Lí do chọn đề tài Trong những năm gần đây, cùng với xu thế toàn cầu hóa, các nước trên thế giới đang nỗ lực tăng cường quan hệ hợp tác, liên kết với nhau nhằm duy trì hòa bình, ổn định v
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Thực trạng và giải pháp phát triển quan hệ thương mại giữa
Việt Nam và Nhật Bản
Họ và tên thành viên nhóm: Nguyễn Anh Tú
Nguyễn Thị Hương Thảo Dương Thu Trang Lại Nguyễn Đức Giang
Lớp: CTTT (B2+B1)- 8 ngành -K65S
Mã lớp: 123267
Giáo viên hướng dẫn:
Trang 2TÓM TẮT
Vào những năm đầu của thập kỷ 90 trở lại đây, việc mở rộng hội nhập và hợp tác kinh
tế đã và đang trở thành một xu thế tất yếu của quá trình phát triển nền kinh tế Những lợi íchkinh tế của việc hội nhập kinh tế quốc tế đã mang lại cho mỗi thành viên tham gia, những lợiích kinh tế mà không một quốc gia nào có thể phủ nhận Việt Nam cũng vậy, để đẩy mạnhquá trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá, Đảng và nhà nước ta đã và đang thực hiện chínhsách đối ngoại rộng mở, đa dạng hoá và đa phương hóa quan hệ kinh tế quốc tế, lấy mục tiêu
vì hoà bình và phát triển làm tiêu chuẩn cho mọi hoạt động đối ngoại Đồng thời, trong bốicảnh phân công lao động quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ, việc hợp tác kinh tế quốc tế… đã vàđang trở thành cách tốt nhất để các quốc gia phát huy được tối đa lợi thế của mình, cũng nhưkhai thác triệt để những lợi ích của các quốc gia khác để phục vụ cho nước mình
Không nằm ngoài xu thế trên, cả Việt Nam và Nhật Bản đều đã tìm thấy ở nhaunhững điều kiện thuận lợi, cũng như lợi ích kinh tế của bản thân mỗi nước khi xây dựng, pháttriển và củng cố mối quan hệ hợp tác song phương giữa hai nước Bên cạnh những kết quảkhả quan đã đạt được, trong quan hệ thương mại giữa Việt Nam - Nhật Bản còn có một sốhạn chế cần được khắc phục, loại bỏ nhằm phát triển hơn nữa cho xứng với tiềm năng của hainước, đưa mối quan hệ này lên tầm cao mới Việc nghiên cứu những thành tựu và những mặt
tồn tại đó là rất cần thiết nên nhóm tác giả quyết định nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và giải pháp phát triển thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản”.
Từ khóa: hội nhập kinh tế quốc tế, quan hệ thương mại, quá trình phát triển
Trang 3MỤC LỤC
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ MỐI QUAN HỆ
THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM – NHẬT BẢN 8
1.1 Khái quát về Hội nhập kinh tế quốc tế 8
1.1.1 Khái niệm Hội nhập kinh tế quốc tế 8
1.1.2 Đường lối Hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng Cộng sản Việt Nam 12
1.2 Khái quát về mối quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản 14
1.2.1 Giới thiệu về Nhật Bản 14
1.2.2 Lịch sử quan hệ Việt Nam – Nhật Bản 17
1.2.3 Ý nghĩa của quan hệ thương mại Việt Nam-Nhật Bản 20
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM
2.1.1 Hiệp định song phương ASEAN- Nhật Bản (AJEPA) 22
2.1.2 Hiệp định về quan hệ đối tác kinh tế toàn diện ASEAN- Nhật Bản (AJCEP) 23
2.1.3 Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam- Nhật Bản 26
2.1.4 Thực trạng mối quan hệ hiện nay 29
3.1 Triển vọng quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản 35
3.2 Những giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại giữa Việt Nam - Nhật Bản 35
3.2.1 Giải pháp chung từ phía nhà nước 35
3.2.2 Giải pháp chủ động từ phía doanh nghiệp 37
3.3 Khuyến nghị nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại giữa Việt Nam - Nhật Bản 38
3.3.1 Khuyến nghị đưa ra đối với nhà nước 38
3.3.2 Khuyến nghị đưa ra đối với các doanh nghiệp 38
Trang 4KẾT LUẬN 40
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
AFTA ASEAN Free Trade Area Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
ASEM The Asia - Europe Meeting Diễn đàn kinh tế Á-Âu
Asia - Pacific Economic
Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương
AJEPA ASEAN-Japan
Ecomomic Partnership
Agreement
Hiệp định song phương ASEAN-Nhật Bản
VJEPA Vietnam -Japan
FTA Free Trade Agreement Hiệp định thương mại tự do
WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế giới
AHTN ASEAN Harmonised Tariff
Nomenclature
Danh mục thuế quan hài hoà ASEAN
CKD Completely Knocked Down Xe lắp trong nước với 100% linh kiện
được nhập khẩu
Trang 5ODA Official Development
Assistance
Hỗ trợ Phát triển Chính thức, một hình thức đầu tư nước ngoài
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
ADB ASEAN Development Bank Ngân hàng phát triển châu Á
DANH MỤC BẢNG BIỂU
BIỂU ĐỒ 1.1: Tình hình kinh tế Nhật Bản trong thập niên mất mát 1
7BIỂU ĐỒ 1.2: Số vốn và số dự án đầu tư trực tiếp của Nhật Bản và Việt Nam 2
3BIỂU ĐỒ 2.1: Bảng thống kê danh mục cam kết của Việt Nam trong AJCEP 2
4BIỂU ĐỒ 2.2: Bảng phân tán số dòng thuế được xóa bỏ thuế quan theo ngành 2
6BIỂU ĐỒ 2.3: Bảng thống kê danh mục cam kết của Việt Nam trong EPA 2
7BIỂU ĐỒ 2.4: Bảng phân tán số dòng thuế được xóa bỏ thuế quan theo ngành củaViệt Nam trong Hiệp định EPA
28BIỂU ĐỒ 2.5: Tỷ trọng xuất nhập khẩu Việt Nam – Nhật Bản 2
9BIỂU ĐỒ 2.6: Mặt hàng xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam vào Nhật Bản 3
0BIỂU ĐỒ 2
7: Mặt hàng nhập khẩu hàng đầu của Việt Nam vào Nhật Bản
32
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, cùng với xu thế toàn cầu hóa, các nước trên thế giới đang
nỗ lực tăng cường quan hệ hợp tác, liên kết với nhau nhằm duy trì hòa bình, ổn định và cùngnhau phát triển, Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế chung ấy mà mối quan hệ hợp táctoàn diện giữa Việt Nam và Nhật Bản là một điển hình
Nói đến Nhật Bản, chúng ta đều nghĩ đến một đất nước hùng mạnh về kinh tế, đadạng về văn hóa với nhiều danh lam thắng cảnh và người dân thân thiện, là một trong nhữngnước viện trợ vốn ODA và là nhà đầu tư lớn nhất cho Việt Nam trong những năm gần đây làcường quốc luôn ủng hộ Việt nam trên các diễn đàn chính trị, kinh tế thế giới , đã góp phầnkhông nhỏ trong việc giúp Việt Nam trên bước đường hội nhập và phát triển kinh tế, tái hòanhập với cộng đồng quốc tế
Trang 7Ngày nay, mối quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản đã bước sang một trang mới, làmối quan hệ đối tác chiến lược, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài và tin tưởng lẫn nhau ViệtNam và Nhật Bản cùng hướng đến một mục đích chung, cùng hợp tác phát triển, cùng phấnđấu vì nền hòa bình trong khu vực và trên thế giới
Nhận thức được tầm quan trọng trong mối quan hệ mật thiết giữa Việt Nam và NhậtBản trong giai đoạn này, nhóm tác giả quyết định chọn “Thực trạng và giải pháp phát triểnquan hệ thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản” làm đề tài nghiên cứu khoa học
2 Mục đích của đề tài
Nhóm tác giả mong muốn nghiên cứu về mối quan hệ thương mại giữa Việt Nam vàNhật Bản trong những năm qua, từ đó thấy được thực trạng, những triển vọng của hai nướcđồng thời đưa ra những giải pháp thúc đẩy quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là mối quan hệ thương mại giữa Việt Nam và NhậtBản Cụ thể là về quan hệ thương mại giữa hai nước Việt Nam - Nhật Bản cùng với những tácđộng kinh tế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
4 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi tiếp cận của đề tài: Tiếp cận từ góc độ của kinh tế chính trị
Phạm vi thời gian nghiên cứu: Từ năm 2010 cho đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp đề tài sử dụng bao gồm: Phương pháp duy vật biện chứng, phươngpháp duy vật lịch sử, phương pháp tổng hợp và phương pháp phân tích
6 Kết cấu bài nghiên cứu
Ngoài danh mục chữ viết tắt, danh mục bảng biểu, phần mở đầu và kết luận, bàinghiên cứu bao gồm 3 chương như sau:
- Chương 1: Khái quát về hội nhập kinh tế quốc tế và mối quan hệ thương mại giữa Việt Nam - Nhật Bản.
