TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘIKHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ --- o0o ---TIỂU LUẬN MÔN……… Đề tài: Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về con người và vấn đề phát triển nguồn nhân lực ở nước ta h
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
- o0o
-TIỂU LUẬN MÔN………
Đề tài: Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về con người và vấn đề phát triển nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay. Giảng viên hướng dẫn:…
Những sinh viên thực hiện -Họ và tên -SHSV: -Mã lớp:… 1……… ………
2……… ………
3……… ………
4……… ………
Hà Nội 2021…
Trang 2MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG 5
Chương I: Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về con người 5
1.1.Con người là thực thể thống nhất giữa các yếu tố sinh học và yếu tố xã hội 5 1.2.Con người vừa là sản phẩm của lịch sử vừa là chủ thể của lịch sử 5
1.3.Bản chất con người là tổng hòa những mối quan hệ xã hội 6
1.4.Quan điểm về giải phóng con người của chủ nghĩa Mác- Lê nin 7
Chương II: Thực trạng nguồn lực nước ta hiện nay 7
2.1.Vai trò của nguồn lực con người 7
2.1.1 Vai trò của nguồn lực con người đối với kinh tế 7
2.1.2 Vai trò của nguồn lực con người đối với chính trị 8
2.1.3 Vai trò của nguồn lực con người đối với văn hóa xã hội 8
2.2.Thực trạng nguồn lực con người 9
2.2.1.Phân bố nguồn nhân lực 9
2.2.2.Chất lượng giáo dục đào tạo 9
2.2.3.Tình hình du học sinh và tình trạng chảy máu chất xám 9
Chương III: Những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lenin để phát huy nguồn lực con người 11
3.1 Xây dựng những đặc trưng của con người Việt Nam 11
3.2.Những phương hướng xây dựng và phát triển con người Việt Nam 12
3.2.1 Trên lĩnh vực kinh tế 12
3.2.2 Trên lĩnh vực chính trị 13
3.2.3 Trên lĩnh vực văn hóa xã hội 13
3.2.4 Trên lĩnh vực giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ 14
KẾT LUẬN 15
Tài liệu tham khảo 16
Trang 3MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài
Theo quan điểm của triết học Mác - Lênin, xã hội do các cá nhân
con
người tạo nên Mỗi cá nhân với tư cách là một con người, không bao giờ có
thể tách rời khỏi những cộng đồng xã hội nhất định, đồng thời mối
quan hệ
giữa cá nhân và xã hội là hiện tượng có tính lịch sử
Hiện nay ở nước ta, nền kinh tế thị trường đã phát huy cao độ tính cá thể
hóa của con người trong cuộc sống, đặc biệt là đối với lớp trẻ đã thực sự góp
phần tạo nên một động lực to lớn cho sự phát triển kinh tế, xã hội Việc xây dựng con người- lực lượng sản xuất của đất nước dựa vào quan điểm triết học Mác - Lênin luận chứng một cách khoa học đã trở thành nên tảng để phát huy sưc mạnh nguồn nhân lực nước ta trong thời kì công nghiệp hóa hiện đại hóa như vũ bão
Vì những lý do trên tôi quyết định chọn vấn đề “Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về con người và vấn đề phát triển nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay” làm đề tài tiểu luận
2.Tổng quan đề tài( Tình hình nghiên cứu của đề tài)
Con người có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa
xã hội nói chung và quá trình phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ Tổ quốc,
do đó Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta rất coi trọng vấn đề này Ngoài những tác phẩm của Hồ Chí Minh và văn kiện của Đảng, tài liệu nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận văn có thể tìm thấy trong các công trình nghiên cứu trực tiếp hay gián tiếp của các nhà nghiên cứu về triết học, về con người, văn hóa và giáo dục Tuy nhiên,việc xây dựng con người trong mỗi thời kì có tính chất phức tạp, cần được quan tâm một cách toàn diện, cần vận dụng quan điểm của triết học Mác - Lênin về con người để phát huy nguồn lực ở Việt Nam
Trang 43.Mục đích nghiên cứu
Mục đích:
Trên cơ sở quán triệt những quan điểm của triết học Mác- Lênin về vấn
đề con người, tiểu luận đưa ra những giải pháp cho việc xây dựng nguồn nhân lực Việt Nam
