1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

giải quyết tranh chấp kinh tế trong điều kiện kinh tế thị trường ở việt nam

222 615 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải quyết tranh chấp kinh tế trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật kinh tế
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 222
Dung lượng 904 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những năm 90, để chuẩn bịcho thành lập TKT nhiều đề tài nghiên cứu về mô hình tổ chức TKT và tố tụngkinh tế đã đợc thực hiện nh chuyên đề "Tòa án kinh tế" của Bộ T pháp, đề tài "Mô hì

Trang 1

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa (XHCN) của ViệtNam đã làm cho các quan hệ kinh tế trở nên sôi động, đa dạng và phức tạp.Cũng vì vậy mà tranh chấp kinh tế (TCKT) phát sinh ngày một nhiều hơn, đadạng về chủng loại và phức tạp về nội dung Các TCKT phát sinh đòi hỏi phải

đợc giải quyết thỏa đáng bằng một phơng thức thích hợp nhằm bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của các bên, góp phần tạo dựng môi trờng kinh doanhthuận lợi, lành mạnh Xuất phát từ tầm quan trọng của việc giải quyết TCKT

mà pháp luật về giải quyết TCKT luôn đợc coi là một bộ phận cấu thành quantrọng của pháp luật kinh tế Quá trình đổi mới toàn diện đất nớc với trọng tâm

là cải cách kinh tế, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung sang nềnkinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa đã tác động sâu sắc đến hệ thốngpháp luật kinh tế nói chung và pháp luật về giải quyết TCKT nói riêng Trong

điều kiện kinh tế thị trờng, việc giải quyết TCKT phải chính xác, nhanhchóng, dân chủ, công bằng và hiệu quả Yêu cầu đổi mới pháp luật về giảiquyết TCKT ngày càng trở nên cấp thiết, nhất là khi công cuộc cải cách kinh

tế ở nớc ta đang đi vào cả chiều rộng lẫn chiều sâu

Phúc đáp các yêu cầu thực tiễn đặt ra cho công tác giải quyết TCKT,cơ chế giải quyết TCKT mới đã đợc thiết lập với sự đa dạng về phơng thức giảiquyết, đơn giản, linh hoạt về thủ tục áp dụng Bên cạnh các phơng thức giảiquyết tranh chấp theo sự thỏa thuận tự nguyện của các bên là thơng lợng vàtrung gian hòa giải thì các tranh chấp kinh tế còn có thể đợc giải quyết theothủ tục t pháp hoặc trọng tài (phi Chính phủ) Để tạo cơ sở pháp lý cho hoạt

động giải quyết TCKT, hàng loạt văn bản pháp luật đã đợc ban hành nh: LuậtSửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (LTCTAND)năm 1993, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994, Nghị

Trang 2

định số 116/CP về tổ chức và hoạt động của Trọng tài kinh tế năm 1994, Quyết

định số 240/TTg của Thủ tớng Chính phủ về tổ chức Trung tâm trọng tài quốc

tế Việt Nam năm 1993 Trong gần 10 năm qua, hoạt động giải quyết TCKT

đã thu đợc kết quả bớc đầu đáng khích lệ, tạo sự tin tởng, yên tâm đầu t củacác chủ thể kinh doanh, thúc đẩy sự phát triển các quan hệ kinh tế của cơ chế thịtrờng, bảo đảm trật tự, kỷ cơng trong hoạt động kinh tế

Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế nớc ta đang có những chuyểnbiến sâu sắc với "chủ trơng thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách pháttriển nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa" [21, tr 86] và từng bớcchủ động hội nhập kinh tế khu vực và thế giới thì hoạt động giải quyết TCKTngày càng bộc lộ nhiều bất cập: Quan niệm về TCKT không rõ ràng và thiếunhất quán; thủ tục giải quyết tranh chấp kinh tế còn phức tạp và thờng bị kéodài, phán quyết nhiều khi không chính xác; khả năng thi hành kết quả giảiquyết tranh chấp trong thực tế rất hạn chế Hậu quả là quyền và lợi ích hợppháp của các bên tranh chấp không đợc bảo vệ triệt để, ý thức tôn trọng phápluật của các chủ thể kinh doanh không đợc đề cao, nhiều lực cản đối với việchoàn thiện môi trờng kinh doanh trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế đã xuấthiện

Đại hội Đảng lần thứ IX đã đặt ra yêu cầu "đẩy mạnh việc xây dựng

và hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với kinh tế thị trờng định hớng xãhội chủ nghĩa Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung pháp luật hiện hành phù hợp vớiyêu cầu thực hiện chiến lợc kinh tế - xã hội và yêu cầu hội nhập kinh tế quốctế" [21, tr 329] Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 2/12/2002 của Bộ Chính trị vềmột số nhiệm vụ trọng tâm của công tác t pháp trong thời gian tới cũng đề rayêu cầu cấp bách là "xây dựng cơ chế để nâng cao hiệu quả của các hình thứcgiải quyết tranh chấp nh hòa giải, trọng tài, nhằm góp phần xử lý đúng vànhanh chóng những mâu thuẫn, khiếu kiện trong nội bộ nhân dân và giảm nhẹcông việc cho tòa án và cơ quan nhà nớc khác" [1] Thực tế đó đặt ra nhu cầuphải nghiên cứu làm rõ các khía cạnh pháp lý của TCKT và giải quyết TCKT;

Trang 3

đánh giá thực trạng áp dụng các phơng thức giải quyết TCKT trong thời gianqua để tìm ra nguyên nhân của các khó khăn, vớng mắc trong thực tiễn giảiquyết TCKT từ đó đa ra hớng khắc phục Đây chính là lý do để nghiên cứu

sinh lựa chọn đề tài "Giải quyết tranh chấp kinh tế trong điều kiện kinh tế thị trờng ở Việt Nam" làm luận án tiến sĩ luật học của mình.

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Các vấn đề liên quan đến TCKT và giải quyết TCKT luôn thu hút đợc

sự quan tâm không chỉ của giới kinh doanh mà còn của giới nghiên cứu Bởivậy đã có nhiều công trình nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau về các khíacạnh pháp lý của TCKT và giải quyết TCKT Từ những năm 90, để chuẩn bịcho thành lập TKT nhiều đề tài nghiên cứu về mô hình tổ chức TKT và tố tụngkinh tế đã đợc thực hiện nh chuyên đề "Tòa án kinh tế" của Bộ T pháp, đề tài

"Mô hình tổ chức giải quyết tranh chấp kinh tế ở Việt Nam trong giai đoạn

hiện nay" của Trọng tài kinh tế Nhà nớc, Dự án VIE/94/003 "Tăng cờng năng

lực pháp luật tại Việt Nam" của Bộ T pháp có phần nghiên cứu pháp luật về

giải quyết TCKT; Đề tài khoa học cấp bộ của Bộ T pháp "Các phơng thức giải

quyết tranh chấp kinh tế ở Việt Nam hiện nay" (1999), Đề tài khoa học cấp bộ

do Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) chủ trì năm 2001 "Tính đặc thù trong

thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, lao động - Những vấn đề lý luận và thực tiễn" Bên cạnh đó còn một số luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ cũng đề cập

đến các nội dung nhất định của việc giải quyết TCKT nh luận án tiến sĩ luậthọc của Nguyễn Trung Tín "Công nhận và cho thi hành tại Việt Nam các

quyết định của trọng tài kinh tế", của Phan Thị Hơng Thủy "Xây dựng và hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế của các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài" Ngoài ra, còn có nhiều bài viết đề cập đến các vấn đề của TCKT

và giải quyết TCKT nh các bài "Hoàn thiện hệ thống pháp luật về giải quyết

tranh chấp kinh tế bằng Tòa án và Trọng tài" của GS.TSKH Đào Trí úc,

"Kinh tế thị trờng và sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật kinh tế" củaPGS.TS Lê Hồng Hạnh, "Tòa Kinh tế thuộc hệ thống Tòa án nhân dân -

Trang 4

Những vấn đề lý luận và thực tiễn" của TS Nguyễn Văn Dũng, "Về mối quan

hệ giữa tố tụng dân sự và tố tụng kinh tế" của TS Phạm Duy Nghĩa, "Trọng tài kinh tế, cơ quan tài phán mới trong kinh doanh ở nớc ta" của TS Dơng Đăng

Huệ, "Về mô hình tổ chức Tòa án kinh tế ở Việt Nam" của PGS.TS Hoàng ThếLiên, "Về cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế ở nớc ta trong giai đoạn hiện

nay" của PGS.TS Phạm Hữu Nghị, "Pháp luật tố tụng và các hình thức tố tụng kinh tế" của PGS.TS Nguyễn Nh Phát, "Hòa giải, thơng lợng trong việc giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế" của TS Trần Đình Hảo, "Tổ chức giải quyết tranh chấp kinh tế ở một số nớc ASEAN và một số bài học kinh nghiệm"

của TS Nguyễn Am Hiểu, "Việc tiếp nhận Luật Mẫu của UNCITRAL về trọng

tài thơng mại quốc tế ở một số nớc và việc xây dựng Dự thảo pháp lệnh trọng tài của Việt Nam" của TS Dơng Thanh Mai, "Tăng cờng vai trò của Tòa

án trong việc giải quyết tranh chấp kinh tế" của TS Phan Chí Hiếu

Trong những mức độ nhất định, các công trình nói trên mới đề cập mộtcách riêng biệt về từng phơng thức giải quyết tranh chấp kinh tế chứ cha đặtvấn đề nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện về TCKT và giải quyếtTCKT dới sự tác động của kinh tế thị trờng định hớng XHCN ở nớc ta với xuthế hội nhập kinh tế quốc tế cũng nh mối liên hệ giữa các phơng thức giảiquyết TCKT với nhau Luận án là công trình khoa học đầu tiên ở cấp độ luận

án tiến sĩ nghiên cứu một cách tổng thể và toàn diện về giải quyết TCKT trong

điều kiện kinh tế thị trờng ở Việt Nam, đánh giá sự chi phối của cơ chế kinh tếthị trờng đến quan niệm về TCKT và giải quyết TCKT, chỉ ra các đặc thù củatừng phơng thức giải quyết tranh chấp và mối liên hệ giữa chúng, đánh giáhoạt động giải quyết TCKT trong thời gian qua và đa ra phơng hớng và giảipháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết TCKT

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận án

Luận án có mục đích làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về TCKT vàgiải quyết TCKT; đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về giải quyết TCKT ở

Trang 5

nớc ta trong thời gian qua; đa ra những phơng hớng và giải pháp hoàn thiệnpháp luật về giải quyết TCKT.

Với những mục đích nghiên cứu nh vậy, luận án phải giải quyết cácnhiệm vụ sau:

- Làm rõ bản chất pháp lý của TCKT và giải quyết TCKT; đánh giá tác

động của nền kinh tế thị trờng, định hớng XHCN ở Việt Nam tới quan niệm vềTCKT và cơ chế giải quyết TCKT; chỉ ra các u điểm và nhợc điểm của từngphơng thức giải quyết tranh chấp TCKT cũng nh mối liên hệ giữa chúng vớinhau

- Đánh giá thực trạng giải quyết TCKT ở nớc ta trong thời gian qua từ

đó chỉ rõ các bất cập trong các quy định pháp luật hiện hành về tổ chức vàhoạt động của từng phơng thức giải quyết TCKT

- Khẳng định sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về giải quyếtTCKT đồng thời đa ra phơng hớng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật vềgiải quyết TCKT để nâng cao hiệu quả của từng phơng thức giải quyết TCKTvới trọng tâm là thiết lập mối liên hệ chặt chẽ giữa các phơng thức nhằm đápứng đòi hỏi ngày càng cao của nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN ở ViệtNam đối với việc giải quyết TCKT

4 Phạm vi nghiên cứu của luận án

Cơ chế giải quyết TCKT bao gồm rất nhiều nội dung hợp thành Nhngtrong khuôn khổ luận án tiến sĩ luật học, luận án chỉ tập trung nghiên cứu làm

rõ các khía cạnh pháp lý về TCKT và giải quyết TCKT với nội dung trọng tâm

là đánh giá thực trạng pháp luật hiện hành về tổ chức và hoạt động của từngphơng thức giải quyết TCKT trên cơ sở đó đa ra các kiến nghị nhằm xây dựng

và hoàn thiện pháp luật về giải quyết TCKT ở nớc ta Nhận thức đợc tầm quantrọng của tòa án và trọng tài đối với việc giải quyết TCKT trong điều kiện thực

tế Việt Nam, luận án tập trung nghiên cứu sâu pháp luật về giải quyết TCKTtheo thủ tục t pháp và thủ tục trọng tài