- Chương 2: Thực trạng phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản từ năm 2010 đến nay.
- Chương 3: Giải pháp phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản.
Trang 8CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ MỐI QUAN HỆ THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM – NHẬT BẢN
1.1 Khái quát về Hội nhập kinh tế quốc tế
1.1.1 Khái niệm Hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 9mạng lưới giao thông, thúc đẩy lưu thông hàng hóa trong toàn bộ lãnh địa chiếm đóng rộnglớn của họ và áp đặt đồng tiền của họ cho toàn bộ các nơi.
Hội nhập kinh tế, hiểu theo một cách chặt chẽ hơn, là việc gắn kết mang tính thể chếgiữa các nền kinh tế lại với nhau.Khái niệm này được Béla Balassa đề xuất từ thập niên 1960
và được chấp nhận chủ yếu trong giới học thuật và lập chính sách Nói rõ hơn, hội nhập kinh
tế là quá trình chủ động thực hiện đồng thời hai việc: một mặt, gắn nền kinh tế và thị trườngtừng nước với thị trường khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực thực hiện mở cửa và thúcđẩy tự do hóa nền kinh tế quốc dân; và mặt khác, gia nhập và góp phần xây dựng các thể chếkinh tế khu vực và toàn cầu
Theo Giáo trình Kinh tế quốc tế thì Hội nhập kinh tế quốc tế là sự gắn kết nền kinh tếcủa mỗi quốc gia vào các tổ chức hợp tác kinh tế khu vực và toàn cầu, trong đó mối quan hệgiữa các nước thành viên có sự ràng buộc theo những quy định chung của khối Nói cáchkhác, Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình các quốc gia thực hiện mô hình kinh tế mở, tựnguyện tham gia vào các định chế và tài chính quốc tế, thực hiện thuận lợi hóa và tự do hóathương mại, đầu tư và các hoạt động kinh tế đối ngoại khác.(theo NXB Đại học kinh tế quốcdân ,xuất bản năm 2019)
Từ những quan điểm trên về Hội nhập kinh tế quốc tế có thể đưa ra khái niệm tổngquát như sau: “Chủ thể của hội nhập kinh tế quốc tế trước hết là các quốc gia, chủ thể chínhcủa quan hệ quốc tế có đủ thẩm quyền và năng lực đàm phán, ký kết và thực hiện các cam kếtquốc tế.Bên cạnh chủ thể chính này, các chủ thể khác cùng hợp thành lực lượng tổng hợptham gia vào quá trình hội nhập”
1.1.1.2 Tính chất
♦ Hội nhập kinh tế quốc tế là đòi hỏi khách quan của toàn cầu hóa kinh tế
Toàn cầu hóa là khái niệm dùng để miêu tả các thay đổi trong xã hội và trong nền kinh tế thếgiới, tạo ra bởi mối liên kết và trao đổi ngày càng tăng giữa các quốc gia, các tổ chức hay các
cá nhân ở góc độ văn hóa, kinh tế trên quy mô toàn cầu
Theo Manfred B Steger thì toàn cầu hóa là “chỉ một tình trạng xã hội được tiêu biểubởi những mối hỗ trợ liên kết toàn cầu chặt chẽ về kinh tế, chính trị, văn hóa, môi trường vàcác luồng luân lưu đã khiến cho nhiều biên giới và ranh giới đang hiện hữu thành không cònthích hợp nữa”
Toàn cầu hoá đang là xu hướng tất yếu và ngày càng được mở rộng Toàn cầu hoádiễn ra trên nhiều phương diện: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội v.v trong đó, toàn cầu hoákinh tế là xu thế nổi trội nhất, nó vừa là trung tâm vừa là cơ sở và cũng là động lực thúc đẩytoàn cầu hoá các lĩnh vực khác
Toàn cầu hoá kinh tế chính là sự gia tăng nhanh chóng các hoạt động kinh tế vượt quamọi biên giới quốc gia, khu vực, tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế trong sựvận động phát triển hướng tới một nền kinh tế thế giới thống nhất Sự gia tăng của xu thế này
Trang 10được thể hiện ở sự mở rộng mức độ và qui mô mậu dịch thế giới, sự lưu chuyển của các dòngvốn và lao động trên phạm vi toàn cầu
Trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế, khu vực hóa kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế trởthành tất yếu khách quan:
(1) Toàn cầu hóa kinh tế là sản phẩm của phân công lao động quốc tế nhưng mặt khác
nó đã lôi cuốn tất cả các nước vào hệ thống phân công lao động quốc tế, các mối liên hệ quốc
tế của sản xuất và trao đổi ngày càng gia tăng, khiến cho nền kinh tế của các nước trở thànhmột bộ phận hữu cơ và không thể tách rời nền kinh tế toàn cầu
(2) Trong toàn cầu hóa kinh tế, các yếu tố sản xuất được lưu thông trên phạm vi toàncầu, thương mại quốc tế được mở rộng chưa từng thấy, đầu tư trực tiếp, chuyển giao côngnghệ, truyền bá thông tin, lưu động nhân viên, du lịch…đều phát triển rất mạnh, kết hợp vớinhau để hình thành một hệ thống thị trường thế giới phát triển
Trong điều kiện đó, nếu không tham gia vào hội nhập kinh tế quốc tế, các nước khôngthể tự đảm bảo được các điều kiện cần thiết cho sản xuất trong nước
Hội nhập kinh tế quốc tế là cách thức thích ứng trong phát triển của các nước trongđiều kiện toàn cầu hóa gắn với nền kinh tế thông tin Cách mạng công nghiệp nói chung, đặcbiệt là cách mạng công nghiệp 4.0 tạo ra cơ hội để các quốc gia đang phát triển có thể nhanhchóng rút ngắn khoảng cách tụt hậu so với các nước phát triển; là công cụ, phương tiện hữuhiệu để có thể giải quyết những vấn đề toàn cầu đã và đang xuất hiện ngày càng nhiều Để tậndụng được các thành tựu của cách mạng công nghiệp, biến nó thành động lực thực sự cho sựphát triển kinh tế, xã hội và con người thì không còn cách nào hơn là phải tích cực tham gia
và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
