VAI TRÒ CỦA NỀN SẢN XUẤT HÀNG HÓA TRONG SỰ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN ĐỒNG BỘ CÁC LOẠI THỊTRƯỜNG Phần mở đầu 1.. Đề tài này nghiên cứu lý luận và thực tiễn về “Vai trò của nềnsản
Trang 1VAI TRÒ CỦA NỀN SẢN XUẤT HÀNG HÓA TRONG SỰ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN ĐỒNG BỘ CÁC LOẠI THỊ
TRƯỜNG Phần mở đầu
1 Sự cần thiết của đề tài
Sản xuất hàng hoá đã từng tồn tại trong nhiều hình thái kinh tế
- xã hội Trong các hình thái xã hội trước Chủ nghĩa tư bản, sảnxuất hàng hoá chưa phát triển Đến thời kỳ Tư bản chủ nghĩa, nó
đã phát triển tới đỉnh cao nhất, trở thành quan hệ thống trị, phổbiển trong xã hội
Cho đến xã hội xã hội chủ nghĩa, sản xuất hàng hoá vẫn còn,quy luật giá trị - quy luật kinh tế của sản xuất hàng hoá vẫn cònhoạt động, mặc dù mục đích của sản xuất xã hội chủ nghĩa lànhằm thoả mãn nhu cầu vật chất và văn hoá của mọi thành viêntrong xã hội, chứ không phải để buôn bán nhằm thu lợi nhuận Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, sảnxuất hàng hóa được ví như một mắt xích quan trọng trong guồngmáy của nền kinh tế, đóng vai trò quan trọng, nhất là trong xu thếhội nhập và phát triển như hiện nay, không những góp phần đắclực vào quá trình thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế phát triển mà còn
mở rộng quan hệ giao lưu, hợp tác quốc tế về lĩnh vực khác
Trong thời đại nền kinh tế mở và cạnh tranh như hiện nay, mỗiquốc gia phải tìm ra hướng đi đúng đắn cho nền kinh tế, phù hợpvới điều kiện kinh tế, hoàn cảnh đất nước Chính vì vậy, nghiêncứu về vai trò của nền sản xuất hàng hóa trong thị trường là đặcbiệt quan trọng
Đề tài này nghiên cứu lý luận và thực tiễn về “Vai trò của nềnsản xuất hàng hóa trong sự tăng trưởng kinh tế và phát triển đồng
bộ các loại thị trường” để từ đó tìm ra những kết luận mới phục
vụ cho nền kinh tế đất nước
2 Đối tượng nghiên cứu
Nền sản xuất hàng hóa trong sự tăng trưởng kinh tế và pháttriển đồng bộ các loại thị trường
3 Phạm vi nghiên cứu
Nền sản xuất hàng hóa ở thị trường Việt Nam hiện nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 2Phương pháp thu thập, nghiên cứu tài liệu
Phương pháp thống kê, tổng hợp
Phương pháp phân tích, đánh giá, so sánh
5 Giới thiệu nội dung nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu và tài liệu tham khảo thì đề tài gồm có bachương:
Chương 1: Khái quát lý luận về nền sản xuất hàng hóa và thịtrường
Chương 2: Vai trò và tác dụng của tiến trình đổi mới sang nềnsản xuất hàng hóa
Chương 3: Một số khuyến nghị nhằm phát huy vai trò của nềnsản xuất hàng hóa
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT LÝ LUẬN VỀ NỀN SẢN XUẤT HÀNG
HÓA VÀ THỊ TRƯỜNG
1.1 Nền sản xuất hàng hóa
Lịch sử phát triển của nền sản xuất đã và đang trải qua haikiểu tổ chức kinh tế, đó là sản xuất tự cung tự cấp và sản xuấthàng hóa
