X©y dùng nÒn kinh tÕ ®éc lËp tù chñ vµ chñ ®éng héi nhËp kinh tÕ quèc tÕ lµ bµi häc thµnh c«ng cña c¸ch m¹ng ViÖt Nam trong thêi kú ®æi míi PAGE 4 THU HOẠCH Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế bài học thành công của Việt Nam thời kỳ đổi mới 1986 nay Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, đây chính là biểu hiện cụ thể của bài học về kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, kết hợp sức mạnh trong nước và sức mạnh ngoài n.
Trang 1THU HOẠCH-Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế-bài học thành công của Việt Nam thời kỳ đổi mới 1986-nay
Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và chủ động hội nhậpkinh tế quốc tế, đây chính là biểu hiện cụ thể của bài học về kết hợpsức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, kết hợp sức mạnh trongnước và sức mạnh ngoài nước trên lĩnh vực phát triển kinh tế đấtnước trong công cuộc đổi mới, đặc biệt thời kỳ 1986-2001, dưới sựlãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nước ta đã đạt được nhữngkết quả quan trọng trong xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và chủđộng tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại là một trongnhững bài học chủ yếu của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạocủa Đảng Cộng sản Việt Nam, một trong những nhân tố hết sứcquan trọng tạo nên thắng lợi của cách mạng Việt Nam Trước bốicảnh mới của tình hình cách mạng thế giới và trong nước, Đại hội
Trang 2đại biểu toàn quốc lần IX của Đảng (4/2001), đã xác định đường lốiphát triển kinh tế, trong đó nhấn mạnh một nội dung rất quan trọnglà: “ Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, phát huy cao độ nội lựcđồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh
tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững, đưa nước tatrở thành một nước công nghiệp”
Quan điểm của Đảng về phát huy nội lực, xây dựng nền kinh
tế độc lập tự chủ và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để tranh thủnguồn lực từ bên ngoài cho phát triển đất nước là quan điểm hết sứcđúng đắn, phản ánh tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, linh hoạt củaĐảng ta trên cơ sở nắm vững lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn hoạt động lãnh đạo cách mạng ViệtNam của Đảng mấy thập kỷ qua
Lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ: Động lực của mọi sựvận động phát triển của sự vật hiện tượng là do chính sự vận động,giải quyết các mâu thuẫn nội tại trong sự vật hiện tượng và luôn cómối quan hệ biện chứng với yếu tố môi trường bên ngoài, với sự vậthiện tượng khác; nhân tố bên ngoài có tác động ảnh hưởng đến quá
Trang 3trình vận động, phát triển của sự vật hiện tượng, đôi khi có vai trò tolớn Song, trong mối quan hệ đó yếu tố bên trong luôn giữ vai trò cơbản, quyết định đến sự vận động, phát triển của chính sự vật hiệntượng đó Do vậy, đối với mỗi quốc gia dân tộc thì sự tồn tại, pháttriển của dân tộc do chính “nội lực” của dân tộc đó quyết định, sựgiúp đỡ của quốc tế là cần thiết quan trọng; bởi vậy, độc lập, tự chủ,
tự lực, tự cường là nhân tố quyết định đưa sự nghiệp cách mạng đếnthắng lợi
Trên cơ sở tiếp thu quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, vậndụng và phát triển sáng tạo vào điều kiện cụ thể của cách mạng nước taChủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ con đường giải phóng là phải: nêu cao
từ năm 1921, khi viết Tuyên ngôn của Hội Liên hiệp thuộc địa Ngườichỉ rõ: Công cuộc giải phóng của anh em, chỉ có thể thực hiện đượcbằng nỗ lực của bản thân anh em Theo Người, cần phải chống tư tưởngtrông chờ, ỷ lại bên ngoài, bởi vì: nếu một dân tộc cứ ngồi chờ ngườikhác đến giúp đỡ mình thì dân tộc đó không xứng đáng được hưởng độc
1 H Chí Minh, to n t p, T p 3, Nxb CTQG, H N i, 1995 tr 554 ồ Chí Minh, toàn tập, Tập 3, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995 tr 554 àn tập, Tập 3, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995 tr 554 ập, Tập 3, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995 tr 554 ập, Tập 3, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995 tr 554 àn tập, Tập 3, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995 tr 554 ội, 1995 tr 554.