Nhiệm vụ:
-Tìm hiểu những quan điểm của triết học Mác - Lênin về con người
-Nghiên cứu, phân tích những thành vấn đề trong xây dựng nguồn
lực Việt Nam
-Đề xuất một số giải pháp cho việc xây dựng con người
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
-Đối tượng nghiên cứu: Tiểu luận nghiên cứu thực trạng và phương hướng phát triển của nhân lực Việt Nam từ sự vận dụng quan điểm của triết học Mác - Lênin về con người
bản trong quan điểm của triết học Mác - Lênin về con người qua các tác phẩm và thực tiễn xây dựng nhân lực ở Việt Nam
5.Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Tiểu luận dựa trên cơ sở và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; kết hợp và vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như: phân tích và tổng hợp; lôgic và lịch sử; trừu tượng và cụ thể; so sánh để thực hiện đề tài
6.Đóng góp của đề tài
Tiểu luận chỉ rõ các quan điểm về con người từ đó chỉ ra một số giải pháp xây dựng con người từ sự vận dụng quan điểm triết học Mác-
Lênin về con người
7.Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, tiểu luận gồm 3
chương
Trang 5NỘI DUNG Chương I: Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về con người
1.1.Con người là thực thể thống nhất giữa các yếu tố sinh học và yếu
tố xã hội
Tiếp thu một cách mang tính phê phán những quan điểm có tính hợp lý và khắc phục những thiếu sót, hạn chế quan niệm về con người trong lịch sử triết học trước đó, Mác khẳng định rằng con người hiện thực là sự thống nhất giữa yếu tố sinh học với yếu tố xã hội
Tiền đề vật chất đầu tiên quy định sự tồn tại của con người là sản phẩm của giới
tự nhiên Con người tự nhiên là con người mang tất cả bản tính sinh học, tính loài Yếu tố sinh học trong con người là điều kiện đầu tiên quy định sự tồn tại của con người Vì vậy giới tự nhiên là “ thân thể vô cơ của con người” Con người là một bộ phận của tự nhiên
Tuy nhiên, điều cần khẳng định rằng, mặt tự nhiên không phải là yếu tố duy nhất quy định bản chất của con người Đặc trưng quy định sự khác biệt của con người với thế giới loài vật là một xã hội Tính xã hội của con người biểu hiện trong hoạt động sản xuất vật chất Thông qua hoạt động lao động sản xuất, con người sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần, phục vụ nhu cầu cuộc sống của mình; hình thành và phát triển ngôn ngữ, tư duy; xác lập quan hệ xã hội Bởi vậy lao động chính là yếu tố quyết định bản chất xã hội của con người, đồng thời hình thành nên mối quan hệ khăng khít: Con người - Tự nhiên - Xã hội
Trang 61.2.Con người vừa là sản phẩm của lịch sử vừa là chủ thể của lịch sử
Lịch sử loài người được hình thành khi con người biết chế tạo ra công cụ sản xuất, con người bắt đầu sinh sống theo một cách riêng, tách mình ra khỏi thế giới loài vật, hình thành thế giới loài người Trong quá trình lao động sản xuất, con người không ngừng cải tiến công cụ, tích luỹ kinh nghiệm làm cho lực lượng của sản xuất của xã hội tiến dần từ trình độ thấp lên trình độ ngày càng cao Lực lượng sản xuất phát triển đã kéo theo sự thay đổi của các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung Lịch sử xã hội từ chế độ cộng sản nguyên thủy đến nay, trước hết là lịch sử phát triển của các phương thức sản xuất
Trong các chế độ xã hội có quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất chỉ được thực hiện thông qua cuộc đấu tranh giai cấp Cuộc đấu tranh này diễn ra hết sức gay gắt mà đỉnh cao là các cuộc cách mạng xã hội để xoá bỏ các quan hệ sản xuất lỗi thời
Ví dụ: cuộc đấu tranh của giai cấp nô lệ xoá bỏ quan hệ sản xuất chiếm hữu nô
lệ, cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động để xoá bỏ quan
hệ sản xuất Tư bản chủ nghĩa
Như vậy, lịch sử nhân loại chính là lịch sử hoạt động thực tiễn của con người Con người sáng tạo ra lịch sử dựa trên sự nhận thức và vận dụng qui luật khách quan Trong giới tự nhiên, sự phát triển diễn ra một cách tự động, không thức Ngược lại sự phát của xã hội gắn liền với ý thức những mục tiêu nhất định và lựa chọn những phương thức để đạt được những mục tiêu đó Vì vậy, nhiều người lầm tưởng những qui luật khách quan chỉ chi phối giới tự nhiên, còn con người