Hàng hóa: Hàng hóa là sản phẩm của người lao động có thểthỏa mãn nhu cầu nào đó của con người và dùng để trao đổi vớinhau
Sản xuất hàng hóa: Là sản xuất ra sản phẩm để bán Hay nóicách khác, sản xuất hàng hóa là cách thức tổ chức sản xuất màtrong đó, sản phẩm làm ra không phải để đáp ứng nhu cầu tiêudùng của chính người trực tiếp sản xuất ra nó mà để đáp ứng nhucầu tiêu dùng của người khác thông qua trao đổi, mua bán
*Sản xuất hàng hóa ra đời, tồn tại dựa trên hai điều kiện:
Thứ nhất: Phân công lao động xã hội
Phân công lao động xã hội là sự chuyên môn hóa sản xuất, phân chia lao động xã hội ra thành các ngành, các lĩnh vực sản xuất khác nhau.Do sự phân công lao động xã hội nên việc trao đổisản phẩm trở thành tất yếu
Trang 3Khi có phân công lao động xã hội, mỗi người chỉ sản xuất một hoặc một vài thứ sản phẩm nhất định, nhưng nhu cầu của cuộc sống đòi hỏi họ phải có nhiều loại sản phẩm khác nhau, do đó, họ cần đến sản phẩm của nhau, buộc phải trao đổi với nhau
Phân công lao động xã hội, chuyên môn hóa sản xuất đồng thời làm cho năng suất lao động tăng lên, sản phẩm thặng dư ngày càng nhiều nên càng thúc đẩy sự trao đổi sản phẩm
Thứ hai: Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những người sản xuất
Những người sản xuất trở thành những chủ thể có sự độc lập nhất định với nhau Do đó sản phẩm làm ra thuộc quyền sở hữu của các chủ thể kinh tế, người này muốn tiêu dùng sản phẩm lao động của người khác cần phải thông qua trao đổi, mua bán hàng hoá
Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất: Sự tách biệt này là do quan hệ sở hữu khác nhau và sự phát triển xã hội hóa khác nhau về tư liệu sản xuất quy định Do đó, sản phẩm làm ra thuộc quyền sở hữu của họ và do họ chi phối, người này muốn tiêu dùng sản phẩm của người khác phải thông qua trao đổi, mua bán
Đó là hai điều kiện cần và đủ của sản xuất hàng hóa, nếu thiếu một trong hai điều kiện thì không có sản xuất hàng hóa và sản phẩm lao động không mang hình thái hàng hóa
* So với sản xuất tự cung, tự cấp, sản xuất hàng hóa có những
ưu thế hơn hfn:
a.Sản xuất hàng hóa ra đời trên cơ sở của phân công lao động xã hội, chuyên môn hóa sản xuất Do đó, nó khai thác được những lợithế về tự nhiên, xã hội, kĩ thuật của từng người, từng cơ sở sản xuất cgng như từng vùng, từng địa phương
Đồng thời, sự phát triển của sản xuất hàng hóa lại có tác động trở lại, thúc đẩy sự phát triển của phân công lao động xã hội, làm cho chuyên môn hóa lao động ngày càng tăng, mối liên hệ giữa các ngành, các vùng ngày càng trở nên mở rộng, sâu sắc
Trang 4Từ đó, nó phá vh tính tự cấp tự túc, bảo thủ, trì trệ, lạc hậu củamỗi ngành, mỗi địa phương làm cho năng suất lao động xã hội tăng lên nhanh chóng, nhu cầu của xã hội được đáp ứng đầy đủ hơn Khi sản xuất và trao đổi hàng hóa mở rộng giữa các quốc gia,thì nó còn khai thác được lợi thế của các quốc gia với nhau.
