ĐỀ CƯƠNG CHỨNG KHOÁN Tài chính doanh nghiệp C – k49 Câu 1 Thu nhập trong đầu tư chứng khoán Liên hệ ttck Việt Nam 1 Câu 2 Rủi ro trong đầu tư chứng khoán Liên hệ VN 3 Câu 3 Phân tích mối quan hệ giữa sinh lời và rủi ro trong đầu tư chứng khoán Liên hệ thực tế ở Việt Nam 4 Câu 4 Các phương thức đầu tư chứng khoán 5 Câu 5 Các loại chỉ số chứng khoán (theo thầy là ko có) 7 Câu 6 Bình luận chỉ số VN index, ưu nhược điểm 7 Câu 7 lý thuyết thị trường hiệu quả 9 Câu 8 Nội dung lý thuyết Markowitz 11 Câ.
Trang 1ĐỀ CƯƠNG CHỨNG KHOÁN
Tài chính doanh nghiệp C – k49
Câu 1: Thu nhập trong đầu tư chứng khoán Liên hệ ttck Việt Nam…… 1
Câu 2: Rủi ro trong đầu tư chứng khoán Liên hệ VN………3
Câu 3: Phân tích mối quan hệ giữa sinh lời và rủi ro trong đầu tư chứng khoán Liên hệ thực tế ở Việt Nam ……… 4
Câu 4: Các phương thức đầu tư chứng khoán………5
Câu 5 : Các loại chỉ số chứng khoán (theo thầy là ko có) ………7
Câu 6 Bình luận chỉ số VN index, ưu nhược điểm………7
Câu 7: lý thuyết thị trường hiệu quả……… 9
Câu 8: Nội dung lý thuyết Markowitz……… 11
Câu 9:Ứng dụng của các mô hình trên trong phân tích đtck: ……… 12
Câu 10: Định giá chứng khoán: ………13
Câu 11: Phân tích mối quan hệ thị trường chứng khoán Với thị trường vàng……… 15
Với thị trườgn bất động sản……… 17
Câu 12: PT ngành 5 nhân tố ……… 17
Ngành thép……… 19
Ngành điện ……… 21
Ngành thuỷ sản ……… 22
Câu 13: Quản lý danh mục đt:……… 23
Câu 14: các pp định giá trái phiếu, nêu thêm ưu nhược điểm từng phương pháp……24
Câu 15: phân tích kĩ thuật: ưu nhược điểm của phân tích kĩ thuật, ở việt nam thì có áp dụng được ko? 26
Trả lời:
Câu 1: Mức sinh lời trong đầu tư chứng khoán Liên hệ VN
* Khái niệm: Mức sinh lời hay còn gọi là lợi nhuận ( lợi suất đầu tư) của một khoản
đầu tư được hiểu là phần chênh lệch giữa kết quả thu được sau một khoảng thời gian đầu tư
với phần vốn gốc mà nhà đầu tư bỏ ra
- Tổng mức sinh lời=Thu nhập từ chứng khoán( là cổ tức khoặc trái tức)+ lãi( hoặc lỗ)
về vốn
- Mức sinh lời tương đối:
Trang 2Rn= (Pn- Po)+t0 DIVt / Po
* Xác định mức sinh lời của 1 chứng khoán:
để xác định được mức sinh lời của 1 chứng khoán cần xem xét chứng khoán đó trong
quá khứ và tương lai
+ Giả sử năm thứ nhất sinh lời khi đầu tư vào một chứng khoán là R1, năm thứ 2 là
R2… thì mức sinh lời trung bình từng năm trong thời gian đầu tư t năm là
Rtb = ( R1+ R2+…+Rt)/t
Mức sinh lời của chứng khoán trong quá khứ là dữ liệu tham chiếu quan trọng để NĐT
xem xét đầu tư chứng khoán Một chứng khoán có tỷ lệ sinh lời cao và ổn định sẽ được các
NĐT quan tâm Tuy nhiên, để ra quyết định đầu tư, NĐT còn căn cứ vào tỷ lệ sinh lời kỳ
vọng của chứng khoán
Sử dụng những dự báo về tương lai xác định tỷ lệ sinh lời kỳ vọng của chứng khoán:
+ Tỷ lệ sinh lời kỳ vọng là tỷ lệ sinh lời( doanh lợi ) trung bình trên tài sản có rủi ro kỳ
vọng ở tương lai
E(R) = PiRi i= 1 tới n
Trong đó: Pi: xác suất xảy ra của các trạng thái về nền kinh tế
Ri: doanh lợi kỳ vọng tương ứng với các trạng thái khác nhau của nền kinh tế
Để có thể dự báo được mức sinh lời kỳ vọng của chứng khoán chứng ta cần có thông tin
chính xác và phải lượng hóa được các thông tin có tác động đến giá chứng khoán trong
tương lai NĐT quan tâm đến việc nếu đầu tư tại thời điểm hiện tại NĐT sẽ thu được bao
nhiêu trong tương lai, do vậy việc xác định chính xác tỷ lệ sinh lời kỳ vọng rất quan trọng
trong việc ra quyết định của NĐT
* Xác định mức sinh lời cho danh mục đầu tư: xác định được mức sinh lời của từng
chứng khoán cho phép NĐT xác định được mức sinh lời cho cả danh muc
E( Rp) =Xj E(Rj) j=1 đến n
Trong đó; Xj: tỷ trọng của từng chứng khoán trong danh mục
E(Rp): doanh lợi kỳ vọng của từng chứng khoán trong danh mục
* Mức sinh lời trên thị trường chứng khoán Việt nam
Sử dụng chuỗi return của chỉ số Vn-index từ năm 2000 đến nay có thể tính được tỷ
suất sinh lời trung bình hàng năm trên thị trường vào khoảng 27% Trong đó tăng trưởng
mạnh nhất là giai đoạn năm 2006, tỷ suất sinh lời đến 145% Nhưng đến 2008, 2009, giá
chứng khoán giảm mạnh, tỷ suất sinh lời âm Năm 2008, giá chứng khoán đã sụt giảm
mạnh, từ 921 07 điểm vào đầu năm xuống 315 62 điểm vào cuối năm, mất 605 45 điểm (
65 33%)
Trong 9 tháng đầu năm 2010 thị trường xuất hiện 3 đợt sóng mạnh Đợt sóng thứ nhất
kết thúc vào ngày 07/01/2010 với mức đỉnh của VN-Index đạt được là 543 46 điểm, sau đó
Trang 3lùi sâu về mức 477 59 điểm vào ngày 22/01 Đợt sóng thứ 2, thị trường phục hồi lên 531 86
điểm vào ngày 15/03, sau đó lùi về 499 21 điểm vào ngày 31/03 Đợt sóng thứ 3 đưa
VN-Index lên mức điểm cao nhất trong 9 tháng năm 2010 với số điểm là 549 12 điểm vào ngày
04/05 Kể từ mức điểm cao nhất của đợt sóng thứ 3 thị trường giảm mạnh về 423 89, mức
thấp nhất kể từ ngày 22/07/2009 Sau đó, thị trường đã có một đợt phục hồi nhẹ và
VN-Index giảm còn 445 21 điểm (ngày 22/10/2010)
Có thể thấy, giá chứng khoán trên thị trường Việt nam biến động mạnh, khiến cho tỷ
suất sinh lợi bình quân không có nhiều ý nghĩa Đặc biệt ở Việt nam, diến biến của giá
chứng khoán phụ thuộc nhiều vào tâm lý của NĐT, NĐT chỉ nhăm nhăm đến lợi nhuận và
những thong tin không xác thực ngoài luồng Nhiều NĐT cũng không có đầy đủ kiến thức
phân tích mà đầu tư theo hiệu ứng bầy đàn, không dựa trên hoạt động sản xuất kinh doanh
của DN Điều này khiến cho việc dự báo và xác định mức sinh lợi kỳ vọng của chứng
+ RR hệ thống >> Chênh lệch giá làm ảnh hưởng nhiều đến giá CK, nhiều khi thoát ly khỏi
hoạt động kinh doanh của DN
>> RR trong hoạt động đầu tư bị tác động nhiều bởi tình hình kinh doanh hay yếu tố thị
trường?