Trang 6

5 Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng phơng pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, t tởng

Hồ Chí Minh để luận giải mối quan hệ giữa thợng tầng kiến trúc và hạ tầng cơ

sở, mối quan hệ giữa kinh tế và pháp luật, vai trò của pháp luật trong việc điềuchỉnh quan hệ phát sinh từ hoạt động giải quyết tranh chấp Trên cơ sở cácquan điểm của Đảng và Nhà nớc ta về đờng lối đổi mới đất nớc, xây dựng Nhànớc pháp quyền XHCN Việt Nam, xây dựng nền kinh tế thị trờng định hớngXHCN luận án đã đề xuất phơng hớng và giải pháp hoàn thiện pháp luật vềgiải quyết TCKT

Để giải quyết những vấn đề đặt ra, luận án sử dụng các phơng phápnghiên cứu khoa học cụ thể, nh: phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống hóa,khảo sát thực tiễn Phơng pháp so sánh luật học đợc sử dụng để tham khảokinh nghiệm giải quyết TCKT ở nớc ngoài Phơng pháp khảo sát thực tiễn,thăm dò ý kiến chuyên gia đợc sử dụng để đánh giá thực trạng giải quyếtTCKT ở nớc ta thời gian qua Luận án sử dụng phơng pháp phân tích, tổnghợp, khái quát hóa để làm rõ các quy định của pháp luật hiện hành về TCKT,chỉ ra các bất cập của pháp luật và đề xuất giải pháp khắc phục

6 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

Luận án là một công trình khoa học trình bày một cách toàn diện vàchuyên sâu về TCKT và giải quyết TCKT trong nền kinh tế thị trờng ở ViệtNam Với việc làm rõ bản chất của TCKT và các phơng thức giải quyết dới sựtác động của cơ chế kinh tế thị trờng định hớng XHCN ở Việt Nam, luận án đãgóp phần phát triển lý luận về TCKT và giải quyết TCKT

Những kết quả nghiên cứu của luận án giúp cho các nhà kinh doanhlựa chọn áp dụng phơng thức giải quyết TCKT phù hợp với mình; các nhàhoạch định chính sách và các nhà xây dựng pháp luật ý tởng liên quan đếnviệc hoàn thiện cơ chế giải quyết TCKT Luận án còn chứa đựng nhiều thông

Trang 7

tin với giá trị tham khảo cao đối với các thẩm phán, trọng tài viên, hòa giảiviên và những ngời học tập, giảng dạy, nghiên cứu pháp luật

7 Những đóng góp mới của luận án

Luận án có những đóng góp mới sau đây:

- Luận án đã làm rõ đợc cơ sở lý luận về TCKT và giải quyết TCKT:Xây dựng đợc khái niệm khoa học về TCKT, đánh giá đợc tác động của cơ chếkinh tế thị trờng định hớng XHCN ở Việt Nam đến quan niệm về TCKT, vaitrò của từng phơng thức giải quyết TCKT và quan hệ nội tại giữa các phơngthức với nhau

- Thông qua các ví dụ thực tiễn, luận án đã đánh giá một cách toàndiện thực trạng giải quyết TCKT qua các phơng thức thơng lợng, trung gianhòa giải, tòa án và trọng tài; chỉ ra các bất cập trong pháp luật về giải quyếtTCKT và phân tích nguyên nhân của những bất cập đó

- Trên cơ sở các quan điểm, phơng hớng hoàn thiện cơ chế giải quyếtTCKT, luận án đã đề xuất nhiều kiến nghị mới mẻ nhằm hoàn thiện pháp luật

về giải quyết TCKT ở nớc ta

8 Kết cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụlục, luận án gồm 3 chơng, 9 mục

Trang 8

Chơng 1

Những vấn đề lý luận về tranh chấp kinh tế

và giải quyết tranh chấp kinh tế trong nền kinh tế thị trờng ở Việt Nam

1.1 tranh chấp kinh tế trong nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của tranh chấp kinh tế

TCKT là một hệ quả của quá trình vận động các nguồn lực phục vụcho hoạt động kinh doanh của các tổ chức, cá nhân dới sự tác động của quyluật giá trị, quy luật cung - cầu, quy luật cạnh tranh Một xã hội có nền kinh tếcàng phát triển thì TCKT càng xảy ra nhiều, càng phức tạp về tính chất và đadạng về nội dung Mục đích hàng đầu của các chủ thể khi tham gia các quan

hệ kinh tế là tìm kiếm lợi nhuận tối đa và xuất phát từ lợi ích cá biệt của mỗichủ thể kinh tế mà các xung đột về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể đó là điềukhó tránh khỏi Các Mác đã từng nói: Lợi ích thúc đẩy lịch sử các dân tộc Vềkhía cạnh kinh tế, quy luật giá trị (lợi ích) là động lực lớn nhất chi phối TCKT

TCKT là một khái niệm mang nội hàm kinh tế - pháp lý Trong mỗichế độ xã hội, dới từng thể chế kinh tế, thậm chí trong từng giai đoạn pháttriển kinh tế - xã hội cụ thể, khái niệm TCKT có thể mang những nội hàmriêng biệt Nói một cách khác, khái niệm TCKT mang trong mình những dấu

ấn đặc trng của cơ chế kinh tế và điều kiện cơ sở vật chất của một xã hội, mộtNhà nớc nhất định Việc xây dựng khái niệm TCKT và làm rõ nội hàm của nó

sẽ giúp chúng ta thấy đợc bản chất pháp lý của TCKT, từ đó tìm ra biện pháphữu hiệu để giải quyết chúng một cách nhanh chóng, chính xác và đúng phápluật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp, bảo đảm trật

tự kinh doanh và kỷ cơng xã hội

Trang 9

Tranh chấp, hiểu theo nghĩa khái quát nhất là những xung đột, bất

đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi chúng tham gia vào các quan

hệ pháp luật Các tranh chấp trong xã hội rất phong phú và đa dạng Chúngphát sinh trong nhiều lĩnh vực, giữa các loại chủ thể, từ những lý do khác nhau

và vì những mục đích không giống nhau Để đáp ứng một nhu cầu nào đó màngời ta có thể dựa trên một căn cứ riêng để phân loại tranh chấp Căn cứ vàonội dung cụ thể của tranh chấp mà chia thành tranh chấp hợp đồng, tranh chấpbồi thờng thiệt hại ngoài hợp đồng, tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, tranhchấp chứng khoán Căn cứ vào tính chất của các quan hệ pháp luật làm phátsinh tranh chấp, ngời ta có thể chia thành tranh chấp dân sự, TCKT (kinhdoanh), tranh chấp lao động, tranh chấp hành chính

Các quốc gia trên thế giới có những quan niệm rất khác nhau về tranhchấp nói chung và tranh chấp phát sinh từ các hoạt động kinh doanh nói riêng.Không phải quốc gia nào cũng có sự phân biệt tranh chấp kinh doanh (TCKTtheo cách gọi của Việt Nam) với tranh chấp dân sự

Các nớc theo truyền thống luật Anh - Mỹ nh: Anh, Mỹ, úc và các nớcchịu ảnh hởng của truyền thống luật này không phân biệt lĩnh vực kinh doanh(với mục đích tìm kiếm lợi nhuận) và lĩnh vực dân sự (mục đích tiêu dùng).Trong pháp luật của các nớc này không tồn tại các khái niệm thơng nhân (th-

ơng gia), hành vi thơng mại hay giao dịch thơng mại Điều này dẫn đến hệ quả

là các nớc này không phân biệt tranh chấp kinh doanh (những tranh chấp phátsinh từ các hoạt động kinh doanh của các công ty hoặc liên quan mật thiết tớichúng) với các tranh chấp phát sinh từ các hoạt động dân sự Mọi tranh chấp

dù phát sinh từ hoạt động kinh doanh hay hoạt động dân sự đều đợc giải quyếtbằng phơng thức giống nhau

Nói nh vậy không có nghĩa là các quốc gia này không tồn tại nhữngthiết chế riêng để giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanhcủa các tổ chức, cá nhân Ví dụ: Vơng quốc Anh có tòa án giải quyết những

Trang 10

khiếu nại về hạn chế quyền tự do kinh doanh; Hợp chủng quốc Hoa Kỳ có tòa án giải quyết các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ thơng mại quốc

tế [70, tr 583] Trong tòa án dân sự thẩm quyền chung của Nhật Bản có nhữngBan riêng để giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh hoặccác tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh đợc phân cho thẩm phán nào

có nhiều kiến thức kinh doanh và kinh nghiệm trong việc giải quyết các tranhchấp loại này

Các nớc theo truyền thống luật Châu Âu lục địa nh Đức, Pháp, TâyBan Nha, Bỉ và các nớc chịu ảnh hởng của truyền thống luật này phân biệthoạt động kinh doanh với hoạt động dân sự và thừa nhận sự tồn tại của phápluật thơng mại bên cạnh pháp luật dân sự Pháp luật của các nớc này có kháiniệm thơng nhân (thơng gia) và hành vi thơng mại với việc đa ra các tiêu chíkhá cụ thể để phân biệt thơng nhân với ngời không phải là thơng nhân; hành vithơng mại với hành vi dân sự Sự phân biệt này dẫn đến hệ quả là: (i) đối vớihành vi thơng mại sẽ u tiên áp dụng luật thơng mại; những gì luật thơng mạikhông quy định thì áp dụng luật dân sự và (ii) những tranh chấp phát sinh từhành vi thơng mại có thể đợc giải quyết bằng các phơng thức riêng nh trọngtài thơng mại và tòa án thơng mại Tuy nhiên, trong khoa học pháp lý của cácnớc này không có khái niệm tranh chấp thơng mại Ngời ta chỉ căn cứ vàothẩm quyền tài phán của các thiết chế giải quyết tranh chấp thơng mại mànhận diện một số tranh chấp đợc coi là tranh chấp thơng mại mà thôi Có thể

Trang 11

+ Mọi việc mua động sản để bán lại kiếm lời;

+ Mọi việc mua bất động sản để bán lại hoặc mua để xây dựng lạithành một hay nhiều nhà rồi bán lại;

+ Các hoạt động sản xuất, chuyên chở, những hãng thầu cung cấp vậtliệu, những hãng bán đấu giá công khai;

+ Các hoạt động hối đoái, ngân hàng, giao dịch chứng khoán, bảo hiểm;+ Các hoạt động trung gian, đại diện, đại lý thơng mại;

+ Khai thác hầm mỏ và nguyên liệu;

+ Giải trí công cộng: nhà hát, rạp chiếu phim, rạp xiếc

(ii) Các tranh chấp liên quan đến những cam kết và giao dịch giữa cácthơng nhân Đây có thể là các tranh chấp phát sinh từ các hành vi thơng mạibản chất hoặc hành vi thơng mại phụ thuộc trong hợp đồng hoặc là việc viphạm pháp luật Thậm chí, các tranh chấp phát sinh từ các hợp đồng mua hàngphục vụ cho sinh hoạt cá nhân của thơng nhân cũng đợc coi là tranh chấp th-

(vi) Những vụ kiện ngời giúp việc cho thơng nhân về những hành viliên quan đến thơng mại

Nh vậy, Pháp đã dựa vào các hành vi thơng mại để phân biệt tranhchấp thơng mại với tranh chấp dân sự Tuy nhiên, bên cạnh tiêu chí khách thểPháp còn sử dụng tiêu chí chủ thể để không bỏ sót các tranh chấp mang tính

Trang 12

thơng mại Theo quy định này thì tất cả các tranh chấp phát sinh trong hoạt

động kinh doanh giữa các thơng nhân với nhau đều đợc coi là tranh chấp

th-ơng mại [27]

* Cộng hòa Liên bang Đức:

Theo Điều 95 Luật Tổ chức tòa án của Cộng hòa Liên bang Đức thìcác tranh chấp thơng mại bao gồm:

(i) Các tranh chấp phát sinh từ các giao dịch thơng mại của các thơngnhân

(ii) Các tranh chấp phát sinh từ hối phiếu theo Luật về hối phiếu hoặc

từ một trong số các loại chứng từ quy định tại Điều 363 Bộ luật Thơng mại

(iii) Các tranh chấp liên quan đến séc theo Luật về séc

(iv) Các tranh chấp phát sinh từ quan hệ thành viên của công ty thơngmại với nhau hoặc thành viên với công ty liên quan đến hoạt động của công ty,

kể cả khi công ty còn tồn tại hay đã giải thể; tranh chấp giữa ngời quản lýcông ty với công ty hoặc với thành viên công ty