b Trong nền sản xuất hàng hóa, qui mô sản xuất không còn bị giới hạn bởi nhu cầu và nguồn lực mang tính hạn hip của mỗi cá nhân, gia đình, mỗi cơ sở, mỗi vùng, mỗi địa phương, mà nó được
mở rộng, dựa trên cơ sở nhu cầu và nguồn lực của xã hội Điều đó lại tạo điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng những thành tựu khoa học - kĩ thuật vào sản xuất thúc đẩy sản xuất phát triển
c Trong nền sản xuất hàng hóa, sự tác động của qui luật vốn có của sản xuất và trao đổi hàng hóa là qui luật giá trị, cung - cầu, cạnh tranh buộc người sản xuất hàng hóa phải luôn luôn năng động, nhạy bjn, biết tính toán, cải tiến kĩ thuật, hợp lí hoá sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế, cải tiến hình thức, qui cách và chủng loại hàng hóa, làm cho chi phí sản xuất hạ xuống đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng ngày càng cao hơn
d Trong nền sản xuất hàng hóa, sự phát triển của sản xuất, sự mởrộng và giao lưu kinh tế giữa các cá nhân, giữa các vùng, giữa cácnước không chỉ làm cho đời sống vật chất mà cả đời sống văn hóa, tinh thần cgng được nâng cao hơn, phong phú hơn, đa dạng hơn
Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, sản xuất hàng hóa cgng có những mặt trái của nó như phân hóa giàu - nghko giữa những người sản xuất hàng hóa, tiềm ẩn những khả năng khủng hoảng, phá hoại môi trường sinh thái, xã hội, v.v
Trong nền sản xuất hàng hoá, giữa lao động tư nhân và lao động xã hội có mâu thuẫn với nhau Mâu thuẫn đó là mâu thuẫn
cơ bản của nền sản xuất hàng hoá giản đơn Mâu thuẫn này biểu hiện ra khi :
+ Sản xuất của người sản xuất hàng hoá nhỏ và nhu cầu của
xã hội không ăn khớp với nhau Hoặc sản xuất không đủ cung cấpcho xã hội, hoặc sản xuất vượt quá khả năng tiêu thụ của xã
hội.Trong trường hợp sản xuất vượt quá khả năng tiêu thụ của xã
Trang 5hội thì sẽ có một số hàng hoá không bán được, tức là không thực hiện được giá trị Sở dĩ có tình hình đó là do sản xuất dựa trên chế
độ tư hữu làm cho người sản xuất không thể biết được xã hội cần những gì và cần bao nhiêu
+ Mức tiêu hao lao động cá biệt của người sản xuất hàng hoá không phù hợp với mức tiêu hao lao động mà xã hội có thể chấp nhận được Nếu tiêu hao quá mức, xã hội không có khả năng thanh toán, tất nhiên hàng hoá sẽ không bán được.Mâu thuẫn giữa lao động tư nhân và lao động xã hội chứa đựng khả năng sảnxuất "thừa" và là mầm mống của mọi mâu thuẫn của kinh tế hànghoá trong tiến trình phát triển của lịch sử
1.2 Thị trường:
- Khái niệm thị trường: Thị trường là tổng hòa những quan
hệ kinh tế trong đó nhu cầu của các chủ thể được đáp ứng thông qua việc trao đổi, mua bán với sự xác định giá cả và số lượng hàng hóa, dịch vụ tương ứng với trình độ phát triển nhất định của nền sản xuất xã hội
Như vậy, thị trường có thể được nhận diện ở cấp độ cụ thể, quan sát được như chợ, cửa hàng, quầy hàng lưu động, phòng giao dịch hay siêu thị và nhiều hình thức tổ chức giao dịch, mua bán khác
Ở cấp độ trừu tượng hơn, thị trường cgng có thể được nhận diện thông qua các mối quan hệ liên quan đến trao đổi, mua bán hàng hóa, dịch vụ trong xã hội, được hình thành do những điều kiện lịch sử, kinh tế, xã hội nhất định Theo nghĩa này, thị trường
là tổng thể các mối quan hệ kinh tế gồm cung, cầu, giá cả; quan
hệ hàng – tiền; quan hệ giá trị, giá trị sử dụng; quan hệ hợp tác, cạnh tranh; quan hệ trong nước, ngoài nước,… Đây cgng là các yếu tố của thị trường
(Theo David Begg, Stanley Fisher, Rudiger Dornbusch, Kinh
tế học, tập 2, Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội 1992: Thị trường là
sự biểu hiện thu gọn của quá trình mà thông qua đó các quyết định của các gia đình về tiêu dùng các mặt hàng nào, các quyết định của các công ty về sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và các quyết định của người công nhân về việc làm bao lâu cho ai đều được dung hòa bằng sự điều chỉnh giá cả.)