+ RR trong các nhóm ngành
Trả lời:
1 Rủi ro là sự biến động tiềm ẩn ở những kết quả, là khả năng xảy ra những điều không
mong muốn và khi nó xảy ra thì mang lại những tổn thất, khác với sự không chắc chắn, rủi
ro có thể đo lường đc Theo quan điểm truyền thống thì rủi ro mang lại tổn thất xấu trong
tài chính rủi ro là kết quả đầu tư ngoài dự kiến tức là làm cho mức sinh lời thực tế nhận
được trong tương lại khác với mức sinh lời dự kiến
Rủi ro hệ thống là các yếu tố tác động lên tất cả các công ty niêm yết trên thị trường, và tất
cả cty đều bị chi phối bởi rủi ro hệ thống, nđt ko thể giảm thiểu đc loại rủi ro này Bao gồm
RR lãi suất, RR thị trường, RR sức mua và RR chính trị
Rr thị trường là sự biến động của giá chứng khoán phản ứng của các nhà đầu tư để giảm
thiểu RR này các cơ quan quản lý cần găng cường hoạt động đào tạo, bồi dưỡng kiến thức
cho NĐT, minh bạch hóa thông tin, kiểm soát chặt chẽ thị trường
RR lãi suất là sự viến động của giá CK do tác động của lãi suất khi đầu tư vào các CK có
thu nhập cố định ,nếu ls thị trường tăng lên, cơ hội đtư vào các tài sản có mức sinh lợi cao
hơn sẽ mất đi, giá tài sản đã đầu tư sẽ bị giảm đi >>nđt bị thiệt hại khi bán ts đó
RR sức mua: là sự thay đổi giá trị thực của CK do sự thay đổi sức mua của đồng tiền nếu
lạm phát vượt tỷ lệ lạm phát dự tính, gtri thực của đồng tiền bị giảm và làm cho gtrij của
khoản đtư bị giảm giá trị
RR chính trị là sự bất ổn giá ck do sự thay đổi về môi trường chính trị xã hội
Rủi ro phi hệ thống:là những yếu tố tác động gắn liền với từng công ty riêng biệt mà
không ảnh hưởng tới công ty khác và nhà đtư có thể phòng ngừa đc loại rủi ro này qua đa
dạng hóa danh mục đầu tư Bao gồm rr kinh doanh, rr tài chính,rr tỷ giá, rr thah khoản
Trang 4(Pn Po) DIVt
RR kinh doanh là sự biến động của giá CK do những thay đổi từ hoạt động kinh doanh của
DN(từ bên trong và bên ngoài DN) bên trong DN như là yếu tố quản lý, cơ cấu và chất
lượng tài sản yếu tố bên ngoài như là thay đổi của chính sách tín dụng, lãi suất… Rro kinh
doanh được đo bằng sai lệch của các dòng thu nhập qua thời gian
RR tài chính là rủi ro mà công ty đối mặt khi sử dụng đòn bẩy tài chính Rủi ro tc là do việc
công ty sd nợ và tiềm ẩn trong cấu trúc vốn của DN
RR tỷ giá là khả năng biến động giá CK khi tỷ giá thay đổi thường tác động tời các DN
nhập khẩu có thể khắc phục bằng cáh sử dụng các công cụ phái sinh
RR thanh khoản là sự bất ổn của giá CK khi điều kiện giao dịch thay đổi sự thay đổi tính
thanh khoản của CK do thay đổi trong cấu trúc cổ đông, tâm lý NĐT…
2 liên hệ thực tế tại VN
RR hệ thống
Câu 3 Bình luận mối quan hệ sinh lời và rủi ro trên thị trường chứng khoán
- Mức sinh lời của một khoản đầu tư là phần chênh lệch giữa kết quả thu được sau một
khoảng thời gian đầu tư với số phần vốn gốc mà nhà đầu tư bỏ ra
Tổng mức sinh lời= thu nhập từ chứng khoán + lãi( hoặc lỗ) về vốn
+Rủi ro hệ thống là rủi ro xảy tác động đến hầu hết các chứng khoán
+ Rủi ro phi hệ thống là rủi ro tác động đến 1 chứng khoán
- Mối quan hệ
+ Xét trên phương diện 1 chứng khoán, mối quan hệ này được thể hiện thông qua
đường thị trường chứng khoán SML : suất sinh lời kỳ vọng của một tài sản tài chính tỷ lệ
thuận với rủi ro hệ thông, đo bằng hệ số beta của tài sản đó
E(Ri) = Rf + β( E(Rm) – Rf)
Trang 5Đây là công cụ để tính toán xem tài sản đang được căn nhắc để đầu tư có hứa hẹn mang lại
nguồn thu nhập hợp lý tương xứng với mức độ rủi ro hay không
+ Từ quan hệ căn bằng này sẽ xác định được tỷ lệ lợi tức yêu cầu của nhà đầu tư đối
với mỗi loại chứng khoán Với những chứng khoán mà E(R) thực tế> E(R) câng bằng thì
chứng khoán đó bị định giá thấp và nhà đầu tư có xu hướng mua vào để được lợi tức cao
hơn và ngược lại
+ Mặc dù mô hình được sử dụng phổ biến xong vẫn còn nhiều hạn chế: sử dụng số
liệu lịch sử để ước lượng beta, không xác định được danh mục thị trường để xác định
E(Rm)
+ Từ đó mối quan hệ sinh lời và rủi ro, các nhà đầu tư sẽ xây dựng một danh mục đầu
tư và quản lý danh mục đầu tư một cách hiệu quả nhất để tối đa hoá lợi nhuận và giảm thiểu
rủi ro
* Bình luận mối quan hệ này trên thị trường chứng khoán Việt Nam
- Giai đoạn mới hình thành trước T10/2001: lợi nhuận bình quân tháng 6 56%/tháng và mức
độ rủi ro là cao nhất 17 182%/tháng: do thị trường mới đi vào hoạt động
- Giai đoạn 2002-2004: tỷ lệ lợi nhuận trung bình là 0 347%/tháng và mức rủi ro
8 299%/tháng
- Giai đoạn từ 2005-2007: tỷ lệ lợi nhuận trung bình là 5 241%/tháng và rủi ro là
