I-Các vấn đề chung của vi phạm pháp luật1.Khái niệm Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật do chủ thể có năng lực hành vi thực hiện, có lỗi và xâm hại đến quan hệ xã hội mà pháp luậ
Trang 1ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ GIAO THÔNG VẬN
TẢI KHOA CHÍNH TRỊ - QPAN - GDTC
*****
TIỂU LUẬN HỌC PHẦN: PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
Câu hỏi tiểu luận : Trình bày các vấn đề chung của vi phạm pháp luật?
Liên hệ bản thân trong vấn đề hạn chế các vi phạm pháp luật?
HÀ NỘI-2022 MỤC LỤC
Giảng viên hướng dẫn : Lê Thị Huyền
Trang 2Mở
đầu 3
Nội dung
I.ND quyền con người,quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân theo quy định Hiến pháp 2013
4 1.Quyền con người 4
a) Quyền chính trị
Quyền bầu cử, ứng cử 6
b) Quyền về kinh tế, văn hóa-xã hội 7
Quyền tự do kinh doanh 7
Quyền lao động 8
Quyền tự do làm việc 8
Quyền tự do dân chủ, tự do cá nhân 9
1 Nghĩa vụ cơ bản của công dân
11 Nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc 11
Nghĩa vụ nộp thuế 12
Nghĩa vụ học tập 12
Trang 3Nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp và Pháp luật Việt Nam 13
II.Những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam hiện nay 13
MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
Trang 4I-Các vấn đề chung của vi phạm pháp luật
1.Khái niệm
Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật do chủ thể có năng lực hành vi thực hiện, có lỗi và xâm hại đến quan hệ xã hội mà pháp luật bảo vệ
Ví dụ : Khi tham gia giao thông trên đường quốc lộ 39B, An chạy xe máy không đội mũ bảo hiểm Chính vì vậy hành vi của An đã vi phạm pháp luật giao thông đường bộ
2.Đặc điểm của vi phạm pháp luật
Vi phạm pháp luật luôn là hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội được con người thực hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động Ý tưởng ,
tư tưởng chưa thể hiện thành hành vi bị pháp luật cấm thì chưa thể gọi là vi phạm pháp luật theo phép duy vật biện chứng
Trong giai đoạn Việt Nam đang xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay, việc giáo dục nâng cao nhận thức của công dân về đặc điểm này của vi phạm pháp luật rất là bổ ích và cần thiết Từ đó công dân có thể tiếp cận vấn
đề trên ba bình diện chính
Bình diện thứ nhất là về mặt lịch sử, quan điểm chỉ được phép truy cứu trách nghiệm pháp lí đối với hành vi mà không truy cứu trách nghiệm đối với quan điểm, tư tưởng, đạo đức, cách suy nghĩ của con người đã được nói đến từ thế kỉ XVIII bởi một đại diện tiêu biểu của chủ nghĩa không tưởng, luật gia người Pháp S.Monteskio đã từng viết “ các đạo luật nhất thiết chỉ được trừng phạt những hành vi bên ngoài”
Bình diện thứ hai là về mặt triết học, sang thế kỉ XIX, nhà luật học thiên tài người Đức C Mark đã cho rằng: “Không ai có thể bị tống giam vào tù trên
cơ sở tư cách đạo đức, trên cơ sở các quan điểm chính trị và tín giáo của mình” và ông khẳng định: “Các đạo luật chống lại khuynh hướng, các đạo luật lấy tiêu chí chính không phải là những hành vi, mà là cách suy nghĩ của
Trang 5con người, điều đó-chẳng có gì hơn, mà chẳng qua chỉ là các chế tài đích thực của tình trạng vơ pháp luật”
Bình diện thứ ba là về mặt pháp luật, nhân loại tiến bộ và cộng đồng quốc tế
