1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

hoạt động của hệ thống tài chính

46 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 591,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • I.1. Định nghĩa về FDI (5)
  • I.2. Các hình thức đầu tư FDI (5)
  • I.3. Vai trò của doanh nghiệp FDI trong phát triển kinh tế (6)
  • II. Thực trạng hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam hiện nay (7)
    • II.1. Tổng quan FDI vào Việt Nam giai đoạn 2012-2021 (7)
      • II.1.1. Lượng vốn FDI vào Việt Nam giai đoạn 2012-2021 (7)
      • II.1.2. Số lượng dự án được nước ngoài đầu tư và đối tác đầu tư (10)
      • II.1.3. Hình thức đầu tư FDI vào Việt Nam (13)
      • II.1.4. Cơ cấu đầu tư FDI (14)
    • II.2. Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp FDI từ 2012 đến nay (23)
      • II.2.1. Tăng trưởng doanh thu thuần của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (23)
      • II.2.2. Tăng trưởng lợi nhuận trước thuế (25)
      • II.2.3. Một số chỉ số cơ bản thể hiện hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp FDI (27)
      • II.2.4. Đóng góp của doanh nghiệp FDI vào ngân sách nhà nước (31)
  • III. Tác động của DN FDI tại Việt Nam hiện nay (34)
    • III.1. Thành tựu đạt được (34)
    • III.2. Những hạn chế của doanh nghiệp FDI (38)
  • IV. Tầm nhìn và định hướng cho doanh nghiệp FDI trong thời gian tới (41)
    • IV.1. Giải pháp mang tính chất vĩ mô nhằm khắc phục các hạn chế (41)
    • IV.2. Tầm nhìn đặt trong bối cảnh (43)

Nội dung

BÀI TẬP LỚN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP FDI TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2012 2021. vai trò của doanh nghiệp FDI trong phát triển kinh tế. tác động của doanh nghiệp FDi đến nền kinh tế VN hiện nay

Định nghĩa về FDI

- FDI là hình thức đầu tư rất phổ biến của đầu tư quốc tế, vì vậy có rất nhiều cách định nghĩa FDI của các tổ chức khác nhau:

Theo định nghĩa của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) trong Sổ tay Cán cân thanh toán, ấn bản lần thứ năm, năm 1993, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hình thức đầu tư quốc tế mà nhà đầu tư từ một quốc gia đặt lợi ích dài hạn vào các hoạt động đầu tư và kinh doanh tại doanh nghiệp ở quốc gia khác Mục tiêu chính của nhà đầu tư là đạt được mức độ ảnh hưởng đáng kể trong quản lý doanh nghiệp đó.

Theo định nghĩa pháp lý tại Việt Nam, FDI (Đầu tư trực tiếp nước ngoài) là hoạt động đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài vào lãnh thổ Việt Nam, với điều kiện họ phải tham gia vào việc quản lý hoạt động đầu tư này.

Các hình thức đầu tư FDI

Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam là công ty do nhà đầu tư nước ngoài thành lập, hoàn toàn thuộc sở hữu của họ Những doanh nghiệp này tự quản lý và chịu trách nhiệm về hiệu quả kinh doanh của mình.

Nhà đầu tư nước ngoài có thể thành lập công ty liên doanh với nhà đầu tư trong nước, bao gồm các hình thức như công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần và công ty hợp danh, theo quy định của Luật doanh nghiệp và các quy định pháp luật liên quan.

Hình thức đầu tư theo hợp đồng hợp tác BCC là một phương thức đầu tư trực tiếp giữa các nhà đầu tư, được thực hiện thông qua một hợp đồng BCC Đặc điểm nổi bật của hình thức này là nhà đầu tư không cần thành lập pháp nhân hay tổ chức quản lý doanh nghiệp chung, mà chỉ cần thực hiện dự án dựa trên các thỏa thuận đã ký kết.

- Đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, sáp nhập, mua lại doanh nghiệp:

Nhà đầu tư có quyền tham gia vào hoạt động quản lý đầu tư thông qua việc góp vốn, mua cổ phần, sáp nhập hoặc mua lại doanh nghiệp, theo quy định của Luật doanh nghiệp và các văn bản pháp luật liên quan.

Vai trò của doanh nghiệp FDI trong phát triển kinh tế

Mặc dù FDI chịu sự chi phối của Chính Phủ, nhưng nó ít phụ thuộc vào quan hệ chính trị giữa các bên Việc các nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp tham gia quản lý sản xuất và kinh doanh làm tăng tính khả thi của dự án, đặc biệt trong việc tiếp cận thị trường quốc tế và mở rộng xuất khẩu Họ có quyền lợi gắn liền với dự án, do đó chú trọng đến hiệu quả kinh doanh, lựa chọn công nghệ phù hợp và nâng cao trình độ quản lý cũng như tay nghề của công nhân Chính vì vậy, FDI đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế ở các nước nhận đầu tư.

Việc bổ sung nguồn vốn cho đầu tư phát triển ngày càng trở nên quan trọng, với sự chuyển dịch trong cơ cấu nguồn vốn những năm gần đây Tỷ trọng đầu tư từ khu vực tư nhân và dân cư trong nước tăng lên, trong khi tỷ trọng đầu tư từ khu vực nhà nước giảm Đặc biệt, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đóng vai trò quan trọng trong việc giúp các nước đang phát triển như Việt Nam vượt qua tình trạng thiếu vốn kéo dài.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đóng góp đáng kể vào tăng trưởng GDP và thu ngân sách nhà nước bằng cách tạo ra nguồn thu từ thuế cho các công ty nước ngoài Điều này giúp các nước đang phát triển có khả năng cao hơn trong việc huy động tài chính cho các dự án phát triển.

Việt Nam đã ghi nhận thành công ấn tượng trong xuất khẩu trong những năm qua, với sự đóng góp lớn từ các doanh nghiệp FDI Sự gia tăng tỷ trọng xuất khẩu không chỉ thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu mà còn giúp thay đổi cơ cấu mặt hàng, tăng cường tỷ lệ các sản phẩm chế tạo có giá trị gia tăng cao.

Dòng vốn FDI đóng góp vào tăng trưởng năng suất lao động của quốc gia tiếp nhận, nhưng để đạt được tác động tích cực, các doanh nghiệp nội địa cần có khả năng học hỏi công nghệ mới và cung cấp đầu vào cho các doanh nghiệp FDI.

Nguồn vốn FDI đã tạo ra tác động lan tỏa công nghệ mạnh mẽ, nâng cao trình độ công nghệ thông qua việc chuyển giao công nghệ và kỹ năng quản lý cho người Việt Nam Điều này không chỉ tạo sức ép cạnh tranh mà còn thúc đẩy đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp trong nước Việc ứng dụng công nghệ vào sản xuất giúp tiết kiệm chi phí và nâng cao khả năng cạnh tranh của các quốc gia đang phát triển trên thị trường quốc tế.