12 681%/tháng: cao gấp 5lần so với mức trung bình của thế giới => đây là giai đoạn bùng
nổ của thị trường chứng khoán Việt Nam
- Giai đoạn từ 2005-2007: tỷ lệ lợi nhuận trung bình là 5 241%/tháng và rủi ro là
12 681%/tháng: cao gấp 5 lần so với mức trung bình của thế giới => đây là giai đoạn bùng
nổ của thị trường chứng khoán Việt Nam
Trang 6- Năm 2008: tỷ lệ lợi nhuận trung bình là -4,25%/tháng và mức độ rủi ro là 106 %
- Năm 2009: tỷ lệ lợi nhuận trung bình là -1,03%/tháng và mức độ rủi ro là 27 %
Qua các số liệu trên, ta thấy do là một thị trường mới phát triển nên mối quan hệ giữa rủi ro
và sinh lời trên TTCK Việt Nam thể hiện không thực sự rõ ràng Trong giai đoạn thị trường
mới đi vào hoạt động, mức sinh lời thấp và rủi ro cao do thị trường không hấp dẫn, ít nhà đầu
tư giao dịch trên thị trường Tiếp theo là giai đoạn thị trường bùng nổ, lợi nhuận cao Các
nhà đầu tư chủ yếu ra quyết định theo tâm lý số đông, gây ra tình trạng bong bóng, làm cho
thị trường tăng mạnh trong thời gian dài nhưng lại tiềm ẩn rủi ro rất lớn Quả thật sau giai
đoạn này, năm 2008 là giai đoạn rủi ro đạt mức kỉ lục và thị trường giảm mạnh Năm 2009
đến nay, thị trường bắt đầu đi vào dần ổn định, thị trường phục hồi, tuy nhiên do vẫn có
nhiều lo ngại về kinh tế thế giới, do đó rủi ro vẫn khá cao trong khỉ tỉ lệ sinh lời ở mức thấp
Câu 4 Phương thức đầu tư chứng khoán
4 1 Đấu giá (tại VN)
Là việc đầu tư vào CK (chủ yếu là cổ phiểu) được bán công khai cho các NĐT và có sự
cạnh tranh về giá Các NĐT đưa ra giá đấu (giá đặt mua) dựa trên giá khởi điểm do đơn vị
phát hành CK công bố Tổ chức bán đấu giá là Trung tâm Giao dịch Chứng khoán/ công
ty chứng khoán Đại lý đấu giá là các công ty chứng khoán tham gia vào việc tổ chức đấu
giá trên cơ sở hợp đồng đại lý với TTGDCK
Có 3 phương thức tổ chức đấu giá: căn cứ vào giá trị cổ phần bán đấu giá và quyết định của
Ban chỉ đạo cổ phần hóa
- Tại doanh nghiệp
- Tại tổ chức tài chính trung gian (Công ty chứng khoán)
- Tại Trung tâm giao dịch chứng khoán/Sở giao dịch chứng khoán
Nguyên tắc xác định kết quả: Kết quả đấu giá được xác định theo giá đặt mua từ cao xuống
thấp Nhà đầu tư đặt mua theo giá nào thì được mua cổ phần theo giá đó Trường hợp những
người tham gia đấu giá trả giá bằng nhau nhưng số lượng cổ phần chào bán ít hơn tổng số
cổ phần đăng ký mua thì quyền mua cổ phần của các bên được xác định như sau
Theo số liệu của HNX, trong quý 3/2010, đã có 8 phiên đấu giá qua sàn này với tổng khối
lượng trên 40,5 triệu cổ phần Tuy nhiên tỷ lệ thanh toán thực tế chỉ đạt 79%, tương đương
31,8 triệu cổ phần Lũy kế 10 tháng, số liệu còn ảm đạm hơn khi tỉ lệ cổ phần được mua
thực tế (có thanh toán) chỉ là 61%, tương đương khối lượng bị ế lên tới xấp xỉ 37,1 triệu cổ
phần
4 2 Đầu tư (đầu cơ, kinh doanh chênh lệch giá)
- đầu cơ: là hoạt động đầu tư chứng khoán nhằm tìm kiếm lợi nhuận từ lợi tức và chênh lệch
giá trong dài hạn Hoạt động đầu cơ làm cho chứng khoán trở nên khan hiếm, giá chứng
khoán tăng và NĐT có thể tìm kiếm lợi nhuận lớn từ tăng giá chứng khoán
- kinh doanh chênh lệch giá: là hoạt động mua bán CK nhằm tìm kiếm lợi nhuận trong ngắn
hạn từ chênh lệch giá CK
Số lượng tài khoản tính đến cuối tháng 10/2009 là 766 725 tài khoản (trong đó nhà
đầu tư có tổ chức là 3 147 tài khoản và nhà đầu tư cá nhân là 763 578 tài khoản Đa số các
NĐT cá nhân đều thích "lướt sóng", chọn lựa mua bán CP theo cảm tính Họ có xu hướng
mua bán ngắn hạn nhiều hơn, có thể nói đa số họ mua bán ngắn hạn và dễ bị ảnh hưởng của
Trang 7các đối tượng bên ngoài như các báo cáo của các tổ chức, các tin đồn Tuy tiềm lực tài
chính của từng cá nhân không lớn, nhưng do đông đảo và chăm chỉ mua bán, nên sự biến
động hàng ngày của TTCK có sự đóng góp lớn của họ Đối tượng này cũng là lực đẩy chính
cho những CP có hiện tượng "tăng phi mã"
4 3 Thâu tóm:
là hoạt động đầu tư vào các loại CK với số lượng lớn cho phép NĐT có quyền kiểm soát
công ty phát hành thông qua quyền nhận thông tin, quyền tham dự và biểu quyết tại ĐHCĐ
Qua đó, các NĐT này có khả năng biểu quyết, kiểm soát DN phát hành CK và tìm kiếm lợi
thế kinh tế nhờ quy mô, hiệu quả và khả năng chiếm lĩnh thị trường Đối với các NĐT là
các công ty cũng phát hành CK thì công ty thâu tóm sẽ mua lại công ty mục tiêu, không có
sự thay đổi về chứng khoán hoặc sự hợp nhất thành một công ty mới Dưới góc độ pháp lý,
công ty mục tiêu bị chấm dứt sự tồn tại và công ty mua sẽ điều hành hoạt động kinh doanh
của công ty mục tiêu và chứng khoán của công ty mua sẽ tiếp tục được giao dịch