(v) Các tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật liên quan đến việc sửdụng tên thơng mại; nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp;

(vi) Các tranh chấp liên quan đến việc sử dụng một cơ sở kinh doanh;(vii) Các tranh chấp liên quan đến hàng hải, đặc biệt là các tranh chấpphát sinh từ hoạt động kinh doanh vận chuyển, các dịch vụ lai dắt, cứu hộ, tainạn hàng hải

(viii) Các tranh chấp liên quan đến Luật chống cạnh tranh không lành mạnh;(ix) Các tranh chấp liên quan đến chứng khoán

* Liên bang Nga:

Bộ luật tố tụng tòa án trọng tài của Liên bang Nga quan niệm TCKT( ) theo nghĩa rất rộng, gồm:

Trang 13

- Các tranh chấp phát sinh từ quan hệ dân sự, hành chính và các quan

hệ pháp luật khác có liên quan đến hoạt động kinh doanh giữa các pháp nhân,cá nhân thực hiện các hoạt động kinh doanh mà không thành lập một phápnhân; giữa Liên bang Nga và các chủ thể liên bang và giữa các chủ thể liênbang với nhau;

- Các tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh giữa các chủ thể;

- Các tranh chấp về quyền sở hữu;

- Các tranh chấp về bồi thờng thiệt hại;

- Các tranh chấp về uy tín kinh doanh;

- Các tranh chấp về đăng ký kinh doanh; về thành lập, tổ chức lại cácpháp nhân kinh tế;

- Các tranh chấp liên quan đến các quyết định xử phạt của cơ quanNhà nớc có thẩm quyền đối với các chủ thể kinh doanh

* Tổ chức WTO và Luật mẫu của UNCITRAL về Trọng tài thơng mạiquốc tế cũng đa ra khái niệm "thơng mại" với nội hàm rất rộng liên quan đếntất cả các quan hệ mang bản chất thơng mại, dù phát sinh từ hợp đồng hoặckhông từ hợp đồng nh: Mọi giao dịch thơng mại về việc cung cấp hay trao đổihàng hóa, dịch vụ; thỏa thuận về phân phối, đại diện thơng mại; hóa đơnchứng từ; bán, cho thuê, xây dựng nhà máy; các dịch vụ t vấn; đề án thiết kếtổng hợp, giấy phép, đầu t, cấp chi phí, giao dịch ngân hàng, bảo hiểm, cácthỏa thuận về khai thác hay chuyển nhợng, hợp tác giữa các xí nghiệp và cáchình thức về hợp tác công nghiệp hay thơng mại, vận chuyển hàng hóa hayhành khách bằng đờng không, đờng biển, đờng sắt hay đờng bộ (Điều 1 LuậtMẫu của UNCITRAL về Trọng tài thơng mại quốc tế) Xuất phát từ điều này

mà tranh chấp thơng mại cũng đợc hiểu theo nghĩa rộng, gồm toàn bộ cáctranh chấp phát sinh từ các giao dịch thơng mại Đó có thể là tranh chấp hợp

đồng; tranh chấp liên quan đến phát hành, lu trữ, kinh doanh chứng khoán; các

Trang 14

tranh chấp liên quan đến thơng phiếu; tranh chấp liên quan đến mua, bán, chothuê, kinh doanh doanh nghiệp; tranh chấp liên quan đến sở hữu công nghiệp(vi phạm nhãn hiệu hàng hóa, sáng chế, giải pháp hữu ích, bí mật thơngmại ); tranh chấp hàng hải, giao nhận kho vận, bảo hiểm hàng hải; tranh chấpliên quan đến mua, bán công nợ; tranh chấp trong việc chống độc quyền vàcạnh tranh không lành mạnh; tranh chấp liên quan đến bán đấu giá, đấu thầuv.v

Nh vậy, các nớc trên thế giới không có quan niệm thống nhất về tranhchấp kinh doanh Có rất nhiều nớc không phân biệt tranh chấp phát sinh từhoạt động kinh doanh với các tranh chấp phát sinh từ hoạt động dân sự Bêncạnh đó, một số quốc gia khác phân biệt tranh chấp kinh doanh với tranh chấpdân sự bằng cách quy định thẩm quyền giải quyết các tranh chấp loại này chocác cơ quan tài phán là Tòa án Thơng mại hay Trọng tài Thơng mại Các quốcgia này đều quan niệm tranh chấp kinh doanh theo nghĩa rộng, gồm toàn bộcác tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh giữa các chủ thể khi chúngtiến hành các hoạt động tìm kiếm lợi nhuận

ở nớc ta, quan niệm về TCKT có những điểm khác nhau qua mỗi giai

đoạn phát triển kinh tế - xã hội Trong cơ chế kinh tế kế hoạch tập trung, nềnkinh tế đợc quản lý bằng mệnh lệnh hành chính là chủ yếu, với hệ thống chỉtiêu pháp lệnh từ trên giao xuống Nhà nớc can thiệp khá sâu vào hoạt độngkinh doanh của các đơn vị kinh tế Sản xuất cái gì, sản xuất nh thế nào, sảnxuất cho ai đều do Nhà nớc quyết định Nhà nớc vừa hoạch định các chínhsách kinh tế vĩ mô vừa trực tiếp chỉ đạo các đơn vị kinh tế cơ sở thực hiện các

kế hoạch kinh doanh cụ thể Đặc điểm nổi bật của cơ chế kinh tế này là vai tròtuyệt đối của Nhà nớc, trong đó có các Bộ, Tổng cục, ủy ban nhân dân, các cơ

sở chuyên môn… là chủ thể chi phối các quan hệ kinh tế Các chủ thể kinhdoanh khá đơn điệu về hình thức tổ chức pháp lý, hầu hết là các xí nghiệpquốc doanh và các hợp tác xã

Trang 15

Để thực hiện các chỉ tiêu, kế hoạch do Nhà nớc giao, các đơn vị kinh

tế cơ sở cần phải ký kết và thực hiện các hợp đồng kinh tế Tuy nhiên, HĐKTtrong thời kỳ này không chỉ là một hình thức pháp lý để triển khai các hoạt

động sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế mà còn đợc sử dụng nh mộtcông cụ quản lý kinh tế của Nhà nớc Ký kết và thực hiện HĐKT là một kỷluật bắt buộc chứ không xuất phát từ lợi ích kinh tế cụ thể của các đơn vị kinh

tế Bởi vậy, các chủ thể tham gia ký kết HĐKT không quan tâm nhiều đến việchợp đồng có đợc thực hiện đầy đủ hay không, vì thực hiện hay không thựchiện cũng không ảnh hởng đến "túi tiền của họ, đằng nào Nhà nớc cũng baocấp" [57, tr 17] Trách nhiệm thực hiện hợp đồng giữa các bên tham gia quan

hệ với nhau không đợc coi trọng bằng trách nhiệm của các bên đối với cơquan chủ quản của mình Điều đó có nghĩa là trách nhiệm phát sinh do viphạm HĐKT nhẹ về yếu tố tài sản (vật chất) mà nặng về tính chất hành chính[37, tr 16]

Nghiên cứu lịch sử phát triển của pháp luật về HĐKT và pháp luật vềgiải quyết tranh chấp HĐKT, chúng ta thấy: Trớc khi ban hành Bản điều lệtạm thời về hợp đồng kinh doanh kèm Nghị định số 735/TTg ở nớc ta không

có sự phân biệt HĐKT với hợp đồng dân sự; bởi vậy cũng không có sự phânbiệt giữa TCKT với các loại tranh chấp mang tính chất tài sản khác Các tranhchấp mang yếu tố tài sản đợc giải quyết theo một thủ tục chung tại tòa án.Cùng với sự ra đời của Bản điều lệ tạm thời về hợp đồng kinh doanh đã xuấthiện khái niệm "hợp đồng kinh doanh" Lẽ đơng nhiên, tranh chấp phát sinh từviệc ký kết và thực hiện loại hợp đồng này đợc gọi là tranh chấp kinh doanh.Các tranh chấp kinh doanh chủ yếu đợc giải quyết bởi một số cơ quan hànhpháp Tòa án chỉ giải quyết tranh chấp kinh doanh theo sự khởi tố của các cơquan đăng ký kinh doanh trong một số trờng hợp cần thiết

Ngày 4/1/1960, Nhà nớc ta ban hành Bản điều lệ tạm thời về HĐKTkèm Nghị định số 04/TTg Thuật ngữ "hợp đồng kinh tế" ra đời và chính thức

Trang 16

đợc sử dụng trong các văn bản pháp luật sau đó nh: Nghị định số 54/CP ngày10/3/1975 ban hành Điều lệ về chế độ HĐKT; Pháp lệnh hợp đồng kinh tếngày 25/9/1989 Cùng với khái niệm HĐKT, khái niệm tranh chấp kinh doanhcũng đợc thay thế bằng khái niệm TCKT, mà thực chất là tranh chấp HĐKT.Các tranh chấp loại này đợc giải quyết bằng trọng tài kinh tế, với t cách là mộtcơ quan quản lý nhà nớc

Nh vậy, trong cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, các quan hệ kinh

tế vốn dĩ khá đơn giản về nội dung và thành phần chủ thể, lại đợc điều hànhthống nhất bởi Nhà nớc, nên các TCKT xuất hiện không nhiều và chủ yếu làcác tranh chấp phát sinh từ HĐKT đợc ký kết giữa các đơn vị kinh tế XHCNvới nhau để triển khai các kế hoạch kinh doanh đã đợc Nhà nớc phê duyệt từtrớc

Từ năm 1986, nớc ta khởi động quá trình xây dựng nền kinh tế thị ờng, định hớng XHCN Nền kinh tế thị trờng đòi hỏi phải xóa bỏ chế độ độctôn của một hình thức sở hữu, tạo điều kiện cho sự ra đời và phát triển cácthành phần kinh tế Trong nền kinh tế đang chuyển đổi xuất hiện ngày càngnhiều các chủ thể kinh doanh Bên cạnh các chủ thể kinh doanh truyền thống

tr-là doanh nghiệp nhà nớc và hợp tác xã còn xuất hiện doanh nghiệp có vốn đầu

t nớc ngoài (doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn đầu t nớcngoài), doanh nghiệp t nhân, các loại hình công ty và hộ kinh doanh cá thể.Các quan hệ kinh tế xuất hiện ngày càng nhiều với hình thức ngày càng phongphú và tính chất ngày càng phức tạp Bên cạnh các quan hệ kinh tế phát sinh

từ hợp đồng còn có các quan hệ kinh tế xuất hiện từ hoạt động đầu t vốn vàokinh doanh thông qua việc góp vốn thành lập công ty hay việc sở hữu cổphiếu, trái phiếu do công ty phát hành

Trong điều kiện của nền kinh tế thị trờng, Nhà nớc không can thiệptrực tiếp và sâu vào hoạt động kinh doanh hợp pháp của các chủ thể kinh tế.Bằng các chính sách và pháp luật, Nhà nớc tạo lập một môi trờng kinh doanh

Trang 17

lành mạnh để các quan hệ kinh tế giữa các doanh nghiệp đợc xây dựng và thựchiện trên cơ sở nguyên tắc tự do, bình đẳng, cùng có lợi và tự chịu trách nhiệm

về hoạt động kinh doanh của mình Việc thiết lập hay không thiết lập quan hệkinh tế hoàn toàn xuất phát từ kế hoạch kinh doanh cụ thể của từng đơn vị vàvì lợi ích cá biệt của chúng Kinh doanh đúng pháp luật để đạt lợi nhuận tối đa

là mục tiêu tối thợng của các doanh nghiệp Tình hình đó làm phát sinh rấtnhiều tranh chấp liên quan đến việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của cácchủ thể khi tham gia các quan hệ kinh tế Điều đó đồng thời đặt ra nhu cầuphải mở rộng nội hàm của khái niệm TCKT

Mặc dù các TCKT đã xuất hiện từ lâu trong đời sống kinh tế và pháp

lý của nớc ta, nhng khái niệm loại tranh chấp này cha đợc sử dụng một cáchthống nhất; nội hàm của khái niệm cũng cha đợc xác định chính xác Trongtừng ngữ cảnh cụ thể, để chỉ các xung đột về lợi ích giữa các tổ chức, cá nhânkhi họ tham gia các quan hệ kinh tế, ngời ta đang sử dụng những thuật ngữkhác nhau nh: TCKT, tranh chấp kinh doanh, tranh chấp thơng mại