- Phân loại thị trường:
Trang 6Căn cứ theo đối tượng trao đổi, mua bán cụ thể, có các loại thị trường như: thị trường hàng hóa, thị trường dịch vụ Trong mỗi loạithị trường này lại có thể cụ thể ra thành các thị trường theo các loại hàng hóa, dịch vụ khác nhau rất phong phú.
Căn cứ vào phạm vi các quan hệ, có các loại thị trường trong nước, thị trường thế giới
Căn cứ vào vai trò của các yếu tố được trao đổi, mua bán, có thịtrường tư liệu tiêu dùng, thị trường tư liệu sản xuất
Căn cứ vào tính chất và cơ chế vận hành, chia ra thị trường tự
do, thị trường có điều tiết, thị trường cạnh tranh hoàn hảo, thị trường cạnh tranh không hoàn hảo (độc quyền)
Ngày nay, các nền kinh tế phát triển ngày càng nhanh và phức tạp hơn, do đó hệ thống thị trường cgng biến đổi phù hợp với điềukiện, trình độ phát triển của nền kinh tế Vì vậy, để tổ chức có hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, đòi hỏi phải hiểu rõ về bản chất hệ thống thị trường, những quy luật kinh tế cơ bản của thị trường và các vấn đề liên quan khác
- Các chủ thể chính tham gia thị trường:
+ Người sản xuất:
Người sản xuất hàng hóa là những người sản xuất và cung cấp hàng hóa, dịch vụ ra thị trường nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội Người sản xuất bao gồm các nhà sản xuất, đầu tư, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ,… Họ là những người trực tiếp tạo
ra của cải vật chất, sản phẩm cho xã hội để phục vụ tiêu dùng.Người sản xuất là những người sử dụng các yếu tố đầu vào để sản xuất, kinh doanh và thu lợi nhuận Nhiệm vụ của họ không chỉlàm thỏa mãn nhu cầu hiện tại của xã hội, mà còn tạo ra và phục
vụ cho những nhu cầu trong tương lai với mục tiêu đạt lợi nhuận tối đa trong điều kiện nguồn lực có hạn Vì vậy, người sản xuất luôn phải quan tâm đến việc lựa chọn sản xuất hàng hóa nào, số lượng bao nhiêu, sản xuất với các yếu tố nào sao cho có lợi nhất.Ngoài mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận, người sản xuất cần phải có trách nhiệm đối với con người, trách nhiệm cung cấp những hàng hóa và dịch vụ không làm tổn hại tới sức khỏe và lợi ích của con người trong xã hội
+ Người tiêu dùng:
Người tiêu dùng là những người mua hàng hóa, dịch vụ trên thị trường để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng Sức mua của người tiêu dùng là yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của người sản xuất Sự phát triển đa dạng về nhu cầu của người tiêu dùng là động lực quan trọng của sự phát triển sản xuất, ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất
Trang 7Người tiêu dùng có vai trò rất quan trọng trong định hướng sản xuất Do đó, trong điều kiện nền kinh tế thị trường, người tiêu dùng ngoài việc thỏa mãn nhu cầu của mình, cần phải có trách nhiệm đối với sự phát triển bền vững của xã hội.