Theo số liệu của Ủy ban Chứng khoán (SSC), tại thời điểm ngày 21/6/2010, tổng tỷ lệ nắm
giữ cổ phiếu DHT của Dược Viễn Đông và ông Lê Văn Dũng (Chủ tịch Hội đồng quản trị,
Tổng Giám đốc của Dược Viễn Đông) là 18,74% Tính đến giữa tháng 7, tổng lượng cổ
phiếu mà nhóm này nắm giữ đã chiếm khoảng 60% vốn điều lệ của Dược Hà Tây Dược
Viễn Đông cũng công khai ý định muốn mua bán - sáp nhập với doanh nghiệp này Tuy
nhiên, giao dịch lại được phía Dược Viễn Đông “âm thầm” thực hiện, thay vì tiến hành
chào mua công khai Đây là căn cứ để Ủy ban Chứng khoán đưa ra án phạt 50 triệu đồng
đối với doanh nghiệp này theo quy định tại Nghị định 36/2007 của Chính phủ Đáng chú ý,
án phạt mới này được SSC đưa ra chỉ ít ngày sau khi cơ quan này cho tạm dừng đợt chào
bán cổ phiếu ra công chúng của DVD do cáo bạch có nhiều thông tin sai sự thậ
4 4 Tạo lập thị trường
Đầu tư theo phương thức tạo lập thị trường thường do các nhà tạo lập thị trường – trung
gian tài chính (CTCK, NHTM) đảm nhận thị trường cho các loại CK trên thị trường OTC
bằng cách mua bán các công cụ tài chính hoạt động theo phương thức khớp giá, thực hiện
chức năng đặt các lệnh chào mua, chào bán, đảm bảo giao dịch thị trường liên tục Họ có
thể thu lợi từ cổ tức, trái tức, chênh lệch giá, tiền hoa hồng môi giới, được miễn giảm thuế,
phí, thông tin Hoạt động tạo lập thị trường có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tính
thanh khoản cho các loại CK
Câu 5,6: Các phương pháp tính chỉ số giá chứng khoán Bình luận ưu, nhược điểm của
Bình quân gia quyền giản đơn
Bình quân nhân giản đơn
Phương pháp Paasche:
Là chỉ số bình quân gia quyền giá trị, với quyền số là số lượng chứng khoán niêm yết thời
kỳ tính toán Kết quả tính sẽ phụ thuộc vào cơ cấu quyền số thời kỳ tính toán
Trang 8qt : Là khối lượng chứng khoán niêm yết (quyền số) thời điểm tính toán (t) hoặc cơ cấu
của khối lượng thời điểm tính toán
i: Là cổ phiếu i tham gia tính chỉ số giá
n: là số lượng cổ phiếu đưa vào tính chỉ số
Chỉ số giá bình quân Paasche lấy quyền số tại thời kỳ tính toán, vì vậy kết quả tính sẽ phụ
thuộc vào cơ cấu quyền số (cơ cấu chứng khoán niêm yết) thời kỳ tính toán
Ưu: cơ cấu khối lượng các chứng khoán niêm yết được cập nhật qua mỗi kì tính toán
Nhược: Không dùng chỉ số này để so sánh giữa 2 giai đoạn với nhau được do không cùng
chung kì gốc Việc tính toán mất nhiều công sức do kì gốc thay đổi sau mỗi kì tính toán
Các chỉ số KOSPI (Hàn Quốc); S&P500(Mỹ); FT-SE 100 (Anh) ; TOPIX (Nhật) ; CAC
(Pháp); TSE (Đài Loan); Hangseng (Hong Kong); các chỉ số của Thuỵ Sĩ, và Vn- Index
của Việt Nam áp dụng phương pháp này
2 Laspeyres:
Chỉ số giá bình quân Laspeyres là chỉ số giá bình quân gia quyền giá trị, lấy quyền số là số
chứng khoán niêm yết thời kỳ gốc Như vậy kết quả tính sẽ phụ thuộc vào cơ cấu quyền số
thời kỳ gốc Công thức tính:
Trong đó:
I: Là chỉ số giá bình quân Laspeyres
Pt: Là giá thời kỳ tính toán
P0 : Là giá thời kỳ gốc
Q0: Là khối lượng (hoặc cơ cấu của khối lượng) chứng khoán niêm yết thời kỳ gốc
i: Là cổ phiếu i tham gia tính chỉ số giá
n: là số lượng cổ phiếu đưa vào tính chỉ số
Ưu: Có thể so sánh giữa các kì tính toán với nhau Việc tính toán không tốn nhiều công sức
do kì gốc không thay đổi
Nhược: do quyền số là khối lượng chứng khoán niêm yết ở kì gốc nên sẽ không được cập
nhật theo những thay đổi mới nhất của kì tính toán
Có ít nước áp dụng phương pháp này, đó là chỉ số FAZ, DAX của Đức
3 Chỉ số giá bình quân Fisher
Chỉ số giá bình quân Fisher là chỉ số giá bình quân nhân giữa chỉ số giá Paasche và chỉ số
giá Laspayres Phương pháp này trung hoà được yếu điểm của hai phương pháp trên, tức là
giá trị chỉ số tính toán ra phụ thuộc vào quyền số của cả 2 thời kỳ: Kỳ gốc và kỳ tính toán
I F =
Trang 9Trong đó:
IF : Là chỉ số giá Fisher
IP: Là chỉ số giá Passcher
IL: Là chỉ số giá bình quân Laspeyres
Về mặt lý luận có phương pháp này, nhưng trong thống kê không thấy nó áp dụng ở bất kỳ
một quốc giá nào
4 Phương pháp số bình quân giản đơn:
Ngoài các phương pháp trên, phương pháp tính giá bình quân giản đơn cũng thường được
áp dụng Công thức đơn giản là lấy tổng thị giá của chứng khoán chia cho số chứng khoán
tham gia tính toán:
∑ p i
I p =
-n
Trong đó:
Ip: là giá bình quân;
Pi: là giá Chứng khoán i;
n: là số lượng chứng khoán đưa vào tính toán
Các chỉ số họ Dow Jone của Mỹ; Nikkei 225 của Nhật; MBI của Ý áp dụng phương pháp
này Phương pháp này sẽ tốt khi mức giá của các cổ phiếu tham gia niêm yết khá đồng đều,
hay độ lệch chuẩn của nó thấp
5 Phương pháp bình quân nhân giản đơn
Ip =