có thể có thể làm ra lịch sử theo ý muốn chủ quan của mình Thực ra không phải như vậy, hoạt động con người không chịu sự chi phối của những qui luật khách quan Chỉ khi nào, những mục tiêu, phương thức hoạt động của con người phù hợp với quy luật khách quan thì nó mới trở thành hiện thực
1.3.Bản chất con người là tổng hòa những mối quan hệ xã hội
Con người là một thực thể xã hội được tách ra như một lực lượng đối lập với giới tự nhiên, sự tác động qua lại giữa cái sinh học và cái xã hội tạo thành bản chất của con người Bởi vậy, để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, C.Mác đã nêu lên luận điểm nổi tiếng Luận cương về Phoiơbắc: “Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội”
Trang 7Theo luận đề trên thì không có con người trừu tượng, thoát ly mọi điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của lịch sử và xã hội Luận đề đã khẳng định bản chất xã hội không có nghĩa là phủ nhận mặt tự nhiên trong đời sống con người
Trái lại, điều đó muốn nhấn mạnh sự phân biệt giữa con người và giới động vật trước hết là bản chất xã hội và đó cũng là để khắc phục sự thiếu sót của những nhà triết học trước Mác, không thấy được bản chất xã hội của con người Mặt khác, cái bản chất với ý nghĩa là cái phổ biến, là cái mang tính quy luật; vì vậy cần phải thấy được các biểu hiện riêng biệt, phong phú và đa dạng của mỗi cá nhân về cả phong cách, nhu cầu và lợi ích trong cộng đồng xã hội
Con người là sản phẩm của giới tự nhiên, song con người không hoàn toàn phụ thuộc vào giới tự nhiên mà đã vươn lên, tách xa thế giới động vật, trở thành con người của xã hội, sáng tạo ra lịch sử Với vai trò là chủ thể của lịch sử con người phải được tự do, hạnh phúc, phải được phát triển các khả năng của mình Nhưng không phải lúc nào và ở đâu con người cũng có đủ điều kiện để phát triển toàn diện Vì vậy, một vấn đề đã và đang đặt ra là các quốc gia nói riêng, nhân loại nói chung, phải coi con người là mục tiêu của sự phát triển của xã hội
1.4.Quan điểm về giải phóng con người của chủ nghĩa Mác- Lê nin
Khẳng định bản chất xã hội của con người và vị thế chủ thể sáng tạo lịch sử của con người, C Mác đi đến quan niệm rằng, trình độ giải phóng xã hội luôn được thể hiện ra ở sự tự do của xã hội; giải phóng cá nhân tạo ra động lực cho sự giải phóng xã hội và đến lượt mình, giải phóng xã hội lại trở thành điều kiện thiết yếu cho sự giải phóng cá nhân; con người tự giải phóng mình và qua đó, giải phóng xã hội, thúc đẩy tiến bộ xã hội Rằng, con người được giải phóng và được
tự do phát triển toàn diện - đó là một trong những đặc trưng cơ bản của chế độ
xã hội mới, chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa mà giai cấp vô sản - giai cấp công nhân hiện đại và các chính đảng của nó có sứ mệnh phải xây dựng
Với cách đặt vấn đề như vậy, C Mác đã coi giải phóng con người, phát triển con người toàn diện, “phát triển sự phong phú của bản chất con người” là “mục đích
tự thân” của sự phát triển và tiến bộ xã hội Giải phóng con người, phát triển con người toàn diện cùng với phát triển lực lượng sản xuất, phát triển “nền sản xuất
xã hội” vì sự phồn vinh của xã hội, vì cuộc sống ngày một tốt đẹp hơn cho mỗi thành viên trong cộng đồng xã hội và cho cả cộng đồng xã hội là “phương hướng duy nhất” để không chỉ “làm tăng thêm nền sản xuất xã hội”, mà còn để “sản xuất ra những con người phát triển toàn diện” và hơn nữa, còn là “một trong những biện pháp mạnh nhất” để cải biến xã hội hiện tồn, đưa cả cộng đồng nhân loại đi vào quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội
Trang 8Chương II: Thực trạng nguồn lực nước ta hiện nay 2.1.Vai
trò của nguồn lực con người
