Để thực hiện mục đích nêu trên, tác giả tập trung vào các nhiệm vụ sau: Thứ nhất, làm rõ các vấn đề lý luận về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp nhằm hiểu đúng và đủ các qu
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN TRỊ
PHÙNG THỊ KIM KHUYÊN
CHẾ ĐỊNH NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT CỦA DOANH NGHIỆP TRONG LUẬT DOANH NGHIỆP NĂM 2020
CHUYÊN NGÀNH LUẬT THƯƠNG MẠI
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2021
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN TRỊ
-
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
CHẾ ĐỊNH NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT CỦA DOANH NGHIỆP TRONG LUẬT DOANH NGHIỆP NĂM 2020
SINH VIÊN THỰC HIỆN: Phùng Thị Kim Khuyên
Khóa: 41 MSSV: 1651101030063
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: Th.S Lê Nhật Bảo
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan: Khóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, được thực
hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Thạc sĩ Lê Nhật Bảo, đảm bảo tính trung thực
và tuân thủ các quy định về trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này
Sinh viên ký tên
Phùng Thị Kim Khuyên
Trang 5MỤC LỤC CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT CỦA DOANH NGHIỆP 6
1.1 Khái niệm và đặc điểm người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 6
1.1.1 Khái niệm người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 6 1.1.2 Đặc điểm người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 10
1.2 Vai trò của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 14 1.3 Nội dung của chế định người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 17
1.3.1 Điều kiện và tiêu chuẩn làm người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 17 1.3.2 Phạm vi đại diện của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 18 1.3.3 Trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 20 1.3.4 Xác lập và chấm dứt tư cách người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 21
2.2 Phạm vi đại diện của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 32
2.2.1 Thực trạng quy định pháp luật về phạm vi đại diện của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 32 2.2.2 Một số kiến nghị 39
2.3 Trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 43
2.3.1 Thực trạng quy định pháp luật về trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 43 2.3.2 Một số kiến nghị 53
2.4 Xác lập và chấm dứt tư cách người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 54
Trang 62.4.1 Thực trạng quy định pháp luật về xác lập và chấm dứt tư cách người đại
diện theo pháp luật của doanh nghiệp 54
2.4.2 Một số kiến nghị 62
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 65
KẾT LUẬN 66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC CÁC BẢN ÁN CỦA TÒA ÁN
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ở Việt Nam, hệ thống pháp luật về doanh nghiệp luôn không ngừng hoàn thiện, tạo khuôn khổ pháp lý để các chủ thể phát huy tối đa quyền tự do kinh doanh của mình Trên cơ sở kế thừa và phát huy những quy định tiến bộ trong Luật Doanh nghiệp năm
2014, đồng thời khắc phục và cải tiến những hạn chế, vướng mắc của quy định cũ, Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14 đã được Quốc hội thông qua ngày 17 tháng 6 năm
2020, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2021 Một trong các điểm mới của luật
là đã sửa đổi, bổ sung khá nhiều quy định về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Đây được coi là một trong những bước tiến quan trọng và mang tính đột phá của Luật Doanh nghiệp năm 2020
Tuy vậy, cho đến nay, cùng với sự phát triển và thay đổi không ngừng của nền kinh tế, chế định người đại diện theo pháp luật cũng bắt đầu bộc lộ những hạn chế, bất cập cả về mặt quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật, nhiều vấn đề chưa được giải quyết triệt để cả trên phương diện lý luận cũng như luật thực định Mặc dù Luật Doanh nghiệp Việt Nam đã không ngừng hoàn thiện nhưng quy định pháp luật hiện hành cũng như thực tiễn áp dụng vẫn còn đặt ra những vấn đề mà Luật Doanh nghiệp vẫn chưa giải quyết ổn thỏa Nhiều quy định mới được sửa đổi bổ sung mang tính đột phá, thiết thực và thể hiện tư duy rất thoáng về quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp, nhưng vẫn còn tiềm ẩn nhiều vướng mắc, như quy định về số lượng người đại diện theo pháp luật, căn cứ pháp lý xác lập quyền đại diện, vấn đề quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có từ hai người đại diện theo pháp luật trở lên
Do vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Chế định người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp trong Luật Doanh nghiệp năm 2020” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp
cử nhân Luật của mình để làm sáng tỏ chế định người đại diện theo pháp luật, góp phần hoàn thiện hơn quy định pháp luật về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp cũng như tạo hành lang pháp lý an toàn hơn cho các hoạt động của doanh nghiệp Trong phạm vi bài này, tác giả phân tích những quy định nổi bật mang tính đột phá và những điểm bất cập của Luật doanh nghiệp năm 2020 về chế định người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Đồng thời, tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn
Trang 8thiện các quy định liên quan đến người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, đáp ứng tốt hơn yêu cầu thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Kể từ ngày Luật Doanh nghiệp năm 2020 có hiệu lực, đến nay Việt Nam vẫn chưa
có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu một cách đầy đủ, chuyên sâu và toàn diện về chế định người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp dưới hiệu lực của Luật Doanh nghiệp năm 2020 Còn trước đây, phần lớn các nghiên cứu được thể hiện dưới dạng bài báo khoa học và vẫn chưa đi sâu vào phân tích cụ thể từng khía cạnh của chế định này
mà chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu một cách khái quát chung về người đại diện theo pháp luật Cụ thể, có thể kể đến các nghiên cứu như:
- Bài viết “Học thuyết về đại diện và mấy vấn đề của pháp luật công ty Việt Nam”
của Bùi Xuân Hải trong Tạp chí Khoa học pháp lý, số 4/2007 Bài viết phân tích những vấn đề cơ bản của học thuyết về đại diện ở các nước phương Tây trong việc
lý giải mối quan hệ giữa cổ đông và người quản lý công ty, và sử dụng những luận điểm của học thuyết này để bình luận về một số vấn đề trong thực tiễn quản trị doanh nghiệp và pháp luật công ty Việt Nam nhằm mục đích đưa ra kiến nghị cho việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật hiện hành
- Bài viết “Quy định mới của Luật Doanh nghiệp năm 2014 về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp” của Vũ Thị Lan Anh trong Tạp chí Luật học, số
4/2016 Bài viết phân tích những quy định mới của Luật Doanh nghiệp năm 2014
về chế định người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, chỉ ra những điểm cần lưu ý trong việc áp dụng trên thực tế những quy định mới của Luật Doanh nghiệp
2014 về vấn đề này đối với các doanh nghiệp ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
- Bài viết “Một số góp ý nhằm hoàn thiện dự thảo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp về người đại diện theo pháp luật” của
Nguyễn Tuấn Vũ trong Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 9/2019 Bài viết đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp về người đại diện theo pháp luật
- Sách “Bình luận án: Các tranh chấp điển hình trong quản trị công ty” của tác giả
Phạm Hoài Huấn và Lê Nhật Bảo (2021), đã cung cấp những thông tin hữu ích và cách nhìn nhận về một số vấn đề pháp lý phát sinh trong thực tiễn xét xử tranh chấp thuộc pháp luật về quản trị doanh nghiệp Cuốn sách là tài liệu hữu ích để tác
Trang 9giả tìm hiểu thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân các cấp trong các tranh chấp liên quan đến trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Ngoài ra, còn có một số luận văn và khóa luận nghiên cứu về chế định này như:
- Luận văn Thạc sĩ Luật của tác giả Lê Việt Phương với đề tài “Người đại diện theo pháp luật của công ty theo quy định của pháp luật Việt Nam”, Trường Đại học
Luật Tp Hồ Chí Minh (2013) Đề tài đã đưa ra cơ sở lý luận về đại diện, khái niệm người đại diện theo pháp luật của công ty Đề tài cũng đánh giá được thực trạng quy định pháp luật và đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện Tuy nhiên, công trình nghiên cứu này được thực hiện theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 và hiện nay đã hết hiệu lực thi hành và chỉ còn giá trị tham khảo
- Luận văn Thạc sĩ Luật của tác giả Mai Thị Ngân Hà với đề tài “Pháp luật về người đại diện theo pháp luật của công ty”, Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh
(2020) Đề tài phân tích và đánh giá chuyên sâu được thực trạng quy định pháp luật
và đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật Tuy nhiên, công trình nghiên cứu này được thực hiện theo Luật Doanh nghiệp năm 2014 và hiện nay cũng đã hết hiệu lực thi hành
- Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Ngô Thị Huệ My với đề tài “Chế định người đại diện theo pháp luật trong Luật Doanh nghiệp năm 2014”, Trường Đại học Luật
Tp Hồ Chí Minh (2017) Khóa luận của tác giả được thực hiện theo Luật Doanh nghiệp năm 2014, nhưng chỉ dừng lại ở mức độ nghiên cứu khái quát dựa trên những quy định của pháp luật
Tóm lại, qua việc phân tích tình hình nghiên cứu ở trên, có thể thấy đã có nhiều nghiên cứu về chế định người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp nhưng số lượng nghiên cứu về người đại diện theo pháp luật dưới hiệu lực của Luật Doanh nghiệp năm 2020 còn rất ít Ngoài ra, đa số các nghiên cứu chỉ đề cập đến một vài khía cạnh của chế định người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp mà rất ít bài viết đi sâu nghiên cứu chế định này một cách đầy đủ và toàn diện Do đó, tác giả sẽ tiếp nhận những kết quả đã đạt được và tiếp tục nghiên cứu, phân tích thêm các vấn đề còn thiếu sót trong khóa luận của mình
3 Mục đích nghiên cứu đề tài
Trang 10Nhằm mục đích đưa ra các kiến nghị hoàn thiện quy định về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp trong Luật Doanh nghiệp năm 2020 thông qua việc nghiên cứu các vấn đề lý luận chung về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, phân tích, đánh giá quy định của pháp luật và thực tiến áp dụng pháp luật trên thực tế, chỉ ra các vướng mắc trong quy định pháp luật và thực tiễn