Chúng ta chỉ nên dùng loại chỉ số này khi độ lệch chuẩn khá cao Các chỉ số: Value line
(Mỹ); FT-30 (Anh) áp dụng phương pháp bình quân nhân giản đơn này
Tuy nhiên về mặt lý luận, chúng ta có thể tính theo phương pháp bình quân cộng hoặc bình
quân nhân gia quyền với quyền số là số chứng khoán niêm yết
Bình luận về phương pháp tính VN-index:
Về lý thuyết, để tính được chỉ số giá chứng khoán, ta cần:
-Chọn một rổ các chứng khoán đại diện để tính toán Rổ này nên được điều chỉnh để luôn bao
gồm những chứng khoán đại diện của thị trường
Xác định phương pháp tính giá trung bình (1 trong 5 phương pháp trên)
Xác định giá của các chứng khoán thời điểm gốc và thời điểm tính toán
Xác định khối lượng hoặc cơ cấu khối lượng của các chứng khoán được chọn, tại thời điểm
tính toán hoặc thời điểm gốc
Thứ nhất, trong việc chọn chứng khoán đại diện:
VN-index không bao gồm trái phiếu trong tính toán
Toàn bộ cổ phiếu niêm yết đều được đưa vào tính toán chứ không chọn ra các cổ phiếu đại
diện
Thứ 2, VN-index được tính toán dựa trên phương pháp tính chỉ số giá Paasche, quyền số
trên lý thuyết là cơ cấu khối lượng niêm yết thời kì tính toán của các chứng khoán Thực tế
để tính VNI, quyền số là khối lượng đang lưu hành của các cổ phiếu trên thị trường, vì vậy
nó sẽ bị ảnh hưởng bởi những cổ phiếu có giao dịch nhiều
Câu 7 Ý nghĩa của Lý thuyết thị trường hiệu quả
Trang 10Khái niệm: Thị trường hiệu quả (Efficient Market) là thị trường mà tại đó,tất cả những
thông tin có liên quan được phản ánh lại trong giá của chứng khoán Nói cách khác, giá
chứng khoán phản ánh giá trị ktế cơ bản, khả năng lợi nhuận tiềm tàng trong tương lai
tương ứng với mức độ rủi ro của doanh nghiệp
Nội dung:
+ Các giả định của thị trường hiệu quả
- Có một số lượng lớn các thành viên tham gia thị trường cạnh tranh, mỗi thành viên phân
tích và đánh giá độc lập nhằm tối ưu hóa lợi nhuận của mình
- Các NDT cạnh tranh có gắng điều chỉnh giá ngay tức khắc với tất cả các thông tin liên
quan có sẵn nhằm phản hồi được ảnh hưởng của thông tin
- Giá cả chứng khoán được thay đổi tại thời điểm bất kỳ chủ yếu dựa vào thông tin mới
được ngẫu nhiên đưa ra
3 mức hiệu quả thị trường:
Giả thuyết thị trường thể yếu: giả định rằng giá chứng khoán hiện tại là sự phản ánh đầy
đủ mọi thông tin của thị trường chứng khoán, bao gồm các chuyển dịch liên tục của giá, tỷ
suất thu nhập, khối lượng giao dịch và các thông tin chung khác Vì nó giả định rằng mức
giá thị trường hiện tại này đã phản ánh tất cả các thu nhập trong quá khứ và mọi thông tin
trên thị trường nên giả thuyết này có nghĩa là tỷ suất thu nhập trong quá khứ cũng như các
thông tin khác không có mối liên hệ với tỷ suất thu nhập trong tương lai (các tỷ suất thu
nhập độc lập với nhau)
Giả thuyết thị trường thể trung bình:cho rằng giá chứng khoán sẽ điều chỉnh nhanh
chóng trước bất kỳ thông tin công khai nào, tức là, mức giá hiện tại phản ánh đầy đủ mọi
thông tin công khai Thông tin công khai cũng bao gồm tất cả các thông tin phi thị trường
như: các thông báo về thu nhập và cổ tức, tỷ lệ P/E, tỷ lệ D/P,các thông tin về kinh tế chính
trị… Giả thuyết này có ý nghĩa rằng các nhà đầu tư khi ra quyết định dựa trên các thông tin
mới sau khi nó được công bố sẽ không thu được lợi nhuận cao hơn mức trung bình bởi mức
giá chứng khoán này đã phản ánh mọi thông tin công khai đó
Giả thuyết thị trường thể mạnh:cho rằng giá chứng khoán là sự phản ánh tất cả các thông
tin từ công khai đến nội bộ tức là không có một nhóm đầu tư nào độc quyền tiếp cận được
các thông tin liên quan đến việc định giá sẽ không ai thu được lợi nhuận vượt mức
Mối quan hệ của lý thuyết thị trường hiệu quả với Chính sách đầu tư
- Là một trong ba trụ cột của lý thuyết tài chính chuẩn, cùng với Lý thuyết Markowitz và
mô hình CAMP, ba cơ sở lý thuyết có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau
Lý thuyết thị trường hiệu quả ảnh hưởng lớn đến việc định giá chứng khoán, định giá các
danh mục đầu tư và các phương pháp phân tích kĩ thuật, phân tích cơ bản
- Ở thị trường dạng yếu, việc sử dụng Phương thức kỹ thuật sẽ ko dẫn tới hiệu quả vượt
trội vì thông tin được sử dụng để xây dựng chiến lược đầu tư đã được phan ánh trong giá
chứng khoán thực tế
- Ở thị trường dạng trung bình, việc sử dụng Phân tích cơ bản sẽ ko mang lại hiệu quả hoạt
động tốt hơn vì thông tin công bố đã được phản ánh trong giá chứng khoán
= >Tóm lại, những người bảo vệ lý thuyết này sẽ nghiêng về chiến lược thụ động
(mua và nắm giữ) vì Nhà đầu tư cho rằng thị trường hiệu quả khai thác cơ hội tạo ra sinh lời