Bất cứ một sự phát triển nào cũng đều phải có một động lực thúc đẩy Phát triển kinh tế xã hội được dựa trên nhiều nguồn lực: nhân lực (nguồn lực con người ) Vật lực (Nguồn lực vật chất, công cụ lao động đối tượng lao động, tài nguyên thiên nhiên ), Tài lực (nguồn lực về tài chính tiền tệ ) … song chỉ có nguồn lực con người mới tạo ra động lực của sự phát triển, những nguồn lực khác muốn phát huy được được tác dụng chỉ có thể thông qua nguồn lực con người
Từ xa xưa con người bằng động lực lao động và nguồn lực do chính bản thân mình tao ra , để sản xuất ra sản phẩm thõa mãn nhu cầu của bản thân mình Sản xuất ngày càng phát triển, phân công lao động ngày càng cao, hợp tác ngày càng chặt chẽ, tạo cơ hội để chuyển dần hoạt động của con người do máy móc thiết bị thực hiện (các động cơ phát lực ), làm thay đổi tính chất của lao động từ lao động thủ công sang lao động cơ khí và lao động trí tuệ
2.1.1 Vai trò của nguồn lực con người đối với kinh tế
Lịch sử phát triển của loài người đã chứng minh rằng trải qua quá trình lao động hàng triệu năm mới chở thành con người ngày nay và trong quá trình đó, mỗi giai đoạn phát triển của con người lại làm tăng thêm sức mạnh chế ngự thiên nhiên, tăng thêm động lực cho sụ phát triển kinh tế xã hội
Tiềm năng kinh tế của một đất nước phụ thuộc vào trình độ khoa học và công nghệ của nghệ của nước đó Trình độ khoa học và công nghệ lại phụ thuộc vào các điều kiện giáo dục Đã có nhiều bài học thất bại khi một nước sử dụng công nghệ ngoại nhập tiên tiến khi tiềm lực khoa học công nghệ trong nước còn yếu
2.1.2 Vai trò của nguồn lực con người đối với chính trị Ngày nay, trước sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học công nghệ và thông tin, sự giao lưu trí tuệ và tư tưởng liên minh kinh tế giữa các khu vực trên thế giới Sự ra đời của nhiều công ty xuyên quốc gia đã tạo ra tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa từng thấy Tình hình đó đã dẫn đến sự quốc tế hoá kinh tế thế giới, gây nên những đảo lộn về chính trị xã hối sâu sắc mang tính toàn cầu và đang đi đến thiết lập một trật tự thế giới mới Trong bối cảnh đó, khu vực châu á-Thái Bình Dương đang nổi lên là khu vực kinh tế năng động nhất Một trong những yếu tố chủ chốt thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh chóng là vai trò của nguồn nhân lực Nền kinh tế tri thức là kinh tế dựa trên các trụ cột chủ yếu là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới
Trình độ non kém, lạc hậu về khoa học công nghệ, tác phong lao động, kỷ luật,
sự thiếu hiểu biết về kinh tế thị trường, tính từ chịu trách nhiệm cá nhân thấp ảnh hưởng đến sức cành tranh của nguồn nhân lực Việt Nam khi hoà nhập vào
Trang 9thị trường nhân lực tiên tiến của thế giới Hiện nay, nguồn nhân lực dồi dào, giá nhân công rẻ, về lâu dài không thể là lợi thế phát triển của Việt Nam, vì lợi thế nhân công rẻ trên thế giới đang dần mất đi và thay vào đó là trình độ trí tuệ cao đồng đều của nhân công Trong quan hệ kinh tế quốc tế, trình độ, năng lực của các bộ đối tác, sự sắc sảo mềm dẻo, nhạy bén, linh hoạt trong ngoại giao của cán
bộ ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích của những quốc gia Để giảm được những bất lợi, tạo ra sự tương đồng trong hoà nhập, cạnh tranh với thị trường nhân lực khu vực và thế giới, người lao động Việt Nam phải được trang bị các kiến thức
2.1.3 Vai trò của nguồn lực con người đối với văn hóa xã hội
Nếu xem xét nguồn lực là tổng thể những năng lực của con người được huy động vào quá trình sản xuất, thì năng lực đó là nội lực của con người Trong phạm vi xã hội, đó là một trong những nguồn nội lực quan trọng cho sự phát triển Đặc biệt, đối với nước ta có nền kinh tế đang phát triển, dân số đông, nguồn nhân lực dồi dào đã trở thành một nguồn nội lực quan trọng nhất Nếu biết khai thác nó sẽ tạo nên một động lực to lớn cho sự phát triển