Lưu ý, việc phân chia người sản xuất, người tiêu dùng chỉ có tínhchất tương đối để thấy được chức năng chính của các chủ thể này khi tham gia thị trường Trên thực tế, doanh nghiệp luôn đóng vai trò vừa là người mua cgng vừa là người bán
+ Các chủ thể trung gian trong thị trường:
Chủ thể trung gian là những cá nhân, tổ chức đảm nhiệm vai tròcầu nối giữa các chủ thể sản xuất, tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ trên thị trường
Do sự phát triển của sản xuất và trao đổi dưới tác động của phân công lao động xã hội, làm cho sự tách biệt tương đối giữa sản xuất và trao đổi ngày càng sâu sắc Trên cơ sở đó xuất hiện những chủ thể trung gian trong thị trường Những chủ thể này có vai trò ngày càng quan trọng để kết nối, thông tin trong các quan
hệ mua, bán
Nhờ vai trò của các trung gian này mà nền kinh tế thị trường trởnên sống động, linh hoạt hơn Hoạt động của các trung gian trongthị trường làm tăng cơ hội thực hiện giá trị của hàng hóa cgng nhưthỏa mãn nhu cầu mua của người tiêu dùng Các chủ thể trung gian làm tăng sự kết nối giữa sản xuất và tiêu dùng, làm cho sản xuất và tiêu dùng trở nên ăn khớp với nhau
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện đại ngày nay, các chủ thể trung gian thị trường không phải chỉ có các trung gian thương nhân mà còn rất nhiều các chủ thể trung gian phong phú trên tất cả các quan hệ kinh tế như: trung gian môi giới chứng khoán, trung gian môi giới nhà đất, trung gian môi giới khoa học công nghệ,… Các trung gian trong thị trường không những hoạt động trên phạm vi thị trường trong nước mà còn trên phạm vi quốc tế Bên cạnh đó cgng có nhiều loại hình trung gian không phù hợp với các chuẩn mực đạo đức (lừa đảo, môi giới bất hợp pháp, ) Những trung gian này cần được loại trừ
+ Nhà nước:
Trong nền kinh tế thị trường, xjt về vai trò kinh tế, nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về kinh tế đồng thời thực hiện những biện pháp để khắc phục những khuyết tật của thi trường
Với trách nhiệm như vậy, một mặt, nhà nước thực hiện quản trị phát triển nền kinh tế thông qua việc tạo lập môi trường kinh tế tốt nhất cho các chủ thể kinh tế phát huy sức sáng tạo của họ
Trang 8Việc tạo ra các rào cản đối với hoạt động sản xuất kinh doanh từ phía nhà nước sẽ làm kìm hãm động lực sáng tạo của các chủ thể sản xuất kinh doanh Các rào cản nhu vậy phải được loại bỏ Việc này đòi hỏi mỗi cá nhân có trách nhiệm trong bộ máy quản lý nhànước phải nhận thức được trách nhiệm của mình là thúc đẩy phát triển, không gây cản trở sự phát triển của nền kinh tế thị trường.Cùng với đó, nhà nước còn sử dụng các công cụ kinh tế để khắc phục các khuyết tật của nền kinh tế thị trường, làm cho nền kinh
tế thị trường hoạt động hiệu quả
1.3 Cơ chế thị trường và Kinh tế thị trường:
- Cơ chế thị trường: là hệ thống các quan hệ mang tính tự điều chỉnh tuân theo yêu cầu của các quy luật kinh tế
Cơ chế thị trường là phương thức cơ bản để phân phối và sử dụng các nguồn vốn, tài nguyên, công nghệ, sức lao động, thông tin, trí tuệ,… trong nền kinh tế thị trường Đây là một kiểu cơ chế vận hành nền kinh tế mang tính khách quan, do bản thân nền sảnxuất hàng hóa hình thành Cơ chế thị trường được A.Smith ví như
là một bàn tay vô hình có khả năng tự điều chỉnh các quan hệ kinh tế
tế thị trường sơ khai đến kinh tế thị trường hiện đại ngày nay Kinh
tế thị trường là sản phẩm của văn minh nhân loại
+ Đặc trưng:
Có sự đa dạng của các chủ thể kinh tế, nhiều hình thức sở hữu Các chủ thể kinh tế bình đfng trước pháp luật
Thị trường đóng vai trò quyết định trnog việc phân
bổ các nguồn lực xã hội thông qua hoạt động của các thị trường
bộ phận như thị trường tài chính, thị trường bất động sản, thị trường khoa học công nghệ,…
Trang 9 Giá cả được hình thành theo nguyên tắc thị trường; cạnh tranh vừa là môi trường, vừa là động lực thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh; động lực trực tiếp của các chủ thểsản xuất kinh doanh là lợi nhuận và lợi ích kinh tế - xã hội khác; nhà nước là chủ thể thực hiện chức năng quản lý, chức năng kinh tế; thực hiện khắc phục những khuyết tật của thị trường, thúc đẩynhững yếu tố tích cực, đảm bảo sự bình đfng xã hội và sự ổn địnhcủa toàn bộ nền kinh tế.