dị biến sẽ k muốn theo đuổi nhà đầu tư chủ động Những người nghĩ rằng thị trường luôn
Trang 11tạo ra khoảng trống cơ hội sẽ tham gia chiến lược chủ động, gọi là chiến lược lựa chọn cổ
phiếu và lựa chọn thời điểm
Do vậy, để quản lý danh mục đầu tư, kể cả ở thị trường hiệu quả hoàn hảo, vị thế tối ưu của
nhà đầu tư sẽ phụ thuộc vào các yếu tố như, tuổi tác, thuế, tâm lý ngại rủi ro, việc làm
Nhược điểm của lý thuyết thị trường hiệu quả:
Đầu tiên, EMH giả định rằng tất cả các nhà đầu tư đều nhận thức tất cả các thông tin
sẵn có trên thị trường theo cách thức y hệt nhau Nhưng Nếu một nhà đầu tư tìm kiếm các cơ
hội đầu tư đang bị định giá thấp hơn thực chất trong khi một nhà đầu tư khác đánh giá một
cổ phiếu dựa trên tiềm năng tăng trưởng của nó, thì chắc chắn rằng hai nhà đầu tư này sẽ đi
đến hai kết luận hoàn toàn khác nhau về giá trị thị trường công bằng của một cổ phiếu Vì
thế nên, một lập luận phản đối EMH chỉ ra rằng, vì các nhà đầu tư đánh giá cổ phiếu rất
khác nhau nên việc chắc chắn xem một cổ phiếu sẽ đáng giá như thế nào trong một thị
trường hiệu quả là điều không thể
Hai là, theo Giả thuyết Thị trường Hiệu quả, không một nhà đầu tư đơn lẻ nào có thể
giành được lợi nhuận cao hơn một người khác với cùng số tiền đầu tư: sự sở hữu cân bằng
nhau về thông tin của họ đồng nghĩa với việc họ chỉ có thể thu về những khoản lời y hệt
nhau Nhưng hãy xem xét lại một chuỗi những khoản lợi nhuận rất khác biệt mà các nhà
đầu tư, các quỹ đầu tư…đã dành được Nếu không một nhà đầu tư nào có lợi thế hơn so với
người khác, thì tại sao lại có chuyện cùng là các quỹ tương hỗ, nhưng bản thống kê cho thấy
có quỹ thì thua lỗ trầm trọng còn có quỹ lại đạt lợi nhuận 50%, thậm chí hơn? Theo EMH,
nếu một nhà đầu tư có lợi nhuận, điều đó có nghĩa là tất tần tật toàn bộ giới đầu tư đều có
lợi Đơn giản, trên thực tế, điều này không thể đúng!
Ba là, theo EMH, không một nhà đầu tư nào có thể đánh bại được thị trường hay vượt qua
được mức lợi nhuận trung bình năm mà tất cả các nhà đầu tư và các quỹ đầu tư đạt được với
sự nỗ lực hết mình Giống như nhiều chuyên gia thị trường thường nhấn mạnh, điều này ẩn
ý rằng một chiến lược đầu tư hoàn hảo tuyệt đối đơn giản là hãy đặt toàn bộ ngân quỹ bạn
có vào một quỹ đầu tư về chỉ số (index fund - quỹ đầu tư có danh mục gắn liền với các chỉ
số có tầm rộng như S&P 500…) Một quỹ đầu tư như thế này sẽ lên xuống theo đúng mức
độ lợi nhuận hay thua lỗ chung của các doanh nghiệp Thế nhưng trên thực tế, luôn có hàng
loạt những ví dụ về các nhà đầu tư đã đánh bại thị trường
Thực tiễn lý thuyết thị trường hiệu quả ở Việt Nam
Từ trước đến nay, để phân tích đầu tư chứng khoán, nhà đầu tư (NĐT) thường sử
dụng 2 học thuyết phân tích thông dụng là: phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật Đây là 2
học thuyết phân tích có từ những ngày đầu tiên trong lịch sử TTCK thế giới Một học thuyết
phân tích được ra đời muộn hơn, phủ định lại 2 học thuyết kia, đó là học thuyết thị trường
hiệu quả (efficient market theory) trên TTCK Việt Nam có thời gian xuất hiện những hiện
tượng mang tính quy luật như hiện tượng đầu tuần (giá cả đầu tuần luôn đi ngược lại giá
cuối tuần trước, cuối tuần giá tăng thì đầu tuần sẽ giảm hoặc ngược lại); hiện tượng mỗi lần
phát hành thêm hoặc thưởng cổ phiếu thì thị giá sẽ tăng trước ngày chốt danh sách; giá cổ
phiếu trên thị trường OTC (over the counter) thường rẻ hơn trước khi được niêm yết, nên có
thời gian khi thông tin DN sắp sửa được niêm yết thì NĐT sẽ mua gom loại cổ phiếu này
đợi ngày lên sàn Những dạng thị trường như thế được xem là thị trường kém hiệu quả
Trang 12Tuy nhiên, giống như hiện tượng "nước chảy chỗ trũng", khi thị trường trở nên kém
hiệu quả, quy luật cung cầu trên thị trường do NĐT cạnh tranh lẫn nhau khai thác các hiện
tượng đã được nhận biết để kiếm lợi nhuận Và chính điều này sẽ đưa thị giá trở về trạng
thái cân bằng, đồng thời xóa bỏ hiện tượng đó Thị trường khi đó sẽ bắt đầu phát sinh
những hiện tượng mới và trở thành thị trường hiệu quả ở hình thái mạnh bởi những hiện
tượng, quy luật mới chưa được NĐT nhận biết Đối với nhiều NĐT chuyên nghiệp thì
TTCK không bao giờ có quá khứ, nghĩa là những hiện tượng không bao giờ lặp lại giống
nhau, vì thế khó mà dự đoán được
Việc nắm bắt được những hình thái thị trường ở các mức độ hình thái hiệu quả yếu
(weak form) và mạnh (strong form) sẽ giúp NĐT có thêm cơ hội đánh giá danh mục đầu tư
của mình, giúp NĐT tối đa hóa lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro Ví dụ, trong quá khứ, có thời