Một nền kinh tế – xã hội muốn có sức mạnh để phát triển cần phải tạo ra được trình độ trí tuệ ngang tầm thời đại và nguồn chất xám cũng như nhân lực kỹ thuật đủ để luôn đổi mới sản xuất, nâng cao năng suất lao động, phát triển các hoạt động dịch vụ, nâng cao các hoạt động văn hoá, tinh thần
2.2.Thực trạng nguồn lực con người
2.2.1.Phân bố nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực trẻ, tỷ lệ nam- nữ khá cân cân bằng, quy mô lớn, tăng nhanh hàng năm
Cơ cấu nguồn nhân lực phân bổ còn chưa hợp lý giữa thành thị – nông thôn, giữa các vùng, miền lãnh thổ; các thành phần kinh tế và giữa các ngành kinh tế,
có tỷ lệ thất nghiệp cao ở khu vực thành thị và thời gian lao động thấp ở khu vực nông thôn không
Nguồn nhân lực Việt Nam có năng suất lao động và thu nhập thấp, trình độ văn hoá, chuyên môn, kỹ thuật còn thấp, bố trí không đều, sức khỏe vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của kinh tế thị trường
2.2.2.Chất lượng giáo dục đào tạo
Hơn nửa thế kỷ qua nền giáo dục Việt nam nói chung và giáo dục đại học nói riêng đã đạt được nhiều thành tích to lớn trong sự nghiệp giải phóng, xây dựng
và phát triển đất nước Giáo dục đại học đã đào tạo bài bản và cung cấp cho đất nước một đội ngũ cán bộ đông đảo có trình độ đại học, trên đại học đáp ứng yêu cầu thực tiễn của đất nước, cũng như yêu cầu của sự hội nhập khu vực và thế
Trang 10giới trên mọi lãnh vực Với quan điểm “Đầu tư cho giáo dục là quốc sách”, Đảng và Nhà nước đã đưa ra nhiều nghị quyết về phát triển giáo dục, đào tạo khoa học và công nghệ khẳng định tầm quan trọng, định hướng cũng như xác định mục tiêu, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo đại học Thực hiện nghị quyết của Đảng, Chính phủ và Bộ giáo dục đào tạo đã đưa ra nhiều
mô hình đào tạo đại học Do vậy, tốc độ tăng của giáo dục và đào tạo đại học tăng nhanh
Hiện trên cả nước có khỏang gần 90 cơ sở đào tạo đại học bao gồm các trường đại học quốc gia, đại học vùng, các trường đại học công lập, bán công, dân lập và các học viện Tới đây sẽ có thêm một số trường đại học tư thục ra đời Lực lượng giảng viên không ngừng nâng cao về chất lượng và quy mô, số lượng sinh viên tăng đáng kể (tăng khoảng 15 lần so với 20 năm trước) và do đó làm cho trình độ dân trí tăng lên rõ rệt Thành tích trên là đáng trân trọng và tôn vinh Mặc dù như vậy, nhưng chất lượng giáo dục của Việt Nam vẫn chưa cao, nói một cách nôm
na là số lượng thì tăng rất nhanh nhưng chất lượng vẫn không tăng thậm chí là còn tuột dốc, chưa theo kịp với sự đổi mới của thế giới
2.2.3.Tình hình du học sinh và tình trạng chảy máu chất xám
Vấn nạn “ chảy máu chất xám” ở các du học sinh của nước ta là vấn đề lớn, nhưng nhiều năm qua đã chưa được đặt ra một cách nghiêm túc Những ưu đãi hiện hành với "người tài" mới chỉ mang tính nhỏ lẻ, do các địa phương, các cơ quan đặt ra, tuỳ theo tình hình mà thực hiện, không phải một cơ chế ở tầm vĩ mô
có khả năng khuyến khích những người có năng lực phấn đấu trong học tập và cống hiến theo yêu cầu ở các lĩnh vực kinh tế xã hội
Những năm gần đây, một số địa phương cũng có những chính sách thu hút nhân tài như Hà Nội có hẳn một đề án thu hút nhân tài Nhưng đáng tiếc là hiệu quả của việc triển khai thực hiện không đáng kể "Chính sách thu hút nhân tài của Hà Nội" lại chỉ nhắm vào những người có thâm niên trong tuổi nghề và tuổi đời, có tiếng tǎm, ít chú ý đến lớp trẻ và sự đối xử không công bằng với những trí thức là phụ nữ và thái độ thiếu tin tưởng, thậm chí xem thường người trẻ tuổi Đó là những nguyên do khiến nhiệt huyết của giới trẻ bị mai một Do đó có nhiều du học sinh xuất sắc đã không vào làm việc tại cơ quan Nhà nước hoặc các trường đại học
Có nhiều lý do để khiến du học sinh băn khoăn trăn trở về quyết định về hay ở của mình Trước hết là các quyến rũ vật chất ở xứ du học sinh đang sống Dù mang theo một tinh thần yêu nước nồng nàn đến đâu đi nữa, du học sinh không thể chối cãi được những tiến bộ về khoa học kỹ thuật của thế giới mình đang sống Thư viện, các phòng thí nghiệm, các hệ thống máy vi tính và các phương