Để thực hiện mục đích nêu trên, tác giả tập trung vào các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, làm rõ các vấn đề lý luận về người đại diện theo pháp luật của doanh
nghiệp nhằm hiểu đúng và đủ các quy định pháp luật hiện hành về địa vị pháp lý của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, từ đó có thể phân biệt được người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp với người đại diện theo pháp luật nói chung
Thứ hai, chỉ ra các vướng mắc, hạn chế trong quy định hiện hành và trong thực tiễn
khi áp dụng các quy định về vấn đề này
Thứ ba, đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định về người đại diện theo
pháp luật của doanh nghiệp
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu đề tài
Trên cơ sở mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài đã đặt ra, tác giả tập trung nghiên cứu các đối tượng sau theo pháp luật Việt Nam:
Thứ nhất, những vấn đề mang tính lý luận quan trọng về người đại diện theo pháp
luật của doanh nghiệp
Thứ hai, các quy định về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp trong
Luật Doanh nghiệp năm 2020, Bộ luật Dân sự năm 2015 và một số quy định khác có liên quan
Thứ ba, thực tiễn xét xử của toà án các cấp thông qua bình luận một số bản án điển
hình
4.2 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Tác giả tập trung nghiên cứu về người đại diện theo pháp luật các doanh nghiệp: Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty hợp danh và Doanh nghiệp tư
Trang 11nhân theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020, Bộ luật Dân sự năm 2015, các văn bản pháp luật có liên quan khác và pháp luật của một số quốc gia trên thế giới
5 Phương pháp tiến hành nghiên cứu
Để hoàn thành khóa luận, tác giả sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau Bao gồm:
Thứ nhất, phương pháp phân tích: tác giả sử dụng phương pháp này để phân tích
các quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020 và các quy định có liên quan trong pháp luật chuyên ngành để đánh giá tính phù hợp của pháp luật hiện hành về chế định người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp; phân tích thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Thứ hai, phương pháp so sánh: tác giả sử dụng phương pháp này để so sánh các
quy định giữa Luật Doanh nghiệp năm 2014 với Luật Doanh nghiệp năm 2020 Từ đó, tác giả đánh giá ưu, nhược điểm của pháp luật hiện hành và kiến nghị hoàn thiện pháp luật trong nước
Thứ ba, phương pháp chứng minh: tác giả sử dụng phương pháp này để chứng
minh thực tiễn áp dụng pháp luật bằng các bản án, bài báo, ; chứng minh cho các lập luận của mình bằng cách trích dẫn các nguồn quan điểm khoa học từ các chuyên gia;
Thứ tư, phương pháp tổng hợp: tác giả sử dụng phương pháp này trong việc kết
luận, khái quát hóa vấn đề; trong việc kết hợp cả lý luận, thực trạng pháp luật và thực tiễn nhằm đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
6 Bố cục tổng quát của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận được chia thành 02 chương:
Chương 1: Khái quát chung về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng pháp luật về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp và
một số kiến nghị
Trang 12CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Khái niệm và đặc điểm người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Để hiểu đúng, đầy đủ và chính xác về người đại diện theo pháp luật (NĐDTPL) của doanh nghiệp, trước hết phải tìm hiểu định nghĩa về đại diện, đại diện theo pháp luật trong Bộ Luật Dân sự (BLDS) Bởi BLDS là luật gốc điều chỉnh các quan hệ về dân sự mà một trong số đó là quan hệ về đại diện Vấn đề đại diện trong BLDS được xem là vấn đề gốc, hình thành nên đại diện theo ủy quyền và đại diện theo pháp luật, chi phối các quy định trong Luật Doanh nghiệp (LDN) về đại diện Do đó, tác giả phân tích vấn đề đại diện trong BLDS trước khi tìm hiểu về NĐDTPL của doanh nghiệp theo quy định của LDN hiện hành
Để thỏa mãn các nhu cầu trong đời sống hằng ngày, con người phải tham gia vào rất nhiều giao dịch khác nhau Khi tham gia vào một mối quan hệ nào đó như dân sự, thương mại, kinh tế, , ngoại trừ các trường hợp pháp luật bắt buộc người xác lập giao dịch phải tự mình bày tỏ ý chí một cách tự nguyện, thì chủ thể có thể bày tỏ ý chí thông qua vai trò của một người khác trong trường hợp họ không thể tự mình hoặc không muốn tự mình tham gia xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự Trong những trường hợp đó, để đảm bảo hiệu lực của các giao dịch dân sự thì việc xác lập, thực hiện các giao dịch của các chủ thể phải được thực hiện thông qua người đại diện Quan hệ đại diện cũng được hình thành từ đó Đại diện như là một phương thức thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự thông qua vai trò của người khác Thông qua chế định đại diện, quyền
và lợi ích hợp pháp của người được đại diện được đảm bảo1
Đại diện là một trong những chế định quan trọng của pháp luật dân sự nên BLDS năm 2015 đã dành một chương riêng để quy định về đại diện Tại khoản 1 Điều 134
BLDS quy định: “Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự” Mục đích của việc xác lập
quan hệ đại diện là nhằm giúp người được đại diện giao dịch với bên thứ ba thông qua
1Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh (2017), Giáo trình Những quy định chung về Luật Dân sự,
Nhà xuất bản Hồng Đức, tr 239
Trang 13người đại diện Theo đó, người đại diện sẽ nhân danh người được đại diện xác lập các quyền và nghĩa vụ với người thứ ba, từ đó làm phát sinh hậu quả pháp lý đối với người được đại diện Với quy định này, người đại diện sẽ là người trực tiếp xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự nhân danh và vì lợi ích của người được đại diện, chứ không phải nhân danh và vì lợi ích của chính người đại diện Khác với người đại diện, người được đại diện không tự mình xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự, mà quyền và lợi ích hợp pháp của họ được đáp ứng thông qua hành vi của người đại diện Do vậy, trong phạm vi và thời hạn đại diện, mọi giao dịch dân sự được xác lập giữa người đại diện với người thứ ba đều làm phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với người được đại diện Với điều kiện là giao dịch dân sự đó phải ghi chủ thể là người được đại diện, vì một người
dù được chỉ định đại diện và đã giao kết hợp đồng trong phạm vi thẩm quyền của mình, nhưng nếu không hành động bằng tên của người được đại diện thì không làm phát sinh hậu quả pháp lý đối với người được đại diện Khái niệm này đã nhấn mạnh trách nhiệm
trung thành của người đại diện khi đề cập đến vấn đề “vì lợi ích của người được đại diện”, từ đó tạo ra một cơ sở pháp lý để giải quyết những trường hợp người đại diện
xác lập, thực hiện giao dịch dân sự không vì lợi ích của người được đại diện Trong quan hệ này, các bên chủ thể có thể là bất kì chủ thể nào mà không hạn chế là cá nhân hay pháp nhân, tổ chức2
Đối với cá nhân, nếu là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ các trường hợp pháp luật quy định họ phải tự mình xác lập, thực hiện giao dịch3, thì cá nhân có thể xác lập, thực hiện giao dịch dân sự thông qua người đại diện nếu họ không muốn trực tiếp tham gia, xác lập hoặc nếu việc họ trực tiếp tham gia, xác lập các giao dịch dân sự
có thể sẽ gặp phải những khó khăn nhất định Đối với những cá nhân có những hạn chế
về thể lực và trí lực, để tránh những hậu quả bất lợi cho các chủ thể này cũng như giúp
họ được hưởng mọi quyền và lợi ích hợp pháp, việc tham gia xác lập, thực hiện các giao dịch sẽ do NĐDTPL thực hiện vì lợi ích của họ
Đối với pháp nhân, việc tham gia xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự thông qua người đại diện vì lợi ích của pháp nhân bắt buộc phải được thực hiện thông qua các hành vi của cá nhân Sở dĩ như vậy là vì pháp nhân là một tổ chức người được cơ cấu theo một hình thức nhất định, được thành lập nhằm thực hiện các hoạt động vì mục
Trang 14đích của pháp nhân4 và bản thân pháp nhân không phải là con người cụ thể mà là thực thể pháp lý nhân tạo, tự bản thân nó không có cơ thể sinh học để có thể tự mình hành động5 Vì vậy, pháp nhân cần người đại diện thường xuyên cho mình trong việc xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự với người thứ ba nói riêng và nhân danh mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ nói chung Khi đó, tùy từng trường hợp mà pháp nhân cần
cá nhân đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền
BLDS đã có sự phân biệt giữa đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền Trong đó, đại diện theo pháp luật là một bộ phận quan trọng của chế định đại diện cũng như đóng vai trò không thể thiếu trong nhiều quan hệ pháp luật dân sự Đại diện theo pháp luật là đại diện được xác định theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật Ngoại trừ cá nhân, các chủ thể khác chỉ có thể tham gia quan hệ pháp luật thông qua NĐDTPL, hoặc người đại diện theo ủy quyền trong trường hợp NĐDTPL ủy quyền lại cho người đại diện theo ủy quyền BLDS không đưa ra định nghĩa về NĐDTPL mà chỉ liệt kê các trường hợp đại diện theo pháp luật của cá nhân và đại diện theo pháp luật của pháp nhân, làm căn cứ xem xét các trường hợp cụ thể trên thực tế
Khái niệm NĐDTPL, nhất là khái niệm NĐDTPL của pháp nhân, là cơ sở quan trọng để tìm hiểu về khái niệm NĐDTPL của doanh nghiệp Đại diện theo pháp luật của pháp nhân được quy định tại khoản 1 Điều 137 BLDS: NĐDTPL của pháp nhân bao gồm: Một là, người được pháp nhân chỉ định theo điều lệ; Hai là, người có thẩm quyền đại diện theo quy định của pháp luật; Ba là, người do Tòa án chỉ định trong quá trình tố tụng tại Tòa án NĐDTPL của pháp nhân là người đại diện pháp nhân trong việc xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự nhân danh pháp nhân với người thứ ba Pháp luật cũng cho phép một pháp nhân có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật
và mỗi người đại diện có quyền đại diện cho pháp nhân theo quy định
Như vậy, chế định về đại diện giúp các chủ thể có thể linh hoạt trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình cũng như thuận tiện hơn trong các giao kết hợp đồng Trên thực tế, đại diện được áp dụng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, nó
không chỉ nhằm mục đích duy nhất là “xác lập, thực hiện giao dịch dân sự”, mà khi
nghiên cứu các quy định của pháp luật có liên quan, có thể thấy, người đại diện có thể