Khi đề cập tới khái niệm TCKT, tranh chấp kinh doanh, Giáo trìnhLuật Kinh tế của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội viết:

Các tranh chấp kinh tế trong kinh doanh trong phạm vi nhất

định có sự khác biệt với tranh chấp kinh tế Khái niệm kinh tế cũng

nh "quan hệ kinh tế" thông thờng đợc hiểu rộng hơn khái niệm

"kinh doanh" với "quan hệ kinh doanh" Trong kinh tế có sự baohàm cả yếu tố quản lý và yếu tố chính trị - xã hội khác liên quan

đến hoạt động sản xuất kinh doanh Trong khi đó, kinh doanh chỉ

là một hoạt động mang tính nghề nghiệp nh sản xuất, buôn bán,dịch vụ gắn với mục đích lợi nhuận Do tính chất của quan hệ kinh doanh nh vậy, việc giải quyết trong kinh doanh cũng mangnhững đặc thù nhất định so với giải quyết tranh chấp kinh tế nóichung [58, tr 307-364]

Trang 18

Theo quan niệm này thì rõ ràng khái niệm TCKT mang nội hàm rộnghơn khái niệm tranh chấp kinh doanh

Cuốn "Tìm hiểu luật kinh tế Việt Nam" sử dụng thuật ngữ "tranh chấpkinh tế", "tranh chấp kinh doanh" hầu nh không có sự phân biệt [101, tr 187-194].Trong cuốn sách "Hợp đồng kinh tế và vấn đề giải quyết tranh chấp kinh tế ở nớc

ta hiện nay" các tác giả cho rằng: "Từ trớc đến nay, nói đến tranh chấp kinh tế

thì thờng chỉ nghĩ đến tranh chấp về vi phạm hợp đồng kinh tế" [62, tr 51] Gần

nh tơng đồng với quan điểm này một số tác giả cho rằng "về mặt lý thuyết sẽ làkhó xác định đợc bản chất của tranh chấp kinh tế nếu thiếu một khái niệm chínhxác về hợp đồng kinh tế, bởi vì hầu hết các tranh chấp kinh tế đều phát sinh từviệc ký kết, thực hiện hoặc chấm dứt hợp đồng kinh tế" [61, tr 35]

Khi Luật Thơng mại ra đời và có hiệu lực pháp luật (từ 01/01/1998) thìtrong pháp luật thực định của nớc ta còn xuất hiện thêm khái niệm tranh chấpthơng mại Nhiều ngời cho rằng đã xuất hiện thêm một loại tranh chấp mới,tồn tại độc lập bên cạnh TCKT và tranh chấp dân sự là tranh chấp thơng mại

Về mối tơng quan giữa "tranh chấp kinh tế" và "tranh chấp thơng mại" cóquan điểm cho rằng: Tranh chấp thơng mại là một dạng của TCKT bởi chúng

đều phát sinh từ hoạt động kinh doanh và có quan hệ mật thiết với hoạt độngnày Theo Điều 238 Luật Thơng mại thì tranh chấp thơng mại là tranh chấpphát sinh do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng tronghoạt động thơng mại, tức là sự thỏa thuận giữa thơng nhân với thơng nhân, th-

ơng nhân với các bên có liên quan nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứtquyền, nghĩa vụ giữa các bên trong hoạt động mua bán hàng hóa, cung ứngdịch vụ thơng mại và xúc tiến thơng mại Nói đến hợp đồng trong hoạt độngthơng mại là nói đến những hợp đồng riêng trong lĩnh vực kinh doanh thơngmại, cũng giống nh khi ta nói đến hợp đồng trong lĩnh vực xây dựng (hợp

đồng xây dựng), hợp đồng trong lĩnh vực vận chuyển (hợp đồng vận chuyển),hợp đồng trong lĩnh vực bảo hiểm (hợp đồng bảo hiểm), hợp đồng trong lĩnhvực tín dụng (hợp đồng tín dụng)

Trang 19

Khi thỏa mãn các điều kiện về chủ thể, mục đích và hình thức hợp

đồng theo quy định hiện hành thì hợp đồng trong hoạt động thơng mại mangtính chất của HĐKT Ví dụ: các hợp đồng trong hoạt động thơng mại đợc kýkết bằng văn bản giữa các thơng nhân, trong đó ít nhất một bên là pháp nhân,

để phục vụ cho hoạt động kinh doanh Các trờng hợp khác, hợp đồng tronghoạt động thơng mại mang tính chất của hợp đồng dân sự Ví dụ: Những hợp

đồng trong hoạt động thơng mại đợc ký kết giữa các thơng nhân không có tcách pháp nhân; giữa thơng nhân với công dân hay những hợp đồng không đ-

Từ sự phân tích nói trên, chúng tôi đồng ý với quan điểm cho rằng tranhchấp thơng mại thực chất là một dạng của TCKT theo cách hiểu về TCKT nhhiện nay Tuy nhiên, cũng cần lu ý rằng không phải mọi tranh chấp thơng mạithuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án Việt Nam đều đợc giải quyết theo thủtục tố tụng kinh tế Chỉ những tranh chấp thơng mại nào đáp ứng các điều kiệnquy định tại khoản 1 Điều 12 và Điều 87 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ ánkinh tế mới đợc tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng kinh tế

Khái niệm TCKT còn có thể đợc tiếp cận dới góc độ pháp luật tố tụng.Trong nhiều trờng hợp thì pháp luật tố tụng đã mở ra cách tiếp cận dễ hơn vớikhái niệm "tranh chấp kinh tế" [26, tr 48] Với cách tiếp cận này, TCKT đợchiểu là các tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan tài phán

nh tòa án và trọng tài Pháp luật tố tụng chỉ ra một số nhóm tranh chấp mang

Trang 20

tính chất kinh tế đợc giải quyết theo thủ tục t pháp (Tòa án) và theo thủ tụctrọng tài Việc xem xét các TCKT nào thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọngtài (phi Chính phủ) hoặc đợc tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng kinh tế cầnxem xét đến các văn bản về tố tụng kinh tế hiện hành nh: PLTTGQCVAKT(1994), Nghị định số 116/CP về tổ chức và hoạt động của trọng tài kinh tế(1994), Quyết định số 204/TTg ngày 28/4/1993 của Thủ tớng Chính phủ phêchuẩn Điều lệ của TTTTQTVN (VIAC), Quyết định số 114/TTg ngày16/2/1996 của Thủ tớng Chính phủ về mở rộng thẩm quyền cho TTTTQTVN

Theo Điều 12 PLTTGQCVAKT thì các tranh chấp sau đây đợc coi làTCKT và đợc tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng kinh tế:

1 Các tranh chấp về HĐKT giữa pháp nhân với pháp nhân, giữa phápnhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh;

2 Các tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữathành viên của công ty với nhau liên quan đến thành lập, hoạt động, giải thểcông ty;

3 Các tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu;

4 Các TCKT khác theo quy định của pháp luật

Ngoài ra, theo Điều 87 PLTTGQCVAKT thì Tòa án Việt Nam có thểgiải quyết theo thủ tục tố tụng kinh tế các TCKT tại Việt Nam, nếu một hoặccác bên là cá nhân, pháp nhân nớc ngoài, trừ trờng hợp điều ớc quốc tế màViệt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác Các tranh chấp này có thể làtranh chấp hợp đồng, tranh chấp trong nội bộ công ty hoặc tranh chấp liênquan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu

Nh vậy, theo quy định của PLTTGQCVAKT thì TCKT đợc hiểu theonghĩa rất hẹp Điều này dẫn tới hậu quả là chỉ có một số ít các tranh chấp phátsinh từ hoạt động kinh doanh giữa các tổ chức, cá nhân đợc tòa án giải quyếttheo thủ tục tố tụng kinh tế Nhiều loại tranh chấp tuy phát sinh trực tiếp từ

Trang 21

hoạt động kinh doanh và thuần túy mang tính chất kinh doanh nhng không

đ-ợc giải quyết theo thủ tục tố tụng kinh tế nh:

- Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng đợc ký kết giữa các chủ thể kinhdoanh không có t cách pháp nhân để phục vụ cho hoạt động kinh doanh củacác chủ thể kinh doanh đó Ví dụ: hợp đồng ký giữa hai doanh nghiệp t nhânvới nhau để phục vụ cho hoạt động kinh doanh của các bên

- Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng kinh tế ký giữa pháp nhân vớinhững ngời làm công tác khoa học - kỹ thuật, nghệ nhân, hộ kinh tế gia đình,

Theo Điều 1 Nghị định số 116/CP về tổ chức và hoạt động của Trọngtài kinh tế thì Trọng tài kinh tế (phi Chính phủ) có thẩm quyền giải quyết cáctranh chấp về HĐKT; tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty,giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt

động, giải thể công ty; các tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu,trái phiếu Thông t số 02/PLDSKT ngày 03/01/1995 của Bộ T pháp hớng dẫnthi hành một số điểm của Nghị định số 116/CP còn "mạnh dạn" mở rộng thẩmquyền giải quyết của trọng tài kinh tế sang cả những tranh chấp hợp đồngphục vụ cho hoạt động kinh doanh giữa các doanh nghiệp t nhân với nhauhoặc với cá nhân kinh doanh (mục I Thông t số 02/PLDSKT)

Quyết định số 204/TTg ngày 28/4/1993 và Quyết định số 114/TTgngày 16/2/1996 của Thủ tớng Chính phủ quy định cha rõ ràng về thẩm quyềngiải quyết các TCKT của TTTTQTVN Theo các văn bản này thì TTTTQTVN

Trang 22

có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh từ quan hệ kinh tế, nếu trớchay sau khi xảy ra tranh chấp, các bên đơng sự thỏa thuận đa vụ việc raTTTTQTVN, hoặc nếu có một điều ớc quốc tế ràng buộc các bên phải đatranh chấp ra TTTTQTVN

Nh vậy, nếu tiếp cận dới giác độ pháp luật tố tụng thì TCKT đợc hiểutheo nghĩa quá hẹp, không bao quát hết các tranh chấp đã và sẽ phát sinhtrong quá trình đổi mới quản lý kinh tế ở Việt Nam Điều này dẫn tới các hậuquả sau:

Một là: Rất nhiều loại tranh chấp phát sinh từ quan hệ kinh doanh

nh-ng khônh-ng đợc coi là TCKT và khônh-ng đợc giải quyết bằnh-ng thiết chế tài phánkinh doanh là những thiết chế giải quyết tranh chấp linh hoạt, nhanh chóng,chính xác và điều này dẫn đến lợi ích của các bên tranh chấp không đợc bảo

đảm triệt để

Hai là: Không có điều kiện để mở rộng thẩm quyền giải quyết các

TCKT của các cơ quan tài phán Hiện nay đã xuất hiện nhiều tranh chấp từ hoạt

động kinh doanh nhng cha biết sẽ đợc giải quyết theo cơ chế nào? Ví dụ: Mộtcông ty trách nhiệm hữu hạn nhiều thành viên thuê giám đốc điều hành công

ty Ngời này không phải là thành viên công ty Trong quá trình quản lý hoạt

động kinh doanh của công ty, giám đốc làm thuê gây thiệt hại về tài sản chocông ty và công ty có nhu cầu kiện giám đốc Tranh chấp này có đợc coi làTCKT hay không? Có đợc giải quyết tại các cơ quan tài phán kinh doanh haykhông? Các tranh chấp liên quan đến quyền tự do kinh doanh, đến cạnh tranhkhông lành mạnh hay độc quyền cũng cha rõ sẽ đợc giải quyết ở đâu

Thứ ba: Có nguy cơ tạo ra những rào cản đối với quá trình Việt Nam

hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, trong bối cảnh pháp luật của nhiều quốcgia trên thế giới, pháp luật quốc tế và tập quán thơng mại quốc tế đều quanniệm TCKT theo nghĩa rộng

Trang 23

Để hạn chế những bất cập kể trên, chúng tôi thấy rằng cần phải tiếpcận khái niệm TCKT dới giác độ khoa học và khái niệm TCKT phải đợc hiểutheo nghĩa rộng Theo nghĩa này, TCKT là những mâu thuẫn hay bất đồng liên

quan đến quyền và lợi ích kinh tế của các tổ chức, cá nhân khi tham gia các

quan hệ kinh tế

Từ khái niệm đó chúng ta thấy TCKT có các dấu hiệu pháp lý cơ bảnsau đây:

Thứ nhất: TCKT phát sinh trực tiếp từ các quan hệ kinh tế và có liên

quan mật thiết đến hoạt động kinh doanh

Quan hệ kinh tế là những quan hệ đợc thiết lập giữa các chủ thể kinhdoanh hoặc giữa các bên có liên quan trong quá trình các chủ thể kinh doanhtiến hành các hoạt động kinh doanh của mình Kinh doanh hiện nay đợc hiểuvới nội hàm rất rộng, bao gồm toàn bộ các hoạt động từ đầu t vốn đến sản xuất

và tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trờng nhằm mục đích sinhlợi Đây là những quan hệ có tính chất tài sản với mục đích phục vụ kinhdoanh, thu lợi nhuận Đó có thể là hoạt động đầu t vốn (góp vốn vào công tyhay mua cổ phiếu, trái phiếu và các loại chứng khoán khác); hoạt động sảnxuất ra các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của xã hội hay hoạt động mua bán, trao

đổi và cung ứng các loại dịch vụ

So với hoạt động dân sự thì các hoạt động kinh doanh mang nhiều đặcthù: mục đích của việc thực hiện các hoạt động kinh doanh là lợi nhuận; chủthể thực hiện các hoạt động kinh doanh là tổ chức, cá nhân thỏa mãn các điềukiện do pháp luật quy định và đợc Nhà nớc thừa nhận là chủ thể kinh doanh;các hoạt động kinh doanh thờng gắn liền với việc dịch chuyển những giá trị tàisản lớn Chính đặc thù này làm cho TCKT hoàn toàn khác với tranh chấp dân

sự, ngay cả đối với các tranh chấp mang yếu tố tài sản Trong khi các TCKTphát sinh giữa các chủ thể kinh doanh khi chúng tiến hành các hoạt động kinhdoanh tìm kiếm lợi nhuận thì các tranh chấp dân sự thờng chỉ phát sinh giữa

Trang 24

các tổ chức, cá nhân không có t cách chủ thể kinh doanh khi chúng tham giaquan hệ nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó mang tính sinh hoạt, tiêu dùng Việcthiết lập các quan hệ kinh doanh đòi hỏi phải nhanh chóng, đơn giản, linhhoạt Bởi vậy, việc giải quyết tranh chấp từ các quan hệ này cũng phải mềmdẻo, nhanh chóng, dứt điểm để hạn chế đến mức tối đa sự gián đoạn trong quátrình kinh doanh Vì lý do này mà các TCKT phải đợc giải quyết bằng một cơchế riêng so với việc giải quyết tranh chấp dân sự thông thờng

Thứ hai: Việc giải quyết các TCKT luôn thuộc quyền tự định đoạt của

các bên tranh chấp

Nh phần trên đã trình bày, các TCKT phát sinh từ các quan hệ kinhdoanh Các quan hệ kinh doanh đợc thiết lập giữa các chủ thể ở vị trí pháp lýhoàn toàn độc lập và bình đẳng với nhau Đây là quan hệ theo chiều ngang vàmang yếu tố tài sản Quan hệ kinh doanh đợc thiết lập giữa các chủ thể trênnguyên tắc tự nguyện, tự do ý chí Chính bởi lẽ đó mà khi tranh chấp phátsinh, các bên cũng đợc toàn quyền quyết định các vấn đề liên quan đến việcgiải quyết chúng Các bên đợc tự thỏa thuận với nhau để lựa chọn phơng thứcgiải quyết phù hợp; đợc tự quyết định về nội dung tranh chấp; đợc tự thơng l-ợng, hòa giải với nhau ngay cả khi đã đa tranh chấp ra cho một cơ quan tàiphán giải quyết Chính đặc điểm này của TCKT quyết định tính đa dạng củacác phơng thức giải quyết tranh chấp và nguyên tắc cơ bản nhất để giải quyếtTCKT là nguyên tắc bình đẳng, thỏa thuận

Thứ ba: TCKT là những tranh chấp mang yếu tố tài sản và thờng gắn

liền với giá trị tài sản lớn

TCKT phản ánh các xung đột về mặt lợi ích kinh tế của các bên có liênquan trong một quan hệ kinh tế nhất định yếu tố vật chất và lợi ích kinh tếcủa nội dung TCKT là một đặc điểm riêng để phân biệt với các loại tranh chấpkhác trong đời sống xã hội Yếu tố tài sản đợc quy định bởi tính chất, mục

đích của các quan hệ kinh tế trong xã hội Giá trị vật chất (tài sản) của các

Trang 25

TCKT đợc các bên liên quan đa ra yêu cầu các bên đối tác phải bồi hoàn, khắcphục bằng những số liệu cụ thể (mức tiền bồi hoàn) số lợng, chất lợng tài sản,hàng hóa cụ thể Trong cơ chế thị trờng, nhiều TCKT liên quan đến giá trị tàisản lớn, hoặc liên quan đến trách nhiệm của nhiều chủ thể Việc giải quyếtthỏa đáng tranh chấp có ảnh hởng quan trọng đến quá trình hoạt động kinh tếcủa các bên liên quan và đời sống kinh tế nói chung Xuất phát từ đặc điểmnày của TCKT, đòi hỏi cơ chế giải quyết chúng phải nhanh gọn, hiệu quả vàbảo vệ một cách kịp thời quyền lợi kinh tế của các bên

Dựa vào giá trị TCKT, các nhà làm luật đánh giá mức độ nghiêm trọng

và tính chất phức tạp của tranh chấp Đây cũng là một trong những căn cứ xác

định thẩm quyền của cơ quan giải quyết đối với chúng Ví dụ: TAND cấphuyện chỉ đợc thụ lý xét xử những tranh chấp HĐKT có giá trị tranh chấp dới

50 triệu đồng (Điều 13 PLTTGQCVAKT) Những tranh chấp có giá trị kinh tếlớn thờng có tính chất phức tạp và hậu quả của việc giải quyết chúng có những

ảnh hởng to lớn, thậm chí có tính chất quyết định đến sự tồn tại và phá sản củamột doanh nghiệp, do vậy nó phải đợc giải quyết bởi một đội ngũ thẩm phánkinh tế có trình độ và kinh nghiệm cao Giá trị vật chất của TCKT còn là căn

cứ để các cơ quan giải quyết TCKT tính mức lệ phí và các chi phí các bên theokiện phải gánh chịu tùy mức độ lỗi

Thứ t: Các TCKT nếu không đợc giải quyết triệt để dễ gây ra hậu quả

có tính chất dây chuyền

Bản chất của TCKT là sự xung đột về lợi ích kinh tế phát sinh trong quátrình hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên thị trờng TCKT có thể phátsinh trong một công đoạn nào đó của chu trình kinh doanh, thờng có mối quan

hệ hữu cơ với công đoạn khác Môi trờng phát sinh TCKT là môi trờng củacác hoạt động kinh doanh với tính chất vô cùng phong phú và đa dạng phụ thuộclẫn nhau Quan hệ kinh doanh này có thể vừa là kết quả, vừa là tiền đề của mộtquan hệ kinh doanh khác Ví dụ: một tranh chấp phát sinh trong hợp đồng vận

Trang 26

chuyển hàng hóa (da hấu chẳng hạn) không chỉ gây thiệt hại cho bên thuê vậnchuyển (ngời mua thu gom của nông dân) và bên vận chuyển, mà còn gây khókhăn cho ngời sản xuất (giá bán của ngời nông dân có thể giảm, ứ đọng sảnphẩm) và ngời tiêu dùng (sự tăng giá cục bộ của da hấu ở một thị trờng nhất

định) Mặt khác, tham gia vào chu trình kinh doanh có thể có rất nhiều tổchức, cá nhân khác nhau Bởi vậy, khi TCKT phát sinh không đợc giải quyếtkịp thời có thể làm đình đốn các hoạt động kinh doanh khác và tác động xấu

đến lợi ích của nhiều đối tợng Đặc thù này của TCKT dẫn đến một đòi hỏi tấtyếu là phải giải quyết TCKT một cách triệt để, chính xác và hiệu quả để các bênliên quan có thể nhanh chóng khắc phục hậu quả phát sinh từ tranh chấp

Thứ năm: Các bên có TCKT thờng là các chủ thể kinh doanh Thông

thờng, các bên trong TCKT là các tổ chức, cá nhân đợc Nhà nớc thừa nhậnquyền kinh doanh Bằng việc cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Nhànớc công nhận các tổ chức, cá nhân này đã hội đủ các điều kiện kinh tế và pháp

lý để tiến hành một loại hoạt động khá phức tạp trong xã hội là hoạt động kinhdoanh thu lợi nhuận Chủ thể của TCKT thờng là những ngời có trình độ hiểubiết nhất định, thậm chí "tạo thành một giai tầng xã hội riêng, có nhu cầu thểhiện riêng trớc xã hội, Nhà nớc và pháp luật Họ có "luật chơi" và quy tắc xử

sự riêng" [94, tr 26] Các chủ thể này hoàn toàn ý thức đợc những quyền vàlợi ích hợp pháp nào của mình bị xâm hại và có khả năng tự bảo vệ cao Họ lạithông hiểu pháp luật và tập quán kinh doanh đồng thời rất coi trọng "chữ tín"trong kinh doanh và có ý thức duy trì quan hệ hợp tác tốt đẹp giữa các bên

Chính đặc điểm này cho phép các bên tranh chấp sử dụng hiệu quả cácphơng thức giải quyết tranh chấp theo con đờng "hòa bình" là thơng lợng vàtrung gian hòa giải

1.1.2 Phân loại tranh chấp kinh tế

Phân loại TCKT là việc xếp các TCKT có quan hệ gần gũi với nhauthành từng nhóm, mỗi nhóm đợc đặc trng bởi một hoặc một số dấu hiệu pháp

Trang 27

lý nào đó Việc phân loại TCKT không chỉ có ý nghĩa về khoa học mà còn có

ý nghĩa sâu sắc về thực tiễn Phân loại chính xác các TCKT tạo những thuậnlợi nhất định cho việc nghiên cứu để chỉ ra bản chất của các loại TCKT, từ đó

có định hớng cho việc xây dựng và hoàn thiện cơ chế giải quyết chúng Xâydựng những tiêu chí nhất định theo các phơng pháp khoa học trong việc phânloại TCKT có thể giúp cho hoạt động giải quyết TCKT đợc tiến hành nhanhchóng, chính xác, tôn trọng sự thật khách quan Lợi ích dễ nhận thấy của việcphân loại TCKT là tạo điều kiện lựa chọn phơng thức phù hợp để giải quyếttranh chấp, xác định chính xác thẩm quyền giải quyết tranh chấp của cơ quantài phán và thủ tục áp dụng để giải quyết TCKT Mặt khác, việc phân loại cácTCKT theo những mục đích, yêu cầu nhất định giúp cho các nhà làm luật, cácnhà quản lý có những thông tin cần thiết cho công tác xây dựng, hoàn thiệnpháp luật hay điều chỉnh chính sách quản lý kinh tế

Có thể dựa trên nhiều căn cứ khác nhau để phân loại TCKT:

(i) Căn cứ vào giá trị tranh chấp

Hầu hết các TCKT đều có nguyên nhân xuất phát bên trong là sự xung

đột về quyền lợi kinh tế với những tính chất, mức độ khác nhau giữa các bêntranh chấp Do vậy, việc lấy tiêu chí giá trị của TCKT làm căn cứ phân loại cáctranh chấp có những ý nghĩa nhất định Giá trị vật chất của các tranh chấp cụthể ngoài ý nghĩa về mặt kinh tế (biểu hiện bằng con số tiền cụ thể) là lớn haynhỏ (nghiêm trọng, ít nghiêm trọng), thông thờng còn là sự ẩn chứa bên trongtính chất phức tạp của vụ TCKT đó

Với thực tiễn Việt Nam, việc phân loại TCKT theo giá trị tranh chấpchỉ có ý nghĩa đối với các tranh chấp HĐKT không có nhân tố nớc ngoài vàkhi tranh chấp đó đợc giải quyết tại tòa án Phân loại TCKT theo giá trị có ýnghĩa trong việc xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của tòa án các cấp Theo

Điều 13 PLTTGQCVAKT thì những tranh chấp HĐKT có giá trị dới 50 triệu

đồng và không có nhân tố nớc ngoài sẽ thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của

Trang 28

tòa án cấp huyện Các TCKT còn lại sẽ đợc giải quyết theo thủ tục sơ thẩm tạitòa án cấp tỉnh.