1.1.1.3.Tính tất yếu khách quan của hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình từng bước xây dựng một nền kinh tế mở, gắn kếtnền kinh tế trong nước với nền kinh tế khu vực và thế giới, là xu thế khách quan không mộtquốc gia nào có thể đứng ngoài cuộc Hội nhập không phải là một hiện tượng mới Tuy nhiên,đến quá trình toàn cầu hóa mới từ những thập niên 80 trở lại đây, hội nhập kinh tế quốc tếmới trở thành một trào lưu, cuốn hút sự tham gia của tất cả các nước Hội nhập kinh tế quốc
tế được thúc đẩy bởi yếu tố chính sau:
Do tác động của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, những nước có tiềm lực khoahọc công nghệ yếu phải liên kết với nhau hoặc liên kết với những nước có tiềm lực khoa họccông nghệ lớn để phát triển ,học hỏi.Không chỉ có vậy, những tác động tích cực của cuộccách mạng khoa học-công nghệ đối với sản xuất và phát triển là rất lớn ,đòi hỏi các nướcphải cùng hợp tác để tạo ra những phát minh ,sáng kiến thiết thực nhằm nâng cao năng suất
và hiệu quả
Do tác động của toàn cầu hóa kinh tế, bắt buộc tất cả các nước phải bắt tay với nhautạo thành 1 chuỗi liên kết liên tục về khoa học, chính trị, văn hóa xuyên biên giới, xuyên lụcđịa.Với những lợi ích kinh tế, cơ hội rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển giữa các
Trang 11quốc gia mà quá trình toàn cầu hóa mang lại , không một quốc gia nào muốn đứng ngoàicuộc.
Sự phát triển của phân công lao động quốc tế
Phân công lao động quốc tế là sự phân công lao động giữa các quốc gia trên phạm vithế giới, được hình thành khi sự phân công lao động xã hội vượt ra ngoài biên giới một quốcgia do sự phát triển của lực lượng sản xuất Phân công lao động quốc tế ngày càng phát triển
và bao trùm toàn bộ nền kinh tế thế giới Điều kiện để phát triển phân công lao động quốc tếbao gồm:
(1) Sự khác biệt giữa các quốc gia về điều kiện tự nhiên, do đó, các quốc gia phải dựavào những ưu thế về tài nguyên thiên nhiên để chuyên môn hoá sản xuất, phát huy lợi thế sosánh và điều kiện địa lí của mình
(2) Sự khác biệt giữa các quốc gia về trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, trình
độ phát triển của khoa học - kĩ thuật và công nghệ, về truyền thống sản xuất, lực lượng sảnxuất
(3) Trong một phạm vi nhất định, chịu ảnh hưởng và sự tác động của chế độ kinh tế
-xã hội của đất nước Phân công lao động quốc tế chính là tiền đề cho sự hình thành các quan
hệ kinh tế quốc tế
Ngày nay, dưới tác động của sự phát triển lực lượng sản xuất và toàn cầu hóa kinh tế
đã dẫn đến phân công quốc tế mới về lao động Nếu phân công quốc tế "cũ" về lao động, cácnước, các khu vực kém phát triển được sát nhập vào nền kinh tế thế giới chủ yếu với tư cách
là nhà cung cấp khoáng sản và nông sản thì trong phân công lao động quốc tế mới có sựchuyển dịch không gian của các ngành công nghiệp sản xuất từ các nước tư bản tiên tiến sangcác nước đang phát triển Không gian phân công lao động không còn giới hạn trong phạm viquốc gia
Sự phát triển của phân công lao động quốc tế làm cho nền kinh tế của các nước ngàycàng gắn chặt vào nền kinh tế toàn cầu, hình thành các mối quan hệ vừa lệ thuộc, vừa tươngtác lẫn nhau trong một chỉnh thể khiến cho hội nhập kinh tế quốc tế trở thành xu thế chungcủa thế giới
1.1.1.4 Các hình thức hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế có thể diễn ra theo nhiều mức độ Theo đó hội nhập kinh tếquốc tế có thể được coi là nông, sâu tùy vào mức độ tham gia của một nước vào các quan hệkinh tế đối ngoại, các tổ chức kinh tế quốc tế hoặc khu vực Theo đó, tiến trình hội nhập kinh
tế được chia thành năm mức độ cơ bản từ thấp đến cao là: Thỏa thuận thương mại ưu đãi(PTA), Khu vực mậu dịch tự do (FTA), Liên minh thuế quan (CU), Thị trường chung (hay thịtrường duy nhất), Liên minh kinh tế - tiền tệ
Xét về hình thức, hội nhập kinh tế quốc tế là toàn bộ các hoạt động kinh tế đối ngoạicủa một nước gồm nhiều hình thức đa dạng như: ngoại thương, đầu tư quốc tế, hợp tác quốc
tế dịch vụ thu ngoại tệ…
Trang 12♦ Ngoại thương:
Ngoại thương, hay còn gọi là thương mại quốc tế, là sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ(hàng hoá hữu hình và vô hình) giữa các quốc gia thông qua hoạt động xuất nhập khẩu Trongcác hoạt động kinh tế đối ngoại, ngoại thương giữ vị trí trung tâm và có tác dụng to lớn: tăngtích luỹ cho nền kinh tế nhờ sử dụng có hiệu quả lợi thế so sánh giữa các quốc gia trong traođổi quốc tế; là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; “điều tiết thừa thiếu” trong mỗi nước;nâng cao trình độ công nghệ và cơ cấu ngành nghề trong nước; tạo công ăn việc làm và nângcao đời sống của người lao động nhất là trong các ngành xuất khẩu
Ngày nay, ngoại thương thế giới có những đặc điểm mới như: tốc độ tăng trưởngngoại thương nhanh hơn tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc dân; tốc độ tăng trưởng hànghóa vô hình nhanh hơn so với hàng hóa hữu hình, tỷ trọng xuất khẩu hàng nguyên liệu thôgiảm trong khi dầu mỏ, khí đốt và sản phẩm công nghệ chế biến tăng nhanh Các điều kiệnthương mại, thanh toán, thuế quan cũng có thay đổi lớn do thực hiện các cam kết quốc tế củacác nước thành viên trong các tổ chức thương mại quốc tế
♦ Hợp tác về sản xuất kinh doanh và khoa học công nghệ