đã thống nhất đi đến một luận điểm thừa nhận hành vi được con người thực hiện một cách có ý thức và có ý chí trong thực tế khách quan thì nó mới bị nhà làm luật coi là vi phạm pháp luật
Vi phạm pháp luật phải là hành vi trái pháp luật vì bằng hành động hoặc không hành động nó đã xâm phạm đến các quy định tương ứng các lợi ích được pháp luật bảo vệ mà nhà làm luật điều chỉnh trong từng ngành luật cụ thể tức là vi phạm điều cấm được quy định trong luật Biết được đặc điểm thứ hai của vi phạm pháp luật sẽ giúp cho công dân hiểu mình được làm những gì
và không được làm những gì, tránh được “những cái chết” do sự thiếu hiểu biết của mình
Vi phạm pháp luật phải là hành vi được thực hiện bởi người có năng
lực trách nhiệm pháp lý Dưới góc độ khoa học có thể hiểu: người có năng lực pháp lý là người tại thời điểm thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật cấm ở trong trạng thái bình thường và hồn tồn có khả năng nhận thức được đầy đủ tính chất thực tế và tính chất pháp lý của hành vi do mình thực hiện, cũng như khả năng điều khiển được đầy đủ hành vi đó
Vi phạm pháp luật phải là hành vi do người đủ tuổi chịu trách nhiệm pháp
lý thực hiện Dưới góc độ khoa học có thể hiểu người dủ tuổi chịu trách nhiệm pháp lý là người mà tại thời điểm phạm tội đã đạt đến độ tuổi do ngành luật tương ứng quy định để có thể có khả năng nhận thức được đầy
đủ ích chất thực tế và tích chất pháp lý của hành vi do mình thực hiện, cũng như có khả năng điều khiển được đầy đủ hành vi đó
3.Các yếu tố cấu thành của vi phạm pháp luật
Trang 6Cấu thành vi phạm pháp luật là toàn bộ những yếu tố, những bộ phận làm thành một vi phạm pháp luật cụ thể, bao gồm mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan và khách thể
3.1 Mặt khách quan của vi phạm pháp luật
Mặt khách quan của vi phạm pháp luật: những biểu hiện ra bên ngoài thế giới khách quan của vi phạm pháp luật
Khoa học pháp lý phân biệt 2 hình thức biểu hiện của hành vi trái pháp luật
là hành động và ko hành động hành động: chủ thể có hành vi bị pháp luật cấm ; ko hành động: chủ thể ko thực hiện sự bắt buộc của pháp luật)
Sự thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây ra cho xã hội được gọi là hậu quả của vi phạm pháp luật
Biểu hiện: sự biến đổi tình trạng bt của các quan hệ xã hội bị xâm hại, có thể là thiệt hại cụ thể như tài sản, tính mạng hoặc trừu tượng như nhân phẩm, danh dự Cách nó gây thiệt hại cho xã hội là cơ sở đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội của vi phạm pháp luật
Giữa hành vi trái pháp luật và hậu quả nó gây ra có mối quan hệ nhân quả
3.2 Chủ thể của vi phạm pháp luật
Chủ thể của vi phạm pháp luật là cá nhân, tổ chức có năng lực trách nhiệm pháp lý đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật
Đầu tiên là của cá nhân Đây là những con người cụ thể, họ có năng lực trách nhiệm pháp lý xác định trên cơ sở tuổi, khả năng nhận thức
Thứ hai là về tổ chức Đây là những nhóm người có liên kết chặt chẽ, thành lập hoạt động nhằm đạt mục tiêu nhất định Ta phân biệt rõ rang tổ chức là chủ thể vi phạm pháp luật phải là tổ chức hợp pháp , khác hoàn toàn với vi phạm pháp luật có tổ chức Ở đây ý chỉ một nhóm người liên kết với nhau cùng vi phạm pháp luật, sự tồn tại của họ là bất hợp pháp
