thông tin của công ty đại chúng trên TTCK Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thuỳ Dung
Nhà XB: Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2016
17. Bùi Xuân Hải (2007), “Học thuyết đại diện và mấy vấn đề của pháp luật công ty Việt Nam”, Tạp chí khoa học pháp lý, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học thuyết đại diện và mấy vấn đề của pháp luật công ty Việt Nam
Tác giả: Bùi Xuân Hải
Nhà XB: Tạp chí khoa học pháp lý
Năm: 2007
18. Hiệp hội các nhà Quản trị tài chính Việt Nam (VAFE) phối hợp với Vietstock (2021), Báo tài chính và cuộc sống (Fili) (2021), Báo cáo khảo sát công bố thông tin TTCK Việt Nam năm 2021, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo khảo sát công bố thông tin TTCK Việt Nam năm 2021
Tác giả: Hiệp hội các nhà Quản trị tài chính Việt Nam (VAFE), Vietstock
Nhà XB: Báo tài chính và cuộc sống (Fili)
Năm: 2021
19. Trần Linh Huân (2019), Một số góp ý hoàn thiện về quy định của Luật Chứng khoán trong việc bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư, Tài liệu Hội thảo Góp ý Dự thảo Luật Chứng khoán, Trường Đại học Luật TPHCM ngày 09/10/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số góp ý hoàn thiện về quy định của Luật Chứng khoán trong việc bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư
Tác giả: Trần Linh Huân
Nhà XB: Tài liệu Hội thảo Góp ý Dự thảo Luật Chứng khoán
Năm: 2019
20. Trần Văn Long (2004), Khung pháp lý điều chỉnh hoạt động CBTT trên TTCK Việt Nam, thực trạng và giải pháp hoàn thiện, Luận văn Thạc sĩ ,Trường Đại học luật Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khung pháp lý điều chỉnh hoạt động CBTT trên TTCK Việt Nam, thực trạng và giải pháp hoàn thiện
Tác giả: Trần Văn Long
Nhà XB: Trường Đại học luật Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2004
21. Lê Vũ Nam (2010), Quản lý Nhà nước về chào bán chứng khoán ra công chúng: Nhìn từ góc độ bảo vệ nhà đầu tư, Kỷ yếu Hội thảo Pháp luật bảo vệ nhà đầu tư chứng khoán - Thực tiễn và các giải pháp hoàn thiện, Đại học Luật TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý Nhà nước về chào bán chứng khoán ra công chúng: Nhìn từ góc độ bảo vệ nhà đầu tư
Tác giả: Lê Vũ Nam
Nhà XB: Kỷ yếu Hội thảo Pháp luật bảo vệ nhà đầu tư chứng khoán - Thực tiễn và các giải pháp hoàn thiện
Năm: 2010
22. Huy Nam (2010), “Thế nào là công ty đại chúng”, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, số 22 23. Lê Hoàng Nga, (2012), Quản trị công ty trong các công ty niêm yết và công ty đại chúng ở Việt Nam, Một số vấn đề về kinh tế Tài chính Việt Nam 2011-2012, Trường bồi dưỡng cán bộ tài chính - Bộ Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về kinh tế Tài chính Việt Nam 2011-2012
Tác giả: Lê Hoàng Nga
Nhà XB: Trường bồi dưỡng cán bộ tài chính - Bộ Tài chính
Năm: 2012
24. Nguyễn Công Phương, Lâm Xuân Đào, “Các nhân tố ảnh hưởng đến sai phạm trong báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên TTCK”, Tạp chí Kinh tế & Phát triển, số 230, tháng 8/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhân tố ảnh hưởng đến sai phạm trong báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên TTCK
Tác giả: Nguyễn Công Phương, Lâm Xuân Đào
Nhà XB: Tạp chí Kinh tế & Phát triển
Năm: 2016
25. Lương Đình Thi (2015), Pháp luật về quản trị công ty đại chúng ở Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về quản trị công ty đại chúng ở Việt Nam
Tác giả: Lương Đình Thi
Năm: 2015