Trang 15thực hiện rất nhiều hoạt động khác vì lợi ích của người được đại diện, điển hình đó là vai trò và chức năng của NĐDTPL của doanh nghiệp
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, công ty sẽ phát sinh các mối quan hệ với
nhiều chủ thể khác nhau Nhưng “công ty với tư cách là một pháp nhân - một thực thể pháp lý độc lập, (a separate legal entity), tự bản thân nó không thể hành động cho chính mình mà chỉ có thể hành động thông qua con người cụ thể - những người quản lý công ty Cũng vì thế, công ty luôn cần có người đại diện trong giao dịch để xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình”6 Xuất phát từ nhu cầu và sự thừa nhận các dạng quan hệ này trong thực tế, pháp luật đã ghi nhận quan hệ đại diện của doanh nghiệp Đại diện của doanh nghiệp có thể là đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo
ủy quyền Trong đó, đại diện theo pháp luật là một cơ chế pháp lý đặc biệt quan trọng
đối với doanh nghiệp “Đại diện theo pháp luật còn được gọi là đại diện đương nhiên, tức là được pháp luật công nhận quyền đương nhiên nhân danh doanh nghiệp trong các hoạt động của doanh nghiệp”7 Hình thức đại diện theo pháp luật là một giải pháp
an toàn giúp doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ cũng như đạt được các lợi ích hợp pháp thông qua các giao dịch do NĐDTPL xác lập và thực hiện vì lợi ích của doanh nghiệp Trong mối quan hệ này, NĐDTPL sẽ mang ý tưởng, suy nghĩ của doanh nghiệp đến với người thứ ba nhằm xác lập, thực hiện giao dịch với người thứ ba
NĐDTPL là một trong những chế định quan trọng của pháp luật doanh nghiệp Với tầm quan trọng này, LDN năm 2020 đã kế thừa sự tiến bộ trong kỹ thuật lập pháp của LDN năm 2014 khi vẫn dành riêng một điều khoản để quy định về NĐDTPL, mà không quy định rải rác ở các điều luật về cơ cấu tổ chức, quản lý của các loại hình doanh nghiệp như trong LDN năm 20058, tuy nhiên quy định hiện hành đã có sự thay đổi bổ sung Cụ thể: Trước đây, trong LDN năm 2005, các nhà lập pháp Việt Nam không đưa ra khái niệm NĐDTPL của doanh nghiệp, mà chỉ quy định chức danh quản
lý là NĐDTPL của từng loại hình doanh nghiệp9 Đến LDN năm 2014, khoản 1 Điều
13 đã định nghĩa NĐDTPL của doanh nghiệp là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp
6
Bùi Xuân Hải (2007), “Học thuyết về đại diện và mấy vấn đề của pháp luật công ty Việt Nam”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 4/2007, tr 21
7
Vũ Thị Lan Anh (2016), “Quy định mới của Luật Doanh nghiệp năm 2014 về người đại diện theo
pháp luật của doanh nghiệp”, Tạp chí Luật học, số 4/2016, tr 4
8
Vũ Thị Lan Anh, tlđd (7), tr 4
9
Ngô Gia Hoàng, Nguyễn Thị Thương (2016), “Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp theo
Luật Doanh nghiệp năm 2014 dưới gốc độ quyền tự do kinh doanh”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật,
số 7/2016, tr.48
Trang 16thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án và các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật So
với LDN năm 2014, khoản 1 Điều 12 LDN năm 2020 quy định “Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền
và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách người yêu cầu giải quyết việc dân sự, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án và các quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật” Như vậy, LDN năm 2020 đã chính thức ghi nhận quyền “đại diện cho doanh nghiệp với tư cách người yêu cầu giải quyết việc dân sự” của NĐDTPL
1.1.2 Đặc điểm người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Thứ nhất, NĐDTPL của doanh nghiệp chỉ có thể là cá nhân và phải có năng
lực hành vi dân sự đầy đủ
Theo quy định tại khoản 1 Điều 134 BLDS năm 2015, người đại diện có thể là cá nhân hoặc pháp nhân Nhưng theo khoản 1 Điều 12 LDN năm 2020, NĐDTPL của doanh nghiệp chỉ có thể là cá nhân mà thôi Vì doanh nghiệp như đã đề cập, bản thân
nó là một tổ chức kinh tế, một thực thể pháp lý mà không phải là con người cụ thể, và
nó vô hình nên không thể tự mình tham gia vào các quan hệ pháp luật Do đó, doanh nghiệp cần có con người cụ thể để nhân danh doanh nghiệp xác lập, thực hiện các giao dịch vì lợi ích của doanh nghiệp Lý do pháp luật muốn con người cụ thể đó là cá nhân
và quy trách nhiệm trực tiếp cho cá nhân mà không phải là một doanh nghiệp nào khác bởi khi đó, việc quy trách nhiệm sẽ trở nên đơn giản và dễ dàng hơn Đối với pháp nhân, chủ thể này chỉ có thể là đại diện theo ủy quyền, chứ không thể là đại diện theo pháp luật của cá nhân hay pháp nhân khác10
Pháp luật chỉ yêu cầu năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự của người đại diện trong trường hợp pháp luật quy định11 Điều đó cũng có nghĩa là nếu thuộc trường hợp pháp luật quy định thì vấn đề năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự sẽ được đặt ra (và ngược lại) Đồng thời cũng không phải trong mọi trường hợp đều đòi hỏi người đại diện phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ để thực
10
Trương Thanh Đức (2016), Luận giải về Luật Doanh nghiệp năm 2014 (36 kế sách pháp lý của
doanh nghiệp), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, tr 178
11
Khoản 3 Điều 134 về “Đại diện”, Bộ luật Dân sự năm 2015
Trang 17hiện việc đại diện Đối với NĐDTPL của doanh nghiệp, trong cả BLDS năm 2015 và LDN năm 2020 đều không quy định về năng lực hành vi dân sự của NĐDTPL trong một điều khoản cụ thể Nhưng tại khoản 5 Điều 12 LDN năm 2020 có quy định: nếu NĐDTPL bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, thì chủ sở hữu công ty, Hội đồng thành viên, HĐQT cử người khác làm NĐDTPL của công ty Quy định này cho thấy năng lực hành vi dân sự là điều kiện bắt buộc của NĐDTPL của doanh nghiệp Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với điều kiện về năng lực chủ thể mà BLDS đặt ra trong vấn đề đại diện tại khoản 3 Điều 134 BLDS năm 2015 Tuy nhiên, xuất phát từ yêu cầu của hoạt động kinh doanh, để NĐDTPL có thể thực hiện và chịu trách nhiệm cá nhân trước các hành vi quản lý của mình thì họ phải là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ
Về nguyên tắc chung, người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ sẽ bằng hành vi của chính mình, tự mình xác lập, thực hiện và chịu trách nhiệm trong các quan hệ pháp luật dân sự mà mình tham gia Và người này phải là người thành niên, đồng thời không thuộc vào các trường hợp riêng biệt: mất năng lực hành vi dân sự; có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; hạn chế năng lực hành vi dân sự Do đó, một căn cứ khác trong LDN cho thấy chỉ người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự mới có quyền quản lý doanh nghiệp, và từ đó mới có thể làm NĐDTPL của doanh nghiệp là quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 17 LDN năm 2020: cá nhân là người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; người bị mất năng lực hành vi dân sự; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam
Ngoài ra, điều kiện này còn được thể hiện rõ trong trường hợp doanh nghiệp chỉ còn một NĐDTPL và người này bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì chủ sở hữu công ty, Hội đồng thành viên, HĐQT cử người khác làm NĐDTPL của công ty12 Điều kiện này sẽ hạn chế được nhiều bất lợi cho doanh nghiệp và cho chính bản thân NĐDTPL nếu người này tự mình
xác lập các giao dịch dân sự, đồng thời cho thấy LDN đã chính thức ghi nhận “người
có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi” - chủ thể đã được ghi nhận kể từ BLDS
Trang 18Qua các quy định trên của LDN năm 2020, ta thấy rằng năng lực hành vi dân sự
là yêu cầu bắt buộc để một cá nhân trở thành NĐDTPL của doanh nghiệp Thực tế, NĐDTPL của doanh nghiệp là người chịu trách nhiệm cá nhân đối với thiệt hại cho doanh nghiệp trong trường hợp họ vi phạm trách nhiệm13 nên quy định về năng lực hành vi dân sự đầy đủ của NĐDTPL là cần thiết
Thứ hai, NĐDTPL của doanh nghiệp phải nhân danh và vì lợi ích của doanh
nghiệp
NĐDTPL của doanh nghiệp là người nhân danh và vì lợi ích của doanh nghiệp để thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp (bao gồm các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách người yêu cầu giải quyết việc dân sự, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án và các quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật) Bởi về mặt lý thuyết, việc ai là NĐDTPL sẽ do doanh nghiệp quyết định (mà cụ thể là các cổ đông, thành viên công ty) Cổ đông, thành viên công ty là người dùng ý chí của mình chi phối công ty ra quyết định lựa chọn NĐDTPL Do đó, người đại diện phải phục vụ lợi ích của cổ đông, thành viên công ty bằng trách nhiệm trung thực, cẩn trọng, tốt nhất, của mình
Vì nhân danh doanh nghiệp nên NĐDTPL của doanh nghiệp sẽ không chịu trách nhiệm cá nhân đối với các vấn đề phát sinh từ các hoạt động nhân danh doanh nghiệp nếu NĐDTPL thực hiện công việc phù hợp với phạm vi đại diện của mình Ngược lại,
họ sẽ phải chịu trách nhiệm cá nhân đối với thiệt hại cho doanh nghiệp nếu vi phạm trách nhiệm quy định tại khoản 1 Điều 13 LDN năm 2020 Cũng vì là NĐDTPL của doanh nghiệp nên họ chính là người phải chịu trách nhiệm cao nhất cho mọi hoạt động của doanh nghiệp
Thứ ba, về số lượng NĐDTPL của doanh nghiệp
Khoản 2 Điều 137 BLDS năm 2015 quy định một pháp nhân có thể có nhiều NĐDTPL Cùng với đó, khoản 2 Điều 12 LDN năm 2020 cũng quy định công ty trách nhiệm hữu hạn (CT TNHH) và công ty cổ phần (CTCP) (sau đây gọi chung là công ty)
có thể có một hoặc nhiều NĐDTPL Quy định này đã góp phần tạo hành lang pháp lý
13
Khoản 2 Điều 13 về “Trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp”, Luật Doanh nghiệp năm 2020
Trang 19để doanh nghiệp có thể quyết định số lượng NĐDTPL phù hợp với quy mô và nhu cầu của doanh nghiệp Đối với những doanh nghiệp có quy mô lớn, mỗi ngày đều có vô số các giao dịch cần giải quyết, nếu chỉ có duy nhất một NĐDTPL đảm nhận mọi giao dịch thì với số lượng giao dịch quá lớn như vậy sẽ gây ra sự quá tải cho NĐDTPL Mặc dù pháp luật cũng đã cho phép NĐDTPL ủy quyền cho một cá nhân khác, nhưng NĐDTPL về nguyên tắc vẫn phải chịu trách nhiệm trước doanh nghiệp, trước pháp luật
về những nội dung thuộc thẩm quyền của mình Vì vậy, khi cho phép một doanh nghiệp có thể có nhiều hơn một NĐDTPL sẽ tạo nên cơ chế linh hoạt, giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong việc phân công quản lý, thúc đẩy tối đa sự phát triển trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp, đồng thời đảm bảo cho doanh nghiệp luôn có NĐDTPL trong các tình huống bất khả kháng phát sinh,