Thực trạng hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam hiện nay

Tổng quan FDI vào Việt Nam giai đoạn 2012-2021

II.1.1 Lượng vốn FDI vào Việt Nam giai đoạn 2012-2021

Việt Nam đã trở thành điểm đến hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài nhờ môi trường đầu tư cởi mở, tình hình chính trị ổn định, và nguồn nhân lực dồi dào với chi phí thấp Trong vòng một thập kỷ qua, dòng vốn FDI vào Việt Nam tăng trưởng mạnh mẽ, đặc biệt sau khi tham gia các hiệp định thương mại tự do Giai đoạn 2012-2014, vốn FDI đăng ký tăng từ 16,35 tỷ USD lên 21,92 tỷ USD Từ năm 2015, tổng vốn FDI vào Việt Nam đã tăng liên tục, đạt 22,7 tỷ USD vào năm 2015 và 38,95 tỷ USD vào năm 2019 Tuy nhiên, năm 2018 ghi nhận sự sụt giảm do căng thẳng thương mại Mỹ-Trung và chính sách tài chính của Tổng thống Trump Năm 2020, do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam giảm xuống còn 28,53 tỷ USD, giảm 25% so với năm 2019 Đến năm 2021, khi nền kinh tế phục hồi, vốn FDI đã tăng lên 31,15 triệu USD, tương đương mức tăng 9,18%.

Biểu đồ II 1 Tổng vốn FDI vào Việt Nam trong 10 năm qua (đơn vị: tỷ USD)

Tổng vốn FDI vào Việt Nam trong 10 năm qua

Vốn FDI giải gân Vốn DFI đăng ký

Nguồn: Tổng hợp từ Cục Đầu tư nước ngoài

Trong thập kỷ qua, vốn FDI không chỉ gia tăng về số lượng đăng ký mà còn tăng cao trong thực hiện Từ năm 2012 đến 2019, vốn giải ngân đã tăng từ 10,46 tỷ USD lên 20,38 tỷ USD Tuy nhiên, vào năm 2020, do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, vốn giải ngân giảm xuống còn 19,98 tỷ USD Năm 2021, khi nền kinh tế bắt đầu hồi phục và mở cửa trở lại, mặc dù lượng vốn đầu tư lớn, nhưng vốn giải ngân chỉ đạt 19,74 tỷ USD.

Theo thống kê, lượng vốn FDI tại Việt Nam có mối tương quan tích cực với tăng trưởng kinh tế, khi chiếm khoảng 1/4 tổng vốn đầu tư xã hội Việc gia tăng vốn FDI không chỉ mở rộng quy mô sản xuất các ngành kinh tế mà còn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Cụ thể, vốn FDI thực hiện đạt 20,38 tỷ USD và đóng góp 20,35% vào giá trị GDP năm 2019.

II.1.2 Số lượng dự án được nước ngoài đầu tư và đối tác đầu tư.

Trong một thập kỷ qua, không chỉ vốn FDI vào Việt Nam tăng trưởng mạnh mẽ mà số lượng doanh nghiệp Việt Nam nhận đầu tư từ nước ngoài cũng gia tăng đáng kể Sự bùng nổ của các dự án FDI từ năm 2012 đã thể hiện rõ nét sự hấp dẫn của thị trường Việt Nam đối với các nhà đầu tư quốc tế.

Năm 2021, nhiều ngành nghề ghi nhận sự gia tăng số lượng dự án đăng ký mới, nhờ vào chính sách mở cửa hội nhập quốc tế và các ưu đãi hấp dẫn từ chính phủ nhằm thu hút dòng vốn FDI.

Biểu đồ II 2 Số dự án FDI vào Việt Nam trong 10 năm qua (đơn vị: dự án)

Số dự án FDI vào Việt Nam trong 10 năm qua

Trong giai đoạn 2012-2019, số lượng dự án đăng ký FDI tại Việt Nam đã tăng mạnh từ 1.287 lên 3.883 dự án, tức gấp khoảng 3 lần Tuy nhiên, trong hai năm 2020 và 2021, số dự án đăng ký đã giảm đáng kể do ảnh hưởng của dịch bệnh đến nền kinh tế Mặc dù số dự án giảm, nhưng số vốn giải ngân trong hai năm này lại chỉ chênh lệch rất ít so với năm 2019, cho thấy quy mô các dự án lớn hơn nhiều Nguyên nhân có thể là do cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung cùng với dịch bệnh đã thúc đẩy xu hướng chuyển dịch nhà máy, khiến nhiều nhà đầu tư chọn Việt Nam làm địa điểm mới để xây dựng nhà máy sản xuất.

Tính đến cuối năm 2021, Việt Nam đã thu hút đầu tư từ khoảng 140 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó Hàn Quốc là nhà đầu tư lớn nhất với tổng vốn đăng ký 74,66 tỷ USD cho 9.223 dự án còn hiệu lực, trung bình mỗi dự án đạt 8,09 triệu USD, với sự góp mặt của các công ty lớn như LG, Samsung và Lotte Nhật Bản đứng thứ hai với 64,4 tỷ USD, có sự hiện diện của các thương hiệu nổi tiếng như Honda và Toyota Singapore xếp thứ ba với 64,36 tỷ USD và 2.836 dự án, trong khi Đài Loan có 2.845 dự án với vốn đầu tư 35,33 tỷ USD, chủ yếu tập trung vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo Ngoài ra, còn có sự tham gia của nhiều quốc gia khác như Hoa Kỳ, Trung Quốc, Hồng Kông, Malaysia và Thái Lan.

2018 có thống kê tỷ lệ các đối tác nước ngoài của Việt Nam như sau:

Biểu đồ II 3 Thu hút FDI theo đối tác (2012-2021)

Thu hút FDI theo đối tác (2012-2021)

ASEAN Hàn Quốc Nhật Bản Singapore Đài Loan Khác

Nguồn: Bộ Kế Hoạch và Đầu tư

Theo thống kê cuối năm 2021, phần lớn vốn đầu tư FDI vào Việt Nam chủ yếu đến từ các quốc gia châu Á Mặc dù các quốc gia phương Tây là thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, nhưng lượng đầu tư từ họ vẫn còn hạn chế do sự khác biệt về văn hóa và thị trường sản phẩm.