Trang 4lập Song, theo Người: độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường không có nghĩa
là “đóng cửa” là “khép kín” mà lại phải hết sức tranh thủ sự giúp đỡ củacách mạng thế giới, vì cách mạng Việt Nam cũng là một “bộ phận củacách mạng thế giới”
Chính tư tưởng độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường mà từ khi tìmđường cứu nước, đồng chí Nguyễn ái Quốc đã tìm ra con đường cứunước đúng đắn Với ý chí sắt đá, tinh thần yêu nước nồng nàn vàphương pháp độc lập, tự chủ; qua hơn 10 năm nghiên cứu tìm tòi, xemxét đối chiếu, so sánh các con đường cứu nước theo tư tưởng phongkiến, hay ngọn cờ dân chủ tư sản đều không được thực tiễn lịch sửchấp nhận Nguyễn ái Quốc đã lựa chọn và khẳng định dứt khoát: conđường cứu nước chỉ có thể trên lập trường của giai cấp vô sản; Ngườinói: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào
Quán triệt sâu sắc lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng HồChí Minh, hơn 70 năm qua trong hoạt động lãnh đạo cách mạng ViệtNam của Đảng quan điểm độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường và mở rộng
1 H Chí Minh, to n t p, T p 4, Nxb CTQG H N i, 1995, tr.314 ồ Chí Minh, toàn tập, Tập 3, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995 tr 554 àn tập, Tập 3, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995 tr 554 ập, Tập 3, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995 tr 554 ập, Tập 3, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995 tr 554 àn tập, Tập 3, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995 tr 554 ội, 1995 tr 554.
Trang 5quan hệ hợp tác quốc tế luôn luôn là hai mặt thống nhất trong đường lốicũng như trong hoạt động thực tiễn chỉ đạo cách mạng của Đảng ta.
Ngay từ khi Đảng ra đời (3/2/1930) trong “Chính cương vắn tắt”
và “Sách lược vắn tắt” Đảng đã chỉ rõ phải thực hiện đoàn kết toàn dânvới công nông là gốc cách mạng, học trò nhà buôn, điền chủ nhỏ là
“bầu bạn” cách mạng Đồng thời, phải hết sức liên lạc với vô sản giaicấp và nhân dân lao động toàn thế giới, tạo sức mạnh tổng hợp để làmcách mạng
Thời kỳ 1930 - 1945, là khoảng thời gian đặc biệt trong tiếntrình lịch sử dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Đó là khoảng thờigiai đầy những cam go thử thách của một Đảng vừa mới ra đờitrong lòng xã hội thuộc địa nửa phong kiến Trong thời kỳ này tuy
có sự giúp đỡ của Quốc tế cộng sản, nhưng nếu không có sự nỗ lựctrong Đảng, luôn nêu cao tinh thần chủ động, tự lực, tự cường, pháthuy sức mạnh của toàn dân tộc, thì hiển nhiên phong trào cáchmạng không thể phát triển được, tạo nên những cao trào cách mạng1930-1931, 1936-1939 và 1939-1945 tiến lên giành thắng lợi to lớntrong cách mạng tháng Tám 1945, mở ra bước ngoặt vĩ đại trong
Trang 6lịch sử đấu tranh dân tộc Thắng lợi đó bắt nguồn từ đường lối đúngđắn của Đảng, con đường giành chính quyền phù hợp với điều kiệnlịch sử, phát huy nội lực của cả dân tộc: “Toàn quốc đồng bào hãy
tranh thủ tốt nhất những yếu tố tác động của cách mạng thế giới đểthực hiện giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chống
đế quốc và chống phong kiến Đảng luôn nắm vững tình hình cáchmạng, thế giới và trong nước, tranh thủ sự giúp đỡ, chỉ đạo củaQuốc tế cộng sản một cách sáng tạo không máy móc dập khuôn,máy móc Nêu cao ý chí tự lực, tự cường đồng thời tranh thủ sựgiúp đỡ của Quốc tế cộng sản, các Đảng cộng sản và công nhân trênthế giới, để nhanh chóng khôi phục phong trào cách mạng(sau thời
kỳ 1932-1935) Thời kỳ 1936 - 1939, nắm bắt sự tác động của cáchmạng thế giới và sự phát triển của mặt trận dân chủ thế giới chốngphát xít, chống chiến tranh bảo vệ hòa bình, Đảng đã phát động mọiphong trào đấu tranh rộng lớn nhằm mục tiêu dân sinh, dân chủ,cơm áo, hoà bình, xây dựng được lượng hùng hậu cho cách mạng
1 1 H Chí Minh, to n t p, t p 9, Nsb CTQG, H N i 1995, tr.554 ồ Chí Minh, toàn tập, Tập 3, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995 tr 554 àn tập, Tập 3, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995 tr 554 ập, Tập 3, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995 tr 554 ập, Tập 3, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995 tr 554 àn tập, Tập 3, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995 tr 554 ội, 1995 tr 554.