3.3 Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật
Trang 7Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật là những biểu hiện tâm lý bên trong của chủ thể vi phạm pháp luật
Đầu tiên là lỗi của chủ thể vi phạm pháp luật Lỗi ở đây là thể hiện thái độ tiêu cực của chủ thể Chủ thể bị coi là có thái độ tiêu cực đối với xã hội khi
họ có ý thức phủ định lợi ích xã hội Dựa vào thái độ có 2 loại lỗi: lỗi cố ý
và lỗi vô ý
Lỗi cố ý là chủ thể có ý thức để xảy ra thiệt hại cho xã hội Ở đây ta lại chia
ra 2 loại cố ý: cố ý trực tiếp- mong muốn hậu quả xảy ra và cố ý gián tiếp- mặc hậu quả xảy ra Sự khác biệt rõ nhất là ở thái độ của người vi phạm đối với hậu quả do hành vi họ gây ra
Lỗi vô ý là chủ thể không chủ ý gây thiệt hại Có 2 loại vô ý Đó là do quá
tự tin cân nhắc và loại trừ khả năng gây hậu quả Hoặc là do vô ý do cẩu thả- chủ thể có nghĩa vụ tuân theo quy tắc nhất định nhưng do cẩu thả nên
đã không thực hiện gây nên thiệt hại
Thứ hai, về động cơ vi phạm Nó là động lực bên trong thúc đẩy chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật Ta nên phân biệt rõ ràng động cơ hành
vi nói chung và động cơ vi phạm pháp luật Theo tâm lý học, hành vi của con người trong trạng thái tâm lý bt được thúc đẩy bởi động cơ nào đó do nhu cầu, xúc cảm, tình cảm và sự tác động của thế giới bên ngoài Còn vi phạm pháp luật chỉ có yếu tố động cơ khi và chỉ khi người vi phạm nhận thức được hành vi của họ là vi phạm pháp luật Do đó chỉ có những vi phạm có lỗi cố ý mới có yếu tố động cơ
Thứ ba là về mục đích vi phạm Nó là kết quả trong ý thức mà chủ thể vi phạm pháp luật đặt ra và mong muốn đạt được khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật Chỉ những vi phạm pháp luật với lỗi cố ý trực tiếp mới có yếu tố mục đích Ta phân biệt như sau Thứ nhất là mục đích của vi phạm pháp luật và mục đích của hành vi nói chung Thứ hai là mục đích của vi
Trang 8phạm pháp luật.Nó là kết quả trong ý thức, còn hậu quả của vi phạm pháp luật là kết quả thực tế
3.4 Khách thể vi phạm pháp luật:
Là những quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ những vị hành vi vi phạm pháp luật xâm hại Một hành vi vi phạm pháp luật có thể xâm phạm đồng thời một hoặc nhiều quan hệ xã hội hay một hành vi vi phạm có thể có nhiều khách thể, các khách thể có tầm quan trọng sống xã hội Nó có tính chất của khách thể, đó là cơ sở để đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm pháp luật Ta có thể phân biệt giữa khách thể vi phạm pháp luật và đối tượng của vi phạm pháp luật như sau Đối tượng của vi phạm pháp luật là những sự vật hiện tượng cụ thể mà khi tác động lên nó, người vi phạm gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ (xâm hại các quan hệ xã hội, vi phạm pháp luật tác động đến từng bộ phận cấu thành nên ghệ xã hội đó Vì vậy bộ phận đó là đối tượng vi phạm pháp luật)
4.Các loại vi phạm pháp luật
Là cơ sở để xác định loại trách nghiệm pháp lý thích hợp Chia làm 4 loại vi phạm pháp luật chính Đó là những vi phạm sau:
Thứ nhất là vi phạm hình sự (tội phạm) Nó mang tính nguy hiểm cho xã hội ở mức cao nhất, xâm phạm những quan hệ xã hội quan trọng nhất trong
hệ thống quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ
Thứ hai là vi phạm hành chính Nó mang tính nguy hiểm cho xã hội thấp hơn tội phạm
Thứ ba là vi phạm kỷ luật Nhà nước Đó là vi phạm trong trường hợp chủ thể ko thực hiện hoặc thực hiện ko đầy đủ nghĩa vụ của họ trong một quan
hệ pháp luật được xác lập trong nội bộ cơ quan, tổ chức thuộc phạm vi quản
lý Nhà nước Ta phân biệt giữa vi phạm kỷ luật Nhà nước và kỷ luật của các
tổ chức khác trong xã hội (bởi mỗi tổ chức đều có kỷ luật của nó, đó là những quy tắc xử sự được đặt ra cho các thành viên của tổ chức nhằm đảm
Trang 9bảo trật tự trong hoạt động tổ chức đó)
Thứ tư là vi phạm dân sự Đó là vi phạm pháp luật trong trường hợp chủ thể
ko thực hiện hoặc thực hiện ko đúng, ko đầy đủ nghĩa vụ của họ trong một quan hệ pháp luật dân sự cụ thể
II-Liên hệ bản thân trong vấn đề hạn chế
Có 2 nguyên nhân cơ bản dẫn tới việc thanh niên vi phạm pháp luật Đó là nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan
Đầu tiên, nguyên nhân khách quan ở đây là là những nguyên nhân bắt nguồn từ gia đình, nhà trường và xã hội.Bản thân những yếu tố trên (gia đình, nhà trường và xã hội) có ảnh hưởng không nhỏ tới việc hình thành và
sự phát triển lành mạnh về đạo đức và ý thức của mỗi thanh niên Ngay từ khi còn nhỏ, gia đình là nền tảng hình thành nhân cách cho mỗi người Thực tế cho thấy, phần lớn thanh niên vi phạm pháp luật đều có hoàn cảnh gia đình không tốt, thiếu sự quan tâm, các bậc phụ huynh thì buông lỏng con em khiến cho chúng có cơ hội tiếp cận với văn hóa không tốt, hình thành trong suy nghĩ những hành vi phạm pháp Nhà trường là bước đi đầu tiên cho mỗi người bước ra khỏi sự chở che của gia đình, từ bạn bè, thanh thiếu niên dễ dang tiếp thu cả những thói quen xấu và tốt Có nhiều trường hợp do ghen tỵ với bạn bè mà nhiều thanh niên đã trở thành kẻ sát nhân, gây ra những vụ án động trời làm đau lòng các bậc làm cha mẹ Theo sau nhà trường, môi trường lớn, phức tạp và nhiều cám dỗ hơn là xã hội Khi bên ngoài luôn xảy ra nhiều trường hợp vi phạm pháp luật nghiêm trọng, đe dọa sự tồn tại yên bình của xã hội thì đó chính là nguồn khiến cho tâm lý của thanh niên bị ảnh hưởng Đơn cử là dưới sự phát triển của công nghệ thông tin, các văn hoá phẩm mạng được lưu truyền rộng rãi, việc không kiểm soát được toàn bộ các nội dung tranh ảnh, phim truyện, video truyền tải tới người nghe, người xem, người đọc khiến không ít văn hoá phẩm
Trang 10mạng có tính bạo lực, kích động thanh niên vi phạm pháp luật được truyền tải đi và được hoan nghênh, cổ suý trong lớp trẻ Việc thanh niên bắt chước theo các video có nội dung vi phạm diễn ra rất nhiều Và một thực trạng đang buồn là chính thể hệ trẻ em có vẻ cũng thích thú và khá đam mê với các nội dung không lành mạnh đó
Thứ hai, nguyên nhân chủ quan ở đây là nguyên nhân gây ra bởi chính bản thân mỗi người Gia đình, nhà trường và xã hội chỉ là một phần Cái chính
là xuất phát từ ý thức chủ quan của cá nhân người thanh niên Sống trong một môi trường tốt, được tạo điều kiện hết sức để phát triển nhưng nếu những thanh niên đó cố tình đi lệch lạc thì điều tất yếu không tránh khỏi là gây ra tai họa cho mình và ảnh hưởng nghiêm trọng tới người bị hại (như trường hợp của Nguyễn Đức Nghĩa) Xét cho cùng, trong các nguyên nhân trên, nguyên nhân nào cũng quan trọng Trước thực trạng và nguyên nhân trên, thiết nghĩ cần phải đề ra những giải pháp khắc phục tình trạng thanh niên vi phạm pháp luật một cách có hiệu quả