II.1.3 Hình thức đầu tư FDI vào Việt Nam

Theo Tổng cục Thống kê năm 2020, 72,8% dự án đầu tư tại Việt Nam là 100% vốn nước ngoài, trong khi 21,4% là liên doanh Các hình thức hợp đồng BOT, BTO và BT chỉ chiếm khoảng 4% Điều này cho thấy phần lớn các dự án đầu tư vào doanh nghiệp tư nhân, với một lượng nhỏ đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước Sự ưu tiên của các nhà đầu tư nước ngoài cho hình thức 100% vốn cho thấy họ muốn kiểm soát hoàn toàn hoạt động kinh doanh Tuy nhiên, một số lĩnh vực như bất động sản, khai thác khoáng sản và dịch vụ thuế vẫn yêu cầu liên doanh với công ty trong nước.

Biểu đồ II 4 Cơ cấu vốn đăng ký dự án FDI vào Việt Nam theo hình thức đầu tư (lũy kế đến đầu 2020)

Cơ cấu vốn đăng ký dự án FDI vào Việt Nam theo hình thức đầu tư (lũy kế đến đầu 2020)

100% vốn nước ngoài Liên doanh Hợp đồng BOT, BTO, BT Hợp đồng hợp tác kinh doanh

Nguồn: Tổng cục thống kê 2020

II.1.4 Cơ cấu đầu tư FDI a Cơ cấu đầu tư FDI theo ngành kinh tế

Tính đến cuối năm 2021, đầu tư FDI đã hiện diện trong 19 ngành của Việt Nam, với ngành công nghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu về thu hút vốn đầu tư nước ngoài, chiếm khoảng 59% tổng vốn đầu tư, tương đương 240,2 tỷ USD và 15.558 dự án Ngành này được nhà nước khuyến khích phát triển trong quá trình hội nhập kinh tế, đặc biệt từ các đối tác như Hàn Quốc và Nhật Bản, nhờ vào lợi thế về nhân công giá rẻ và tài nguyên sẵn có Ngành bất động sản đứng thứ hai, chiếm 15% tổng vốn đầu tư tính đến tháng 4/2020, mặc dù thị trường bất động sản toàn cầu đã gặp khó khăn.

Sau khủng hoảng năm 2008, thị trường bất động sản Việt Nam đã phục hồi và phát triển mạnh mẽ Văn hóa sở hữu nhà đất của người dân Việt Nam tạo ra cơ hội lớn cho ngành này Trong hai năm qua, mặc dù nhiều ngành kinh tế bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh, bất động sản vẫn tăng trưởng và giá cả tiếp tục leo thang.

Lĩnh vực thu hút đầu tư nước ngoài đứng thứ ba tại Việt Nam là sản xuất và phân phối điện, nước, khí, điều hòa, chiếm khoảng 7% tổng vốn FDI tính đến tháng 04/2020 Bên cạnh đó, các lĩnh vực khác như dịch vụ lưu trú, ăn uống và xây dựng cũng thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài.

Biểu đồ II 5 Cơ cấu vốn và số dự án đăng ký vào Việt Nam theo ngành (luỹ kế đến 20/11/2021)

Theo tổng lượng vốn đăng ký

Công nghiệp chế biến chế tạo Hoạt động kinh doanh bất động sản Sản xuất phân phối điện, khí, nước, điều hoà Dịch vụ lưu trú và ăn uống

Nguồn: Tổng cục thống kê 2020

THEO SỐ LƯỢNG DỰ ÁN

Công nghiệp chế biến chế tạo Bán buôn bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy

Hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ Thông tin và chuyền thông

Xây dựng Khác Ngu ồn: Tổng cục thống kê 2020 b Cơ cấu đầu tư FDI theo địa phương

Việt Nam đã chính thức tiếp nhận nguồn vốn đầu tư nước ngoài từ năm 1987, với hơn 30 năm phát triển Tính đến ngày 20/12/2021, các dự án FDI đã hiện diện tại 63 tỉnh, thành phố, tuy nhiên, nguồn vốn này không được phân bổ đồng đều, chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn có hạ tầng và giao thông phát triển Điều này dẫn đến sự chênh lệch lớn về vốn FDI giữa các vùng, đặc biệt là ở các khu vực miền núi, nơi lượng vốn đầu tư còn hạn chế.

Biểu đồ II 6 Top 7 địa phương có tổng vốn đầu tư lũy kế lớn nhất tính đến

7 địa phương có tổng vố n đầu tư lũy kế lớn nhấ t

Số dự án Tổng vốn đầu tư đăng ký (Triệu USD)

Nguồn: Theo báo cáo Cục đầu tư nước ngoài

Biểu đồ II 7 Top 7 địa phương có tổng vốn đầu tư lũy kế thấp nhất tính đến

7 địa phương có tổng vố n đầu tư lũy kế thấ p nhất

Số dự án Tổng vốn đầu tư đăng ký

Nguồn: Theo báo cáo Cục đầu tư nước ngoài

Tính đến ngày 20/12/2021, TP HCM dẫn đầu về thu hút vốn đầu tư với 49.470,30 triệu USD từ hơn 10.000 dự án, trong khi Lai Châu chỉ thu hút 1,5 triệu USD với 1 dự án Sự chênh lệch này cho thấy các thành phố thu hút nhiều vốn FDI thường có cơ sở hạ tầng tốt, dân cư đông đúc, nguồn nhân lực dồi dào, vị trí giao thông thuận lợi và môi trường kinh doanh tích cực Dòng vốn FDI đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế, tạo việc làm và thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu kinh tế ở các tỉnh, thành phố Tuy nhiên, việc tập trung vốn ở một số khu vực có thể dẫn đến sự phát triển không đồng đều, gia tăng khoảng cách giàu nghèo và gây ra các vấn đề về môi trường và trật tự xã hội.

Biểu đồ II 8 Biểu đồ thể hiện địa phương có vốn đăng ký FDI lớn nhất giai đoạn 2017-2021 (đơn vị: tỷ đồng)

Nguồn: Tổng hợp từ Cục Đầu tư nước ngoài

TP HCM và Hà Nội là hai khu vực thu hút vốn đầu tư lớn nhất tại Việt Nam, với Hà Nội ghi nhận 8,3 tỷ USD trong năm 2019 Năm 2021, Hải Phòng đã nổi lên với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 5,26 tỷ USD, mặc dù nguồn vốn FDI đã suy giảm do ảnh hưởng của dịch bệnh Đầu tư nước ngoài đã hiện diện tại 59 tỉnh, thành phố trên cả nước, trong đó Hải Phòng đã vượt qua Long An, tăng gần 3,4 lần so với năm trước, khi FDI năm 2020 chỉ đạt 1,531 tỷ USD.