Trang 7Trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954), nhân dân taphải vượt qua bao khó khăn thử thách, nhất là những năm đầu của cuộckháng chiến Do hoàn cảnh đặc biệt, kẻ thù ở ngay trên đất nước ta,chúng bao vây phong toả, gây sức ép Các mối liên hệ Quốc tế, mọinguồn viện trợ hầu như chưa có Bắng tinh thần tự lực cánh sinh tinhthần độc lập, tự chủ, tự lực tự cường, quyết tâm sắt đá: “Thà hy sinh tất
cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô
của đường lối và tổ chức thực hiện đường lối kháng chiến toàn dân, toàndiện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính
Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975)điều kiện đất đã khác trước: miền Bắc được giải phóng và bước vào xâydựng chủ nghĩa xã hội, trở thành hậu phương lớn của cả nước Cùng với
sự lớn mạnh của hệ thống xã hội chủ nghĩa, nhân dân yêu chuộng hoàbình và giải phóng dân tộc trên thế giới tích cực ủng hộ cuộc khángchiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta Cùng với sự viện trợ to lớncủa Liên Xô và Trung Quốc đã tạo điều kiện thuận lợi tăng thêm sức
2 2 H Chí Minh, to n t p, t p 4, Nsb CTQG, H N i 1995, tr 48 ồ Chí Minh, toàn tập, Tập 3, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995 tr 554 àn tập, Tập 3, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995 tr 554 ập, Tập 3, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995 tr 554 ập, Tập 3, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995 tr 554 àn tập, Tập 3, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995 tr 554 ội, 1995 tr 554.
Trang 8mạnh cho đất nước Nhưng Đảng và nhân dân ta vẫn trên cơ sở của ý tríđộc lập, tự chủ, sáng tạo, tự lực, tự cường không chông chờ ỷ lại dựadẫm để phải chịu sức ép lệ thuộc từ bên ngoài Đường lối tiến hànhđồng thời hai chiến lược cách mạng ở hai miền trong giai đoạn khángchiến chống Mỹ, cứu nước, cũng như trong chỉ đạo, xây dựng lực lượng,phát triển kháng chiến về mọi mặt Đồng thới, hết sức tranh thủ sự đồngtình ủng hộ của nhân dân thế giới, tạo sức mạnh tổng hợp để đánh thắng
đế quốc Mỹ, xâm lược
Sau khi nước nhà thống nhất, Đảng quyết định đưa cả nước quá
độ đi lên chủ nghĩa xã hội Quyết định đó đáp ứng xu thế phát triển tấtyếu của xã hội loài người, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân Đó còn
là sự lựa chọn của chính lịch sử, của Đảng và Bác Hồ từ những năm 20của thế kỷ XX Trong mười năm (1975-1985) là thời kỳ xây dựng chủnghĩa xã hội trên phạm vi cả nước theo mô hình thống nhất trong hệthống xã hội chủ nghĩa Viện trợ của các nước anh em vẫn tiếp tụcnhưng hiệu quả thấp; cơ chế kế hoạch tập trung, bao cấp đã làm cho nềnkinh tế kém năng động, trong chỉ đạo phát triển kinh tế xã hội Đảng ta
đã phạm sai lầm chủ quan duy ý trí, vi phạm các qui luật khách quan do
Trang 9đó kinh tế chậm phát triển hàng hoá khan hiếm, đời sống nhân dân gặpnhiều khó khăn; sử dụng viện trợ còn lãng phí, đầu tư không tập trung.hiệu quả vốn vay thấp, quan hệ kinh tế quốc tế còn hạn hẹp cho nên đãlàm cho kinh tế xã hội lâm vào khủng hoảng.
Bước sang thời kỳ đổi mới (1986 - đến 2001), trước diễn biếnphức tạp, của tình hình cách mạng thế giới, trước sự khủng hoảng
và phong trào cải tổ, cải cách ở các nước xã hội chủ nghĩa, mộtlần nữa Đảng ta lại nêu cao tinh thần độc lập,tự chủ, tự lực, tựcường, cả trong xác định đường lối và chỉ đạo công cuộc đổi mới.Phát huy cao độ tinh thần, sức mạnh của dân tộc vừa tranh thủnhững tác động tích cực của thế giới trong hoàn cảnh mới, đưa đấtnước vượt qua thử thách vững bước tiếp tục đi lên theo con đườngchủ nghĩa xã hội
Như vậy tư tưởng độc lập,tự chủ, tự lực, tự cường, kết hợpsức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại luôn là tư tưởng nhất quán
và thống nhất trong cả đường lối và thực tiễn tổ chức hoạt động chỉđạo cách mạng của Đảng, là một trong những bài học chủ yếu, một
Trang 10trong những nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Namtrong mấy thập kỷ qua.
Ngày nay, tình hình cách mạng thế giới và trong nước cónhững diễn biến mới và phức tạp:
Trên thế giới, cuộc cách mạng khoa học công nghệ, đặc biệt
là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học đang có bước pháttriển nhảy vọt, thúc đẩy hình thành nền kinh tế tri thức làm biến đổisâu sắc trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội Toàn cầu hóa kinh tế là
xu hướng tất yếu khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều các nước,các dân tộc các vùng lãnh thổ tham gia.Thế giới đang đứng trướcnhững vấn đề toàn cầu mà không có một quốc gia, dân tộc nào cóthể tự giải quyết nếu không có sức hợp tác quốc tế; các vấn đề dântộc, tôn giáo, ô nhiễm môi trường, nạn khủng bố đang là tháchthức mới đối với thế giới Trong đó khu vực Châu á - Thái BìnhDương là khu vực phát triển năng động, nhưng vẫn tiềm ẩn nhiềunhân tố dễ gây bất ổn định
Trang 11ở trong nước, cách mạng nước ta đang đứng trước cơ hội, vậnhội lớn: Vị thế và uy tín của đất nước ngày một nâng cao, thế và lựccủa cách mạng đã mạnh lên nhiều qua 15 năm tiến hành công cuộcđổi mới, cơ sở vật chất kỹ thuật được tăng cường, tiềm năng về tàinguyên và lao động, trí tuệ con người Việt Nam ngày càng đượckhẳng định, tình hình chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng - anninh ngày càng được tăng cường
Bên cạnh lợi thế cơ bản đó, chúng ta cũng đang đứng trướcnhiều khó khăn, những thách thức lớn; đó là các nguy cơ mà Đảng
đã từng cảnh báo như: nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa, nguy
cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế sơ với nhiều nước trong khu vực và trênthế giới vẫn tồn tại Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạođức lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên gắn liềnvới tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí vẫn đang diễn ra nghiêmtrọng chưa được ngăn chặn có hiệu quả Những biểu hiện xa rờimục tiêu, lý tưởng của chủ nghĩa xã hội chưa được khắc phục Cácthế lực thù địch vẫn đang ráo riết thực hiện âm mưu mưu “diễn biếnhoà bình”, gây bạo loạn lật đổi, sử dựng các chiêu bài “dân chủ”,
Trang 12“nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” hòng làm thay đổi chế độ chínhtrị ở nước ta Thực tiễn tình hình thế giới, trong nước đòi hỏi Đảngphải phát huy, vận dụng tốt hơn bài học kinh nghiệm truyền thốngcủa Đảng trong lãnh đạo cách mạng là kết hợp sức mạnh dân tộc vớisức mạnh thời đại Theo phương hướng chung là kết hợp chủ nghĩayêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản, kết hợp lợi thếnguồn lực trong nước với nguồn lực ngoài nước để tạo sức mạnhtổng hợp phát triển đất nước.
Tổng kết thực tiễn lãnh đạo cách mạng của Đảng, nắm bắtđặc điểm tình hình thế giới và trong nước, Đại hội VI(12/1986) củaĐảng, đã rút ra 4 bài học kinh nghiệm trong đó có bài học về kếthợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, kết hợp sức mạnhtrong nước và sức mạnh ngoài nước
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủnghĩa xã hội, được thông qua tại Đại hội VII(6/1991), khẳng định:
“Ngày nay trước cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình,độc lập dận tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, trước sự phát triển vũ bãocủa cách mạng khoa học và công nghệ và quá trình quốc tế hoá nền
Trang 13kinh tế thế giới càng cần phải kết hợp chặt chẽ yếu tố dân tộc vớiyếu tố quốc tế, yếu tố truyền thống với yếu tố hiện đại để đưa đấtnước tiến lên”
Nghị quyết Đại hội VIII (6/1996), khẳng định: tiếp tục thựchiện chính sách đối ngoại độc lập tự chủ, mở rộng, đa dạng hoá và
đa phương hóa với tinh thần Việt Nam muốn là bạn của tất cả cácnước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập vàphát triển Trên tinh thần đó, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4(khoá VIII) đã chỉ rõ nguyên tắc hội nhập quốc tế phải: Trên cơ sởphát huy nội lực, thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách thu hút cácnguồn lực bên ngoài
Văn kiện Đại hội IX(4/2001) của Đảng, tiếp tục khẳng định:
“đổi mới phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại”,
“phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài
và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh có hiệuquả và bền vững”
Trang 14Trong bối cảnh mới của thế giới và trong nước hiện nay, xácđịnh vấn đề xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và chủ động hộinhập kinh tế quốc tế là hoàn toàn đúng Hai mặt đó quan hệ biệnchứng với nhau, bổ sung cho nhau làm phát triển kinh tế nước nhàvững mạnh theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Quan niệm về xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ trong quátrình hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam Do cách tiếp cận và mụcđích nghiên cứu khác nhau nên có nhiều quan niệm khác nhau vềxây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ trong quá trình hội nhập Quốctế:
Quan niệm thứ nhất, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ theocách hiểu thông thường và truyền thống là một nền kinh tế pháttriển toàn diện, có khả năng tự thoả mãn những nhu cầu mọi mặtcủa đời sống xã hội; của quốc phòng - an ninh và quá trình tái sảnxuất; không bị lệ thuộc vào bên ngoài cả khâu sản xuất đến khâutiêu thụ sản phẩm, để có thể vận hành một cách bình thường và bảođảm được nền tảng cho việc duy trì an ninh quốc gia
Trang 15Một nền kinh tế như vậy nhìn chung chỉ tồn tại trong điềukiện các quốc gia có đầy đủ nguồn tài nguyên thiên nhiên, điều kiệnđịa lý, khí hậu lý tưởng, qui mô thị trường quốc gia đủ lớn, có trình
độ phát triển cao về khoa học-công nghệ và không cần phải có quan
hệ kinh tế với nhau mà vẫn có thể tồn tại và phát triển được
Quan niệm thứ hai, cho rằng, trong điều kiện toàn cầu hoá,
mở cửa hội nhập mà lại đặt vấn đề xây dựng nền kinh tế độc lập tựchủ là thiếu nhạy bén, không tức thời, thậm chí là bảo thủ, tư duykiểu cũ Thế giới bây giờ là một thị trường thống nhất, cần thứ gì thìmua, thiếu tiền thì đi vay, sao lại chủ trương xây dựng nền kinh tếđộc lập tự chủ Tham gia quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, điềuquan trọng nhất là làm gì, làm thế nào để có được hiệu quả kinh tếcao, thu được nhiều lợi nhuận, có tích luỹ theo nền kinh tế, khôngviệc gì phải rụt rè, cần phải tích cực chủ động trong thực hiện tự dohoá thương mại, có cơ chế không thoáng nhất để thu hút đầu tư vàtiếp nhận càng được nhiều vốn, kỹ thuật bên ngoài càng tốt
Quan niệm trên, mới nghe thì thấy có vẻ có lý, nhưng nếu suyngẫm kỹ thì thấy không có cơ sở khoa học, vì nó quá giản đơn và
Trang 16phiến diện Chúng ta biết rằng, độc lập tự chủ là xu thế phát triểncủa thế giới Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế liên doanh,liên kết rất đa dạng và phức tạp như hiện nay lại càng phải giữ vữngđộc lập tự chủ.
Quan niệm thứ ba, đồng nhất nền kinh tế độc lập tự chủ vớinền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Cho rằng bảnthân nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã bao hàmđầy đủ tốt chất của nền kinh tế độc lập tự chủ, vậy nên không cầnphải nói đến kinh tế độc lập tự chủ, coi đó là nhận thức, là địnhhướng, là nguyên tắc chỉ đạo xây dựng kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa, còn trong thực tế không nên đặt ra nhữngchính sách qui định riêng về nó
Những quan niệm trên tuy có khía cạnh đúng, nhưng lại nhấnmạnh một chiều, gây ra cách hiểu hoặc thiếu đầy đủ hoặc sai lệchkinh tế độc lập tự chủ
Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình lãnh đạo sự nghiệpcách mạng đặc biệt quan tâm đến vấn đề xây dựng nền độc lập tự
Trang 17chủ Quan niệm về xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ trong quátrình hội nhập kinh tế quốc tế đã được đề cập trong nhiều nghị quyếtcủa Đảng, nhất là từ Đại hội VI đến nay.
Đại hội VI của Đảng (12.1986) được tiến hành khi đổi mới đãtrở thành yêu cầu bức xúc và là vấn đề sống còn của cách mạngnước ta Với tinh thần trách nhiệm cao trước toàn Đảng, toàn dân,Đại hội đã thẳng thắn nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá rõ những sailầm khuyết Đại hội VI đã có bước đột phá, đề ra đổi mới toàn diện,
tư duy mới về kinh tế của Đại hội là thừa nhận sự tồn tại khách quancủa qui luật sản xuất hàng hoá và của thị trường Những quan điểmquan trọng của Đại hội VI là bước mở đường của những tư duy mới
về kinh tế được hình thành và hoàn thiện, trong đó có nội dung vềkinh tế độc lập tự chủ Đó chính là những luận điểm:
Để có nền kinh tế thật sự vững mạnh và không ngừng pháttriển phải xây dựng được chương trình hành động cụ thể, đặc biệtphải đảm bảo cho đủ lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng cho
xã hội, bảo đảm lợi ích cho người lao động, cho tập thể và cho Nhànước
Trang 18Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế độc lập tự chủ nhưngthông thoáng ở trong nước và mở cửa với bên ngoài.
Nền kinh tế mà chúng ta đang xây dựng là nền kinh tế thịtrường có sự quản lý của Nhà nước Thị trường xã hội chủ nghĩa làmột thể thống nhất trong cả nước và từng bước vào thị trường thếgiới Bởi vậy, kiên quyết đoạn tuyệt với sợ chia cắt, khép kín vềkinh tế
Đại hội VII của Đảng (6/1991) đã đề ra Cương lĩnh xây dựngđất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và Chiến lượcphát triển kinh tế xã hội 1991-2000 Cương lĩnh nêu rõ những đặctrưng của xã hội xã hội chủ nghĩa của nước ta Từ Đại hội VI đếnĐại hội VII, những quan niệm những đặc trưng về chủ nghĩa xã hội
và phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội đã được hình thànhtrên những nét chủ yếu nhất Cơn chấn động chính trị to lớn trên thếgiới với sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu
đã tác động sâu sắc đến nước ta Chúng ta phải tăng cường sứcmạnh kinh tế trên cơ sở phát huy nội lực, đồng thời mở rông quan
hệ hợp tác, phá thế bị bao vây cấm vận tham gia tích cực vào phân
Trang 19công lao động quốc tế Kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn những nămtháng đó thực sự là những bài học lớn với việc hình thành và từngbước hoàn thiện quan điểm về xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủcủa Đảng ta.
Đại hội VIII của Đảng (6/1996) đã nêu rõ những quan điểmchỉ đạo: “Giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc
tế, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại Dựa vào nguồnlực trong nước là chính đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực bênngoài Xây dựng nền kinh tế mở, hội nhập với khu và thế giới,hướng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu bằngnhững sản phẩm trong nước sản xuất có hiệu quả Lấy hiệu quả kinh
tế - xã hội là tiêu chuẩn cơ bản để xác định phương án phát triển,lựa chọn phương án đầu tư và công nghệ Đầu tư chiều sâu để khaithác tối đa năng lực tổ chức hiện có Tạo ra những mũi nhọn trongtừng bước phát triển Tập trung thích đáng nguồn lực cho các lĩnhvực và các địa bàn trọng điểm, đồng thời quan tâm đáp ứng nhu cầuthiết yếu của mọi vùng trong nước, kết hợp kinh tế với quốc phòng,
Trang 20an ninh”1 Như vậy, Đại hội VIII đã có những quan điểm có tínhđồng bộ hơn về xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ Đó là:
Đã nêu rõ quan điểm giữ vững độc lập tự chủ đi đối với mởrộng hợp tác quốc tế, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đốingoại Đây là kết quả tư duy mới trên cơ sở nắm bắt xu hướng quốc
tế hoá kinh tế, phân công hợp tác quốc tế
Xác định rõ tính chất của kinh tế nước ta là nền kinh tế mở,hội nhập với khu vực và thế giới Như vậy, từ chỗ định hình kinh tếnước ta là kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa ở Đại hội VI, VII, Đại hội VIII đã nêu bậtviệc tham gia vào xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hoá kinh tế, cụ thể làhội nhập với kinh tế khu vực và thế giới
Xác định chiến lược phát triển hội nhập kinh tế là kết hợp giữviệc hướng mạnh về xuất khẩu với việc thay thế nhập khẩu, bảođảm đáp ứng nhu cầu cho tiêu dùng sản xuất và tiêu dùng sinh hoạttrong nước
1 CSVN (1996), V n ki n H B to n qu c l n th VIII, Nxb CTQG, H 1996, tr 184, 86 ện ĐHĐB toàn quốc lần thứ VIII, Nxb CTQG, H 1996, tr 184, 86 àn tập, Tập 3, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995 tr 554 ốc lần thứ VIII, Nxb CTQG, H 1996, tr 184, 86 ần thứ VIII, Nxb CTQG, H 1996, tr 184, 86 ứ VIII, Nxb CTQG, H 1996, tr 184, 86
Trang 21Bước đầu mô hình hoá nền kinh tế độc lập tự chủ là: cơ sởvật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuấtphù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sán xuất, bảo đảm chogiữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng - an ninh.
Đã nêu bật những mục tiêu và bước đi cho 5 năm trước mắtcũng như lâu dài Những mục tiêu định tính và định lượng cũng nhưnhững bước đi và giải pháp được đề ra vừa là những lời giải cho bàitoàn phát triển kinh tế, vừa là luận cứ cho việc hoàn thiện quan điểm
về xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ
Đại hội IX của Đảng đã khẳng định đường lối phát triển kinh
tế là: “Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh
tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp; ưutiêu phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sảnxuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phát huy cao độ nộilực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhậpkinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững; tăngtrưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hoá, từng bước cải thiện đờisống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công