Ngoài ra, nếu quy định mỗi pháp nhân nói chung và công ty nói riêng chỉ có một NĐDTPL có thể gây ra nhiều khó khăn, vướng mắc khác cho hoạt động của pháp nhân
và công ty Chẳng hạn, tất cả những người khác muốn thực hiện các giao dịch nhân danh pháp nhân, công ty thì đều phải có ủy quyền của NĐDTPL, điều này làm phát sinh các thủ tục hành chính khi phải thực hiện thủ tục ủy quyền Hoặc trong trường hợp NĐDTPL duy nhất của doanh nghiệp vi phạm nghĩa vụ, không thực hiện đúng yêu cầu của cổ đông, thành viên công ty trong quá trình quản lý điều hành nội bộ doanh nghiệp cũng như giao dịch với bên ngoài, thì doanh nghiệp lại phải đối mặt với nhiều rủi ro Tuy nhiên, quy định cho phép mỗi doanh nghiệp là CT TNHH, CTCP có thể có một hoặc nhiều NĐDTPL cũng dẫn đến nhiều hạn chế, bất cập trong quá trình thực thi pháp luật Trường hợp hai hay nhiều NĐDTPL cùng có thẩm quyền xác lập, thực hiện đối với một giao dịch có thể dẫn đến tình trạng xung đột thẩm quyền14 Trong trường hợp này, các bên sẽ khó xác định được quyết định của người nào mới thực sự có giá trị pháp lý Ngoài ra, trong nhiều trường hợp, việc có nhiều NĐDTPL có cùng thẩm quyền còn tạo cơ hội cho doanh nghiệp lợi dụng những người này nhằm trốn tránh nghĩa vụ với bên thứ ba, thông qua việc một NĐDTPL khác sẽ đưa ra một quyết định khác có lợi hơn cho doanh nghiệp để phủ định quyết định ban đầu Tuy nhiên, khihai hay nhiều NĐDTPL cùng có thẩm quyền đối với một giao dịch có thể giúp những NĐDTPL linh hoạt hơn trong phân công phụ trách công việc, đồng thời giúp bên thứ
14
Nguyễn Hợp Toàn (2017), “Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba trong trường hợp
công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần có nhiều người đại diện theo pháp luật”, Tạp chí
Tòa án nhân dân, số 9/2017, tr 32
Trang 20ba hạn chế rủi ro giao dịch với người không có thẩm quyền Điển hình cho trường hợp này là khi CT TNHH và CTCP có nhiều hơn một NĐDTPL nhưng Điều lệ công ty chưa quy định cụ thể quyền, nghĩa vụ của từng NĐDTPL thì mỗi NĐDTPL của công
ty đều là đại diện đủ thẩm quyền của doanh nghiệp trước bên thứ ba15
Vấn đề lựa chọn số lượng NĐDTPL của doanh nghiệp không đặt ra đối với DNTN và công ty hợp danh (CTHD) bởi LDN đã quy định cụ thể đối với hai loại hình doanh nghiệp này Cụ thể, chủ DNTN chính là NĐDTPL duy nhất của DNTN và tất cả các thành viên hợp danh là NĐDTPL của CTHD
1.2 Vai trò của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Pháp luật dân sự thừa nhận rằng pháp nhân không thể tự mình tham gia xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự mà việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ phải thông qua người đại diện của pháp nhân Bản chất pháp nhân vốn là thực thể pháp lý nhân tạo, tự bản thân nó không có cơ thể sinh học để có thể tự mình hành động Mọi hoạt động của pháp nhân phải được thực hiện thông qua hành vi của người đại diện từ khi thành lập cho đến khi chấm dứt hoạt động16 Như vậy, công ty với tư cách là một pháp nhân - một thực thể pháp lý độc lập, (a separate legal entity), tự bản thân nó không thể hành động cho chính mình mà chỉ có thể hành động thông qua con người cụ thể - những người quản lý công ty Cũng vì thế, công ty luôn cần có người đại diện trong giao dịch
để xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình17 NĐDTPL là người có quyền nhân danh và vì lợi ích của doanh nghiệp xác lập, thực hiện các giao dịch trong phạm
vi đại diện, đóng vai trò quan trọng trong cả quan hệ đối nội lẫn đối ngoại của doanh nghiệp18 Cụ thể:
Thứ nhất, NĐDTPL của doanh nghiệp là chủ thể không thể thiếu trong việc
đảm bảo hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra bình thường
NĐDTPL của doanh nghiệp là một cơ chế pháp lý đặc biệt quan trọng đối với doanh nghiệp Trong quá trình hoạt động kinh doanh, một doanh nghiệp muốn hoạt
Nguyễn Tuấn Vũ (2019), “Một số góp ý nhằm hoàn thiện dự thảo luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp về người đại diện theo pháp luật”, Tạp chí Nhà nước và pháp
luật, số 9/2019, tr 56
Trang 21động bình thường thì không thể không có sự tồn tại của NĐDTPL dù chỉ trong thời gian ngắn, vì như đã phân tích, bản thân doanh nghiệp không thể tự mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ, không thể trực tiếp tham gia các quan hệ cụ thể mà phải thông qua NĐDTPL Vì vậy, một trong những điều kiện để doanh nghiệp được thành lập và hoạt động bình thường đó là phải có NĐDTPL Doanh nghiệp phải luôn có ít nhất một NĐDTPL điều hành, nhân danh công ty để thực hiện các quyền và nghĩa vụ, nếu không
có NĐDTPL, mọi hoạt động của doanh nghiệp có thể bị đình trệ, lâu dần sẽ dẫn đến chấm dứt hoạt động
Có thể nói, NĐDTPL của doanh nghiệp là một trong các điều kiện pháp lý để doanh nghiệp hoạt động bình thường19 NĐDTPL gắn liền với doanh nghiệp từ khi ra đời cho đến khi doanh nghiệp chấm dứt tồn tại Chính vì NĐDTPL có vai trò quan trọng và không thể thiếu đối với mỗi doanh nghiệp mà pháp luật quy định khi đăng ký doanh nghiệp, vấn đề họ, tên, địa chỉ liên lạc, quốc tịch, số giấy tờ pháp lý của cá nhân đối với NĐDTPL của doanh nghiệp phải được ghi nhận trong Điều lệ công ty20 Ngoài
ra, pháp luật còn yêu cầu mỗi doanh nghiệp phải bảo đảm luôn có ít nhất một NĐDTPL cư trú tại Việt Nam, và khi chỉ còn lại một NĐDTPL cư trú tại Việt Nam thì người này phải ủy quyền bằng văn bản cho cá nhân khác cư trú tại Việt Nam thực hiện quyền và nghĩa vụ của NĐDTPL nếu xuất cảnh khỏi Việt Nam21
Thứ hai, vai trò của NĐDTPL trong quan hệ đối nội của doanh nghiệp
NĐDTPL của doanh nghiệp là cá nhân thay mặt doanh nghiệp duy trì các mối quan hệ với các chủ thể bên trong doanh nghiệp (chủ sở hữu doanh nghiệp, người lao động, các thành viên, bộ phận có liên quan khác, ) Trong suốt quá trình hoạt động của mình, doanh nghiệp với các chủ thể này luôn có sự kết nối và có mối quan hệ mật thiết với nhau Do đó việc duy trì và giữ các mối quan hệ này thông suốt trong suốt quá trình tồn tại và hoạt động của doanh nghiệp là vấn đề quan trọng và cần một bộ máy tổ chức chặt chẽ cũng như cần có đại diện để quản lý
19
Lê Việt Phương (2013), Người đại diện theo pháp luật của công ty theo quy định của pháp luật Việt
Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật, Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, tr 37
Trang 22Trong doanh nghiệp, chủ sở hữu là người thành lập, điều hành doanh nghiệp và
có đủ các quyền của một chủ sở hữu nói chung đối với doanh nghiệp của mình đó là quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt hay nói cách khác là quyền thành lập, hoạt động, giải thể doanh nghiệp Còn người đại diện (với vai trò là người thụ ủy) sẽ thực hiện việc quản lý công ty cho các cổ đông (với vai trò là những người chủ) mà trong đó bao gồm cả việc trao thẩm quyền để ra quyết định định đoạt tài sản của công ty22 Không chỉ gắn liền với chủ sở hữu doanh nghiệp, NĐDTPL còn có mối quan hệ mật thiết với các chức danh quản lý khác và người lao động trong doanh nghiệp Việc quản lý, giám sát, kiểm soát hành vi của các chức danh quản lý khác trong doanh nghiệp là một trong các hoạt động quản trị doanh nghiệp của NĐDTPL NĐDTPL cũng là chủ thể có mối quan hệ mật thiết với người lao động trong doanh nghiệp23 Nhiều trường hợp, người lao động cần được biết NĐDTPL của doanh nghiệp là ai để
họ có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình nếu có tranh chấp xảy ra Chẳng hạn khi phát sinh tranh chấp về lao động và người lao động khởi kiện doanh nghiệp vì cho rằng doanh nghiệp chưa thực hiện đúng quy định của pháp luật lao động hay các cam kết đã thoả thuận với người lao động, thì NĐDTPL sẽ là người đại diện doanh nghiệp tham gia tố tụng trước Trọng tài, Tòa án với tư cách là bị đơn
Thứ ba, vai trò của NĐDTPL trong quan hệ đối ngoại của doanh nghiệp
Doanh nghiệp cũng giống như con người, trong quá trình hoạt động của mình, doanh nghiệp sẽ phát sinh trách nhiệm với Nhà nước, với đối tác, khách hàng, chủ nợ, Tuy nhiên, như đã phân tích, dù là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh24, nhưng doanh nghiệp không phải là con người sinh học mà là một thực thể pháp lý vô hình, không thể nhìn thấy được Vì vậy, doanh nghiệp cần có NĐDTPL nhân danh doanh nghiệp trong các quan hệ với bên ngoài, như thay mặt doanh nghiệp tham gia vào các giao dịch kinh tế, dân sự, hay đại diện doanh nghiệp tham gia tố tụng trước Trọng tài, Tòa án với tư cách là người yêu cầu giải quyết việc dân sự, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
22
Bùi Xuân Hải, tlđd (6), tr 22
23
Lê Nguyên Huyền Trang (2020), Chế định người đại diện theo pháp luật trong Luật Doanh nghiệp
năm 2014, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, tr 14
24
Khoản 10 Điều 4 về “Giải thích từ ngữ”, Luật Doanh nghiệp năm 2020
Trang 23Doanh nghiệp có quyền tham gia quan hệ pháp luật, nên cũng có nghĩa vụ trước pháp luật và NĐDTPL của doanh nghiệp là người được pháp luật giao phó những trách nhiệm cá nhân từ loại nhỏ nhất cho đến lớn nhất của doanh nghiệp NĐDTPL sẽ là người đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ đó với cơ quan nhà nước theo quy định của pháp luật Trong đó, có thể kể đến các công việc liên quan đến thủ tục đăng ký doanh nghiệp, đăng ký thay đổi thông tin doanh nghiệp,
1.3 Nội dung của chế định người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
1.3.1 Điều kiện và tiêu chuẩn làm người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Như đã phân tích, NĐDTPL của doanh nghiệp đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong cả quan hệ đối nội lẫn đối ngoại của doanh nghiệp Do đó, để chủ sở hữu đạt được mục đích khi thành lập doanh nghiệp thông qua hành vi nhân danh của người đại diện, không thể chấp nhận việc bất cứ ai cũng có thể trở thành NĐDTPL của doanh nghiệp bởi điều này sẽ rất nguy hiểm, hàm chứa khả năng phát sinh trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm của doanh nghiệp rất cao khi NĐDTPL hành động một cách thiếu cẩn trọng hay vô trách nhiệm, Nếu một cá nhân không có những kỹ năng cơ bản trong việc điều hành hoạt động của doanh nghiệp, không đủ năng lực quản lý kinh doanh, hoàn toàn có khả năng gây thiệt hại cho doanh nghiệp Chính vì thế, NĐDTPL không chỉ phải đáp ứng những điều kiện cơ bản theo quy định pháp luật mà còn phải thỏa mãn những tiêu chuẩn được đặt ra theo ý chí của chủ sở hữu