5.26 Địa phương có vốn đăng ký FDI nhiều nhất

Tổng vốn đầu tư đăng ký(Tỷ USD)

Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp FDI từ 2012 đến nay

II.2.1 Tăng trưởng doanh thu thuần của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Hình II 2 Số liệu doanh thu thuần của doanh nghiệp FDI (2012-2019)

Năm Doanh thu thuần ( Tỷ đồng)

Nguồn: Tổng hợp từ Tổng cục thống kê

Doanh thu thuần của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã tăng đều qua các năm, nhờ vào sự gia tăng của vốn đầu tư FDI Trong giai đoạn 2012-2019, doanh thu thuần trung bình tăng khoảng 734,337.9 tỷ đồng mỗi năm, với năm 2018 ghi nhận mức tăng ấn tượng 1,012,232 tỷ đồng so với năm trước, do dòng vốn đầu tư chuyển từ Trung Quốc sang Việt Nam trong bối cảnh chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Năm 2019, doanh thu thuần đạt 7,617,120 tỷ đồng, chiếm 28,9% tổng doanh thu của các doanh nghiệp cả nước, là mức cao nhất trong giai đoạn này Sự gia tăng doanh thu thuần của doanh nghiệp FDI đã đóng góp quan trọng vào kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam, giúp nước này xếp thứ 26 trong nhóm 30 quốc gia có giá trị xuất nhập khẩu hàng hóa lớn nhất toàn cầu vào năm 2018.

Mặc dù doanh thu thuần của Việt Nam tăng hàng năm, nhưng tốc độ tăng trưởng lại có xu hướng chậm lại, cho thấy những yếu kém trong chính sách thu hút FDI dựa vào tài nguyên và lao động giá rẻ Dòng vốn FDI gia tăng nhưng trình độ lao động và cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng kịp thời, dẫn đến tăng trưởng không hiệu quả Cụ thể, tốc độ tăng trưởng doanh thu thuần giảm từ 25,34% vào năm 2013 xuống chỉ còn 11,8% vào năm 2019, với xu hướng giảm liên tục trong giai đoạn 2012-2019 Bên cạnh đó, sự chững lại trong tốc độ đầu tư FDI cũng góp phần làm giảm tốc độ tăng trưởng doanh thu thuần.

Biểu đồ II 9 Tốc độ tăng trưởng doanh thu thuần

30.0 Doanh thu thuần (Tỷ đồng) Tốc độ tăng trưởng (%)

Nguồn: Tổng hợp từ Tổng cục thống kê

II.2.2 Tăng trưởng lợi nhuận trước thuế

Biểu đồ II 10 Lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp FDI (2012-2019)

Lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp FDI

Nguồn: Tổng hợp từ Tổng cục thống kê

Lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp FDI đã có xu hướng tăng trưởng qua từng năm nhờ vào sự gia tăng của doanh thu thuần Cụ thể, năm 2019, lợi nhuận trước thuế đạt 406,023 tỷ đồng, chiếm 45.62% tổng lợi nhuận của các doanh nghiệp trong nước So với năm 2012, khi lợi nhuận trước thuế chỉ đạt 120,031.7 tỷ đồng, con số này đã tăng 3,38 lần trong giai đoạn từ 2012 đến 2019.

Từ năm 2019, doanh thu thuần đã tăng 3,07 lần, cho thấy tốc độ tăng trưởng lợi nhuận trước thuế (LNTT) đang vượt trội hơn doanh thu nhờ vào sự cải thiện về trình độ và năng suất lao động Các doanh nghiệp FDI không chỉ thúc đẩy tăng trưởng GDP mà còn giải quyết vấn đề việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân.

Biểu đồ II 11 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ doanh nghiệp FDI có lãi và báo lỗ (2012-

Tỷ lệ lãi Tỷ lệ lỗ

Nguồn: Tổng hợp từ Tổng cục thống kê

Mặc dù doanh nghiệp FDI đóng góp vào nền kinh tế, nhưng không phải tất cả đều mang lại lợi ích Theo số liệu từ giai đoạn 2012-2019, trong số 10 doanh nghiệp FDI, trung bình chỉ có 5,1 doanh nghiệp có lãi, trong khi 4,6 doanh nghiệp báo lỗ Tỷ lệ doanh nghiệp có lãi cao hơn nhưng chênh lệch không lớn, cho thấy nhiều doanh nghiệp FDI vẫn chưa khai thác được lợi thế kinh tế và hoạt động chưa hiệu quả.

II.2.3 Một số chỉ số cơ bản thể hiện hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp FDI a Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu thuần.

Hình II 3 Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu thuần của doanh nghiệp FDI (2012-

( Tỷ đồng) Lợi nhuận trước thuế Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu thuần (%)

Nguồn: Tổng hợp từ Tổng cục thống kê

Giai đoạn 2012-2019, tỷ suất doanh thu thuần trên lợi nhuận trước thuế trung bình đạt 6,1%, với mức thấp nhất là 4,8% vào năm 2012 và cao nhất là 7% vào năm 2014 Mặc dù doanh thu thuần và lợi nhuận trước thuế đều tăng qua các năm, nhưng tỷ suất sinh lợi doanh thu lại có xu hướng giảm, chỉ còn 5,3% vào năm 2019, giảm 1,7% so với mức cao nhất năm 2014 Mặc dù vẫn cao hơn mức trung bình cả nước là 3,4%, nhưng điều này cho thấy những tín hiệu không tích cực, đặc biệt là lợi nhuận của doanh nghiệp FDI đang giảm dần, đặt ra thách thức trong việc quản lý chi phí giá vốn hàng bán Hơn nữa, lợi thế chi phí sản xuất thấp tại Việt Nam cũng đang suy giảm.

Hình II 4 Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (2012-2019)

Năm Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản

Nguồn: Tổng hợp từ Tổng cục thống kê

Biểu đồ II 12 Biểu đồ thể hiện tỷ suất sinh lượi trên tổng tài sản (2012-2019)

Tỷ suất sinh lợi trên tổ ng tài sả n ( ROA)%

Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản ( ROA)%

Nguồn: Tổng hợp từ Tổng cục thống kê

Từ năm 2012 đến 2017, tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) có xu hướng tăng, nhưng từ 2017 đến 2019 lại giảm, cho thấy hiệu quả sử dụng tài sản đã giảm sút Nguyên nhân có thể do tài sản và máy móc dần hư hỏng, giảm hiệu suất, cùng với việc các doanh nghiệp FDI đưa máy móc cũ, lỗi thời vào Việt Nam, gây ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình sản xuất Theo số liệu năm 2019, tỷ suất ROA của doanh nghiệp FDI đạt 5,5%, trong khi doanh nghiệp trong nước chỉ đạt 2,2%, cho thấy doanh nghiệp FDI vẫn duy trì hiệu quả cao hơn so với trung bình toàn quốc.

Biểu đồ II 13 Biểu đồ thể hiện tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (2012-

Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ( ROE ) %

Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ( ROE ) %

Nguồn: Tổng hợp từ Tổng cục thống kê

Doanh nghiệp FDI hưởng lợi từ nguồn vốn dồi dào và cơ hội tiếp cận các nguồn vay toàn cầu, dẫn đến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu thường cao hơn mức trung bình của các doanh nghiệp trong nước.

Trong năm 2017, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) tại các doanh nghiệp FDI đạt 18.1%, cao hơn mức trung bình cả nước là 10.0% Trong giai đoạn này, ROE trung bình đạt 15.4%, với mức thấp nhất là 11.3% vào năm 2012 Mặc dù ROE của doanh nghiệp FDI luôn vượt trội so với trung bình quốc gia, nhưng trong những năm gần đây, tỷ số này đang có xu hướng suy giảm, tương tự như biến động của ROA Mặc dù lượng vốn đầu tư gia tăng, nhưng tốc độ tăng trưởng doanh thu thuần vẫn chưa tương xứng.

Sau khi phân tích, các chỉ tiêu kinh doanh của doanh nghiệp FDI thường vượt trội so với mức trung bình toàn quốc nhờ vào nguồn đầu tư dồi dào, công nghệ tiên tiến và quản lý hiệu quả, cùng với các chính sách ưu đãi từ chính phủ Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp FDI vẫn chưa đạt mức tối ưu, với tốc độ phát triển có xu hướng chậm lại Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc cải thiện chất lượng lao động, nâng cao trình độ sản xuất và điều chỉnh các chính sách phát triển vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 đang gây ra nhiều thách thức.

II.2.4 Đóng góp của doanh nghiệp FDI vào ngân sách nhà nước

Nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), nhà nước đã triển khai nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp FDI, đặc biệt là các chính sách về thuế Chính sách thuế được điều chỉnh linh hoạt theo từng giai đoạn kinh tế và chính trị Ngày 17/5/2011, Chính phủ ban hành Quyết định số 732/2011/QĐ-TTg, xác định chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 – 2020, trong đó thuế TNDN giảm từ 25% xuống 22% từ năm 2014 và còn 20% từ năm 2016 Để thu hút FDI, nhà nước áp dụng các chính sách thuế ưu đãi cho các ngành sản xuất có giá trị gia tăng cao, công nghiệp hỗ trợ, công nghệ cao và dịch vụ chất lượng Các mức thuế suất ưu đãi bao gồm 10% trong 15 năm, 17% trong 10 năm, miễn thuế tối đa 4 năm và giảm 50% thuế tối đa 9 năm cho các dự án thuộc lĩnh vực khuyến khích đầu tư Đặc biệt, các dự án trong lĩnh vực nông nghiệp và chế biến nông sản được hưởng thêm ưu đãi miễn thuế trong suốt thời gian thực hiện tại các khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.

Mặc dù được hưởng ưu đãi thuế, doanh thu thuần và lợi nhuận sau thuế của các doanh nghiệp FDI vẫn tăng, dẫn đến sự gia tăng thu ngân sách từ các doanh nghiệp này Trong những năm gần đây, tổng thu ngân sách từ doanh nghiệp FDI dao động khoảng 13-15% Cụ thể, năm 2012, doanh nghiệp FDI đã đóng góp hơn 83 nghìn tỷ đồng (không bao gồm thu từ dầu thô), và con số này lần lượt tăng lên hơn 111 nghìn tỷ đồng vào năm 2013, hơn 123 nghìn tỷ đồng năm 2014, hơn 140 nghìn tỷ đồng năm 2015, 161 nghìn tỷ đồng năm 2016, và đến năm 2017, doanh nghiệp FDI đã chiếm 14.5% tổng thu ngân sách.

Trong những năm gần đây, thu ngân sách từ doanh nghiệp FDI vẫn được duy trì ổn định Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, trong danh sách V1000 doanh nghiệp nộp thuế nhiều nhất các năm 2018, 2019, 2020, khoảng 30% số lượng doanh nghiệp là có vốn đầu tư nước ngoài Đặc biệt, một số công ty FDI như Honda Việt Nam và Samsung Electronics Việt Nam thường xuyên nằm trong top 10 doanh nghiệp nộp thuế cao nhất.

Hình II 5 TOP 10 Doanh nghiệp nộp thuế TNDN lớn nhất trong năm 2020

Nguồn: Số: 4629/TCT-KK V/v công khai danh sách V1000 doanh nghiệp nộp thuế

TNDN lớn nhất trong năm 2021

Tiềm lực kinh tế của doanh nghiệp FDI chưa tương xứng với khoản thu ngân sách nhà nước, và vấn đề chuyển giá đang gây khó khăn trong quản lý vốn FDI của nhà nước.

Tác động của DN FDI tại Việt Nam hiện nay

Thành tựu đạt được

Thứ nhất, về kinh tế FDI có tác động tích cực theo các phương diện:

Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bằng cách bổ sung vốn cho các ngành và địa bàn nhằm thu hút FDI, giúp phát triển nhanh chóng hơn Dữ liệu từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy điều này là rất quan trọng.

FDI hiện đóng góp khoảng 20% GDP của Việt Nam và chiếm 23,7% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, với 58% tổng vốn FDI tập trung vào lĩnh vực chế biến, chế tạo Lĩnh vực này tạo ra hơn 50% giá trị sản xuất công nghiệp và dẫn đầu về kim ngạch xuất khẩu cả nước Theo Cục Đầu tư nước ngoài, vốn FDI vào Việt Nam đã tăng từ 16,3 tỷ USD năm 2012 lên 34,15 tỷ USD.

Trong giai đoạn 2012-2021, bất chấp những biến động toàn cầu, đặc biệt là ảnh hưởng nghiêm trọng của đại dịch Covid-19, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam vẫn ghi nhận những điểm sáng Năm 2021, mặc dù trải qua một năm khó khăn, kim ngạch xuất khẩu của khối doanh nghiệp FDI, bao gồm cả dầu thô, ước đạt 247,5 tỷ USD, chiếm 73,6% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, theo báo cáo của Bộ Công Thương.

Sự phát triển của công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam không chỉ nhờ vào sự đóng góp trực tiếp của các doanh nghiệp FDI, mà còn tạo ra một hệ sinh thái mạnh mẽ giúp kết nối các doanh nghiệp Việt với các tập đoàn đa quốc gia, từ đó hỗ trợ doanh nghiệp tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu Nhiều nhà cung cấp đã mở nhà máy tại Việt Nam để rút ngắn khoảng cách chuỗi cung ứng và tận dụng nguồn nhân lực giá rẻ cùng thị trường tiềm năng Điển hình, Samsung Việt Nam đã hợp tác với khoảng 50 nhà cung ứng cấp 1 là doanh nghiệp Việt, trong khi Panasonic và Canon cũng đã có doanh nghiệp Việt tham gia vào chuỗi sản xuất của họ Gần đây, Universal Scientific Industrial (USI) đã khởi công nhà máy lắp ráp bảng mạch điện tử tại Hải Phòng với vốn đầu tư 200 triệu USD, dự kiến tăng lên 400 triệu USD Đồng thời, Foxconn cũng đầu tư 270 triệu USD vào dự án sản xuất iPad và MacBook tại Bắc Giang, đánh dấu sự chuyển mình tích cực của ngành điện tử.

Giải quyết vấn đề việc làm là một trong những lợi ích quan trọng của việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) Trong bối cảnh này, lao động thường tập trung vào các ngành sản xuất thâm dụng lao động như dệt may và da giày Tuy nhiên, tỷ trọng lao động trong các ngành sản xuất công nghệ cao đang gia tăng nhanh chóng, đặc biệt là trong ngành điện tử, với tỷ lệ tăng từ 8,03% trong những năm gần đây FDI không chỉ tạo ra nhiều cơ hội việc làm mà còn nâng cao năng lực và kỹ năng lao động thông qua các chương trình đào tạo trực tiếp và gián tiếp.

Từ năm 2012 đến 2017, tỷ lệ vốn FDI tăng lên 15,7%, góp phần vào sự chuyển biến tích cực của năng suất lao động Đến năm 2017, năng suất lao động tại các doanh nghiệp FDI đạt 330,8 triệu đồng/lao động, gấp 3,5 lần so với mức trung bình toàn quốc Mặc dù chịu ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, các doanh nghiệp FDI vẫn duy trì việc làm ổn định cho lao động trong nước, điển hình như tại tỉnh Thanh Hóa, nơi gần 166.000 lao động vẫn có việc làm thường xuyên với mức thu nhập bình quân khoảng 6,5 triệu đồng/người/tháng và tiếp tục có nhu cầu tuyển dụng.

Samsung, hiện nay đang thu hút hơn 170.000 lao động làm việc trong các nhà máy sản xuất tại Bắc Ninh, Thái Nguyên…

Việt Nam cần cải thiện cơ sở hạ tầng để thu hút đầu tư nước ngoài, vì hệ thống hiện tại còn nhiều hạn chế và thiếu đồng bộ Chính phủ đã ban hành các nghị quyết nhằm xây dựng hạ tầng đồng bộ, với mục tiêu đưa đất nước trở thành một nước công nghiệp hiện đại vào năm 2020 Kết luận số 77-KL/TW của Bộ Chính trị nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hoàn thiện hạ tầng và cung ứng dịch vụ hỗ trợ để thu hút đầu tư nước ngoài chất lượng, đặc biệt từ các tập đoàn lớn và công ty đa quốc gia có công nghệ cao.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam đã có sự thay đổi rõ rệt từ khi FDI bắt đầu vào nước ta Những năm đầu, nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao nhất với 38,1%, tiếp theo là dịch vụ 33% và công nghiệp 28,9% Đến năm 2012, ngành dịch vụ dẫn đầu với 42,6% GDP, công nghiệp chế biến đứng thứ hai với 25,7%, trong khi nông nghiệp giảm xuống còn 15,8% Đến năm 2017, tỷ trọng ngành dịch vụ vẫn cao nhất (41,3%), công nghiệp và xây dựng chiếm 33,34%, còn nông lâm nghiệp và thủy sản chỉ còn 15,34% Đến năm 2021, cơ cấu kinh tế không có sự biến đổi lớn; nông-lâm-thủy sản chiếm 12,36%, công nghiệp và xây dựng 37,86%, dịch vụ 40,95% Sự chuyển dịch này cho thấy ngành dịch vụ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế Việt Nam, trong khi nông nghiệp giảm dần tỷ trọng.

Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã đóng góp quan trọng trong việc thúc đẩy đổi mới và chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất trong nước Các lĩnh vực như dầu khí, giao thông, xây dựng, cơ khí chế tạo, điện tử - viễn thông - tin học, cùng dệt may - giày dép đã ghi nhận những kết quả khả quan Cụ thể, báo cáo của Bộ cho biết từ năm 2007 đến 2014, những tiến bộ này đã được thể hiện rõ nét.

187 hợp đồng chuyển giao công nghệ đăng ký tại các địa phương, trong đó chuyển giao 137 quy trình công nghệ (73%), 140 bí quyết công nghệ (75%),

Trong năm 2021, theo Bộ Khoa học và Công nghệ, 145 trợ giúp kỹ thuật (77.5%) và 134 nội dung chuyển giao liên quan đến đào tạo vận hành công nghệ (71.5%) đã được thực hiện, trong khi chỉ có 25 sở hữu công nghiệp (13%) Các hợp đồng chuyển giao công nghệ qua dự án đầu tư nước ngoài chiếm 63% trong lĩnh vực công nghiệp, 26% trong chế biến nông sản và thực phẩm, và 11% trong y dược, mỹ phẩm Hoạt động FDI đã giúp chuyển giao nhiều công nghệ mới và sản xuất sản phẩm mới, đồng thời đào tạo cán bộ, công nhân để cập nhật kiến thức phù hợp Nhiều ngành như bưu chính - viễn thông, dầu khí, xây dựng, cầu đường đã tiếp thu công nghệ tiên tiến, và các doanh nghiệp trong nước đã nâng cấp trang thiết bị để đáp ứng yêu cầu cạnh tranh ngày càng cao.

Những hạn chế của doanh nghiệp FDI

FDI mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế, nhưng cũng tiềm ẩn những tác động tiêu cực không thể xem nhẹ Trong lĩnh vực kinh doanh, việc nhận diện sớm các khía cạnh tiêu cực là rất quan trọng, giúp doanh nghiệp xây dựng kế hoạch và định hướng phát triển hiệu quả hơn.

 Tỷ lệ doanh nghiệp FDI vi phạm quy định về luật pháp của Việt Nam còn cao:

Theo báo cáo của Tổng cục Môi trường, tỷ lệ doanh nghiệp FDI vi phạm quy định bảo vệ môi trường tại 28 tỉnh phía Bắc đã gia tăng qua các năm 2017, 2018 và 2019, với 44,5% doanh nghiệp vi phạm năm 2017, 56% năm 2018 và 68% năm 2019 Bên cạnh đó, số doanh nghiệp FDI có lãi chỉ đạt 45%, trong khi 12.455 doanh nghiệp báo lỗ, chiếm 55%, mặc dù tổng doanh thu của họ đạt khoảng 847.000 tỷ đồng, tăng gần 12,7% so với năm 2018 Tổng tài sản của các doanh nghiệp này cũng giảm 0,7% so với năm trước.

Năm 2020, trong số 2.160 doanh nghiệp FDI tại Việt Nam, có 14.108 doanh nghiệp báo lỗ, chiếm 56% tổng số doanh nghiệp FDI Tổng thua lỗ của các doanh nghiệp này lên tới khoảng 151.064 tỷ đồng Mặc dù gặp khó khăn, tổng tài sản của các doanh nghiệp FDI vẫn đạt khoảng 2,91 triệu tỷ đồng, tăng 8,1% so với năm 2019.

 Phụ thuộc vào doanh nghiệp FDI

Nền kinh tế Việt Nam đang ngày càng phụ thuộc vào các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), với khu vực này đóng góp 15,16% vào tăng trưởng GDP, con số này đã tăng lên 20,35% vào năm 2019 Doanh nghiệp FDI chiếm ưu thế trong xuất khẩu, đạt 72% tỷ trọng xuất khẩu vào năm 2017 và 72,2% vào năm 2021, mặc dù chỉ chiếm 20,3% GDP quốc gia Họ đóng góp 67,8% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu trong năm 2019, giúp Việt Nam xuất siêu từ năm 2012 Trong khi đó, doanh nghiệp trong nước chủ yếu tham gia vào các khâu sản xuất phụ như đóng gói và cung cấp tỷ lệ rất thấp, dưới 10%, chủ yếu là in ấn và bao bì.

 Cạnh tranh xuất khẩu với doanh nghiệp nội địa

Nền kinh tế hiện nay chủ yếu đạt được thành quả nhờ vào doanh nghiệp nước ngoài, với khu vực doanh nghiệp FDI chiếm hơn 70% doanh thu nội địa và gần 90% kim ngạch xuất khẩu Vai trò của doanh nghiệp trong nước còn yếu, chủ yếu tham gia vào các công đoạn lắp ráp và cung cấp dịch vụ đơn giản, dẫn đến giá trị gia tăng thấp và thiếu sức cạnh tranh Năng lực của các doanh nghiệp nội địa trong ngành còn hạn chế, chất lượng và mẫu mã sản phẩm chưa đáp ứng yêu cầu thị trường Nhiều doanh nghiệp điện tử nội địa trước đây đang phát triển chậm lại và mất dần thương hiệu Đặc biệt, tập đoàn Samsung đã chiếm hơn 20% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, với kim ngạch xuất khẩu của khối doanh nghiệp FDI ước tính đạt 247,5 tỷ USD, chiếm 73,6% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước vào năm 2021.

 Hàm lượng chuyển giao công nghệ còn thấp

Doanh nghiệp FDI tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào sản xuất lắp ráp và gia công để xuất khẩu Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 70% doanh nghiệp trong nước tìm nguồn cung ứng ngay tại thị trường Việt Nam, trong khi chỉ 5% hoàn toàn phụ thuộc vào nhập khẩu nguyên liệu Nghiên cứu của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương cho thấy tỷ lệ chuyển giao công nghệ từ nước ngoài giảm mạnh từ 35% năm 2011-2012 xuống còn 10% vào năm 2013, cho thấy sự lấn át của doanh nghiệp nước ngoài Báo cáo Diễn đàn kinh tế thế giới năm 2018 cũng chỉ ra rằng Việt Nam có điểm số xếp hạng thấp trong chuyển giao công nghệ từ doanh nghiệp FDI.

Việt Nam xếp hạng 89 trong tổng số quốc gia tham gia và đứng thứ 8 trong khu vực ASEAN, nhưng đang gặp khó khăn trong việc chuyển giao công nghệ từ khu vực FDI với hiệu quả thấp và có nguy cơ tụt hậu Năm 2016, tỷ lệ nghiên cứu và phát triển (R&D) tại Việt Nam chỉ có khoảng 5% doanh nghiệp có cơ sở R&D và khoảng 7% doanh nghiệp đang trong quá trình tiếp cận công nghệ mà không có cơ sở R&D Điều này cho thấy gần 80% doanh nghiệp không có R&D hoặc chiến lược tiếp cận công nghệ, dẫn đến hoạt động chuyển giao công nghệ diễn ra chậm Từ năm 2011 đến nay, giá trị chuyển giao công nghệ từ FDI chỉ tăng từ 33.365 tỷ đồng lên 166.352 tỷ đồng, chưa đạt kỳ vọng.

2019, hơn 80% doanh nghiệp FDI sử dụng công nghệ trung bình của thế giới,khoảng 5-6% sử dụng công nghệ cao, công nghệ tiên tiến trong khi mục tiêu là35-40%.

Tầm nhìn và định hướng cho doanh nghiệp FDI trong thời gian tới

Giải pháp mang tính chất vĩ mô nhằm khắc phục các hạn chế

Việt Nam cần điều chỉnh chính sách hỗ trợ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để thu hút dòng vốn FDI một cách chọn lọc và hiệu quả hơn Cần hoàn thiện khung pháp lý nhằm quản lý hoạt động chuyển giá, đồng thời ban hành hướng dẫn xác định giá chuyển giao phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế Việc điều chỉnh mức thuế suất thuế TNDN cần được xem xét để không chênh lệch quá lớn so với các nước trong khu vực và giữa các địa phương trong nước, nhằm ngăn chặn động cơ chuyển giá Thời gian thanh tra thuế cần được kéo dài hơn để có đủ thời gian xử lý hiện tượng chuyển giá xuyên quốc gia Ngoài ra, cần bổ sung quy định pháp luật cho các dự án đang hoạt động có số lỗ vượt vốn chủ sở hữu và tăng cường hợp tác quốc tế để đạt được các thỏa thuận chống thất thu và chuyển giá.

Chính phủ cần tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ, vì đây là động lực quan trọng cho nền kinh tế và giải quyết việc làm Doanh nghiệp vừa và nhỏ không chỉ tạo ra việc làm mà còn mang lại lợi ích cho doanh nghiệp nhà nước và nhà đầu tư nước ngoài Để đáp ứng nhu cầu thị trường, cần tăng cường đầu tư trực tiếp trong nước, đặc biệt cho nghiên cứu và phát triển Việc ứng dụng và chuyển giao công nghệ, hiện đại hóa sản xuất, và hỗ trợ thương mại đầu tư cho doanh nghiệp mới là rất cần thiết Đồng thời, chính phủ cần khuyến khích đầu tư vào các ngành trọng điểm để hình thành các tập đoàn kinh tế mạnh và thương hiệu cạnh tranh toàn cầu.

Để hóa giải nghịch lý xuất khẩu, doanh nghiệp trong nước cần nâng cao năng lực cạnh tranh và tham gia tích cực vào chuỗi cung ứng tại Việt Nam Việc xây dựng đội ngũ nghiên cứu, thiết kế và phát triển sản phẩm công nghệ cao là thiết yếu, cùng với cơ chế hỗ trợ từ chính sách để thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp Việt Nam Các doanh nghiệp nội địa cần đưa ra giải pháp đột phá trong kinh doanh, như cung cấp dịch vụ tư vấn công nghệ và tận dụng lợi thế về văn hóa, địa lý, chính sách thuế Chính phủ cũng cần định hướng rõ ràng về các mặt hàng chiến lược, giúp doanh nghiệp tập trung nguồn lực phát triển sản phẩm cạnh tranh.