điểm mà đi đâu bạn cũng nghe thấy, ai cũng "trúng" chứng khoán, cứ ai tham gia là thắng,
sự tin tưởng tràn ngập Hoặc khi thị trường đi xuống, không khí trầm lắng, thị trường ảm
đạm, bạn nghe được nhiều người phải bán tài sản của mình để trả nợ, niềm tin bị đẩy xuống
Những lúc như thế, thị trường đã trở thành thị trường kém hiệu quả
Bởi vì tất cả thông tin cảnh báo khi thị trường tăng nóng, chứng khoán vượt quá giá
trị thật đã được NĐT nhận biết và sự cạnh tranh của họ đã đưa thị trường trở lại trạng thái
cân bằng Ngược lại, khi thị trường giá lên là do NĐT nhận thấy, chứng khoán trở nên rẻ
hơn so với giá trị nội tại, đồng thời những thông tin về DN, về thị trường nói chung đã làm
NĐT bắt đầu mua vào và cũng chính sự cạnh tranh của NĐT đã hình thành thị trường hiệu
quả mạnh (strong form) thoát khỏi hình thái thị trường hiệu quả yếu (weak form) Chính
điều này đã mang lại sự hấp dẫn của TTCK Tóm lại, thị trường mà ở đó giá thay đổi ngẫu
nhiên, không có quy luật về sự thay đổi và không thể dự đoán được, đồng thời do có sự
cạnh tranh giữa các NĐT dẫn đến một thị trường hiệu quả
Nhìn lại quá khứ, tại thời điểm năm 2001 khi mà thị trường đang ở giai đoạn cao trào
(chỉ có mấy loại chứng khoán trên sàn giao dịch) cầu nhiều hơn cung, lẽ ra nên bơm thêm
hàng vào thị trường nhưng cơ quan quản lý thị trường khi đó quyết định mỗi lệnh mua chỉ
được phép mua 2 000 chứng khoán và thế là thị trường lao xuống, VN-Index từ 571 điểm
còn 130 điểm trong thời gian ngắn và mãi đến 4 năm sau thị trường mới lên thêm được 100
điểm nữa và 5 năm sau mới lên lại được giá trị cũ Hay mới đây là Chỉ thị 03 của Ngân
hàng Nhà nước về khống chế tỷ lệ cho vay đầu tư chứng khoán được đưa ra khá bất ngờ
làm cho NĐT, cộng đồng tài chính và thị trường phản ứng Với học thuyết thị trường hiệu
quả thì những thông tin này đã ảnh hưởng gì đến tâm lý hành vi của các chủ thể tham gia thị
trường, đến quy luật thị trường, đồng thời phản ánh vào giá chứng khoán Những NĐT vận
dụng học thuyết thị trường hiệu quả khi đó sẽ xác định chiến lược đầu tư phù hợp
Câu 8: Nội dung lý thuyết Markowitz
Tỷ suất sinh lời kỳ vọng của danh mục
E(p)= ∑ni=1wiE(Ri)
Trong đó, wi : tỷ trọng tài sản thứ i trong danh mục
E(Ri): tỷ suất sinh lợi của tài sản thứ i
Trang 13Phương sai của một danh mục đầu tư
Phương sai của danh mục đầu tư gồm 2 chứng khoán
Nếu ρ =1 các CK có mối tương quan tuyệt đối dương
Nếu ρ==1 các CK có mối tương quan tuyệt đối âm
Phương sai của danh mục đầu tư gồm n chứng khoán
Tuy nhiên với một số lượng lớn tài sản trong danh mục thì số lượng tính toán là rất
lớn Đây là nhược điểm cơ bản của mô hình Markowitz Nhưng sự phát triển của công nghệ
ngày nay chúng ta có thể tính toán dễ dàng nhờ các môi trường tính toán cực mạnh
Markowit cho rằng nhà đầu tư không nên chọn các DMĐT tối đa hóa lợi nhuận kỳ
vọng vì bản thân tiêu chí này đã bỏ qua nguyên tắc đa dạng hóa, mà thay vào đó xem xét
phương sai của lợi nhuận để lựa chọn danh mục vốn đầu tư có lợi nhuận kỳ vọng cao nhất
với phương sai cho trước
Các bước
Trang 141 Nhà đầu tư xác định rõ tập hợp các tài sản rủi ro và phi rủi ro muốn xem xét cũng như
thời gian đầu tư
2 Thực hiện việc phân tích chứng khoán, cụ thể là xác định lợi nhuận kỳ vọng, mức độ rủi
ro và mối tương quan giữa các tài sản
3 Tính toán tập hợp đầu tư hiệu quả, sử dụng các dữ liệu đã tính toán ở bước 2, nếu tài sản
phi rủi ro được sử dụng , tập hợp hiệu quả sẽ là đường thẳng, nếu không nó sẽ là đường
cong
4 Xác định DMĐT tối ưu thỏa mãn từng nhà đầu tư cụ thể
Ưu điểm của phương pháp này là bước 1 đến 3 độc lập với nhà đầu tư và chỉ cần làm 1 lần,
bước 4 xem xét cho từng nhà đầu tư
Câu 10: Định giá doanh nghiệp Nêu thêm ưu nhược điểm từng phương pháp Tập
1 Phương pháp giá trị tài sản thuần
+ Giá trị thực tế của DN CPH là giá trị toàn bộ tài sản hiện có của DN tại thời điểm CPH có
tính đến khả năng sinh lời của DN mà ngưofi mua, người bán cổ phần đều chấp nhận đc Cần
chú ý đến các xung đột lợi ích trong định giá, Xác định giá trị lợi thế kinh doanh, Giá trị vốn
đầu tư dài hạn của DN, Giá trị quyền sử dụng đất, giá trị thương hiệu, Khấu hao TSCD
Không đánh giá đc triển vọng sinh lời của DN
Không xem xét phần lớn các yếu tố phi vật chất
Phức tạp trong tính toán đối với các DN đặc thù
2 Phương pháp so sánh
* Phương pháp hệ só P/E (tỉ số giá/ lợi nhuân)
Trailing P/E = Giá thị trường của 1 CP/EPS của 12 tháng trước
= Po/Eo=(Do/Eo)*(1+g)/(k-g) =(1-b)*(1-g)/(k-g)
Leading P/E =Po/E1=(D1/E1)/(k-g)=(1-b)/(k-g)