Là nền kinh tế mở, thị trường trong nước quan hệ mật thiết với thị trường quốc tế
Chương 2: Vai trò và tác dụng của tiến trình đổi mới sang
nền sản xuất hàng hóa
2.1 Giai đoạn trước đổi mới:
- Đặc điểm mô hình tổ chức kinh tế:
Trước năm 1986, kinh tế Việt Nam là kinh tế bao cấp Kinh tế bao cấp là nền kinh tế chỉ bao gồm các thành phần kinh tế quốc
doanh, tập thể và cá thể, mà giữ vai trò chủ đạo là kinh tế quốc doanh Trong thời kì này, không tồn tại kinh tế tư nhân, không có các hoạt động thương mại buôn bán tự do trên thị trường Kinh tế bao cấp hoạt động theo kiểu toàn dân làm cho nhà nước và nhà nước bao cấp cho toàn dân, mọi người làm theo năng lực và
hưởng theo nhu cầu Nhà nước quyết định giá trị tài sản, thiết bị, vật tư, hàng hóa thấp hơn nhiều lần so với giá trị thực với chúng trên thị trường Do đó, hạch toán kinh tế chỉ là hình thức
Với nền kinh tế kế hoạch, ngành kinh tế thương nghiệp tư nhận bị loại bỏ hoàn toàn, được coi là không hợp pháp trong nền kinh tế chính thống Theo đó, hàng hóa sẽ phân phối tới người dân theo chế độ tem phiếu do nhà nước điều hành, nắm toàn quyền Thời kìnày, việc vận chuyển hàng hóa tự do giữa các địa phương, mua bán trên thị trường bị xóa bỏ hoàn toàn Hàng hóa do nhà nước phân phối độc quyền và hạn chế trao đổi bằng tiền mặt Việc phân phối lương thực, thực phẩm sẽ dựa theo đầu người, xjt theo
hộ khẩu Do đó, chế độ hộ khẩu được hình thành Nổi bật nhất là
sổ gạo, trong đó có ấn định số lượng và các mặt hàng được phjp mua dựa trên số khẩu trong một gia đình
Trang 10- Kết quả hạn chế của nền kinh tế:
Dưới thời bao cấp, do thiếu hàng hóa nên việc phân phối hàng hóa chủ yếu dựa vào hệ thống tem phiếu Thị trường chợ đen vẫn tồn tại nhưng không phải kênh phân phối hàng hóa chính Mua hàng gì thì có tem phiếu hàng đó Một phần tiêu biểu của thời kỳ bao cấp là đồng tiền Việt Nam bị mất giá Lương công nhân đôi khi cgng được trả bằng hiện vật vì giá trị đồng tiền cứ sụt dần Nếu lấy đồng lương năm 1978 làm chuẩn thì số tiền đó năm 1980 chỉ là 51,1% Đến năm 1984 thì còn 32,7%
Giáo sư Trần Văn Thọ viết về tình trạng kinh tế 10 năm đầu sau chiến tranh: "Mười năm sau 1975 là một trong những giai đoạn tốităm nhất trong lịch sử Việt Nam Chỉ nói về mặt kinh tế, là một nước nông nghiệp (năm 1980, 80% dân số sống ở nông thôn và 70% lao động là nông dân) nhưng Việt Nam thiếu ăn, nhiều người phải ăn bo bo trong thời gian dài Lượng lương thực tính trên đầu người giảm liên tục từ năm 1976 đến 1979, sau đó tăng trở lại nhưng cho đến năm 1981 vẫn không hồi phục lại mức năm 1976 Công thương nghiệp cgng đình trệ, sản xuất đình đốn, vật dụng hằng ngày thiếu thốn, cuộc sống của người dân vô cùng khốn khó.Ngoài những khó khăn của một đất nước sau chiến tranh và tình hình quốc tế bất lợi, nguyên nhân chính của tình trạng nói trên là