Đối với các điều kiện chung mà NĐDTPL cần đáp ứng để có thể đảm nhận vai trò đại diện theo pháp luật trong doanh nghiệp, sự can thiệp của pháp luật là rất cần thiết Nếu pháp luật không đưa ra các điều kiện cụ thể có thể khiến cho nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc chi tiết hóa các điều kiện vào trong quy định nội bộ công ty, dẫn đến nguy cơ doanh nghiệp trao quyền không đúng đối tượng và phải gánh chịu những hậu quả phát sinh từ việc quản lý kém của NĐDTPL Đối với các tiêu chuẩn làm NĐDTPL, dotiêu chuẩn vốn là điều được quy định để làm căn cứ đánh giá, phân loại, nên pháp luật cần thiết trao quyền tự chủ cho doanh nghiệp trong việc xác định, đánh giá các tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn, kinh nghiệm của NĐDTPL Như vậy sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp được tự do lựa chọn NĐDTPL phù hợp với nhu cầu và tính chất hoạt động kinh doanh của mình, tránh tình trạng pháp luật áp đặt quá nhiều điều kiện dẫn đến khó khăn trong việc bổ nhiệm một người làm NĐDTPL
Trang 241.3.2 Phạm vi đại diện của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Phạm vi đại diện là phạm vi các quyền và nghĩa vụ mà người đại diện được quyền xác lập, thực hiện nhân danh người được đại diện trong mối quan hệ với bên thứ ba25
Về nguyên tắc, những quyền và nghĩa vụ phát sinh từ việc thực hiện các hành vi nhân danh của người đại diện sẽ xác lập cho người được đại diện khi hành vi được thực hiện phù hợp với phạm vi đại diện
Phạm vi đại diện của NĐDTPL của doanh nghiệp là giới hạn các quyền và nghĩa
vụ mà theo đó NĐDTPL được phép nhân danh và thay mặt doanh nghiệp xác lập, thực hiện các hành vi pháp lý nhất định đối với bên thứ ba Các quyền và nghĩa vụ này phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp; trong thủ tục tố tụng Tòa án hoặc Trọng tài và các quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật Phạm vi đại diện của NĐDTPL còn
là công cụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, hạn chế đến mức thấp nhất khả năng NĐDTPL lạm quyền trong khi thực hiện công việc đại diện dẫn đến hậu quả xấu cho doanh nghiệp Nói cách khác, phạm vi đại diện của NĐDTPL là cơ sở để ràng buộc trách nhiệm của doanh nghiệp trong giao dịch do NĐDTPL xác lập, thực hiện với bên thứ ba Nếu các giao dịch được thực hiện nhưng không tuân thủ phạm vi đại diện sẽ không làm phát sinh hậu quả pháp lý đối với doanh nghiệp, trừ một trong các trường hợp được pháp luật quy định
Tùy vào từng hình thức đại diện khác nhau mà việc xác định phạm vi đại diện cũng khác nhau26 Đối với phạm vi đại diện của NĐDTPL của doanh nghiệp, nhìn chung được xác định theo ý chí của nhà nước hoặc theo ý chí của doanh nghiệp Đối với DNTN, nhà nước dùng ý chí của mình và chỉ định chủ DNTN là NĐDTPL duy nhất của doanh nghiệp, có phạm vi đại diện bao quát mọi vấn đề, có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của DNTN, việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật Bởi DNTN
là loại hình doanh nghiệp một chủ, do một chủ thể đứng ra thành lập và dùng tài sản của mình đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà không có sự hùn vốn, không có sự liên kết của nhiều thành viên Chủ DNTN là người duy nhất đầu
tư vốn thành lập nên DNTN và cũng là người duy nhất có quyền định đoạt các vấn đề
tổ chức và quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; Đối với CTHD, nhà nước
Trang 25cũng dùng ý chí của mình để xác định phạm vi đại diện của thành viên hợp danh như trường hợp chủ DNTN, bởi thành viên hợp danh là chủ sở hữu của công ty và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty Các thành viên này có quyền tổ chức điều hành hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty và chỉ có thể thỏa thuận phân chia công việc nội bộ, phân công nhau đảm nhiệm các chức danh quản lý và kiểm soát công ty, còn các hạn chế đối với thành viên hợp danh trong thực hiện công việc kinh doanh hằng ngày của công ty chỉ có hiệu lực đối với bên thứ ba khi người đó được biết về hạn chế đó
Nhưng đối với CTCP và CT TNHH, nhà nước không dùng ý chí của mình để quy định phạm vi đại diện của NĐDTPL mà cho phép xác định theo ý chí của doanh nghiệp (cụ thể là ý chí của cổ đông/thành viên công ty) Nhà nước tạo điều kiện cho cổ đông, thành viên công ty được quyền xác định phạm vi đại diện của NĐDTPL và ghi nhận vào Điều lệ công ty Có nghĩa Điều lệ có thể giới hạn phạm vi đại diện cho từng chức danh quản lý là NĐDTPL Trường hợp Điều lệ không quy định thì nhà nước mới dùng
ý chí của mình để xác định mỗi NĐDTPL của công ty đều là đại diện đủ thẩm quyền của doanh nghiệp trước bên thứ ba Việc cho phép doanh nghiệp tự xác định phạm vi đại diện của NĐDTPL trong Điều lệ tạo cho doanh nghiệp quyền tự quyết trong cơ cấu
tổ chức, quản lý nội bộ doanh nghiệp Tùy vào năng lực và vị trí quản lý của mỗi người đại diện, doanh nghiệp có thể phân công thẩm quyền cũng như giới hạn phạm vi đại diện một cách phù hợp Khi đó, NĐDTPL sẽ được phép xác lập, thực hiện các hành vi pháp lý trong giới hạn nhất định Vì vậy, để hành vi nhân danh và vì lợi ích của doanh nghiệp của NĐDTPL được công nhận là hành vi của doanh nghiệp và xác lập các quyền, nghĩa vụ cho doanh nghiệp, hành vi này phải phù hợp với phạm vi đại diện NĐDTPL là người đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp; trong thủ tục tố tụng Tòa án hoặc Trọng tài và các quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật27 Đây chính là phạm vi đại diện của NĐDTPL Trong đó, các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ các giao dịch của doanh nghiệp chiếm đa số, trong các giao dịch này người đại diện sẽ thay mặt doanh nghiệp
ký kết các hợp đồng phục vụ cho hoạt động kinh doanh hoặc các giao dịch giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước, với các tổ chức, cá nhân khác
27
Khoản 1 Điều 12 về “Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp”, Luật Doanh nghiệp năm
2020
Trang 261.3.3 Trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Theo từ điển Tiếng Việt, trách nhiệm là điều phải làm, phải gánh vác hoặc phải nhận lấy về mình Là sự ràng buộc về lời nói, hành vi của mình, bảo đảm điều mình làm là đúng đắn và phải chịu phần hậu quả (nếu có) Dưới khía cạnh pháp lý, tùy vào tính chất của sự việc mà trách nhiệm sẽ được hiểu theo nghĩa khác khau: trách nhiệm được hiểu theo nghĩa tích cực đó là bổn phận; hoặc theo nghĩa tiêu cực đó là hậu quả pháp lý bất lợi đối với chủ thể vi phạm pháp luật, thể hiện qua việc chủ thể này phải gánh chịu những thiệt hại nhất định về tài sản, về nhân thân, mà phần chế tài của các quy phạm pháp luật đã quy định28 Ở góc độ thứ hai này, trách nhiệm là một loại nghĩa
vụ pháp lý đặc biệt, phát sinh khi có vi phạm pháp luật, chủ thể gánh chịu trách nhiệm pháp lý bắt buộc phải thực hiện những xử sự nhất định trước một chủ thể khác, có thể
là nhà nước hoặc cá nhân, tổ chức có quyền, lợi ích bị xâm hại
Trong quan hệ đại diện giữa NĐDTPL và doanh nghiệp luôn tồn tại xung đột lợi ích Nhiều người đại diện có xu hướng tối đa lợi ích của mình thay vì lợi ích của doanh nghiệp Thậm chí trong nhiều trường hợp, họ sẵn sàng xâm phạm lợi ích của doanh nghiệp để đạt được lợi ích tối đa cho mình Khi NĐDTPL đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ với bên thứ ba, rất có thể họ sẽ thiếu sự trung thành, tận tâm, dẫn đến các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp không được thực hiện hoặc được thực hiện không đúng, không đầy đủ Hậu quả là quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp bị thiệt hại, nhiều trường hợp doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm với bên thứ ba vì vi phạm nghĩa vụ Và thực tế có không ít trường hợp người đại diện có hành vi sai trái trong khi thực hiện nhiệm vụ được doanh nghiệp giao Vì lẽ đó, cần thiết có những quy định nhằm khuyến khích sự trung thành và nhiệt huyết của NĐDTPL, đồng thời ngăn chặn những hành vi sai trái của họ Công cụ đó chính là những trách nhiệm mà NĐDTPL phải tuân thủ, trường hợp không tuân thủ thì phải chịu trách nhiệm cá nhân đối với thiệt hại cho doanh nghiệp do hành vi của mình gây
ra Việc đặt ra vấn đề về trách nhiệm sẽ đảm bảo NĐDTPL có trách nhiệm hơn đối với công việc của mình và thực hiện nhiệm vụ đúng với mục đích khi thành lập doanh nghiệp của chủ sở hữu, đồng thời tạo nên một hành lang pháp lý để doanh nghiệp hạn
28
Phạm Quang Thanh, “Phân biệt trách nhiệm pháp lý với các trách nhiệm xã hội khác”, https://iluatsu.com/kien-thuc-chung/so-sanh-phan-biet-trach-nhiem-phap-ly-voi-cac-trach-nhiem-xa- hoi-khac/, truy cập ngày 23/6/2021
Trang 27chế mọi sự lạm quyền và tư lợi cá nhân có thể xảy ra, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp
1.3.4 Xác lập và chấm dứt tư cách người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
1.3.4.1 Xác lập tư cách người đại diện theo pháp luật
Tư cách đại diện của NĐDTPL gắn liền với hiệu lực của giao dịch được người đại diện nhân danh doanh nghiệp ký kết với bên thứ ba Bởi kể từ thời điểm phát sinh
tư cách đại diện cho NĐDTPL, thì người này có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của một người đại diện theo quy định tại Điều lệ công ty Tuy nhiên, để một cá nhân trở thành NĐDTPL của doanh nghiệp một cách chính thức và hợp pháp, doanh nghiệp cần tiến hành đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền Trong giai đoạn đăng ký doanh nghiệp và trước thời điểm được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, doanh nghiệp vẫn chưa được thành lập hợp pháp, nên tư cách pháp lý của NĐDTPL vì thế cũng chưa được xác lập Khi doanh nghiệp được cơ quan đăng ký kinh doanh cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, người có tên trên Giấy chứng nhận mới chính thức phát sinh tư cách đại diện cho doanh nghiệp
1.3.4.2 Chấm dứt tư cách người đại diện theo pháp luật
Quan hệ đại diện cũng như các quan hệ khác trong tố tụng dân sự không tồn tại vĩnh viễn và có thể chấm dứt khi phát sinh những sự kiện pháp lý nhất định Chấm dứt đại diện là kết thúc quan hệ giữa người đại diện và người được đại diện trong việc xác lập, thực diện giao dịch dân sự Việc chấm dứt đại diện sẽ làm chấm dứt tư cách người đại diện Tùy thuộc vào tính chất của mỗi loại đại diện, người được đại diện mà căn cứ chấm dứt mỗi loại đại diện là khác nhau Đối với đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, tư cách đại diện của NĐDTPL có thể chấm dứt trong cả trường hợp doanh nghiệp chấm dứt tồn tại (khi hợp nhất, sáp nhập, chia, chuyển đổi hình thức, giải thể doanh nghiệp) và trường hợp doanh nghiệp không chấm dứt tồn tại (khi doanh nghiệp thực hiện việc thay đổi NĐDTPL trong chính doanh nghiệp của mình) Về nguyên tắc, đại diện theo pháp luật chấm dứt sẽ làm chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các bên chủ thể trong quan hệ đại diện đó Và một người khi không còn là NĐDTPL của doanh nghiệp thì không còn quyền và nghĩa vụ của một NĐDTPL Khi đó, mọi hậu quả pháp lý phát sinh từ giao dịch do người này xác lập, thực hiện đều không có giá trị pháp lý đối với doanh nghiệp Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp chứng minh được NĐDTPL vi phạm trách
Trang 28nhiệm trong quá trình làm đại diện và dẫn đến thiệt hại cho doanh nghiệp thì người này phải chịu trách nhiệm cá nhân đối với thiệt hại họ đã gây ra
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương 1, tác giả đã phân tích những vấn đề lý luận chung liên quan đến
“Chế định người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp” trong LDN năm 2020:
Thứ nhất, tác giả đã trình bày sơ lược về khái niệm đại diện trước khi đi vào tìm
hiểu khái niệm NĐDTPL của doanh nghiệp và thấy được chế định NĐDTPL là một trong những chế định quan trọng của pháp luật về doanh nghiệp
Thứ hai, trên cơ sở khái niệm, tác giả phân tích các đặc điểm cơ bản sau của
NĐDTPL của doanh nghiệp: NĐDTPL của doanh nghiệp chỉ có thể là cá nhân và phải
có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; NĐDTPL của doanh nghiệp phải nhân danh và vì lợi ích của doanh nghiệp; số lượng NĐDTPL trong doanh nghiệp
Thứ ba, tác giả phân tích vai trò quan trọng của NĐDTPL trong cả quan hệ đối
nội lẫn đối ngoại của doanh nghiệp để hiểu rõ lý do vì sao doanh nghiệp không thể tồn tại mà không có người đại diện theo pháp luật
Thứ tư, tác giả trình bày lý luận các nội dung quan trọng của chế định NĐDTPL
của doanh nghiệp, bao gồm điều kiện và tiêu chuẩn làm NĐDTPL; phạm vi đại diệncủa NĐDTPL; trách nhiệm của NĐDTPL; xác lập và chấm dứt tư cách NĐDTPL để từ
đó làm cơ sở cho việc nghiên cứu sâu hơn ở chương 2
Thông qua việc tìm hiểu các vấn đề lý luận chung về NĐDTPL của doanh nghiệp,
ta sẽ hình dung được một bức tranh tổng thể về NĐDTPL của doanh nghiệp Từ đó làm tiền đề, cơ sở cho việc phân tích chuyên sâu cũng như đánh giá các quy định trong LDN năm 2020 vềNĐDTPL của doanh nghiệp, và đưa ra một số kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định trong LDN nhằm hoàn thiện hơn các vấn đề liên quan đến chế định NĐDTPL
Trang 29CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT CỦA DOANH NGHIỆP VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
2.1 Về điều kiện và tiêu chuẩn trở thành người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
2.1.1 Thực trạng quy định pháp luật về điều kiện và tiêu chuẩn trở thành người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Theo từ điển Tiếng Việt, điều kiện là điều được nêu ra như một đòi hỏi trước khi thực hiện một việc nào đó và tiêu chuẩn là điều được quy định làm căn cứ để đánh giá, phân loại Để một người có thể trở thành NĐDTPL thì phải đáp ứng các điều kiện và tiêu chuẩn theo quy định Các điều kiện này được đòi hỏi tùy theo đặc điểm của việc đại diện, bởi vậy, thường không giống nhau tùy theo loại hình đại diện29 Đối với loại hình đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp thì NĐDTPL phải đáp ứng các điều kiện chung như sau:
Thứ nhất, NĐDTPL không thuộc các đối tượng bị pháp luật cấm quản lý
doanh nghiệp quy định tại khoản 2 Điều 17 LDN năm 2020
Hiện nay LDN trực tiếp khẳng định NĐDTPL là người quản lý doanh nghiệp, điều này được suy ra từ các quy định khác có liên quan Chẳng hạn, xét trong từng loại hình doanh nghiệp, NĐDTPL của CTHD là tất cả thành viên hợp danh, các thành viên này sẽ phân công nhau đảm nhiệm các chức danh quản lý trong quá trình điều hành hoạt động kinh doanh của công ty30; chủ DNTN là NĐDTPL, người thực hiện việc quản lý doanh nghiệp theo quy định tại Điều 190 LDN; NĐDTPL của CT TNHH và CTCP là người được Điều lệ công ty quy định cụ thể chức danh quản lý31 Mà khoản
24 Điều 4 LDN có quy định “Người quản lý doanh nghiệp là người quản lý doanh nghiệp tư nhân và người quản lý công ty, bao gồm chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc
Trang 30Tổng giám đốc và cá nhân giữ chức danh quản lý khác theo quy định tại Điều lệ công ty” Do đó, NĐDTPL được xem là người quản lý doanh nghiệp.
LDN năm 2020 cũng như các LDN trước đây đều không quy định các trường hợp
bị cấm làm NĐDTPL của doanh nghiệp trong một điều khoản cụ thể, thay vào đó là quy định các đối tượng bị cấm quản lý doanh nghiệp Nhưng vì NĐDTPL của doanh nghiệp là người tham gia quản lý doanh nghiệp nên việc pháp luật cấm những đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 17 LDN thực hiện quyền quản lý doanh nghiệp cũng đồng nghĩa với việc họ không đủ điều kiện làm NĐDTPL của doanh nghiệp Quan điểm lập pháp này phù hợp với yêu cầu của quản trị công ty và mục tiêu kinh doanh của chủ sở hữu, bởi:
Một là, đảm bảo tối đa lợi ích hợp pháp của nhà nước, phòng ngừa tình trạng lạm dụng chức vụ quyền hạn nhằm trốn tránh trách nhiệm với nhà nước, tư lợi cho bản thân hoặc cho doanh nghiệp mà mình làm đại diện, ngăn ngừa mọi hành vi trục lợi từ doanh nghiệp nhà nước cho doanh nghiệp mình
Hai là, đảm bảo cạnh tranh lành mạnh giữa các chủ thể tham gia quan hệ kinh tế: Mặc dù pháp luật đề cao quyền tự do kinh doanh của công dân, nhưng tự do kinh doanh không có nghĩa là muốn làm gì thì làm, nói cách khác tự do nhưng phải “trong khuôn khổ pháp luật”32 Trường hợp NĐDTPL là cá nhân giữ các chức vụ trong cơ quan, doanh nghiệp nhà nước, khả năng người đại diện lạm quyền để trục lợi cho doanh nghiệp, cá nhân hoặc tổ chức khác là rất cao Mà đảm bảo quyền tự do kinh doanh cho chủ thể này thì phải đồng thời đảm bảo quyền lợi cho các chủ thể khác khi tham gia quan hệ giao dịch Nếu không có cơ chế đảm bảo cho quyền tự do kinh doanh không bị lạm dụng thì có thể dẫn đến tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, gây phương hại đến quyền lợi của các chủ thể khác Vì vậy, pháp luật đã lường trước những rủi ro có thể xảy ra và đưa ra quy định cấm một số đối tượng tham gia quản lý doanh nghiệp, đại diện theo pháp luật cho doanh nghiệp
Ba là, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của chính doanh nghiệp Trong quan hệ đại diện, NĐDTPL nhân danh doanh nghiệp trong việc xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với người thứ ba Việc đặt ra quy định về các đối tượng bị pháp luật cấm quản lý doanh nghiệp đảm bảo không xảy ra hậu quả xấu cho doanh nghiệp do hành vi của người không có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, người không còn đủ tư cách thay
32
Ngô Gia Hoàng, Nguyễn Thị Thương, tlđd (9), tr 49
Trang 31mặt chủ sở hữu thực hiện các quyền và nghĩa vụ, gây ra Nói cách khác, điều kiện này đã tạo nên hành lang pháp lý đảm bảodoanh nghiệp đạt được mục tiêu kinh doanh Mặc dù pháp luật đã có những quy định cần thiết nhằm phòng ngừa những bất lợi
có thể xảy ra khi các đối tượng trên làm NĐDTPL của doanh nghiệp Tuy nhiên, việc quy định khác nhau giữa hai đối tượng bị cấm quản lý và cấm góp vốn vào doanh nghiệp lại có thể khiến cho mục đích điều chỉnh của luật không đạt được33 Cụ thể: sự khác nhau giữa đối tượng bị cấm quản lý doanh nghiệp và đối tượng bị cấm góp vốn vào doanh nghiệp đã dẫn đến tình trạng người bị cấm quản lý doanh nghiệp tham gia góp vốn vào doanh nghiệp và họ trở thành cổ đông/thành viên công ty Khi đó, mặc dù những người này không giữ các chức danh quản lý trong doanh nghiệp khi góp vốn vào doanh nghiệp, nhưng lại có thể tác động đến các quyết định của doanh nghiệp bằng cách dùng quyền hạn của một cổ đông để chi phối hành vi của người quản lý doanh nghiệp Minh chứng cho vấn đề này là quy định cán bộ, công chức, viên chức không có quyền quản lý doanh nghiệp, nhưng cán bộ, công chức có thể góp vốn vào doanh nghiệp và chỉ có những người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan nhà nước mới không được góp vốn vào doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi ngành, nghề
mà người đó trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước34 Trừ trường hợp này, LDN cho phép cán bộ, công chức được góp vốn vào doanh nghiệp Đây thực sự là một kẻ hở lớn của pháp luật hiện hành
Thứ hai, điều kiện về nơi cư trú
Nhằm đảm bảo doanh nghiệp luôn có ít nhất một người đại diện (theo pháp luật hoặc theo ủy quyền) ở Việt Nam để giải quyết các công việc một cách kịp thời, nhanh chống và tốt nhất, khoản 3 Điều 12 LDN hiện hành quy định doanh nghiệp phải luôn
có ít nhất một NĐDTPL cư trú tại Việt Nam Khi chỉ còn lại một NĐDTPL cư trú tại Việt Nam thì người này khi xuất cảnh khỏi Việt Nam phải ủy quyền bằng văn bản cho
cá nhân khác cư trú tại Việt Nam thực hiện quyền và nghĩa vụ của NĐDTPL Trường hợp này, NĐDTPL vẫn phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ đã
ủy quyền Quy định này của LDN năm 2020 là sự kế thừa điểm tiến bộ trong LDN năm
2014 nhưng có cải tiến và hoàn thiện Bởi:
33
Mai Thị Ngân Hà (2020), Pháp luật về người đại diện theo pháp luật của công ty, Luận văn Thạc sĩ
Luật, Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, tr 32
34
Khoản 4 Điều 20 về “Quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn”, Luật Phòng chống tham nhũng năm 2018
Trang 32Một là, nó thống nhất với quy định của Luật Cư trú năm 2020 khi không yêu cầu NĐDTPL của công ty phải thường trú ở Việt Nam như LDN năm 200535 “Nơi cư trú của công dân bao gồm nơi thường trú, nơi tạm trú”36, nếu quy định như LDN năm
2005 thì sẽ rất hạn chế chủ thể có thể làm NĐDTPL của doanh nghiệp và cũng chưa phù hợp với thực tiễn Ngược lại, quy định hiện hành đã mở rộng phạm vi chủ thể được làm NĐDTPL của doanh nghiệp, phù hợp hơn với yêu cầu thực tiễn và thể hiện sự thống nhất giữa các văn bản pháp luật;
Hai là, trước đây LDN năm 2014 quy định doanh nghiệp phải đảm bảo luôn có ít nhất một NĐDTPL cư trú tại Việt Nam và quy định đối với trường hợp doanh nghiệp chỉ có một NĐDTPL thì khi xuất cảnh mới thực hiện việc ủy quyền37 là chưa đầy đủ Bởi như vậy, bắt buộc doanh nghiệp có nhiều hơn một NĐDTPL thì nhất thiết phải có một người cư trú tại Việt Nam Nhưng trường hợp vì lý do nào đó mà tất cả NĐDTPL đều xuất cảnh thì doanh nghiệp có thể bị rơi vào tình trạng bế tắc, vì không được phép
ủy quyền và cho dù có ủy quyền mà khi thời hạn ủy quyền đã hết thì cũng không được phép kéo dài như trường hợp chỉ có một NĐDTPL38 Trong khi vấn đề cần xử lý là tương tự nhau Do đó, LDN năm 2020 đã không còn dành riêng cơ chế ủy quyền cho trường hợp doanh nghiệp chỉ có một NĐDTPL và người này xuất cảnh khỏi Việt Nam