ở một số nớc trên thế giới cũng có sự phân loại các TCKT (thơng mại)theo tiêu chí giá trị của tranh chấp Đây cũng là căn cứ để xác định thẩmquyền vụ việc của cơ quan tài phán cũng nh thủ tục tố tụng nhất định Tại

Đức, những tranh chấp thơng mại có giá trị trên 5.000 DM sẽ thuộc thẩmquyền của Tòa thơng mại, còn những tranh chấp có giá trị dới 5.000 DM sẽ đ-

ợc xét xử bởi tòa án cấp quận theo tố tụng dân sự chung Tại Pháp, nhữngtranh chấp thơng mại có giá trị từ 13.000 FFr trở xuống sẽ do Tòa Thơng mạixét xử theo thủ tục sơ chung thẩm Tại Singapore, các tranh chấp có giá trị dới10.000 USD Singapore sẽ xét xử tại 56 tòa án khu vực [135] Tại Mỹ, theo quytắc trọng tài thơng mại của Hiệp hội trọng tài Mỹ (AAA) những tranh chấpgiải quyết trên cơ sở các tài liệu là những tranh chấp có giá trị dới 10.000USD, còn theo thủ tục chung lựa chọn cho tranh chấp có quy mô lớn và phứctạp là những đơn kiện tranh chấp có giá trị công khai thấp nhất từ

1 triệu USD trở lên, không tính lãi và chi phí trọng tài [51]

(ii) Căn cứ vào nội dung và tính chất của tranh chấp kinh tế

Dựa vào nội dung và tính chất của TCKT có thể chia TCKT thành: (1)Tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh (HĐKT ); (2) Tranh chấp trong nội bộcông ty; (3) Tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu và (4)Các TCKT khác

Trong cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung trớc đây, các TCKT chủyếu liên quan đến HĐKT và đợc giải quyết bởi Trọng tài kinh tế nhà nớc.Thực tiễn giải quyết TCKT hiện nay ở nớc ta đang đứng trớc một vấn đề phứctạp là xác định ranh giới để phân biệt giữa HĐKT và hợp đồng dân sự Hậuquả pháp lý của việc phân biệt giữa hai loại hợp đồng này có thể dẫn đến thẩmquyền giải quyết khác nhau khi tranh chấp phát sinh Trớc thực tiễn sinh động

Trang 29

của các quan hệ kinh tế hiện nay, các quy định của pháp luật hiện hành vềHĐKT và các căn cứ pháp lý để phân biệt HĐKT (mục đích, hình thức, chủthể) đã tỏ ra bất cập Mặt khác, pháp luật hiện nay còn để ngỏ khả năng ápdụng các quy định có liên quan của Bộ luật dân sự vào việc điều chỉnh cácquan hệ kinh tế, trong trờng hợp pháp luật về HĐKT không có quy định cụthể.

Hiện nay, tuyệt đại đa số các TCKT đợc giải quyết tại các cơ quan tàiphán nh tòa án và trọng tài là tranh chấp HĐKT Số lợng tranh chấp công ty,tranh chấp chứng khoán chỉ chiếm một tỷ lệ không đáng kể Theo số liệuthống kê, trong số các tranh chấp HĐKT (án kiện HĐKT) tại tòa án thì tranhchấp hợp đồng mua bán hàng hóa có số lợng nhiều nhất: 247 vụ/636 vụ trongnăm 1997; 395 vụ/1261 vụ trong năm 1998 Tiếp đến là các tranh chấp phátsinh từ hợp đồng tín dụng: 198 vụ/636 vụ trong năm 1997; 262 vụ/1261 vụ/trong năm 1998 Chiếm các vị trí tiếp theo là tranh chấp hợp đồng xây dựng vàhợp đồng bảo hiểm [138, tr 66-67]

Ngoài tranh chấp HĐKT còn có các tranh chấp giữa công ty với thànhviên công ty, giữa các thành viên công ty với nhau liên quan đến việc thànhlập, hoạt động, giải thể công ty Công ty và thành viên công ty là những chủthể độc lập Thành viên công ty là những ngời góp vốn vào công ty và là ngời

sở hữu một phần (trờng hợp công ty nhiều thành viên) hoặc toàn bộ (trờng hợpcông ty TNHH một thành viên) công ty Quan hệ sở hữu này là cơ sở để phátsinh TCKT Đây là các tranh chấp về phần vốn góp của mỗi thành viên công ty

đối với công ty TNHH (thông thờng tài sản góp vốn là tiền mặt, hiện vật hoặcbản quyền sở hữu công nghiệp); về mệnh giá cổ phiếu và số cổ phiếu pháthành đối với công ty cổ phần; về quyền đợc chia lợi nhuận hoặc về nghĩa vụchịu lỗ tơng ứng với phần vốn góp vào công ty; về yêu cầu công ty đòi cáckhoản nợ của công ty, thanh lý các hợp đồng mà công ty đã ký kết khi giải thểcông ty hay tranh chấp về các vấn đề khác liên quan đến việc thành lập, hoạt

Trang 30

động, giải thể công ty Ngoài ra, đó còn là các tranh chấp về việc chuyển ợng phần góp vốn vào công ty của thành viên công ty đó cho ngời khác khôngphải là thành viên của công ty, về việc chuyển nhợng cổ phiếu không ghi tên,

nh-cổ phiếu có ghi tên, về mệnh giá nh-cổ phiếu, số nh-cổ phiếu phát hành và trái phiếucủa công ty cổ phần v.v

(iii) Căn cứ vào nhân tố nớc ngoài trong tranh chấp kinh tế

Dựa vào yếu tố quốc tịch của các bên tranh chấp có thể chia thànhTCKT có nhân tố nớc ngoài và TCKT không có nhân tố nớc ngoài Cách phânloại này đặc biệt có ý nghĩa khi tranh chấp là tranh chấp HĐKT và đợc giảiquyết bằng thủ tục t pháp Hầu hết các TCKT có yếu tố nớc ngoài đều đợc giảiquyết tại TAND cấp tỉnh

Các tranh chấp "có yếu tố nớc ngoài" là một vấn đề đợc đề cập đếntrong nhiều các văn bản khác nhau của pháp luật hiện hành, trong đó có Bộluật Dân sự cũng nh các văn bản pháp luật về HĐKT và giải quyết TCKT.Phạm vi tranh chấp có yếu tố nớc ngoài theo quy định của pháp luật tố tụngkinh tế có phần hẹp hơn so với các tranh chấp có yếu tố nớc ngoài theo quy

định của Bộ luật Dân sự Theo Pháp lệnh TTGQCVAKT thì nhân tố nớc ngoàitrong TCKT chỉ dừng lại ở yếu tố chủ thể của tranh chấp Cụ thể, Điều 87 củaPháp lệnh này quan niệm TCKT có nhân tố nớc ngoài là tranh chấp mà mộthoặc các bên tranh chấp là các tổ chức, cá nhân nớc ngoài Đến Công văn số11/KHXX ngày 23/01/1996 của TAND tối cao thì các tranh chấp HĐKT cónhân tố nớc ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án theo thủ tục tố tụngkinh tế khi ít nhất một bên tranh chấp là pháp nhân Việt Nam

Các TCKT có nhân tố nớc ngoài có thể là tranh chấp hợp đồng, tranhchấp công ty hay tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu.Các TCKT có nhân tố nớc ngoài, không phân biệt giá trị tranh chấp, luônthuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của tòa án cấp tỉnh

Trang 31

1.2 Giải quyết tranh chấp kinh tế và những phơng thức giải quyết tranh chấp kinh tế

1.2.1 Bản chất của việc giải quyết tranh chấp kinh tế

Theo Từ điển tiếng Việt, thuật ngữ "giải quyết" đợc hiểu là "làm chokhông còn thành vấn đề nữa" [108, tr 338] Hiểu theo nghĩa đơn giản nhất thìgiải quyết TCKT là tổng hợp những cách thức, biện pháp đợc áp dụng để loại

bỏ các mâu thuẫn, bất đồng về lợi ích kinh tế phát sinh giữa các chủ thể trongquá trình chúng tham gia vào các quan hệ kinh tế Hoạt động giải quyết TCKTmang những đặc thù sau:

- Chủ thể của hoạt động giải quyết TCKT là các bên tranh chấp và cáccơ quan tài phán có thẩm quyền Khi TCKT phát sinh, các bên tranh chấp cóthể tự thỏa thuận với nhau thông qua các hình thức thơng lợng, hòa giải để loại

bỏ những mâu thuẫn, bất đồng giữa họ Trong trờng hợp này hoàn toàn không

có sự tham gia của ngời thứ ba hay của cơ quan tài phán vào việc giải quyếttranh chấp

Trong những trờng hợp các bên tranh chấp không thể tự thơng lợng vớinhau đợc thì họ có thể nhờ ngời thứ ba, giữ vai trò của ngời trung gian hỗ trợ

Đó là cá nhân, cơ quan đợc các bên yêu cầu đứng ra giải quyết TCKT của họ

Đó là các chuyên gia, luật s, trọng tài viên đợc các bên mời tham gia hòa giải,giải quyết tranh chấp, hoặc là tòa án, Trung tâm trọng tài thụ lý giải quyết cácTCKT Trong trờng hợp này, chủ thể của hoạt động giải quyết tranh chấp, bêncạnh các bên tranh chấp, còn là ngời trung gian hòa giải hoặc tòa án, trọng tài

có thẩm quyền

- Khách thể của việc giải quyết TCKT là các quan hệ pháp luật đangtranh chấp Đối tợng của hoạt động giải quyết tranh chấp chính là bản thântranh chấp đã phát sinh giữa các bên Căn cứ vào sự thỏa thuận của mình màcác bên tranh chấp tìm một giải pháp thích hợp để loại bỏ tranh chấp hoặc căn

Trang 32

cứ vào các quy định pháp luật và các tình tiết khách quan của tranh chấp, tòa

án hoặc Trọng tài sẽ đa ra phán quyết giải quyết vụ việc

Nh vậy, giải quyết TCKT là việc các bên tranh chấp thông qua các

hình thức, thủ tục thích hợp tiến hành giải quyết các mâu thuẫn, xung đột, bất

đồng về lợi ích kinh tế nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của họ.

Quan niệm về giải quyết TCKT đợc hiểu với những nội dung khácnhau trong từng thời kỳ Trong cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, việc giảiquyết TCKT đợc thực hiện chủ yếu thông qua Trọng tài kinh tế Trọng tài kinh

tế là cơ quan nhà nớc, đợc thành lập với hai chức năng chủ yếu: (i) giải quyếttranh chấp HĐKT và (ii) thực hiện việc quản lý Nhà nớc đối với công tácHĐKT Nh vậy, Trọng tài kinh tế Nhà nớc vừa là cơ quan xét xử lại vừa là cơquan quản lý nhà nớc Các TCKT có yếu tố nớc ngoài (tranh chấp phát sinh từhợp đồng mua bán ngoại thơng, thuê tàu, vận chuyển hàng quốc tế, đại lý tàubiển, cứu hộ, bảo hiểm hàng hóa ) đợc giải quyết tại Hội đồng Trọng tàiNgoại thơng hoặc Hội đồng Trọng tài Hàng hải bên cạnh Phòng thơng mại vàCông nghiệp Việt Nam

Hoạt động giải quyết TCKT, mà thực chất là hoạt động giải quyết cáctranh chấp HĐKT trong cơ chế kinh tế kế hoạch tập trung mang tính chấtkiểm tra, xem xét và giải quyết các vi phạm trong công tác HĐKT hơn là tínhchất tài phán Việc giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm HĐKT chủ yếunhằm điều hòa những mâu thuẫn về lợi ích cục bộ của các đơn vị kinh tếXHCN trên cơ sở lấy lợi ích nhà nớc làm tiêu chuẩn để xem xét [62, tr 51].Việc thực hiện các phán quyết, quyết định của cơ quan tài phán cũng mangnặng tính khuyến nghị chứ ít phản ánh tính cỡng chế

Trong giai đoạn phát triển kinh tế thị trờng tại Việt Nam hiện nay, Nhànớc đang từng bớc xây dựng và hoàn thiện cơ chế giải quyết TCKT phù hợpvới đòi hỏi khách quan của quá trình chuyển đổi nền kinh tế, đem lại tínhcông bằng, hiệu quả kinh tế và góp phần giữ vững trật tự, kỷ cơng của xã hội,

Trang 33

làm lành mạnh các quan hệ kinh tế Quan niệm về giải quyết TCKT hiện nay ởnớc ta đã có những thay đổi căn bản Nhà nớc đã từng bớc thể chế hóa việcgiải quyết TCKT nhằm bảo đảm tối đa quyền tự định đoạt, trong đó có quyền

tự do lựa chọn phơng thức giải quyết TCKT của các bên tranh chấp Việc giảiquyết TCKT đợc phát triển theo hai xu hớng: Thứ nhất, Nhà nớc thể hiện vaitrò trong việc giải quyết TCKT, nh một biện pháp để duy trì trật tự quản lýkinh tế; thứ hai, xã hội hóa hoạt động giải quyết TCKT nhằm tăng cờng sựtham gia của xã hội vào hoạt động quản lý của Nhà nớc về kinh tế, giảm bớtgánh nặng cho các cơ quan công quyền

Theo xu hớng thứ nhất, Nhà nớc đã thành lập Tòa Kinh tế trong hệthống TAND, có chức năng xét xử các vụ án kinh tế (Luật sửa đổi, bổ sungmột số điều của LTCTAND 28/12/1993 - theo Luật này các Tòa Kinh tế chínhthức hoạt động từ 01/7/1994 cùng thời điểm này Trọng tài kinh tế Nhà nớcchấm dứt hoạt động) Theo xu hớng thứ hai, Nhà nớc đã ban hành Nghị định

số 116/CP ngày 5/9/1994 về tổ chức và hoạt động của Trọng tài kinh tế Trọngtài kinh tế là một tổ chức phi Chính phủ, "là tổ chức xã hội - nghề nghiệp" cóthẩm quyền giải quyết các TCKT Đây là một hình thức giải quyết TCKT đợc -

a chuộng và áp dụng rộng rãi ở các nớc có nền kinh tế thị trờng phát triển Bêncạnh hình thức trọng tài, Nhà nớc còn chủ trơng khuyến khích các hình thứcthơng lợng, hòa giải, tham vấn, t vấn pháp luật nhằm đảm bảo các TCKT đợcgiải quyết một cách nhanh chóng, thuận lợi, công bằng và hiệu quả, thúc đẩysản xuất, kinh doanh để tăng trởng kinh tế

Nội dung của việc giải quyết TCKT đã mở rộng và đa dạng Ngoàiviệc giải quyết các TCKT truyền thống liên quan đến HĐKT, nhiều TCKT mới

đã xuất hiện và đợc giải quyết bởi các cơ quan tài phán kinh tế mới thành lập.Quan niệm về giải quyết TCKT chỉ mang tính chất kinh tế là chủ yếu, việckiện tụng đợc coi là một phần của công việc kinh doanh của các doanh nghiệptrong cơ chế thị trờng Các doanh nghiệp hoàn toàn tự do chủ động trong việc

Trang 34

xử lý các tranh chấp phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh.Mục tiêu hiệu quả, bảo vệ uy tín, bí mật kinh doanh, giữ mối quan hệ với bạnhàng đợc coi là phơng châm hành động của các doanh nghiệp khi quyết địnhgiải quyết các TCKT.

1.2.2 Mục đích và các yêu cầu đặt ra đối với việc giải quyết tranh chấp kinh tế

TCKT thờng có giá trị tài sản lớn và liên quan đến lợi ích của nhiềungời Một TCKT không đợc giải quyết kịp thời có thể ảnh hởng trực tiếp đếnhoạt động sản xuất, kinh doanh của những bên liên quan Trên thực tế, nhiềutranh chấp có giá trị lớn không đợc giải quyết đúng đắn, kịp thời đã kéo theonhững hậu quả xấu nh đình đốn sản xuất, ngng trệ công việc kinh doanh, thậmchí doanh nghiệp lâm vào tình trạng nợ nần, có nguy cơ phá sản Bởi lẽ đó,việc giải quyết TCKT phải đạt đợc các mục đích sau đây:

Thứ nhất: Bảo vệ và khôi phục một cách có hiệu quả quyền và lợi ích

chính đáng của các bên bị vi phạm trong các vụ TCKT

Khi TCKT xảy ra có nghĩa là lợi ích kinh tế của một bên nào đó đã bị

vi phạm Theo đuổi lợi ích kinh tế, thu lợi nhuận là động lực quan trọng nhấtthúc đẩy các chủ thể tham gia quan hệ kinh tế Khi quyền lợi kinh tế bị xâmhại (bị chiếm dụng vốn, bị thiệt hại do đối tác giao hàng không đúng chủngloại, chất lợng, đợc chia lãi không tơng xứng với phần góp vốn vào công

ty v.v ) thì việc đòi hỏi khôi phục lại trạng thái vốn phải có nh dự liệu ban

đầu là việc làm cần thiết, hợp lẽ công bằng Do vậy, giải quyết TCKT là mộtnhu cầu tự nhiên, khách quan Pháp luật về giải quyết TCKT đợc xây dựng vàban hành nhằm tạo tiền đề pháp lý để các nhà kinh doanh bảo vệ các quyền vàlợi ích kinh tế hợp pháp, chính đáng của mình Muốn đạt đợc mục đích này,cần phải có cơ chế giải quyết TCKT phù hợp với cơ chế kinh tế thị trờng, linhhoạt, mềm dẻo, nhanh gọn và hiệu quả kinh tế cao, cần đến sự hiểu biết, am t-ờng của các chủ thể tranh chấp về đờng lối, chính sách, pháp luật của Đảng và

Trang 35

Nhà nớc liên quan đến lĩnh vực hoạt động kinh tế của họ Các doanh nghiệpphải có đủ hiểu biết, năng lực để lờng trớc những rủi ro, tranh chấp, chủ độngtiếp nhận và giải quyết các TCKT phát sinh.

Thứ hai: Việc giải quyết có hiệu quả TCKT tạo đợc niềm tin cho các

doanh nghiệp, doanh nhân an tâm đầu t, làm ăn kinh tế, góp phần tạo dựngmôi trờng kinh tế lành mạnh, hấp dẫn

Môi trờng kinh tế ngoài các yếu tố sự ổn định của chính trị - xã hội, sựphát triển của các cơ sở hạ tầng, dịch vụ kinh tế, sự hoàn thiện, tiến bộ của hệthống pháp luật, trong đó có hệ thống pháp luật về giải quyết TCKT, đợc cácnhà đầu t nớc ngoài rất lu tâm Khi xem xét quyết định đầu t vào đâu, các nhà

đầu t nớc ngoài thờng quan tâm đến cơ chế giải quyết tranh chấp phát sinhtrong quá trình làm ăn kinh tế tại nơi đó Độ an toàn và rủi ro cao, thấp của

đồng vốn lệ thuộc vào tính hữu hiệu, công bằng trong việc giải quyết cácTCKT Sự nhiệt tình của các nớc phơng Tây, Mỹ đối với các nớc đang pháttriển trong việc trợ giúp, t vấn liên quan đến công tác xây dựng pháp luật,trong đó có pháp luật về giải quyết TCKT không chỉ đơn giản là cử chỉ hàohiệp, thân thiện, mà trong ý thức sâu xa là họ muốn gây tác động đến hoạt

động lập pháp để tạo ra những bảo đảm pháp lý cho sự an toàn đối với vốn màcác nhà đầu t nớc họ đầu t vào đó Nhà kinh tế học ngời Mỹ P A Samuelson

đổ vỡ, mọi ngời không còn ý định đầu t lâu dài cho tơng lai [91, tr.83]

Trang 36

Cùng với tiến trình đổi mới kinh tế, cơ chế giải quyết TCKT trong nềnkinh tế thị trờng định hớng XHCN ở Việt Nam đã từng bớc đợc hình thành vàcủng cố, bớc đầu tạo đợc niềm tin cho các doanh nghiệp Niềm tin này cũng làmột trong những động lực, điều kiện để các doanh nghiệp mạnh dạn và an tâm

đầu t làm ăn kinh tế

Số các nhà đầu t bỏ vốn đầu t sản xuất, kinh doanh ngày một tăng lên.Nếu năm 1990 mới có khoảng 800.000 cơ sở kinh tế cá thể, tiểu chủ thì đếnnăm 1996 có 2.215.000 cơ sở; năm 1991 tổng số doanh nghiệp t nhân, công tyTNHH, công ty cổ phần là 414 doanh nghiệp, đến cuối năm 2000 con số này

là 40.000 doanh nghiệp [102, tr 94-97]

Thứ ba: Việc giải quyết TCKT góp phần hoàn thiện khung pháp luật

kinh tế trong nền kinh tế thị trờng ở Việt Nam

Pháp luật về giải quyết TCKT giữ vai trò quan trọng trong sự phát triểnnền kinh tế thị trờng ở nớc ta Thông qua việc giải quyết TCKT chính xác,thuận lợi, hiệu quả, các quan hệ kinh tế mới có điều kiện phát triển Đồngthời, các quan hệ kinh tế không có lợi, đi ngợc lại với mục đích theo đuổi xâydựng nền kinh tế của Đảng và Nhà nớc ta, cũng nh các khiếm khuyết, bất cậpcủa quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế sẽ đợc phát hiện ngăn chặn và từng b-

ớc đẩy lùi Để cho nền kinh tế vận hành một cách thuận lợi, đúng định hớng,

đạt đợc các mục tiêu cụ thể do Nhà nớc đề ra, Nhà nớc phải tạo ra đợc một cơchế giải quyết TCKT hiệu quả nhất không chỉ cho Nhà nớc mà còn cho chínhcác doanh nghiệp Giải quyết TCKT cũng đợc coi là một động lực để thúc đẩyphát triển kinh tế

Mặt khác, hoạt động giải quyết TCKT góp phần phát hiện những bấtcập, hạn chế của hệ thống pháp luật kinh tế, những quan hệ pháp luật kinh tếmới phát sinh nhng cha đợc pháp luật điều chỉnh và cả những vớng mắc phátsinh trong quá trình thực hiện và áp dụng pháp luật, từ đó có phơng hớng và giảipháp xây dựng và hoàn thiện pháp luật Hoạt động giải quyết TCKT của Tòa

Trang 37

án, của Trọng tài kinh tế là một dịp tốt để kiểm chứng tính phù hợp, hiệu quảcủa pháp luật đối với thực tiễn kinh doanh Bằng những tình huống, sự kiện cụthể trong các TCKT liên quan đến việc thực hiện và áp dụng pháp luật sẽ giúpcho các nhà làm luật, nhà quản lý thấy đợc những hạn chế, bất cập từ các văn bảnpháp luật kinh tế hiện hành để có phơng hớng sửa đổi, bổ sung

Thứ t: Giải quyết TCKT góp phần vào việc duy trì trật tự pháp luật

trong hoạt động kinh doanh, bảo vệ nguyên tắc pháp chế XHCN trong hoạt

động kinh tế

Chúng ta đang tiến hành xây dựng nền kinh tế thị trờng theo định hớngXHCN Điều 26 Hiến pháp 1992 khẳng định: "Nhà nớc thống nhất quản lýnền kinh tế quốc dân bằng pháp luật" Pháp luật không chỉ đợc sử dụng nhmột lá chắn an toàn cho các hoạt động kinh doanh hợp pháp mà pháp luật còn

đợc Nhà nớc sử dụng nh một công cụ hữu hiệu để điều hành nền kinh tế Duytrì trật tự, kỷ cơng pháp luật trong kinh doanh sẽ tạo ra môi trờng pháp lýthuận lợi, tạo ra các cơ hội công bằng để các chủ thể kinh tế hợp tác, cạnhtranh lành mạnh trong quan hệ kinh tế

Trong cơ chế kinh tế thị trờng hiện nay, nếu không có các thiết chếgiải quyết TCKT hữu hiệu sẽ dẫn đến tình trạng rối loạn trong kinh doanh "cálớn nuốt cá bé" Việc thành lập TKT trong hệ thống TAND đã tạo ra một ph-

ơng thức giải quyết TCKT có hiệu quả để bảo đảm trật tự pháp luật kinhdoanh và pháp chế XHCN Giải quyết TCKT theo thủ tục t pháp là hình thứcgiải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của cơ quan tài phán nhà nớc, nhândanh quyền lực nhà nớc để đa ra phán quyết buộc các bên có nghĩa vụ thihành, kể cả bằng sức mạnh cỡng chế của Nhà nớc khi cần thiết, nhằm lập lạitrật tự pháp luật, bảo vệ một cách kiên quyết và có hiệu quả lợi ích hợp phápcủa các đơng sự