b : tỉ lệ lợi nhuận giữ lại tái đầu tư
g: tỉ lệ tăng trưởng
P/E không dự đoán giá cổ phiếu trong ngắn hạn, nó giúp hình dung giá CP trong dài hạn
P/E cao(giá đắt) nhưng giá CP vẫn có thể tiếp tục tăng và ngược lại, tuy nhiên P/E giúp NDT
xác định giá CP đang ở mức nào để đưa ra chiến thuật đầu tư hợp lí
Không nên sử dụng P/E như một tiêu chí để quyêast định việc mua hay bán CP
*hệ số PEG
*P/B(giá/giá trị sổ sach): sử dụng khi EPS âm, lúc đó việc sử dụng hệ số P/E không còn ý
nghĩa Giá trị sổ sách thường ổn định hơn EPS nên khi có sự đột biến về EPS cần sử dụng
Trang 15DDM FCFE FCFFNguyê
n lí
Giá trị Dn đc xác định bằng cách hiện tại hóa các luồng tiền tự
do mà DN dự kiến thu đc trong tương lai theo 1` tỉ lệ chiết khấutương ứng với mức độ rủi ro mà DN fai gánh chịu
Công
thức
Tổng quát: Po=
∑(t=1:n)(DIVt/(1+ke)^t)
Mô hình tăng trưởngđều:
Mô hình tăng trưởng đềuPo=FCFFo*(1+g)/(WACC-g)
Dòng
tiền
DIV: cổ tức FCFE = Thu nhập ròng –
(chi tiêu vốn – khấuhao)*(1- tỷ lệ nợ) – Nhucầu VLD ròng*(1-tỷ lệ nợ)
FCFF=EBIT*(1-T) – (chi tiêuvốn – khấu hao) – nhu cầu VLDròng
g=ROE*tỷ lệ tái đầu tư vốn
Ưu: tính toán dễ dàngNhược:ko sử dụng chocác cty ko trả cổ tức/ko
áp dụng khi g>k/nhạycảm với sự lựa chọn g
và k/khó khăn khi ướclượng k và g/ko có ý
Ý nghĩa: Xác định giá trịthực của 1 cổ phiếu
Ưu: khắc phục được cácnhược điểm của mô hìnhDDM/kết quả khá chínhxác
Nhược: vẫn chưa đề cập hếtcác dòng tiền trong công tynhư các khonar nợ
Ý nghĩa: xác định giá trị thực củahãng
Ưu: ước lượng được đầy đủ cácdòng tiền trong DN
Tính đến các khoản nợ phảitrả(chiếm phần rất lớn trong tổnggiá trị DN)
Nhược: Do các khoản nợ phátsinh ko ổn định nên dễ dẫn tớiước lượng ko chính xác
P/B Sử dụng phù hợp với các DN ngành dịch vụ (đối với Dn này giá trị sổ sách tương đốisát với giá trị thị trương) Sử dụng đối với DN ko thể duy trì sự tăng trưởng
*P/S (giá/Doanh thu): Sử dụng khi EPS âm Sử dụng khi EPS tăng hoặc giảm 1 cách độtbiến Sử dụng phù hợp khi định giá các chứng khoán ở trong giai đoạn bão hòa, biến độngmạnh hoặc thu nhập của công ty =0
Lưu ý: P/S không phản ánh sự khác biệt về cấu trúc chi phí giữa các công ty Doanh thu dễ
Trang 16Câu 11: Liên hệ thị trường chứng khoán và thị trường vàng
Chứng khoán và vàng là hai kênh đầu tư có tính chất thay thế cho nhau, nghĩa là khi có tiền,
nhà đầu tư có thể chọn đầu tư vào chứng khoán, hoặc vàng hoặc cả hai để sinh lời Về lý
thuyết, luồng vốn đầu tư sẽ dịch chuyển từ kênh đầu tư có tỷ suất sinh lời thấp sang kênh
đầu tư có tỷ suất sinh lời cao hơn Trên phương diện này, khi chứng khoán lên, sẽ tạo nhiều
cơ hội cho mọi người kiếm lợi nhuận từ thị trường chứng khoán và giảm đầu tư vào vàng
Tuy nhiên, khi nhận định như trên cần lưu ý 2 điều: (i) Không bao giờ chứng khoán và vàng
là vật thay thế hoàn toàn cho nhau, nghĩa là dù chứng khoán có hấp dẫn như thế nào thì vẫn
có nhiều nhà đầu tư quan tâm tới đầu tư vàng, đơn giản vì họ quen với hoạt động kinh
doanh này hơn; (ii) Vàng và chứng khoán đều là những cấu phần của một thị trường tài
chính Hoạt động nhộn nhịp đầu tư trong một cấu phần, có thể tạo cho nhà đầu tư sự phấn
khích cần thiết để đầu tư vào cả cấu phần kia
Bên cạnh đó, đầu tư vào chứng khoán là rất rủi ro, vì khi doanh nghiệp phá sản, số
chứng khoán đang nắm giữ có thể mất giá trị Đầu tư vào vàng có thể lãi, có thể lỗ, nhưng
không bao giờ mất trắng vì vàng có giá trị nội tại của nó Một nhà đầu tư khôn ngoan luôn
chia sẻ rủi ro bằng cách trong khi đầu tư chứng khoán thì vẫn đầu tư vàng
Tóm lại, khi chứng khoán lên, có thể một số nhà đầu tư sẽ dồn vốn đầu tư sang kênh
này, nhưng điều này không hẳn dẫn tới sự trầm lắng của thị trường vàng
Liên hệ thị trường chứng khoán với thị trường bất động sản
Thị trường bất động sản thường có tin công bố hàng tháng về doanh số nhà xây mới, doanh
số nhà chờ bán, hoặc giấy phép xây dựng Các thông tin này được xem như yếu tố chủ đạo,
vì thị trường nhà đất ảnh hưởng đến hầu hết các lĩnh vực
Khi thị trường nhà đất có thông tin bất lợi sẽ dẫn đến tác động làm giảm điểm TTCK
và ngược lại
Bất động sản gần như mối quan tâm thường trực của cá nhân mỗi khi tiềm lực tài
chính được cải thiện hoặc vào lúc cần sắp xếp lại cơ cấu tài sản nắm giữ Ngay trong thập
kỷ 1990, đã có thể ghi nhận việc xã hội xem bất động sản như một phương tiện lưu trữ giá
trị ưa thích bên cạnh vàng và ngoại tệ mạnh (phổ biến là đô-la Mỹ) Xu hướng tăng giá bất
động sản cũng là động lực quan trọng khiến thị trường này ngày một sôi động và lấn át các
hình thức đầu tư và tiết kiệm truyền thống