Cụ thể, LDN năm 2020 khắc phục được tính không thống nhất và tính bất bình đẳng
này bằng quy định “Khi chỉ còn lại một người đại diện theo pháp luật cư trú tại Việt Nam thì người này khi xuất cảnh khỏi Việt Nam phải ủy quyền bằng văn bản cho cá nhân khác cư trú tại Việt Nam thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật”39
Ba là, pháp luật không quy định số ngày tối đa được phép vắng mặt tại Việt Nam, miễn khi chỉ còn lại một NĐDTPL cư trú tại Việt Nam thì người này khi xuất cảnh khỏi Việt Nam phải ủy quyền bằng văn bản cho cá nhân khác cư trú tại Việt Nam thực hiện quyền và nghĩa vụ của NĐDTPL Đây là một quy định tiến bộ vì nếu pháp luật
35
Điều 46 về “Cơ cấu tổ chức quản lý công ty”, khoản 5 Điều 67 về “Cơ cấu tổ chức quản lý của công
ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là tổ chức” và Điều 95 về “Cơ cấu tổ chức quản lý công ty cổ phần”, Luật Doanh nghiệp năm 2005
Trang 33đưa ra số ngày tối đa được phép vắng mặt tại Việt Nam mà không cần ủy quyền có thể tạo ra nhiều khó khăn cho doanh nghiệp khi không có NĐDTPL giải quyết các công việc của doanh nghiệp trong khoản thời gian đó
Thực tế khi hết thời hạn ủy quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 12 LDN năm
2020, rất nhiều trường hợp NĐDTPL của doanh nghiệp vẫn chưa trở lại Việt Nam và không có ủy quyền khác Trong các trường hợp này, đối với CT TNHH, CTCP, CTHD, người được ủy quyền sẽ tiếp tục thực hiện các quyền và nghĩa vụ của NĐDTPL cho đến khi NĐDTPL của công ty trở lại làm việc tại công ty hoặc cho đến khi chủ sở hữu công ty, Hội đồng thành viên, HĐQT quyết định cử người khác làm NĐDTPL của doanh nghiệp; đối với DNTN, vì ngoài chủ doanh nghiệp ra thì DNTN không có cơ quan quản lý khác có thể quyết định việc này nên người được ủy quyền sẽ tiếp tục thực hiện các quyền và nghĩa vụ của NĐDTPL cho đến khi NĐDTPL của doanh nghiệp trở lại làm việc tại doanh nghiệp40
Ngoài ra, LDN năm 2020 cũng dự liệu trường hợp doanh nghiệp chỉ còn một NĐDTPL và người này vắng mặt tại Việt Nam quá 30 ngày mà không ủy quyền cho người khác thực hiện các quyền và nghĩa vụ của NĐDTPL của doanh nghiệp thì chủ sở hữu công ty, Hội đồng thành viên, HĐQT cử người khác làm NĐDTPL của công ty Đối với CT TNHH có hai thành viên, khoản 6 Điều 12 LDN quy định nếu có thành viên là cá nhân làm NĐDTPL của công ty trốn khỏi nơi cư trú thì thành viên còn lại đương nhiên làm NĐDTPL của công ty cho đến khi có quyết định mới của Hội đồng thành viên về NĐDTPL của công ty Quy định này của LDN là rất cần thiết, giúp các doanh nghiệp không bị thiếu vắng NĐDTPL quá lâu, tránh làm ảnh hưởng đến hoạt
động bình thường của doanh nghiệp Tuy nhiên, việc quy định “nếu có thành viên là cá nhân làm NĐDTPL của công ty” dẫn đến nhiều cách hiểu như CT TNHH hai thành
viên trở lên có thể có thành viên là tổ chức làm NĐDTPL của công ty, trong khi đó theo khái niệm NĐDTPL của doanh nghiệp tại khoản 1 Điều 12 thì chỉ có cá nhân mới được làm NĐDTPL của doanh nghiệp Một vấn đề khác được đặt ra đó là việc LDN
quy định “ thành viên còn lại đương nhiên làm người đại diện theo pháp luật của công ty ” nên được hiểu như thế nào? Theo tác giả, vấn đề này có hai cách hiểu khác nhau: Trường hợp thành viên còn lại là cá nhân, người nàyđương nhiên làm NĐDTPL của công ty cho đến khi có quyết định mới của Hội đồng thành viên về NĐDTPL của
40
Khoản 4 Điều 12 về “Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp”, Luật Doanh nghiệp năm
2020
Trang 34công ty; Trường hợp thành viên còn lại là tổ chức,người đại diện theo ủy quyền của tổ chức này sẽ làm NĐDTPL của công ty cho đến khi có quyết định mới của Hội đồng thành viên về NĐDTPL của công ty41
Trên thực tế, không ít trường hợp NĐDTPL của doanh nghiệpđi nước ngoài quá nhiều ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp Chẳng hạn như vụ việc ông Hồ Văn Lâm, TGĐ của CT TNHH một thành viên Cấp nước Sài Gòn (SAWACO), đi nước ngoài nhiều lần trong năm 2015 gây bức xúc cho cán bộ - công nhân viên của công
ty42 Có thể thấy, điều này gây ảnh hưởng không nhỏ đến công việc đang đảm nhiệm cũng như làm lãng phí nguồn ngân sách công ty và lãng phí thời gian Hiện nay, pháp luật không quy định về số lần NĐDTPL được xuất cảnh trong một năm, thời gian của mỗi lần xuất cảnh, , mà những nội dung này pháp luật để nội bộ doanh nghiệp quy định tùy vào tình hình hoạt động kinh doanh của mỗi doanh nghiệp Điều này một mặt tạo cơ hội cho doanh nghiệp được chủ động trong các quyết định của mình, mặt khác
có thể gây ra những bất lợi cho doanh nghiệp khi NĐDTPL lợi dụng cơ chế ủy quyền
để ra nước ngoài trốn tránh trách nhiệm của mình đối với doanh nghiệp và pháp luật
Thứ ba, tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn, kinh nghiệm
Không phải bất cứ cá nhân nào khi đã đáp ứng các điều kiện nền tảng nêu trên cũng có thể trở thành NĐDTPL của doanh nghiệp Để phòng ngừa rủi ro, tăng tính an toàn cho các hoạt động của doanh nghiệp, NĐDTPL còn phải đáp ứng các tiêu chuẩn
về chuyên môn và kinh nghiệm thể hiện đặc thù ngành nghề và ý chí của chủ sở hữu được doanh nghiệp quy định cụ thể trong nội bộ doanh nghiệp
Về vấn đề này, LDN năm 2020 không đề cập cụ thể NĐDTPL phải có một trình
độ chuyên môn, nghiệp vụ nhất định hay phải có chứng chỉ/bằng cấp gì, mà đã trao quyền tự chủ cho doanh nghiệp trong việc định mức, xác định và đánh giá mức độ chuyên môn, kinh nghiệm của NĐDTPL, nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp được
tự do lựa chọn NĐDTPL phù hợp với hoạt động kinh doanh của mình, đồng thời tránh tình trạng pháp luật áp đặt quá nhiều điều kiện dẫn đến khó khăn trong việc bổ nhiệm
Trang 35https://nld.com.vn/thoi-su-trong-một người làm NĐDTPL43 Theo đó, LDN chỉ yêu cầu người đại diện có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong lĩnh vực nhất định để có thể đảm nhận một chức danh
cụ thể trong doanh nghiệp Chẳng hạn, tiêu chuẩn và điều kiện làm GĐ, TGĐ đối với
CT TNHH là cần có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong quản trị kinh doanh của công ty và điều kiện khác do Điều lệ công ty quy định44; đối với CTCP là cần có trình
độ chuyên môn, kinh nghiệm trong quản trị kinh doanh hoặc trong lĩnh vực, ngành, nghề kinh doanh của công ty45 Tuy nhiên, việc LDN không đưa ra các tiêu chuẩn cụ thể có thể khiến cho nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc chi tiết hóa các tiêu chuẩn vào trong quy định nội bộ công ty, dẫn đến nguy cơ doanh nghiệp trao quyền không đúng đối tượng và phải gánh chịu những hậu quả phát sinh từ việc quản lý kém của NĐDTPL
Ngoài LDN, các văn bản pháp luật chuyên ngành cũng có quy định về trình độ chuyên môn, kinh nghiệm của NĐDTPL của doanh nghiệp, nhưng được nêu cụ thể hơn: Luật Luật sư quy định NĐDTPL của văn phòng luật sư và công ty luật phải là luật
sư46 (với tiêu chuẩn và điều kiện hành nghề luật sư được quy định cụ thể tại Điều 10 và
11 của Luật này); Luật Công chứng năm 2014 quy định NĐDTPL của Văn phòng công chứng là Trưởng Văn phòng, Trưởng Văn phòng công chứng phải là công chứng viên hợp danh của Văn phòng công chứng và đã hành nghề công chứng từ 02 năm trở lên47 Tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn, kinh nghiệm của NĐDTPL được xem là yêu cầu cốt lõi đối với NĐDTPL và có ý nghĩa to lớn đối với doanh nghiệp48 Tuy nhiên, trên thực tế, tiêu chuẩn này đôi khi lại bị bỏ ngõ Rất nhiều doanh nghiệp tại Việt Nam
có chủ sở hữu cũng đồng thời là người quản lý cao cấp/NĐDTPL của doanh nghiệp cũng như nắm giữ các chức vụ quan trọng nhất trong doanh nghiệp như TGĐ, Chủ tịch HĐQT, kể cả khi họ không có trình độ và chưa có kinh nghiệm quản lý điều hành doanh nghiệp Ngoài ra, các doanh nghiệp Việt Nam còn có xu hướng dựa vào cơ cấu vốn góp của các thành viên và quan hệ cá nhân để bổ nhiệm người vào các vị trí quản
Ngô Thị Huệ My (2017), Chế định người đại diện theo pháp luật trong Luật Doanh nghiệp năm
2014, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, tr.27
Trang 36lý (bao gồm vị trí đại diện theo pháp luật cho doanh nghiệp), còn năng lực thực sự của
họ thì lại không được chú trọng Không như ở các nước phương Tây, nếu một người bỏ vốn thành lập công ty thì họ thường không trực tiếp tham gia quản lý công ty mà sẽ thuê những người có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm để quản lý và họ sẵn sàng giao tài sản của mình cho người đó quản lý, định đoạt49
Thứ tư, các điều kiện khác
Đối với từng loại hình doanh nghiệp, tùy thuộc vào từng chức danh quản lý mà NĐDTPL còn phải đáp ứng những điều kiện riêng biệt khác Chẳng hạn: trường hợp NĐDTPL của doanh nghiệp nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 88 LDN
và công ty con của doanh nghiệp nhà nước theo quy định tại khoản 1 Điều 88 LDN giữ chức danh GĐ hoặc TGĐ trong doanh nghiệp, thì ngoài đáp ứng tiêu chuẩn, điều kiện quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 64, người này còn không được là người có quan
hệ gia đình của người quản lý công ty, Kiểm soát viên của công ty và của công ty mẹ; người đại diện phần vốn của doanh nghiệp, người đại diện phần vốn nhà nước tại công
ty và công ty mẹ50 Tương tự nếu NĐDTPL của doanh nghiệp nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 88 LDN và công ty con của doanh nghiệp nhà nước theo quy định tại khoản 1 Điều 88 LDN giữ chức danh thành viên HĐQT trong doanh nghiệp, thì người này còn phải đáp ứng các điều kiện khác đó là không được là người có quan
hệ gia đình của GĐ, TGĐ và người quản lý khác của công ty; của người quản lý, người
có thẩm quyền bổ nhiệm người quản lý công ty mẹ51
2.1.2 Một số kiến nghị
Thứ nhất, quy định tại khoản 6 Điều 12 LDN hiện hành dẫn đến nhiều cách hiểu
khác nhau, một trong số đó là cách hiểu CT TNHH hai thành viên trở lên có thể có thành viên là tổ chức làm NĐDTPL của công ty, điều này mâu thuẫn với khoản 1 Điều
12: chỉ có cá nhân mới được làm NĐDTPL của công ty Vì vậy, để các quy định của
LDN được rõ ràng, tác giả đề xuất LDN năm 2020 sửa đổi khoản 6 Điều 12 theo
hướng bỏ đi cụm từ “là cá nhân” trong quy định “Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên, nếu có thành viên là cá nhân làm người đại diện theo pháp luật
Trang 37”, và quy định thành: “Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên, nếu
có thành viên làm người đại diện theo pháp luật của công ty trốn khỏi nơi cư trú thì thành viên còn lại đương nhiên làm người đại diện theo pháp luật của công ty cho đến khi có quyết định mới của Hội đồng thành viên về người đại diện theo pháp luật của công ty.”