Hoạt động giải quyết TCKT còn góp phần vào việc nâng cao hiểu biết

và ý thức tuân thủ pháp luật đối với các doanh nghiệp Khi tranh chấp phát

Trang 38

sinh, để tự bảo vệ quyền lợi của mình, các doanh nghiệp phải thực sự nghiêncứu các văn bản pháp luật có liên quan, nghiên cứu chủ trơng, chính sách của

Đảng, Nhà nớc Thông qua quá trình tham vấn, hòa giải, thơng lợng và tố tụngtại các cơ quan tài phán kinh tế, các doanh nghiệp có thêm thông tin, kiến thức

và kinh nghiệm trong quan hệ làm ăn kinh tế

Xuất phát từ các đặc thù của hoạt động kinh doanh, việc giải quyết cácTCKT phải đáp ứng đợc các yêu cầu cơ bản sau đây:

Một là: Các TCKT phải đợc giải quyết nhanh chóng, chính xác, đúng

pháp luật

Thực tiễn giải quyết TCKT cho thấy, các TCKT thờng liên quan đếngiá trị tài sản lớn và bên phải thực hiện nghĩa vụ thờng cố tình trì hoãn việcthực hiện nghĩa vụ để chiếm dụng vốn của đối tác Bởi vậy, một yêu cầu hàng

đầu trong việc giải quyết TCKT là nhanh chóng, dứt điểm, tránh dây da, kéodài Mặt khác, trong kinh doanh, thời gian là tiền bạc Thời gian tạo ra cơ hộikinh doanh Nếu quá tập trung vào việc giải quyết tranh chấp, các bên có thể

bỏ lỡ cơ hội kinh doanh tức là bỏ lỡ cơ hội có lợi nhuận, có khi còn lớn hơngiá trị đang tranh chấp Hơn nữa, việc giải quyết tranh chấp không nhanhchóng, dứt điểm sẽ gây tâm lý căng thẳng kéo dài cho các nhà kinh doanh vàchắc chắn điều này sẽ ảnh hởng rất xấu đến hiệu quả kinh doanh

Để đáp ứng yêu cầu này, các quốc gia, trong đó có Việt Nam, luôn coitrọng việc xây dựng và phát triển các thiết chế giải quyết tranh chấp đơn giản,thuận tiện và nhanh chóng nh hòa giải và trọng tài Ngay cả khi giải quyếttranh chấp theo thủ tục t pháp thì thủ tục tố tụng áp dụng cho TCKT đợc quy

định đơn giản hơn nhiều so với thủ tục tố tụng áp dụng cho tranh chấp dân sự.Bản thân các nhà kinh doanh cũng rất a chuộng các phơng thức giải quyếttranh chấp đơn giản và nhanh chóng nh phơng thức thơng lợng, hòa giải hayphơng thức trọng tài Nhiều nhà kinh doanh nói rằng nếu có tranh chấp, tốtnhất hãy tự hòa giải với nhau Nếu không tự hòa giải đợc hãy nhờ ngời trung

Trang 39

gian hòa giải giúp Nếu vẫn không thể hòa giải đợc thì hãy đa tranh chấp ratrọng tài, cùng lắm mới đa ra tòa án

Nhng ngoài việc giải quyết tranh chấp nhanh chóng thì sự phán quyếtcũng phải chính xác, đúng pháp luật Phán quyết của cơ quan tài phán phảidựa trên cơ sở các quy định của pháp luật hiện hành, các tập quán kinh doanh

đợc thừa nhận rộng rãi và đặc biệt phán quyết đó phải tôn trọng sự thật kháchquan của tranh chấp Chỉ có nh vậy thì hoạt động giải quyết tranh chấp mớitạo đợc niềm tin cho các nhà kinh doanh và mới có thể góp phần vào việc tạodựng môi trờng kinh doanh lành mạnh, giáo dục ý thức tôn trọng pháp luậtcho cộng đồng nói chung và cho các nhà kinh doanh nói riêng

Hai là: Kết quả đạt đợc từ việc giải quyết TCKT phải đảm bảo hiệu

quả thi hành cao trong thực tế

Mục đích hàng đầu của việc giải quyết TCKT là bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của các bên Bởi vậy, một trong các yêu cầu cơ bản của hoạt

động giải quyết TCKT là khả năng thi hành kết quả giải quyết cao trong thực

tế TCKT dù đợc giải quyết nhanh chóng, chính xác, đúng pháp luật, phù hợpvới tình tiết khách quan cũng sẽ trở thành vô nghĩa nếu kết quả của việc giảiquyết không có khả năng thi hành Đây cũng chính là yếu tố để các bên tranhchấp cân nhắc khi quyết định lựa chọn phơng thức này hay phơng thức khác

để giải quyết các TCKT đã phát sinh Cũng chính vì lý do này mà việc lựachọn Tòa án, Trung tâm trọng tài trong việc giải quyết các tranh chấp có tínhchất phức tạp, nhất là khi một bên tranh chấp không thiện chí, có u thế nổi trội

so với phơng thức giải quyết bằng thơng lợng, hòa giải

Ba là: Việc giải quyết các TCKT phải đảm bảo tính dân chủ, sự bình

đẳng và quyền tự định đoạt của các bên

Yêu cầu này là nguyên tắc cơ bản đối với việc giải quyết các tranhchấp phát sinh trong quá trình sản xuất, kinh doanh Trong nền kinh tế thị tr-ờng, nền tảng của các quan hệ kinh tế là quyền tự do kinh doanh Tự do kinh

Trang 40

doanh bao hàm hàng loạt các quyền liên quan đến hoạt động kinh tế nh: tự dogiao kết hợp đồng, tự lựa chọn bạn hàng, hình thức kinh doanh, quy mô,ngành nghề kinh doanh, tự định đoạt việc lựa chọn phơng thức giải quyết khi

có tranh chấp phát sinh Trên cơ sở nguyên tắc bảo đảm quyền tự do kinh doanh,Nhà nớc không can thiệp vào các hoạt động kinh doanh đúng pháp luật

Các TCKT đều phát sinh từ những quan hệ đợc thiết lập trên cơ sở tựnguyện, bình đẳng và thỏa thuận, bởi vậy, khi giải quyết tranh chấp cũng phải

đảm bảo tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên tranh chấp Cơ chế giảiquyết tranh chấp phải đợc thiết kế và vận hành sao cho các bên tranh chấp cóthể chủ động lựa chọn cho mình một hình thức giải quyết tranh chấp phù hợpvới tính chất và nội dung tranh chấp, phù hợp với thiện chí và thái độ hợp táccủa các bên

Các cơ quan tài phán, dù là của Nhà nớc hay phi Chính phủ không tự

đa các TCKT của các bên ra để phán quyết mà chỉ giải quyết khi đợc mộthoặc các bên đơng sự có yêu cầu Ngay cả khi đã đa tranh chấp ra giải quyếttại Tòa án hoặc Trung tâm trọng tài rồi thì các bên tranh chấp vẫn có thể hòagiải với nhau, đợc quyền rút đơn yêu cầu hay thay đổi nội dung yêu cầu

Bốn là: Đảm bảo đợc bí mật kinh doanh và uy tín của các bên tranh

chấp cũng nh duy trì quan hệ hợp tác tốt đẹp vốn có giữa các bên

Đây cũng là một đòi hỏi mang yếu tố khách quan của các quan hệkinh tế trong nền kinh tế thị trờng Giải quyết tranh chấp là xem xét một hành

vi vi phạm quan hệ kinh tế cụ thể (vi phạm HĐKT, vi phạm nghĩa vụ thanhtoán theo một cam kết nào đó ) chứ không phải xem xét toàn bộ quá trìnhhoạt động kinh tế của một cá nhân, tổ chức Các vi phạm có thể do nguyênnhân khách quan, chủ quan, xét về lỗi cha xác định đợc tại bên nào Mặtkhác, một nhà kinh doanh, trong cùng một thời điểm có thể có nhiều quan hệkinh tế với các chủ thể khác nhau Do vậy, việc giữ gìn uy tín của các bên trênthơng trờng là rất cần thiết Trong hoạt động kinh tế, uy tín trên thơng trờng

Ngày đăng: 19/02/2014, 14:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chấp hành Trung ơng Đảng (2002), Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 2/1/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác t pháp trong thời gian tới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban chấp hành Trung ơng Đảng (2002)
Tác giả: Ban chấp hành Trung ơng Đảng
Năm: 2002
2. Ban chỉ đạo liên ngành hoạt động đánh giá nhu cầu phát triển toàn diện hệ thống pháp luật Việt Nam (2002), Báo cáo tổng thể về đánh giá nhu cầu phát triển toàn diện hệ thống pháp luật Việt Nam đến 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban chỉ đạo liên ngành hoạt động đánh giá nhu cầu phát triển toàn diện hệthống pháp luật Việt Nam (2002)
Tác giả: Ban chỉ đạo liên ngành hoạt động đánh giá nhu cầu phát triển toàn diện hệ thống pháp luật Việt Nam
Năm: 2002
3. Ban soạn thảo Pháp lệnh Trọng tài của Hội luật gia Việt Nam (2000), Dự thảo 8, 9/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban soạn thảo Pháp lệnh Trọng tài của Hội luật gia Việt Nam (2000), "Dựthảo 8
Tác giả: Ban soạn thảo Pháp lệnh Trọng tài của Hội luật gia Việt Nam
Năm: 2000
5. Béctơ răng Môtô - Đoàn Luật s Tòa thợng thẩm Pari (1995), "Thủ tục tố tụng và phán quyết trọng tài", Trọng tài quốc tế, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tục tốtụng và phán quyết trọng tài
Tác giả: Béctơ răng Môtô - Đoàn Luật s Tòa thợng thẩm Pari
Nhà XB: Nxb Chính trị quốcgia
Năm: 1995
6. Nguyễn Đức Bình (2002), "Toàn cầu hóa kinh tế và tác động trên các mặt chính trị ý thức hệ", Báo Nhân dân, số ra ngày 17/10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cầu hóa kinh tế và tác động trên các mặtchính trị ý thức hệ
Tác giả: Nguyễn Đức Bình
Năm: 2002
7. Bộ luật tố tụng dân sự Pháp, tập IV - Trọng tài, (Bản dịch của Ban soạn thảo pháp lệnh trọng tài thơng mại) Sách, tạp chí
Tiêu đề: tập IV - "Trọng tài
8. Bộ T pháp (1993), Tờ trình Chính phủ về dự án tổ chức Tòa án kinh tế và dự án Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, Hà Nội, (1085/TP) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ T pháp (1993), "Tờ trình Chính phủ về dự án tổ chức Tòa án kinh tế vàdự án Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế
Tác giả: Bộ T pháp
Năm: 1993
9. Bộ T pháp (1995), Thông t 02/PLDSKT ngày 3/1/1995 hớng dẫn thi hành một số điểm của Nghị định 116/CP ngày 5/9/1994 của Chính phủ về tổ chức hoạt động của Trọng tài kinh tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ T pháp (1995)
Tác giả: Bộ T pháp
Năm: 1995
10. Bộ T pháp (10/2000), Tài liệu Hội thảo Những thách thức về phơng diện pháp lý trớc quá trình toàn cầu hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ T pháp (10/2000), Tài liệu Hội thảo "Những thách thức về phơng diệnpháp lý trớc quá trình toàn cầu hóa
4. Bản quy tắc trọng tài UNCITRAL, (đợc UNCITRAL thông qua ngày 28/4/1976 và Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 15/12/1976) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Tình hình thụ lý và giải quyết tranh chấp kinh tế - giải quyết tranh chấp kinh tế trong điều kiện kinh tế thị trường ở việt nam
Bảng 2.2. Tình hình thụ lý và giải quyết tranh chấp kinh tế (Trang 105)
Bảng 2.3. Thụ lý và giải quyết tranh chấp kinh tế theo trình tự sơ thẩm - giải quyết tranh chấp kinh tế trong điều kiện kinh tế thị trường ở việt nam
Bảng 2.3. Thụ lý và giải quyết tranh chấp kinh tế theo trình tự sơ thẩm (Trang 114)
Bảng 2.5. Tình hình xét xử án kinh tế cấp phúc thẩm - giải quyết tranh chấp kinh tế trong điều kiện kinh tế thị trường ở việt nam
Bảng 2.5. Tình hình xét xử án kinh tế cấp phúc thẩm (Trang 118)
Bảng 2.6. Tình hình xét xử giám đốc thẩm các vụ án kinh tế - giải quyết tranh chấp kinh tế trong điều kiện kinh tế thị trường ở việt nam
Bảng 2.6. Tình hình xét xử giám đốc thẩm các vụ án kinh tế (Trang 119)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w