Xí nghiệp chung hay hỗn hợp là kiểu tổ chức xí nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ và tổchức tài chính - tín dụng tồn tại một cách phổ biến ở nhiều nước Về mặt pháp lý, xí nghiệpchung thường được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần Các xí nghiệp này thường được
ưu tiên xây dựng ở những ngành kinh tế quốc dân hướng vào xuất khẩu hay thay thế hàngnhập khẩu và trở thành nguồn thu ngoại tệ chuyển đổi hay tạo điều kiện cho nhà nước tiếtkiệm ngoại tệ
Hợp tác sản xuất quốc tế trên cơ sở chuyên môn hoá theo quy trình công nghệ là hìnhthức hợp tác sản xuất trong đó mỗi bên chịu trách nhiệm sản xuất một bộ phận hay chi tiếtsản phẩm trong quá trình tạo nên sản phẩm cuối cùng
Hợp tác khoa học công nghệ được thực hiện dưới nhiều hình thức, như trao đổi tàiliệu kỹ thuật và thiết kế, mua bán giấy phép, trao đổi kinh nghiệm, chuyển giao công nghệ,phối hợp nghiên cứu khoa học - kỹ thuật, hợp tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và người laođộng
♦ Đầu tư quốc tế
Đầu tư quốc tế (xuất khẩu tư bản) là quá trình đầu tư vốn ra nước ngoài nhằm mụcđích sinh lợi Có hai loại hình đầu tư quốc tế: đầu tư trực tiếp (FDI) và đầu tư gián tiếp (FII).Đầu tư trực tiếp (xuất khẩu tư bản hoạt động) là hình thức đầu tư mà quyền sở hữu và quyền
sử dụng quản lý vốn của người đầu tư thống nhất với nhau, tức là người có vốn đầu tư trựctiếp tham gia vào việc tổ chức, quản lý và điều hành dự án đầu tư, chịu trách nhiệm về kếtquả, rủi ro trong kinh doanh và thu lợi nhuận
Đầu tư quốc tế trực tiếp được thực hiện dưới các hình thức: người đầu tư tự lập ra xínghiệp mới; mua hoặc liên kết với xí nghiệp nước ngoài; đầu tư mua cổ phiếu; hợp tác kinhdoanh trên cơ sở hợp đồng; xí nghiệp liên doanh mà vốn do hai bên cùng góp theo tỷ lệ nhất
Trang 13định để hình thành xí nghiệp mới có hội đồng quản trị và ban điều hành chung; xí nghiệp100% vốn nước ngoài; hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT), BTO, BT Thông qua các hình thức trên mà các khu chế xuất, khu công nghiệp mới, khu công nghệcao được hình thành và phát triển.
Đầu tư gián tiếp (Lênin gọi là xuất khẩu tư bản cho vay) là loại hình đầu tư mà quyền
sở hữu tách rời quyền sử dụng vốn đầu tư, tức là người có vốn không trực tiếp tham gia vàoviệc tổ chức, điều hành dự án mà thu lợi dưới hình thức lợi tức cho vay (nếu là vốn cho vay)hoặc lợi tức cổ phần (nếu là vốn cổ phần), hoặc có thể không thu lợi trực tiếp (nếu cho vay ưuđãi)
♦ Các hình thức dịch vụ thu ngoại tệ, du lịch quốc tế
Du lịch quốc tế: Du lịch là nhu cầu khách quan, vốn có của con người Kinh tế càngphát triển, năng suất lao động càng cao thì nhu cầu du lịch - nhất là du lịch quốc tế càng tăng
vì thu nhập của con người tăng lên, thời gian nhàn rỗi, nghỉ ngơi cũng nhiều hơn
Vận tải quốc tế: Vận tải quốc tế là hình thức chuyên chở hàng hoá và hành khách giữahai nước hoặc nhiều nước Vận tải quốc tế sử dụng các phương thức như: đường biển, đườngsắt, đường bộ (ô tô), đường hàng không trong các phương thức đó, vận tải đường biển cóvai trò quan trọng nhất Việt Nam có vị trí địa lý quan trọng, lại có nhiều hải cảng thuận tiệncho vận tải đường biển nên có thể phát huy thế mạnh của mình thông qua việc đẩy mạnh vậntải quốc tế
Xuất khẩu lao động ra nước ngoài và tại chỗ: Việt Nam với dân số trên 90 triệu người,kinh tế chưa phát triển, là một nước có thương mại lao động lớn Việc xuất khẩu lao độngmang lại nhiều lợi ích trước mắt và lâu dài Xuất khẩu lao động góp phần thu được lượngngoại tệ đáng kể cho người trực tiếp lao động và cho ngân sách nhà nước; người lao độngđược rèn luyện tay nghề và thói quen hoạt động công nghiệp ở các nước có nền kinh tế pháttriển Khi hết hạn hợp đồng về nước, sẽ trở thành lực lượng lao động có chất lượng; góp phầngiải quyết việc làm, giảm được tỷ lệ thất nghiệp
1.1.2 Đường lối Hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng Cộng sản Việt Nam
Sơ lược về quá trình Hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam thông qua các kỳ đại hội:
Tại thời điểm đầu những năm 90 của thế kỉ XX, hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thànhmột xu thế của thời đại, diễn ra mạnh mẽ trên nhiều phương diện với sự xuất hiện của nhiềukhối kinh tế, mậu dịch trên thế giới Đối với một nước kinh tế còn thấp kém, lạc hậu như ViệtNam tại thời điểm đó, hội nhập kinh tế quốc tế là con đường để rút ngắn khoảng cách với cácnước khác trong khu vực và trên thế giới, phát huy những lợi thế và tìm cách khắc phục hạnchế thông qua việc học hỏi kinh nghiệm của các nước Nhận thức được vai trò, tầm quantrọng của hội nhập kinh tế quốc tế, trong suốt thời gian qua, Đảng đã nhất quán chủ trươngphải tăng cường hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới
Đại hội VI mở đầu cho thời kỳ đổi mới đất nước, Đảng ta đưa ra chủ trương tranh thủnhững điều kiện thuận lợi về hợp tác kinh tế và khoa học kỹ thuật, tham gia ngày càng rộngrãi vào việc phân công và hợp tác quốc tế trong “Hội đồng tương trợ kinh tế và mở rộng với
Trang 14các nước khác” Đây chính phương hướng trước tiên nhất khởi đầu cho các chủ trương tiếptheo của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế.