Thứ hai, ta thấy LDN năm 2020 cho phép Điều lệ công ty quy định cụ thể số
lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của NĐDTPL của doanh nghiệp, tức doanh nghiệp có toàn quyền lựa chọn NĐDTPL với điều kiện NĐDTPL phải là người
có chức danh quản lý52 Tuy nhiên, việc áp dụng đồng thời những tiêu chuẩn, điều kiện của người quản lý cho NĐDTPL của doanh nghiệp như hiện nay là chưa thật sự hợp lý
Bởi dưới góc nhìn của quản trị học, “nhà quản trị là người chỉ huy, có một chức danh nhất định trong hệ thống quản trị và có trách nhiệm định hướng, tổ chức, điều khiển và kiểm soát hoạt động của những người dưới quyền; là người ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định”53 Trong khi NĐDTPL lại là người nhân danh và vì lợi ích của doanh nghiệp xác lập, thực hiện các giao dịch phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp Hơn nữa, so với LDN năm 2014, LDN hiện hành đã không còn ghi nhận
“thẩm quyền nhân danh công ty ký kết giao dịch của công ty” trong khái niệm “người quản lý doanh nghiệp” tại khoản 24 Điều 4 Điều này được hiểu là NĐDTPL là người
quản lý của doanh nghiệp nhưng người quản lý thì chưa hẵn là NĐDTPL
Chính vì vậy, ngoài những điều kiện chung mà pháp luật đã quy định, theo tác giả, pháp luật cần để doanh nghiệp tự lựa chọn NĐDTPL dựa trên các điều kiện, tiêu chuẩn do chính doanh nghiệp đặt ra để giải quyết được vấn đề bất cập của pháp luật hiện nay là áp dụng đồng thời những tiêu chuẩn, điều kiện của người quản lý cho
NĐDTPL Cụ thể tác giả kiến nghị bổ sung Điều 12 LDN năm 2020 như sau: “Điều lệ công ty quy định điều kiện và tiêu chuẩn của người đại diện theo pháp luật phù hợp với nhu cầu và tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp , trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác.”
Trang 382.2 Phạm vi đại diện của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
2.2.1 Thực trạng quy định pháp luật về phạm vi đại diện của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
NĐDTPL là người đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, trong thủ tục tố tụng Tòa án hoặc Trọng tài và các quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật Đây chính là phạm vi đại diện của NĐDTPL Theo đó, quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp sẽ phát sinh trên cơ sở hành vi đại diện phù hợp với phạm vi đại diện của NĐDTPL Vì vậy, phạm vi đại diện của NĐDTPL là một nội dung quan trọng trong chế định NĐDTPL của doanh nghiệp
Từ các quy định liên quan trong LDN, ta thấy NĐDTPL của doanh nghiệp có phạm vi đại diện bao gồm các nhóm sau:
2.2.1.1 Thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp
NĐDTPL của pháp nhân là người đại diện thường xuyên của pháp nhân trong việc xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự nhân danh pháp nhân với người thứ ba54 Chức năng, thẩm quyền này của NĐDTPL được thể hiện rõ trong BLDS năm 2015
ngay từ khái niệm đại diện, cụ thể tại khoản 1 Điều 134 đã khẳng định “Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự” Đến LDN, phạm vi thẩm quyền này cũng được các nhà
lập pháp đề cập ngay từ khái niệm NĐDTPL tại khoản 1 Điều 12 thông qua việc chỉ định họ là người thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp
Đối với một doanh nghiệp, trên thực tế, quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp phần lớn phát sinh từ các giao dịch của doanh nghiệp, và NĐDTPL thường thực hiện vai trò nhân danh doanh nghiệp xác lập các giao dịch, còn quá trình thực hiện giao dịch
có thể còn được đảm nhiệm bởi nhiều chủ thể khác55 Chính vì vậy, có thể nói quyền xác lập giao dịch dân sự là một trong những quyền cơ bản của NĐDTPL và đóng vai
Trang 39trò không thể thiếu trong việc xác định ai là NĐDTPL của doanh nghiệp56 Tuy nhiên, LDN năm 2014 không đưa chức năng đại diện doanh nghiệp xác lập giao dịch vào định nghĩa NĐDTPL, mà chỉ nhắc đến việc thực hiện giao dịch nhân danh doanh nghiệp Đến LDN năm 2020 dù đã sửa đổi bổ sung định nghĩa về NĐDTPL của doanh nghiệp
nhưng cũng chỉ bổ sung thêm cụm từ “người yêu cầu giải quyết việc dân sự” (tức chỉ
bổ sung thêm chức năng đại diện cho doanh nghiệp yêu cầu giải quyết việc dân sự của NĐDTPL) mà vẫn chưa đề cập đến thẩm quyền đại diện doanh nghiệp xác lập giao dịch trong định nghĩa Trong khi đây lại là thẩm quyền quan trọng hàng đầu thuộc phạm vi đại diện của NĐDTPL Cũng có quan điểm cho rằng việc “thực hiện” có thể hiểu theo nghĩa rộng (bao hàm cả nghĩa “xác lập”) là việc đưa ra quyết định, hay trực tiếp đứng ra thỏa thuận, ký kết các giao dịch57 Tuy nhiên, theo tác giả, việc xác lập và thực hiện là các hành động khác nhau, riêng biệt nên cách hiểu này chưa thật sự hợp lý Đối với CT TNHH và CTCP, LDN cho phép công tycó thể có một hoặc nhiều NĐDTPL và ghi nhận quyền tự quyết định quyền và nghĩa vụ của NĐDTPL tại Điều lệ công ty Có nghĩa Điều lệ có thể giới hạn thẩm quyền cho từng chức danh quản lý là NĐDTPL và khi đó mỗi người sẽ có quyền ký kết các hợp đồng khác nhau Trong CT TNHH, một vấn đề đặt ra đối với thẩm quyền ký kết hợp đồng của GĐ/TGĐ đó là liệu thẩm quyền này có đương nhiên không? Mặc dù điểm e khoản 2 Điều 63 và điểm e khoản 2 Điều 82 LDN năm 2020 quy định GĐ hoặc TGĐ có quyền ký kết hợp đồng nhân danh công ty trừ trường hợp thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty Tuy nhiên, cần lưu ý là nếu Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty hoặc GĐ/TGĐ không là NĐDTPL hoặc đại diện theo ủy quyền của công ty thì sẽ không có quyền ký kết hợp đồng nhân danh công ty Bởi BLDS cũng như LDN đều thừa nhận quyền xác lập giao dịch của doanh nghiệp thuộc về người đại diện Khi đó, nếu người này thực hiện việc ký kết hợp đồng thì sẽ không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với doanh nghiệp, trừ những trường hợp ngoại lệ được pháp luật quy định58 Tương tự như CT TNHH, nếu Chủ tịch HĐQT hoặc GĐ hoặc TGĐ của CTCP không phải là NĐDTPL của công ty, thì cũng không có quyền xác lập, thực hiện các giao dịch nhân danh công ty
56
Phan Thành Nhân (2018), “Thực trạng quy định của pháp luật về người đại diện theo pháp luật của
doanh nghiệp và hướng hoàn thiện”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 7/2018, tr 34
Trang 40Đối với DNTN, chủ DNTN là NĐDTPL Đây là đối tượng khác biệt so với cổ đông trong CTCP và thành viên trong CT TNHH nên phạm vi đại diện cũng có sự khác biệt to lớn Chủ DNTN là đại diện đủ thẩm quyền của doanh nghiệp trước bên thứ ba, được toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và chịu trách nhiệm vô hạn đối với mọi nghĩa vụ phát sinh Trong các giao dịch của doanh nghiệp, chủ DNTN là người tiến hành ký kết các hợp đồng làm ăn, cho thuê hay bán doanh nghiệp
Đối với CTHD, tất cả thành viên hợp danh là NĐDTPL của công ty và tổ chức điều hành hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty Phạm vi đại diện của thành viên hợp danh trong các giao dịch của công ty thể hiện ở việc nhân danh công ty kinh doanh các ngành, nghề kinh doanh của công ty; đàm phán và ký kết hợp đồng, giao dịch hoặc giao ước với những điều kiện mà thành viên hợp danh đó cho là có lợi nhất cho công ty59 Để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công ty, pháp luật quy định nếu thành viên hợp danh thực hiện giao dịch ngoài phạm vi hoạt động kinh doanh của công ty với bên thứ ba thì không làm phát sinh trách nhiệm đối với công ty, trừ trường hợp giao dịch đó đã được các thành viên còn lại chấp thuận Ngoài ra, thành viên hợp danh cũng không được nhân danh cá nhân hoặc nhân danh người khác thực hiện các giao dịch kinh doanh cùng ngành, nghề kinh doanh của công ty để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của
tổ chức, cá nhân khác
Tuy quyền đại diện do luật thiết lập và quy định, nhưng chỉ quy định một phần nội dung, còn lại được xác định theo ý chí của các bên có liên quan60 Thực tế tuy pháp luật thừa nhận quyền hành động nhân danh doanh nghiệp của NĐDTPL của doanh nghiệp và quy định các giao dịch do người đại diện xác lập trong phạm vi thẩm quyền
sẽ ràng buộc trách nhiệm của doanh nghiệp Nhưng đối với một số giao dịch quan trọng, phải có sự chấp thuận của các cơ quan trong doanh nghiệp trước khi được xác lập thông qua vai trò của người đại diện thì giao dịch đó mới có giá trị pháp lý Cụ thể, khi xác lập hợp đồng, giao dịch giữa CT TNHH hai thành viên trở lên với đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 67 LDN năm 2020 thì phải được Hội đồng thành viên chấp thuận; hợp đồng, giao dịch giữa CT TNHH một thành viên do tổ chức làm chủ sở hữu với những người quy định tại khoản 1 Điều 86 LDN năm 2020 phải được Hội đồng