Thông tin bất cân xứng Asymmetric information xảy ra khi một trong các bên giao dịch không biết tất cả và chính xác những thông tin cần biết về bên kia để đưa ra quyết định đúng đắn tron
Trang 1Đề tài: Cơ sở lý thuyết về thông tin bất cân xứng trên TT tài chính? Liên hệ với thực tế vận dụng lý thuyết này để giải thích hiện tượng nợ xấu trong các NHTM Việt Nam và hiện tượng tín dụng đen trong nền kinh tế VN trong giai đoạn 2019 đến nay
1. Cơ sở lý thuyết về thông tin bất cân xứng trên TT tài chính:
1.1. Khái niệm:
Thông tin bất cân xứng trong tiếng Anh là Asymmetric information.
Thông tin bất cân xứng (Asymmetric information) xảy ra khi một trong các
bên giao dịch không biết tất cả và chính xác những thông tin cần biết về bên kia để đưa ra quyết định đúng đắn trong giao dịch Khi đó, giá cả trên thị trường sẽ có thể quá thấp hoặc quá cao so với giá cân bằng của thị trường
Đối với các quốc gia, tính minh bạch của thông tin trên thị trường, khả năng tiếp cận thông tin và cơ sở hạ tầng thông tin yếu kém thì thông tin bất cân xứng càng phổ biến và càng trở nên trầm trọng hơn
Bất cân xứng về thông tin có ba đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, có sự khác biệt về thông tin giữa các bên giao dịch; thứ hai, có nhiều trở ngại trong việc chuyển thông tin giữa các bên; thứ ba, trong hai bên có một bên có thông tin chính xác hơn
1.2. Nguyên nhân:
Do những chủ thể kinh tế khác nhau quan tâm tới những đối tượng khác nhau và thông tin của họ về cùng một đối tượng cũng khác nhau Thường các chủ thể kinh
tế hiểu mình rõ hơn hiểu người khác Mức độ chênh lệch về thông tin tùy thuộc vào cơ cấu, đặc trưng của thị trường
Trang 2 Bất đối xứng thông ti còn có nguyên nhân nhân tạo chủ thể tham gia giao dịch có thể cố tình che giấu thông tin để đạt được lợi thế trong đàm phán
1.3. Tác động của thông tin bất cân xứng
Sự xuất hiện của thông tin bất cân xứng là yếu tố quan trọng kìm hãm giao dịch Thông tin bất cân xứng dẫn tới hai rủi ro chính trên thị trường tài chính: chọn lựa đối nghịch và rủi ro đạo đức (tạo ra sau khi cuộc giao dịch được diễn ra)
Chọn lựa đối nghịch là hậu quả của vấn đề thông tin bất cân xứng, được tạo ra
khi diễn ra cuộc giao dịch Bất cân xứng thông tin càng lớn nguy cơ lựa chọn đối nghịch càng cao Trên thị trường tín dụng, chọn lựa đối nghịch xảy ra khi người đi vay có rủi ro cao không trả được nợ nhưng lại tích cực đi vay nhất và có nhiều khả năng được người cho vay lựa chọn nhất
Ví dụ, trên thị trường chứng khoán, trong điều kiện bất cân xứng thông tin, những người tham gia có thể đẩy thị trường đến một trạng thái lựa chọn đối nghịch,
đó là việc mua chứng khoán của những công ty hoạt động kém và đẩy khỏi thị trường những chứng khoán có chất lượng cao Thị trường chứng khoán sẽ mất dần tính thanh khoản và ngày càng bị thu hẹp, hàng hóa chỉ còn những loại chứng khoán chất lượng kém
Trên thực tế, chỉ những thị trường tài chính mạnh, có hệ thống thông tin và giám sát thông tin tốt mới có khả năng hạn chế các chọn lựa đối nghịch, từ đó tạo điều kiện cho thị trường phát triển
Rủi ro đạo đức là hậu quả của thông tin bất cân xứng Nó có những đặc điểm
chính sau đây: Có sự xuất hiện những hoạt động không tích cực (thiếu đạo đức); Các hoạt động trên làm tăng xác suất xảy ra hậu quả xấu
Trang 3Trong thực tế, vấn đề rủi ro đạo đức xuất hiện trong rất nhiều thị trường và dễ được nhận thấy như thị trường bảo hiểm (y tế, tài sản, tai nạn), thị trường cho vay tín dụng, thị trường chứng khoán
Ví dụ, trên thị trường tín dụng, sau khi vay tiền, người đi vay lại nảy sinh ý định
sử dụng vốn sang mục đích khác với thỏa thuận ban đầu làm cho món vay ít có khả năng hoàn trả hơn
Hay, trên thị trường chứng khoán, dễ nhận thấy tình trạng của rủi ro đạo đức là tình trạng thao túng các mặt hoạt động của công ty cổ phần và giá cổ phiếu
Các cổ đông lớn hoặc những người nằm trong ban điều hành công ty do có được thông tin về công ty hoặc tạo ra những sự kiện rồi liên kết mua bán để đẩy giá cổ phiếu tăng cao, kéo những nhà đầu tư nhỏ, ít kinh nghiệm vào cuộc, khi những cổ đông lớn đã rút ra khỏi thị trường thì những cổ đông nhỏ nắm giữ những cổ phiếu giá cao
1.4. Khái quát giải pháp cho vấn đề thông tin bất cân xứng
- Tự sản xuất và bán thông tin;
- Tăng cường sự điều hành của chính phủ để tăng thông tin;
- Tăng cường vai trò của các trung gian tài chính để tăng chất lượng thông tin;
- Thực hiện các cơ chế:
• Cơ chế phát tín hiệu: bên có nhiều thông tin có thể phát tín hiệu đến những bên có ít thông tin một cách trung thực và tin cậy
• Cơ chế sàng lọc: bên có ít thông tin có thể thu thập thông tin từ bên kia bằng cách đưa ra các điều kiện hợp đồng khác nhau
• Cơ chế giám sát: dùng để kiểm soát rủi ro đạo đức
Trang 42. Giải thích hiện tượng nợ xấu trong các NHTM Việt Nam giai đoạn 2019 đến nay
2.1. Tổng quan thực trạng nợ xấu hiện nay
Hình 1: Tỉ lệ nợ xấu 2019
Trang 5Hình 2: Tỉ lệ nợ xấu 2020
Hình 2: Tỉ lệ nợ xấu 2021
Quan sát BCTC của 27 ngân hàng niêm yết có thể thấy tỷ lệ nợ xấu nội bảng tính đến 30/6/2021 ở đa số các nhà băng đều giảm so với cuối năm 2020 Nhiều ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu rất thấp Techcombank, MB, Vietcombank hay VIB Đây đều là những ngân hàng được thị trường đánh giá cao về chất lượng tài sản trong vài năm trở lại đây
Việc Techcombank và MB có tỷ lệ nợ xấu thấp hơn cả Vietcombank là một tín hiệu mới, cho thấy nhóm ngân hàng thương mại tư nhân đã đặt chú trọng nhiều hơn vào quản trị rủi ro
Một số ngân hàng thương mại tư nhân khác như TPBank, HDB, Lienvietpostbank cũng có tỷ lệ nợ xấu tính đến 30/6/2021 khá thấp, chỉ từ 1,1-1,3% Đáng chú ý, một số ngân hàng từng có tỷ lệ nợ xấu ở diện cảnh báo, vượt quy định
Trang 6của NHNN như Kienlongbank, NCB đều đã giảm tỷ lệ nợ xấu xuống khá thấp lần lượt là 1,08% và 1,4% Điều này đến từ việc đẩy mạnh quá trình xử lý tài sản đảm bảo, xử lý nợ xấu của các nhà băng
Các ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu cao nửa đầu năm 2021 là ABBank (2,3%), PGBank (2,7%), Bản Việt (2,8%) hay VPBank (3,4%) dù mức tăng trưởng tín dụng của nhóm này đều khá cao như Bản Việt là 11,6%, VPBank là 6,8%, ABBank là 5,6%, PGBank là 2,4%
Đáng chú ý, tính đến 30/6/2021, nợ xấu nhóm 4, 5 của một vài đơn vị tăng mạnh
so với cuối năm 2020 Điều này có thể đến từ sự khác biệt trong áp dụng Thông tư 03 của NHNN về cơ cấu lại nợ, lựa chọn tỷ lệ trích lập dự phòng với dư nợ được tái cơ cấu
Một số ngân hàng lớn tăng mạnh nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) như Vietinbank tăng tới 103% và chiếm tới trên 80% tổng nợ xấu của ngân hàng; Vietcombank cũng tăng tới 19%, chiếm 75% tổng nợ xấu; MB tăng 145%, chiếm 50% tổng nợ xấu
Ngoài ra, một số ngân hàng thương mại có quy mô tài sản nhỏ hơn nhưng nợ nhóm 4,5 tăng khá cao như: SHB nợ nhóm 5 tăng 29%; HDBank nợ nhóm 5 tăng 31%; ABBank nợ nhóm 5 tăng 40% hay NamABank nợ xấu nhóm 5 cũng tăng tới 100%; PGBank nợ nhóm 4 tăng 100%; Vietbank nợ nhóm 4 tăng 100%
2.2. Áp dụng lý thuyết bất cân xứng thông tin trong hoạt động cho vay của
ngân hàng thương mại gia đoạn 2019 đến nay
2.2.1. Bất cân xứng thông tin trong hoạt động cho vay của NHTM là nguyên nhân
chính gây ra nợ xấu.
Nợ xấu là gì? Nợ xấu là những khoản nợ quá hạn 90 ngày mà không đòi lại được và không được tái cơ cấu Nợ xấu bao gồm những khoản nợ quá hạn hoặc
Trang 7không thể thu hồi, nợ liên quan đến các vụ án chờ xử lí và những khoản nợ quá hạn không được CP xử lí rủi ro
Bất cân xứng thông tin trong nguyên nhân gây ra nợ xấu :
- Thông tin bất cân xứng trong tác động của các chính sách vĩ mô:
• Môi trường pháp lí chưa thuận lợi và sự kém hiệu quả của cơ quan pháp luật cấp địa phương trong việc triển khai
• Công tác thống kê, dự báo còn hạn chế, những điều chỉnh trong điều hành chính sách tiền tệ của NHNN chưa theo kịp những diễn biến của nền kinh tế và kết quả đạt chưa cao
• Sự thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa hiệu quả của NHNN
• Rủi ro do hệ thống thông tin quản lý còn bất cập, yếu kém
- Thông tin bất cân xứng do những cú sốc bất ngờ: sự thay đổi môi trường
tự nhiên, do biến động của môi trường thế giới khủng hoảng
- Bất cân xứng thông tin từ phía ngân hàng: thông tin tín dụng chưa đầy
đủ, xác thực: lạm dụng tài sản thế chấp, thiếu kiểm tra giám sát vốn vay,
sự lỏng lẻo trong công tác kiểm soát nội bộ ngành, năng lực, đạo đức của đội ngũ cán bộ còn hạn chế, sự cạnh tranh giữa các tổ chức tín dụng chưa thực sự lành mạnh, việc chạy theo quy mô, bỏ qua các tiêu chuẩn, điều kiện cho vay, thiếu quan tâm đến chất lượng khoản vay, sự kết hợp giữa các NHTM lỏng lẻo, vai trò của CIC chưa thực sự hiệu quả
- Nguyên nhân từ phía khách hàng: năng lực quản lý vốn, năng lực quản lý tài chính yếu kém; năng lực quản trị kinh doanh hạn chế; gian lận cố ý không trả nợ
2.2.2. Hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại trong tình trạng thông tin
bất cân xứng
Tình trạng thông tin bất cân xứng xảy ra trong hoạt động tín dụng của các NHTM khi ngân hàng là bên có ít thông tin hơn, khách hàng có nhiều thông tin hơn về vấn đề cần giao dịch
Hành vi phổ biến do thông tin bất cân xứng gây ra cho hoạt động cho vay của NHTM là lựa chọn bất lợi và tâm lí ỷ lại
Trang 8- Sự lựa chọn bất lợi: xảy ra trước khi cho vay, khi ngân hàng bị khách hàng che giấu một số thông tin dẫn tới việc lựa chọn khách hàng không tốt và cấp tín dụng không hiệu quả
+ Khách hàng với dự án rủi ro càng cao, sẽ thu được càng nhiều lợi nhuận nếu dự án đó thành công, do đó, họ là những người hăm hở nhất được vay tiền họ sẵn sang chấp nhận mọi điều kiện của khoản vay, nên thường là những người được lựa chọn cho vay
+ Hậu quả của sự lựa chọn đối nghịch có thể dẫn đến việc cấp tín dụng cho khách hàng có rủi ro cao
- Rủi ro đạo đức: xảy ra sau khi cho vay, rủi ro đạo đức trong hoạt động tín dụng của NHTM đến từ phí bên đi vay chủ yếu thể hiện ở hành vi bên đi vay sử dụng vốn vay không đúng mục đích đã cam kết trong hợp đồng tín dụng có thể khách hàng sử dụng vốn vay đầu tư dự án có nhiều rủi ro hơn so với mong muốn của ngân hàng Nếu ngân hàng không kiểm soát được rủi ro đạo đức xảy ra thì ngân hàng sẽ phải đối mặt với rủi ro tín dụng cao
2.2.3. Giải pháp cụ thể để han chế bất cân xứng thông tin trong hoạt động cho vay