Tới Đại hội VII, Đảng ta định hướng “đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ với cácquốc gia, các tổ chức kinh tế" Tại Đại hội VIII, thuật ngữ “hội nhập” bắt đầu được đề cậptrong các văn kiện của Đảng: “Xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thếgiới”
Đại hội IX của Đảng đã đánh dấu lần đầu tiên Đảng ta đặt trọng tâm chủ trương “chủđộng hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực”
Theo đó, trong những năm qua, việc hội nhập kinh tế quốc tế và tham gia các hiệpđịnh thương mại tự do (FTA) luôn được đặt ra trong các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng vàChính phủ như Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 27/11/2001 của Bộ Chính trị về hô –i nhâ –p kinh
tế quốc tế, Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 05/02/2007 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng vềmột số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam
là Thành viên của Tổ chức thương mại thế giới, Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 vềhội nhập quốc tế, Nghị quyết 06-NQ/TW ngày 05/11/2016 Hội nghị lần thứ tư Ban ChấpHành Trung ương Đảng Khóa XII về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc
tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các Hiệp định thươngmại tự do thế hệ mới, và gần đây nhất là Chỉ thị số 26/CT-TTg ngày 4/9/2018 của Thủ tướngChính phủ về đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế theo hướng hiệu lực và hiệu quả hơn
♦ Chủ trương của Đảng:
Trong các Nghị quyết và Chỉ thị nêu trên, quan điểm chỉ đạo, chủ trương lớn đượcĐảng và Chính phủ quán triệt về quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và gia nhập vào các FTAlà:
Thứ nhất, hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo
thuận lợi cho hội nhập kinh tế và góp phần tích cực vào phát triển kinh tế, củng cố quốcphòng, bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy pháttriển văn hóa, xã hội; hội nhập trong các lĩnh vực phải được thực hiện đồng bộ trong mộtchiến lược hội nhập quốc tế tổng thể với lộ trình, bước đi phù hợp với điều kiện thực tế vànăng lực của đất nước
Thứ hai, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa
nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủnghĩa bảo vệ lợi ích dân tộc; an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môitrường
Thứ ba, đẩy nhanh nhịp độ cải cách thể chế, cơ chế, chính sách kinh tế phù hợp với
chủ trương, định hướng của Ðảng và Nhà nước, chủ động xây dựng các quan hệ đối tác mới,tham gia vào các vòng đàm phán mới, thúc đẩy các quan hệ hợp tác kinh tế song phương, khuvực và đa phương
Trang 15Thứ tư, xây dựng và triển khai chiến lược, tham gia các khu vực mậu dịch tự do với
các đối tác kinh tế - thương mại quan trọng trong một kế hoạch tổng thể với lộ trình hợp lý,phù hợp với lợi ích và khả năng của đất nước Chủ động xây dựng và thực hiện các biện phápbảo vệ lợi ích chính đáng của Nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng trong nước
Thứ năm, đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, nhất là các đối tác có
tầm quan trọng chiến lược đối với sự phát triển và an ninh của đất nước, đưa khuôn khổ quan
hệ đã xác lập đi vào thực chất, tạo sự đan xen gắn kết lợi ích giữa nước ta với các đối tác
Thứ sáu, chủ động và tích cực tham gia các thể chế đa phương, góp phần xây dựng
trật tự chính trị và kinh tế công bằng, dân chủ, ngăn ngừa chiến tranh, xung đột, củng cố hòabình, đẩy mạnh hợp tác cùng có lợi Trong đó, đặc biệt chú trọng việc tham gia xây dựngCộng đồng ASEAN, phát huy vai trò của Việt Nam trong ASEAN và các cơ chế, diễn đàn doASEAN giữ vai trò trung tâm, nhằm tăng cường đoàn kết, gia tăng liên kết nội khối, củng cốquan hệ hợp tác với các bên đối thoại của ASEAN, thúc đẩy xu thế hòa bình, hợp tác và pháttriển trong khu vực
Trên cơ sở các chủ trương, định hướng lớn mà Đảng và Chính phủ đã đặt ra về hộinhập kinh tế quốc tế, ta đã chủ động và tích vực tham gia vào các thiết chế kinh tế đa phương
và khu vực, với các dấu mốc quan trọng như gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á(ASEAN), là thành viên sáng lập của Diễn đàn kinh tế Á – Âu (ASEM), trở thành thành viêncủa Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) và đặc biệt là gia nhập Tổchức Thương mại thế giới (WTO), đánh dấu sự hội nhập toàn diện vào nền kinh tế toàn cầu.Việc đề ra chủ trương tăng cường hội nhập quốc tế về kinh tế là một hướng đi đúngđắn, sáng suốt, thiết thực mà Đảng đã lựa chọn, thể hiện một sự thay đổi thức thời trong tưduy và bắt kịp với xu thế của thời đại Đây là định hướng chiến lược lớn của Đảng nhằm thựchiện nhiệm vụ xây dựng nền kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển và vững mạnh Việc thựchiện chủ trương của Đảng về hội nhập quốc tế nói chung và hội nhập kinh tế quốc tế nóiriêng với nhiều thành tựu góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, giatăng sức mạnh tổng hợp quốc gia, giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội; cảithiện đời sống nhân dân, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế là minh chứng rõnét nhất cho con đường đúng đắn, sáng suốt mà Đảng đã lựa chọn
1.2 Khái quát về mối quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản
1.2.1 Giới thiệu về Nhật Bản
Cuộc khủng hoảng kinh tế Nhật Bản năm 1990 với sự xuất hiện của khái niệm kinh tếbong bóng Nhật Bản được bắt đầu hình thành vào cuối những năm 1980 và thực sự khủnghoảng tài chính ở cực điểm năm 1997-1998 Tuy nhiên, ảnh hưởng đối với nền kinh tế thựccủa khủng hoảng tài chính Nhật Bản những năm 1990 chỉ giới hạn ở trong nước
Trang 16Biểu đồ 1.1 Tình hình kinh tế Nhật Bản trong thập niên mất mát
(Nguồn: https://anbvietnam.vn)
Cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1990 có tác động rất lớn đến sự phát triển của nềnkinh tế Nhật Bản từ năm 2000 đến nay, nó vừa là một yếu tố để cho Nhật Bản nhận thấy đượcnhững thiếu sót của mình trong vấn đề phát triển kinh tế đất nước và đồng thời chỉ ra đượcnhững nguyên nhân của sự thất bại một cách rõ ràng nhất Từ đó chính phủ Nhật có căn cứ đểxác định và ban hành những chính sách phù hợp hơn, vực dậy nền kinh tế đang tụt dốc và tiếntới sự phát triển như ngày nay Chúng ta có thể nhìn thấy rõ được sự thay đổi diện mạo củakinh tế Nhật Bản (phục hồi, rơi vào khó khăn và tiếp tục vực dậy để phát triển) qua từng thời
kỳ như sau:
♦ Giai đoạn phục hồi và tăng trưởng với tốc độ vừa phải (2000 – 2005)
Trải qua một thập kỷ đầy khó khăn với đất nước Nhật Bản thì bước sang một thập kỷmới và cũng là khỏi đầu của một thiên niên kỷ mới, mặc dù nền kinh tế Nhật Bản trong thờiđiểm này vẫn đang rơi vào tình trạng suy thoái kéo dài
Chủ yếu khó khăn của thời kỳ này là những khoản nợ khó đòi và sự khủng hoảngtrong mô hình phát triển của Nhật Vào năm 2001, thủ tướng Nhật Bản là Koizumi đã lập tứctiến hành việc giải quyết những khoản nợ khó đòi này bằng rất nhiều những biện pháp khácnhau Có thể nêu ra một số những biện pháp mà chính phủ Nhật sử dụng như: xóa nợ, sápnhập và mua lại các ngân hàng cũng như những tổ chức tài chính làm ăn thua lỗ Thực hiệnchủ trương cải cách cơ cấu kinh tế mạnh mẽ
Trang 17♦ Giai đoạn suy thoái nghiêm trọng (2006 – 2010)
Giai đoạn này tỷ lệ lạm phát cơ bản tại Nhật đã tăng lên mức 1,2% và cũng chính làmức tăng mạnh nhất tính từ năm 1998 Có rất nhiều những công ty đã rơi vào tình trạng phásản do giá nguyên liệu và năng lượng tăng, tỷ giá đồng nội tệ cao và sự thay đổi điều luậtcũng như những tiêu chuẩn về xây dựng đã làm cho hoạt động trong lĩnh vực này bị đóngbăng
Đầu tháng 3 năm 2006, trái phiếu cho các món nợ 10 năm của chính phủ Nhật đã tănglên mà vẫn chỉ trả 1,65% một năm trong khi đó, khoản công trái tương tự của chính phủ Mỹtrả tới 4,75%
Từ đây cũng diễn ra một loạt những hệ quả nghiêm trọng khác tác động vào tổng thểnền kinh tế Nhật Bản thời điểm đó Tỷ lệ thất nghiệp gia tăng nhưng vẫn thiếu hụt lao động
có trình độ chuyên môn cao, nhất là những lao động trong lĩnh vực kỹ thuật công nghệ Xuấthiện tình trạng có nhiều công ty phải đi nhập khẩu lao động từ nước ngoài Đây cũng là thờiđiểm diễn thế giới đang diễn ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
♦ Giai đoạn phục hồi của tình hình kinh tế Nhật Bản (từ 2010 đến nay)
Nhờ nỗ lực thực hiện những biện pháp chống khủng hoảng nên đến tháng 4 năm
2009, kinh tế Nhật Bản bắt đầu nhìn thấy được sự dừng lại của suy thoái Các hoạt động sảnxuất và xuất khẩu được trở lại đặc biệt phải để đến thành công và vai trò của ngành điện máy
và ô tô Nhật Bản nhận được các đơn đặt hàng của nước ngoài cho các sản phẩm linh kiện vàphụ tùng
Sự hồi phục kinh tế Nhật Bản đã được phản ánh rõ nét thông qua sự tăng trưởng thịgiá chứng khoán Nhật Bản Theo đó, bước sang đầu năm 2018, giá cổ phiếu đã lên đến mức24.000 Yên, đây cũng là lần đầu tiên trong khoảng 26 năm giá chứng khoán Nhật tăng đếnmức cao như vậy Chứng tỏ đây chính là dấu hiệu của sự thoát khỏi giảm phát ngày càng rõnét Trước hiệu quả hoạt động khả quan của các công ty Nhật Bản, bắt đầu xuất hiện nhữngnhận xét cho rằng, dường như giai đoạn tăng trưởng kinh tế cao độ của Nhật Bản đang mộtlần nữa được tái hiện lại
♦ Tìm hiểu thêm về 4 vùng kinh tế Nhật Bản
Nhắc đến Nhật Bản là chúng ta sẽ nhận ra ngay đây là một quốc đảo với nổi bật là sựphát triển vùng kinh tế lớn Đó là đảo Hôn-su, đảo Kiu-xiu, đảo Xi-cô-cư và đảo Hô-cai-đô Vùng kinh tế thuộc đảo Hôn-su là khu vực có diện tích rộng nhất và dân số ở đâycũng tập trung khá đông đúc Nền kinh tế ở vùng này cũng được đánh giá là có sự phát triểnthần ký nhất Có thể kế đến những trung tâm công nghiệp lớn ở đảo này như Tô-ki-ô, I-ô-cô-ha-ma, Na-gôi-a, Ki-ô-tô, Cô-bê, Ô-xa-ca, tạo nên một chuỗi đô thị lớn hàng đầu Nhật Bản Vùng kinh tế thuộc đảo Kiu-xiu chủ yếu tập trung phát triển các ngành thuộc côngnghiệp nặng Nơi đây cũng không thiếu các trung tâm công nghiệp lớn: Phu-cu-ô-ca, Na-ga-xa-ki Khu vực miền Đông Nam của đảo này trồng rất nhiều cây công nghiệp và rau quả
Trang 18Vùng kinh tế Xi- cô-cư nổi tiếng với hoạt động khai thác quặng đồng Tuy nhiênngành nông nghiệp đóng vai trò quan trọng Ở đây cho trung tâm Cô-chi vừa có sự phát triểntốt hơn và có nhiều điều hấp dẫn dành cho bạn tận hưởng
Vùng kinh tế Hô-cai-đô có diện tích rừng bao phủ phần lớn quần đảo này Dân cư ởđây thưa thớt và tập trung nhiều vào các ngành công nghiệp như khai thác than, sắt, luyệnkim đen, sản xuất giấy Các trung tâm công nghiệp: Xap-pô-rô, Mu-rô-ran
♦ Tình hình kinh tế Nhật Bản trong những năm gần đây
Mặc dù không thể phủ nhận sự cố gắng và những thành tựu của nền kinh tế Nhật Bản
từ năm 2000 đến nay nhưng trong những năm gần đây, kinh tế Nhật Bản đang có sự suy yếu
đi Tình trạng kinh tế tính đến tháng 3 năm 2019 đã giảm đi 0,9 điểm trong mức 99,6 điểm.Tình trạng suy giảm này có thể là do chính sách tăng thuế tiêu thụ lên thêm 2% (từ 8% lên10%) và vấn đề căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc
Hoạt động xuất khẩu linh kiện cũng ghi nhận sự sụt giảm như cầu trong những nămgần đây đã gây ảnh hưởng trực tiếp đến tổng sản phẩm quốc nội của doanh nghiệp
♦ Các ngành kinh tế của Nhật Bản trong những năm gần đây
Nhật Bản là một quốc gia nghèo tài nguyên nhất là tài nguyên cho ngành nông nghiệpnhư trồng trọt, chăn nuôi nhưng người Nhật luôn biết cách để biến đổi và áp dụng mang lạihiệu quả cao nhất Họ luôn áp dụng kỹ thuật, công nghệ hàng đầu cho ra năng suất cao vàđảm bảo an toàn
Chúng ta có thể kể đến những ngành kinh tế mũi nhọn của Nhật Bản như: ngư nghiệp, công nghiệp năng lượng, công nghiệp chế tạo, ngoại thương xuất nhập khẩu,hoạt động đầu tư, giao thông vận tải, tài chính ngân hàng, bưu chính viễn thông, du lịch giảitrí…
nông-lâm-Mỗi ngành nghề đều có những thế mạnh riêng và điều quan trọng là Nhật bản luôn nỗlực để hoàn thiện nhất trong các ngạch, các lĩnh vực của nền kinh tế Bên cạnh đó, con ngườiNhật Bản cần cù, chịu khó và có tính sáng tạo không ngừng Đó chính là điểm mấu chốt giúpNhật Bản có thể tồn tại, vực dậy sau khủng hoảng và có được sự phát triển của một nền kinh