27. Phạm Thị Giang Thu (2006), “Luật chứng khoán với việc mở rộng cơ hội đầu tư và khuyến khích đầu tư”, Tạp chí Luật học, số 08/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật chứng khoán với việc mở rộng cơ hội đầu tư và khuyến khích đầu tư”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Phạm Thị Giang Thu
Năm: 2006
28. Trần Quốc Tuấn (2001), Một số giải pháp cơ bản để nâng cao hoạt động CBTT trên TTCK Việt Nam, Đề tài nghiên cứu cấp cơ sở, Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp cơ bản để nâng cao hoạt động CBTT trên TTCK Việt Nam
Tác giả: Trần Quốc Tuấn
Năm: 2001
29. Nguyễn Văn Vân (2010), Quyền tiếp cận thông tin của nhà đầu tư chứng khoán, Tài liệu Hội thảo Pháp luật bảo vệ nhà đầu tư chứng khoán - Thực tiễn và các giải pháp hoàn thiện, Đại học Luật TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền tiếp cận thông tin của nhà đầu tư chứng khoán
Tác giả: Nguyễn Văn Vân
Nhà XB: Tài liệu Hội thảo Pháp luật bảo vệ nhà đầu tư chứng khoán - Thực tiễn và các giải pháp hoàn thiện
Năm: 2010
33. Ủy ban Chứng khoán Nhà nước xây dựng với sự hỗ trợ kỹ thuật từ Tổ chức Tài chính Quốc tế IFC (Vietnam Corporate Governance Code of Best Practices) (2019), Bộ Nguyên tắc Quản trị Công ty theo thông lệ tốt nhất của Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vietnam Corporate Governance Code of Best Practices
Tác giả: Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Tổ chức Tài chính Quốc tế IFC
Nhà XB: Bộ Nguyên tắc Quản trị Công ty theo thông lệ tốt nhất của Việt Nam
Năm: 2019
34. UBCKNN (2018), Báo cáo đánh giá thẻ điểm ACGS 2017-2018 đối với các công ty Việt Nam do Chương trình Quản trị công ty Việt Nam của IFC tài trợ, trong khuôn khổ hợp tác cùng UBCKNN và Cục Kinh tế Liên bang Thụy Sỹ (SECO).Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá thẻ điểm ACGS 2017-2018 đối với các công ty Việt Nam
Tác giả: UBCKNN
Nhà XB: Chương trình Quản trị công ty Việt Nam của IFC
Năm: 2018
35. Auronen Lauri ( 2003 ), Asymmetric Information: Theory and Applications, Helsinki University of Technology Sách, tạp chí
Tiêu đề: Asymmetric Information: Theory and Applications
Tác giả: Auronen Lauri
Nhà XB: Helsinki University of Technology
Năm: 2003
36. Christine A.Mallin (2013), “Corporate Governance”; Oxford University Press 37. G20/OECD Principles of Corporate Governance, IFC Sách, tạp chí
Tiêu đề: Corporate Governance
Tác giả: Christine A. Mallin
Nhà XB: Oxford University Press
Năm: 2013
40. Tiên Tiên, “Bức tranh kiểm toán 2020: ‘Muôn hình vạn trạng’”, https://fili.vn/2021/04/buc-tranh-kiem-toan-2020-8216muon-hinh-van-trang8217-737-845830.htm truy cập ngày 20/6/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bức tranh kiểm toán 2020: ‘Muôn hình vạn trạng’
41. “Giải trình chênh lệch trước và sau kiểm toán báo cáo tài chính năm 2020”, https://www.bsc.com.vn/tin-tuc/tin-chi-tiet/773168 truy cập ngày 20/6/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải trình chênh lệch trước và sau kiểm toán báo cáo tài chính năm 2020
47. Bình chọn Doanh nghiệp niêm yết 2020, https://www.aravietnam.vn/ ,truy cập ngày 24/6/2021 Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.3.4. Tình hình thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán Việt Nam - Nghĩa vụ công bố thông tin của công ty cổ phần đại chúng theo pháp luật việt nam
2.3.4. Tình hình thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán Việt Nam (Trang 49)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w