Hầu hết thực trạng vi phạm pháp luật trong giới trẻ xảy ra rất nhiều trong cuộc sống Theo thống kê của các cơ quan pháp luật gần đây cho thấy rằng tình hình vi phạm pháp luật của thanh niên ngày càng tăng Các loại vi phạm pháp luật không chỉ tăng về số lượng mà chủ thể và tính chất nguy hiểm của vụ việc cũng tăng lên Đáng báo động là tình trạng vi phạm pháp luật của thanh niên diễn ra ở nhiều lĩnh vực của đời sống như: kinh tế, xã hội, an ninh trật tự, văn hóa….Theo số liệu của Cục cảnh sát điều tra tội phạm hình sự – Bộ Công An, chỉ riêng trong 5 năm (2000 – 2005) thực hiện
đề án 4 Đấu tranh phòng chống tội phạm xâm hại trẻ em và phạm tội trong lứa tuổi vị thành niên thuộc Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm,
đã phát hiện 47.000 vụ vi phạm pháp luật hình sự do 64.500 người trong độ tuổi vị thành niên gây ra Trong đó, đối tượng từ 16 – 18 tuổi chiếm 52% Phạm tội giết người có 616 người, chiếm 1,3%; phạm tội cướp, cưỡng đoạt, cướp giật có 5169 người, chiếm 11%; phạm tội trộm cắp tài sản có 30.235
Trang 11người, chiếm 64,3%; phạm tội cố ý gây thương tích, gây mất trật tự công cộng có 10.188 người, chiếm 21,6%.Từ năm 2005 – 2007, tình hình phạm tội ở lứa tuổi thành niên đang có dấu hiệu ngày càng cao hơn, cả về mức độ lẫn sự nghiêm trọng của các vụ án Chỉ trong năm 2006, riêng trẻ em dưới
14 tuổi có gần 8000 vụ vi phạm pháp luật, chiếm đến 70% tội phạm vị thành niên (VTN) Con số này là một lời cảnh báo về tình trạng trẻ em nhỏ tuổi phạm tội Đặc biệt đáng lo ngại là cùng với sự phát triển của đất nước, thời gian gần đây (hầu hết là ở những thành phố lớn, nơi đô thị có điều kiện kinh tế xã hội phát triển) đã nổi lên tình trạng một số thanh niên, học sinh sinh viên, độ tuổi từ 14 đến 18, tụ tập ăn chơi thác loạn hoặc hình thành các băng nhóm tội phạm, tổ chức các vụ cướp giật, giết người hoặc đâm chém nhau hết sức nghiêm trọng, gây xôn xao dư luận mà các phương tiện thông tin đại chúng đã thường xuyên đăng tải Thống kê của ngành Công an cho biết hiện tại cả nước có khoảng 20.000 trẻ em trong độ tuổi tới trường lang thang bụi đời, tụ tập băng nhóm ngoài xã hội Đó chính là mầm mống của tội phạm đã và đang nảy sinh trong lứa tuổi VTN Tình trạng vi phạm pháp luật của thanh niên ngày càng tăng theo mỗi năm Theo tổng kết sơ bộ của Tổng cục Cảnh sát phòng chống tội phạm (Bộ Công an), trong 6 tháng đầu năm 2011, Cục đã xử lý 15.000 vụ phạm pháp hình sự, xử lý trên 22.000 đối tượng, trong đó có hơn 75% là thanh thiếu niên Điều đáng nói là so với những năm trước, đối tượng phạm tội ngày càng trẻ hóa và hành vi phạm tội cũng như tính chất mức độ phạm tội ngày càng nghiêm trọng hơn Và cho tới nay, những thanh niên vi phạm pháp luật gây ra những sự vụ nghiêm trọng vẫn chưa có sự giảm đáng kể Đơn cử là theo Báo cáo nghiên cứu pháp luật về phòng ngừa, xử lý, phục hồi tái hoà nhập cộng đồng đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật và tình hình người chưa thành niên vi phạm pháp luật tại Việt Nam của nhóm tác giả trong khuôn khổ