tế Nhật Bản từ năm 2000 đến nay Tuy nhiên thì dân số Nhật Bản đang ở trong giai đoạn giàhóa và điều này là một bất lợi cho sự phát triển chung các ngành kinh tế tại Nhật Nhưngđồng thời nó cũng mở ra những có hội cho lao động quốc tế có thể được XKLĐ Nhật Bản đểnâng cao chất lượng cuộc sống
1.2.2 Lịch sử quan hệ Việt Nam – Nhật Bản
Nhật Bản là đối tác kinh tế quan trọng hàng đầu của Việt Nam và là nước G7 đầu tiêncông nhận quy chế kinh tế thị trường của Việt Nam (tháng 10/2011) Nhật Bản là nước tài trợODA lớn nhất, nhà đầu tư thứ hai (tính theo số lũy kế), đối tác du lịch thứ ba, thương mại lớnthứ tư của Việt Nam Hai nước đã dành cho nhau thuế suất tối huệ quốc từ 1999 Tổng kimngạch xuất nhập khẩu 9 tháng năm 2020 đạt 28,6 tỷ USD; nhập khẩu đạt 14,6 tỷ USD; xuấtkhẩu đạt 14 tỷ USD Về đầu tư trực tiếp, lũy kế đến tháng 9/2020, Nhật Bản có 4.595 dự án
Trang 19FDI còn hiệu lực tại Việt Nam với tổng vốn đầu tư đăng ký 59,87 tỷ USD, đứng thứ hai trongtổng số 136 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam 9 tháng năm 2020, Nhật Bản có
209 dự án cấp mới, 100 dự án tăng vốn và 448 lượt góp vốn mua cổ phần với tổng vốn đầu tư
là 1,73 tỷ USD, đứng thứ tư trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam Bên cạnh đó, Nhật Bản là nước cung cấp vốn vay bằng đồng Yên cho Việt Nam lớnnhất, tổng giá trị vay cho đến tháng 12/2019 là 2.578 tỷ Yên (tương đương khoảng 23,76 tỷUSD, chiếm 26,3% tổng vốn ký kết vay nước ngoài của Chính phủ)
Biểu đồ 1.2: Số vốn và số dự án đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam
(Nguồn: Biểu đồ do JETRO lập theo dữ liệu của MPI)
Ngoại trừ thời gian chịu tác động của Cuộc khủng hoảng tiền tệ Châu Á năm 1998, và
sự phá sản của Ngân hàng đầu tư Lehman Brothers năm 2008, kể từ năm 1993, số dự án đầu
tư của Nhật Bản vào Việt Nam có chiều hướng tăng lên (Biểu đồ 3) Với tổng vốn đầu tư vàoViệt Nam tính đến năm 2012 là 28,7 tỷ USD, Nhật Bản là nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất củaViệt Nam (theo Tổng cục Thống kê Việt Nam)
Để giúp Việt Nam xúc tiến đầu tư nước ngoài, Nhật Bản đã nhanh chóng triển khai
hỗ trợ Việt Nam xây dựng nhà máy điện, đường xá, cầu, cảng biển, vv…; đồng thời hỗ trợhoàn thiện hệ thống pháp luật, hệ thống kiểm tra, chứng nhận sản phẩm công nghiệp,… để cóthể đáp ứng các chuẩn mực quốc tế về môi trường đầu tư Việc các bộ luật cơ bản như LuậtDân sự sửa đổi, Luật Tố tụng Dân sự được thông qua là những thành tựu to lớn Bên cạnh đó,Nhật Bản cũng phát huy “Sáng kiến chung Việt Nam – Nhật Bản”, là diễn đàn đối thoại giữachính phủ và khối tư nhân, để hỗ trợ Việt Nam về phần cứng và phần mềm
Điểm đặc biệt ở đây là tuy sự hỗ trợ được thực hiện theo kinh nghiệm của Nhật Bản,nhưng không phải là sự vận dụng cứng nhắc theo khuôn mẫu Nhật Bản mà là dựa trên sự trao
Trang 20đổi, thảo luận giữa Việt Nam và Nhật Bản để tìm ra cơ chế và đường lối phù hợp với ViệtNam.
Phương thức hợp tác dựa trên sự tăng cường sự hiểu biết và tin tưởng lẫn nhau giữahai nước của Nhật Bản đã mang lại kết quả là tìm ra những cơ chế phù hợp với xã hội ViệtNam
Sự hỗ trợ theo chiến lược tổng hợp đã góp phần xúc tiến đầu tư của các doanh nghiệpNhật Bản
Từ năm 2014, trong chuyến thăm cấp Nhà nước tới Nhật Bản của Chủ tịch nướcTrương Tấn Sang, hợp tác nông nghiệp có bước đột phá Tháng 9/2015, hai bên đã ký kết
"Tầm nhìn trung và dài hạn trong hợp tác Nông nghiệp Việt Nam - Nhật Bản" và ký lại Tầmnhìn chung sửa đổi vào tháng 5/2018
Hợp tác ứng phó với biến đổi khí hậu tiếp tục phát triển mạnh mẽ, thực chất với việcNhật Bản liên tục cung cấp ODA những năm gần đây cho các dự án ứng phó với biến đổi khíhậu của Việt Nam
Từ năm 1992 đến nay, Việt Nam đã cử nhiều tu nghiệp sinh sang Nhật Bản Hiện ViệtNam đứng thứ nhất về số lượng thực tập sinh nước ngoài tại Nhật Bản với hơn 230.000người Hai bên đã ký Bản ghi nhớ về việc Nhật Bản tiếp nhận điều dưỡng viên, hộ lý của ViệtNam (trong khuôn khổ Hiệp định đối tác kinh tế song phương EPA tháng 10/2011), Việt Nam
đã cử 470 y tá và điều dưỡng viên sang Nhật Bản; Bản ghi nhớ hợp tác về chế độ thực tậpsinh kỹ năng (tháng 6/2017); Bản ghi nhớ hợp tác về chế độ lao động kỹ năng đặc định(tháng 5/2019); tiếp tục trao đổi về khả năng đàm phán Hiệp định Bảo hiểm xã hội
Quan hệ hợp tác về giáo dục và đào tạo giữa hai nước đã phát triển dưới nhiều hìnhthức, Nhật Bản là một trong những nước viện trợ không hoàn lại lớn nhất cho ngành Giáodục đào tạo của Việt Nam Hai bên đã ký kết nhiều văn kiện hợp tác trong lĩnh vực này Sốlưu học sinh Việt Nam tại Nhật Bản hiện đạt hơn 80.000 người Nhật Bản đang hợp tác đểnâng cấp 4 trường đại học của Việt Nam đạt đại học chất lượng cao (gồm Đại học Cần Thơ,Đại học Đà Nẵng, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Nông nghiệp Hà Nội), đang hợp tác xâydựng Trường Đại học Việt-Nhật nhằm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho Việt Namtrong lĩnh vực khoa học công nghệ, quản lý và dịch vụ; hỗ trợ Việt Nam dạy tiếng Nhật tạimột số trường tiểu học, phổ thông cơ sở tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh Hai bên đã
ký Biên bản hợp tác về các biện pháp giảm thiểu tình trạng du học sinh Việt Nam vi phạmpháp luật tại Nhật Bản (tháng 10/2018)
Từ ngày 1/1/2004, Việt Nam đơn phương miễn thị thực cho người Nhật đi du lịch vàkinh doanh vào Việt Nam trong vòng 15 ngày; từ ngày 1/7/2004, quyết định miễn thị thựcnhập cảnh ngắn hạn cho mọi công dân mang hộ chiếu Nhật Bản Ngày 8/3/2005, hai bên đãtrao đổi Công hàm miễn thị thực nhập cảnh cho công dân hai nước Việt Nam và Nhật Bảnmang Hộ chiếu ngoại giao và công vụ trong thời hạn lưu trú không quá 90 ngày bắt đầu thựchiện từ ngày 1/5/2005 Nhật Bản bắt đầu thực hiện việc nới lỏng quy chế cấp thị thực nhiềulần (từ ngày 30/9/2014, nới lỏng hơn từ ngày 15/2/2016) và thị thực một lần (từ 20/11/2014)
Trang 21cho công dân Việt Nam; đơn giản hóa thủ tục xin visa ngắn hạn dành cho người có vị trítrong xã hội (cán bộ, công chức cơ quan Nhà nước, nhân viên doanh nghiệp tư nhân, nhà trithức - văn hóa) từ ngày 1/3/2019.