Cơ sở hạ tầng yếu kém là một trở ngại lớn trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) tại Việt Nam Để cải thiện tình hình, cần tập trung vào việc phát triển cơ sở hạ tầng và đơn giản hóa các thủ tục đầu tư Việc nâng cấp hệ thống giao thông và điện sẽ không chỉ tăng cường sức hấp dẫn của môi trường đầu tư mà còn hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh Tạo ra các điều kiện thuận lợi cho khu vực FDI là cần thiết để hướng tới phát triển bền vững.

Tầm nhìn đặt trong bối cảnh

Đại dịch Covid-19 đã thúc đẩy các doanh nghiệp tại Việt Nam nhanh chóng chuyển đổi số Trong bối cảnh dịch bệnh, nhiều công ty đã áp dụng hình thức làm việc từ xa, chuyển đổi các cuộc họp và giao việc sang hình thức trực tuyến Sự thay đổi này không chỉ đơn thuần là về phương thức làm việc mà còn bao gồm việc điều chỉnh mô hình quản lý và lãnh đạo, giúp các doanh nghiệp thích nghi và duy trì hoạt động hiệu quả trong thời kỳ khó khăn.

Trong bối cảnh dịch bệnh kéo dài, nhiều doanh nghiệp nhận thấy tiềm năng của internet chưa được khai thác triệt để Họ không chỉ thay đổi phương thức quản trị mà còn điều chỉnh cách bán hàng Việc đưa sản phẩm đến tay khách hàng qua hình thức online giúp mở rộng nguồn khách hàng và kéo dài thời gian tiếp cận.

Chuyển đổi số trong quản trị và tiếp thị giúp doanh nghiệp giảm chi phí quản lý, nâng cao hiệu quả kinh doanh và tăng tính cạnh tranh Sự thay đổi và khả năng thích ứng nhanh với điều kiện sẽ hỗ trợ doanh nghiệp phát triển bền vững và lâu dài.

Trong bối cảnh hiện nay, việc thu hút đầu tư từ các doanh nghiệp vừa và nhỏ nước ngoài vào Việt Nam đang trở nên quan trọng Để hỗ trợ các doanh nghiệp này, Việt Nam cần xây dựng các chính sách ưu đãi đầu tư cụ thể, giúp họ dễ dàng tiếp cận mặt bằng sản xuất Đồng thời, cần tạo ra một môi trường kinh doanh thuận lợi hơn để khuyến khích các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào thị trường Việt Nam.

Các nhà đầu tư ngày càng chú trọng đến tính công khai, minh bạch, ổn định và dễ dự báo của chính sách, cùng với thủ tục hành chính đơn giản và thời gian thực hiện quy định Đặc biệt, đối với các công ty có vốn đầu tư FDI, việc dễ chấp nhận các dự án quy mô nhỏ, công nghệ thấp đã không mang lại hiệu quả kinh tế lâu dài cho các địa phương Để thu hút FDI chất lượng, các địa phương cần áp dụng nguyên tắc chọn lọc, ưu tiên dự án công nghệ cao, dịch vụ hiện đại và đáp ứng nhanh chóng yêu cầu của các tập đoàn xuyên quốc gia trong quá trình đàm phán và triển khai.

Sau đại dịch, Việt Nam cần điều chỉnh kịp thời chính sách đầu tư nước ngoài để phù hợp với biến động kinh tế toàn cầu và chiến lược thu hút FDI của các nước Đồng thời, cần xây dựng lợi thế cạnh tranh riêng trong việc thu hút đầu tư Chính phủ cần xác định rõ danh mục ngành, lĩnh vực cần thu hút đầu tư nước ngoài và các lĩnh vực dành riêng cho nhà đầu tư trong nước.

Ngày đăng: 25/04/2022, 08:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Tạp chí Nghiên cứu khoa học kiểm toán số 96 - 10/2015, công thông tin điện tử kiểm toán nhà mước Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu khoa học kiểm toán số 96
Nhà XB: công thông tin điện tử kiểm toán nhà mước Việt Nam
Năm: 2015
6. Thông tấn xã Việt Nam (2020). “Thúc đẩy chuyển giao, phát triển công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thúc đẩy chuyển giao, phát triển công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam
Tác giả: Thông tấn xã Việt Nam
Năm: 2020
7. ThS. Phạm Thiên Hoàng (2019), “Tầm quan trọng của khu vực FDI đối với phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tầm quan trọng của khu vực FDI đối với phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam
Tác giả: ThS. Phạm Thiên Hoàng
Năm: 2019
8. Hồng Kiều (2021), “Thị trường lao động 2021 khởi sác theo làn sóng dòng vốn FDI” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường lao động 2021 khởi sác theo làn sóng dòng vốn FDI
Tác giả: Hồng Kiều
Năm: 2021
2. Báo cáo nghiên cứu: Đầu tư trực tiếp của Australia vào Việt Nam. Đánh giá hiệu quả thực tế và Những giải pháp chính sách_Trung tâm WTO và Hội nhập Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

II.1.3. Hình thức đầu tư FDI vào Việt Nam - hoạt động của hệ thống tài chính
1.3. Hình thức đầu tư FDI vào Việt Nam (Trang 13)
Biểu đồ II. 4. Cơ cấu vốn đăng ký dự án FDI vào Việt Nam theo hình thức đầu tư (lũy kế đến đầu 2020) - hoạt động của hệ thống tài chính
i ểu đồ II. 4. Cơ cấu vốn đăng ký dự án FDI vào Việt Nam theo hình thức đầu tư (lũy kế đến đầu 2020) (Trang 14)
- Sai số trong mô hình phải tuđn theo quy luật phđn phối chuẩn -  Trung bình câc sai số của mô hình phải bằng không - hoạt động của hệ thống tài chính
ai số trong mô hình phải tuđn theo quy luật phđn phối chuẩn - Trung bình câc sai số của mô hình phải bằng không (Trang 19)
Hình II.2. Số liệu doanh thu thuần của doanh nghiệp FDI (2012-2019) - hoạt động của hệ thống tài chính
nh II.2. Số liệu doanh thu thuần của doanh nghiệp FDI (2012-2019) (Trang 24)
Hình II. 4. Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (2012-2019) - hoạt động của hệ thống tài chính
nh II. 4. Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (2012-2019) (Trang 28)
Hình II. 3. Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu thuần của doanh nghiệp FDI (2012- (2012-2019) - hoạt động của hệ thống tài chính
nh II. 3. Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu thuần của doanh nghiệp FDI (2012- (2012-2019) (Trang 28)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w