của NHTM
- Về phí CP:
• Xây dựng cơ sở pháp lí hoàn thiện: quy định về các điều kiện cấp tín dụng, quy định về điều kiện đảm bảo tiền vay, quy định về việc thẩm định, xét duyệt cho vay và thẩm định thu hồi vốn
• Hệ thống thông tin phục vụ đánh giá xếp loại khách hàng
- Về phía ngân hàng:
• Hoàn thiện quy trình tín dụng
• Hoàn thiện bộ máy quản lí rủi ro
• Nâng cao chất lượng công tác thẩm định năng lực chủ đầu tư, thẩm định dự án vay vốn
• Xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ
• Tăng cường kiểm tra giám sát, quản lí vay nợ
• Hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của công tác kiểm tra nội bộ
Trang 9• Xây dựng, hoàn thiện hệ thống thông tin phòng ngừa rủi ro
• Thực hiện việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro, đẩy mạnh công tác xử lí rủi ro
• Nâng cao trình độ cán bộ tín dụng về năng lực chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp
- Về phía khách hàng: phải phát tín hiệu rằng mình là người có khả năng trả nợ tốt: uy tín của công ty, danh tiếng, quy mô, năng lực tài chính, tài sản đảm bảo…
3. Giải thích hiện tượng tín dụng đen trong nền kinh tế VN trong giai đoạn 2019 đến nay
3.1. Tín dụng đen là gì?
Tín dụng đen là hình thức cho vay tín dụng với lãi suất cao cùng với các quy định chi trả do một cá nhân, nhóm cá nhân hay tổ chức nằm ngoài vòng kiểm soát của pháp luật đề ra Họ không đăng ký kinh doanh cũng như chưa từng được ấp phép hay chịu sự quản lý của bất cứ cơ quan quản lý Nhà nước nào đối với hoạt động cho vay này
Do vậy những hoạt động tín dụng có tính pháp lý bảo vệ người vay và người cho vay, được quy định tại pháp luật còn được gọi là "tín dụng trắng", trái ngược với tín dụng đen không kiểm soát được các vấn đề
3.2. Thực trạng tội phạm về tín dụng đen
Trong những năm gần đây, tình hình tội phạm và vi phạm pháp luật liên quan đến hoạt động “tín dụng đen” xảy ra tại nhiều địa phương, gây ảnh hưởng đến an ninh, trật
tự với thủ đoạn rất tinh vi, phức tạp Theo thống kê chưa đầy đủ của Bộ Công an, từ năm 2015 đến hết năm 2018, trên toàn quốc xảy ra khoảng 7.624 vụ phạm tội liên quan đến “tín dụng đen” trong đó có khoảng 170 vụ lừa đảo, lạm dụng liên quan đến việc huy động vốn với lãi suất cao, với số tiền chiếm đoạt lên đến hàng nghìn tỉ đồng
Trang 10Hệ lụy của “tín dụng đen” kéo theo nhiều loại tội phạm về trật tự xã hội như: giết người, cưỡng đoạt tài sản, cố ý gây thương tích, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản hay gây rối trật tự công cộng…
Theo thống kê của Bộ Công an, từ 15-4-2019 đến 15-4-2020, Bộ Công an đã tiếp nhận tin báo, phát hiện 1.152 vụ, 2.423 đối tượng liên quan đến “tín dụng đen” Đã khởi tố 602 vụ, 1.427 bị can; xử phạt hành chính 382 vụ, 911 đối tượng
Hoạt động “tín dụng đen” là một trong những nguyên nhân gây phức tạp tình hình
an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội tại nhiều địa phương trên cả nước, là nguồn gốc của nhiều tội phạm khác như: bắt giam giữ người trái pháp luật, cố ý gây thương tích, cưỡng đoạt tài sản… Tuy nhiên, hiện nay một số địa phương còn lúng túng trong công tác phòng ngừa, đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật liên quan đến hoạt động “tín dụng đen”
Sau đại dịch COVID-19, tình hình tội phạm "tín dụng đen" có chiều hướng diễn biến hết sức phức tạp, kéo theo nhiều hệ lụy trong xã hội, đòi hỏi phải giải quyết triệt
để, quyết liệt với nhiều biện pháp đấu tranh mới
3.3. Áp dụng lý thuyết bất cân xứng thông tin giải thích tín dụng đen
Trong hoạt động cho vay, lý thuyết này giải thích về rủi ro đạo đức và lựa chọn đối nghịch trong quan hệ tín dụng, tạo nên mối quan hệ lợi nhuận và rủi ro của các tổ chức tài chính/ người cho vay Lựa chọn đối nghịch là tình huống thông tin không cân xứng xuất hiện trước khi giao dịch được thực hiện: Những người đi vay rủi ro cao lại
là những người tích cực trong việc tìm kiếm khoản vay Ví dụ, những người liều lĩnh hay có động cơ lừa đảo thường là những người hăm hở chấp nhận khoản vay, bởi vì
họ biết rõ khả năng trả lại khoản vay là không có hoặc khó có thể xảy ra Rủi ro đạo đức nảy sinh khi bên có ưu thế thông tin hiểu được tình thế thông tin phi đối xứng
Trang 11giữa các bên giao dịch và tự nhiên hình thành động cơ hành động theo hướng làm lợi cho bản thân bất kể hành động đó có thể làm hại cho bên kém ưu thế thông tin (ví dụ đặt lãi suất cao, yêu cầu tài sản đảm bảo, cách tính lãi gộp, đòi nợ bạo lực…)
Thực tế cho thấy, do nhu cầu vay vốn làm ăn, kinh doanh trên thị trường hiện nay rất “nóng”, nhất là sau đại dịch COVID-19 Mà thực tế, không phải người dân và doanh nghiệp nào cũng có thể dễ dàng tiếp cận được với các nguồn vốn của ngân hàng do các quy định chặt chẽ về thủ tục và tài sản thế chấp Trong khi đó, việc tiếp cận nguồn vốn “tín dụng đen” ở ngoài xã hội lại quá dễ dàng Người có nhu cầu vay vốn chỉ cần có các giấy tờ như CMND, sổ hộ khẩu và một số loại giấy tờ tùy thân có giá trị khác như thẻ sinh viên, thẻ ATM, bằng cấp là có thể vay được tiền trong thời gian rất ngắn (thông thường chỉ khoảng từ 30 phút) Mặc dù người tham gia vay tiền biết rõ mức lãi suất cao, khả năng hoàn trả không dễ dàng, song do túng bấn, lại thấy thủ tục quá dễ dàng nên đã ký vào các hợp đồng vay tiền
Nhiều người đã sử dụng tiền nhàn rỗi để trực tiếp cho vay dưới dạng “tín dụng đen” hoặc tham gia với vai trò trung gian, huy động vốn, gây rủi ro rất lớn cho cả người cho vay và đi vay, dẫn đến tình trạng vỡ nợ, hụi, họ xảy ra ở nhiều địa phương Bên cạnh đó, do công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật về cho vay dân
sự, về phương thức, thủ đoạn hoạt động và hậu quả tác hại, mức độ nguy hiểm của
“tín dụng đen” chưa được tiến hành thường xuyên, liên tục nên hiệu quả chưa cao
Theo đó, tình trạng tạm dừng kinh doanh, kinh doanh không có lãi, nợ lương, mất việc làm, giảm thu nhập khiến nhu cầu vay tiền để phục vụ sinh hoạt, kinh doanh tăng cao Bên cạnh đó, một bộ phận không nhỏ thanh niên có nhu cầu vay tiền để phục vụ tiêu xài cá nhân hoặc sử dụng cho các mục đích khác như: sử dụng ma túy, chơi cờ bạc