Ngày 19/6/2020, Chính phủ hai nước ra thông cáo báo chí về việc Việt Nam và NhậtBản nhất trí sẽ từng bước, từng phần nới lỏng hạn chế đi lại giữa hai nước Ngày 22/7/2020,Nhật Bản đơn phương áp dụng quy chế Residence Track cho phép nhập cảnh Nhật Bản sốlượng giới hạn (dưới 100 người/ngày) các đối tượng cư trú lâu dài tại Nhật Bản (thực tậpsinh…); từ ngày 29/7/2020, bắt đầu tiếp nhận hồ sơ cấp visa cho đối tượng này Ngày15/9/2020, hai nước đã mở lại đường bay thương mại (4 chuyến/tuần) Hiện các bộ, ngànhhai nước đang tích cực trao đổi về quy chế đi lại ưu tiên cho đối tượng là doanh nhân, nhàđầu tư, chuyên gia, kỹ sư… làm việc ngắn ngày
Hợp tác địa phương hai nước được thúc đẩy mạnh mẽ, địa phương của Việt Nam vàNhật Bản đã ký hơn 70 văn bản hợp tác Trong đó các cặp quan hệ hợp tác tiêu biểu: Thànhphố Hồ Chí Minh – Osaka; Thành phố Hồ Chí Minh – Nagano; Đà Nẵng – Sakai; Hà Nội –Fukuoka; Đà Nẵng – Yokohama; Thành phố Hồ Chí Minh – Yokohama; Đồng Nai – Hyogo;
Bà Rịa - Vũng Tàu – Kawasaki; Phú Thọ - Nara; Huế - Kyoto; Hưng Yên – Kanagawa; HảiPhòng – Niigata; Nam Định – Miyazaki; Quảng Nam – Nagasaki; Cần Thơ – Hyogo
Từ đầu năm 2020, dịch COVID-19 đã tác động đến quan hệ đối tác chiến lược sâurộng Việt – Nhật trên nhiều lĩnh vực Hai nước đã phải hủy, hoãn một số hoạt động đối ngoại.Hợp tác lao động, du lịch chịu tác động, lượng khách du lịch Nhật Bản sang Việt Nam 5tháng đầu năm 2020 chỉ đạt 200.346 người, đứng thứ tư (sau Trung Quốc, Hàn Quốc, Nga),giảm gần 50% so với cùng kỳ năm 2019, trong đó tháng 4 và tháng 5 không có trao đổi khách
du lịch do các biện pháp hạn chế đi lại Việc phái cử lao động Việt Nam sang Nhật Bản tạmthời bị gián đoạn do hai nước áp dụng biện pháp hạn chế xuất nhập cảnh
Tuy nhiên, hai nước vẫn duy trì trao đổi cấp cao và các cấp bằng nhiều hình thức Thủtướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc điện đàm với Thủ tướng Suga Yoshihide (12/10/2020),điện đàm 2 lần với Thủ tướng Nhật Bản Abe Shinzo (ngày 4/5 và 4/8/2020) Phó Thủ tướng,
Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh 2 lần điện đàm với Ngoại trưởng Nhật Bản MotegiToshimitsu (tháng 3 và 6/2020); hai bên phối hợp lập trường tại Hội nghị đặc biệt ASEAN +
3 về ứng phó với dịch COVID-19 (ngày 14/4/2020) Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã 3 lầngửi Thư và Điện thăm hỏi tới Thủ tướng Abe Shinzo Chính phủ và Quốc hội Việt Nam hỗ trợtổng cộng 1.190.000 khẩu trang y tế và 20.000 khẩu trang vải cho Nhật Bản Chính phủ NhậtBản đã hỗ trợ trang thiết bị, vật tư y tế thông qua hợp tác song phương cũng như qua các tổchức quốc tế, đồng thời cam kết sẽ tiếp tục hỗ trợ theo nhu cầu của Việt Nam; đưa công dânViệt Nam đang sinh sống, học tập và làm việc tại Nhật Bản vào đối tượng được cấp khoảntiền hỗ trợ 100.000 Yên/người (khoảng 950 USD)
Một số địa phương của Việt Nam chủ động hỗ trợ Nhật Bản đối phó với dịch bệnh.Việt Nam cũng đã hỗ trợ, tạo điều kiện cho gần 600 chuyên gia, lãnh đạo doanh nghiệp NhậtBản quay trở lại Việt Nam làm việc; đón hơn 5.100 công dân Việt Nam bị mắc kẹt tại NhậtBản về Việt Nam
Trang 22Việc đón Thủ tướng Nhật Bản Suga Yoshihide thăm chính thức Việt Nam lần này là
cơ hội khẳng định với cộng đồng quốc tế về một Việt Nam an toàn, hiệu quả trong đối phódịch COVID-19, đồng thời đề cao thành tựu đổi mới, phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao vịthế quốc tế, triển khai đường lối đối ngoại, quyết tâm hội nhập quốc tế của Việt Nam
1.2.3 Ý nghĩa của quan hệ thương mại Việt Nam-Nhật Bản
Với đặc điểm trình độ kinh tế và thế mạnh hàng hóa khác biệt, cơ cấu mặt hàng củahai nước có sự bổ sung cho nhau, theo đó, Nhật Bản có thế mạnh về các mặt hàng công nghệcao, máy móc thiết bị trong khi Việt Nam có lợi thế về nhóm hàng nông lâm thủy sản và côngnghiệp nhẹ Sự bổ sung đó giúp quan hệ thương mại tạo thế đôi bên cùng có lợi, hạn chế cạnhtranh trực tiếp và dễ tìm được tiếng nói chung hơn trong các thỏa thuận thương mại
Với Việt Nam, việc hợp tác với Nhật Bản tạo điều kiện xuất khẩu các mặt hàng sang 1thị trường lớn khó tính, đồng thời tạo cơ hội thu hút nhiều nhà đầu tư Nhật vào Việt Nam,góp phần phát triển kinh tế, trình độ khoa học công nghệ, kĩ thuật, ứng phó với biến đổi khíhậu.Ngoài ra, quan hệ thương mại với Nhật Bản giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của cácdoanh nghiệp Việt ,tăng cường trao đổi kinh nghiệm, học hỏi các mô hình kinh tế giữa 2 bên.Với Nhật Bản, việc hợp tác với Việt Nam là 1 bước đi quan trọng trong chính sáchđối ngoại của Nhật Bản ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương.Đồng thời, mở rộng, tăng cườngmối quan hệ với các nước Đông Nam Á thông qua Việt Nam, thúc đẩy sự phát triển ổn địnhcủa khu vực và thế giới, tạo điều kiện phát triển cho các doanh nghiệp Nhật ở Việt Nam