do sai lầm trong chính sách, chiến lược phát triển, trong đó nổi bật nhất là sự nóng vội trong việc áp dụng mô hình xã hội chủ nghĩa trong kinh tế ở miền Nam Nguy cơ thiếu ăn kjo dài và những khó khăn cùng cực khác làm phát sinh hiện tượng "phá rào" trong nông nghiệp, trong mậu dịch và trong việc quyết định giá cả lương thực đã cải thiện tình hình tại một số địa phương Nhưng phải đợi đến đổi mới (tháng 12/1986) mới có biến chuyển thực sự Do tình trạng đó, tổng sản phẩm trong nước (GDP) của Việt Nam trong 10 năm trước đổi mới chỉ tăng 35%, trong thời gian đó dân số tăng 22% Như vậy, GDP đầu người trung bình tăng chỉ độ 1% (mỗi năm)"
- Sự hạn chế của các loại thị trường:
Thị trường tự do bị xem là bất hợp pháp và bị hạn chế nên hàng hóa lưu thông trên thị trường chợ đen ít và giá rất cao Người dân, cán bộ công nhân viên thường bán hàng tiêu dùng mà họ không
sử dụng ra thị trường chợ đen
Trước tình hình trì trệ, khủng khoảng của kinh tế và bối cảnh các nước xã hội chủ nghĩa lâm nguy, Việt Nam thực hiện công cuộc
Trang 11đổi mới toàn diện trên phạm vi cả nước, theo hướng kinh tế thị trường có sự định hướng xã hội chủ nghĩa.
2.2 Giải đoạn đổi mới sang nền sx hàng hoá từ năm 1986 về sau
*Đặc điểm mô hình tổ chức kinh tế
- Sau khi đất nước giải phóng cho tới năm 1985, cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp và mô hình công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa kiểu Xô viết đã được áp dụng rộng rãi trên
cả nước •
Từ 1986 - 1997 Từ năm 1986 đến nay, trong các kỳ đại hội, Đảng
ta tiếp tục làm rõ nội dung và phương thức đổi mới cơ chế quản lýkinh tế theo hướng “xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, thành cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa” Đây thực chất là quá trình đổi mới cả hệ thống các công cụ, chính sách quản lý kinh tế, tạo lập đồng bộ các yếu tố quản lý và tăng cường chức năng quản lý của Nhà nước
• Giai đoạn 1998 -2001 Mô hình tăng trưởng kinh tế giai đoạn này là: tận dụng thời cơ hướng tới xuất khâủ Các đột phá chính trong thời kỳ này có thể nêu ra:
- Tiếp tục chính sách mở cửa thu hút vốn đầu tư nước ngoài và đẩy mạnh quá trình cải cách hành chính
- Đẩy mạnh công tác cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
- Ưu đãi với doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu, dệt may,
da giày xuất khẩu
• Giai đoạn 2001 – 2006
- Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã khfng định tính tất yếu của toàn cầu hoá, chỉ rõ ràng khả năng tận dụng những cơ hội mà hội nhập kinh tế quốc tế mang lại để tránh khỏi nguy cơ tụt hậu, thực hiện phương châm đối ngoại “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối táctin cậy với các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà