1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THU HOẠCH diễn đàn hợp tác kinh tế châu á thái bình dương và một số tác động của nó đến đời sống kinh tế, chính trị ở việt nam hiện nay

34 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Diễn Đàn Hợp Tác Kinh Tế Châu Á - Thái Bình Dương Và Một Số Tác Động Của Nó Đến Đời Sống Kinh Tế, Chính Trị Ở Việt Nam Hiện Nay
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Chính Trị
Thể loại bài tiểu luận
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 146 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Th«ng tin khoa häc 1 22 THU HOẠCH Diễn đàn hợp tác kinh tế châu á Thái bình dương và một số tác động của nó đến đời sống kinh tế, chính trị ở Việt Nam hiện nay Một trong những sự kiện quốc tế thu hút sự quan tâm của đông đảo dư luận trong và ngoài nước diễn ra từ đầu năm vừa kết thúc cách đây ít ngày, đó là “Diễn đàn hợp tác kinh tế châu á Thái bình dương lần thứ 14 (2006)” (viết tắt là APEC 2006) mà Việt Nam là nước chủ nhà đăng cai tổ chức Vậy APEC là gì, quá trình hình thành, cơ cấu tổ chức,.

Trang 1

ở Việt Nam hiện nay

Một trong những sự kiện quốc tế thu hút sự quan tâm của đôngđảo dư luận trong và ngoài nước diễn ra từ đầu năm vừa kết thúccách đây ít ngày, đó là “Diễn đàn hợp tác kinh tế châu á - Thái bìnhdương lần thứ 14 (2006)” (viết tắt là APEC 2006) mà Việt Nam lànước chủ nhà đăng cai tổ chức Vậy APEC là gì, quá trình hìnhthành, cơ cấu tổ chức, mục tiêu nguyên tắc hoạt động của nó nhưthế nào; đồng thời, sự tham gia của Việt Nam vào APEC cũng nhưnhững tác động của nó đến đời sống kinh tế, chính trị ở nước tahiện nay ra sao? Đây là những vấn đề rất cơ bản về APEC, đòi hỏimỗi người, nhất là những người làm công tác nghiên cứu, quản lýkinh tế (trong đó có, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyênngành kinh tế chính trị), cần phải nghiên cứu, nắm vững để phục vụcho việc học tập, nghiên cứu, đồng thời góp phần cùng toàn Đảng,toàn dân và toàn quân bảo đảm việc tham gia APEC của Việt Nam

có tác động tích cực đối với sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc hiện nay

I/ Bối cảnh ra đời, mục tiêu, nguyên tắc và cơ cấu tổ chức hoạt động của APEC

1- Bối cảnh và sự ra đời của APEC

Trang 2

- Từ những năm 60 của thế kỷ XX, ý tưởng về liên kết khuvực đã được một số học giả người Nhật đưa ra Năm 1965, hai họcgiả người Nhật là: Kojima và Kurimoto đã đề nghị thành lập một

“Khu vực mậu dịch tự do Thái Bình Dương” mà thành viên gồm 5nước công nghiệp phát triển và mở cửa cho một số thành viên liênkết là các nước đang phát triển ở khu vực lòng chảo Thái bìnhdương (TBD) tham gia Sau đó, một số học giả khác, trong đó cótiến sĩ Sabura Okita (cựu ngoại trưởng Nhật Bản) và tiến sĩ JohnCrawford (Đại học Tổng hợp ốt-trây-li-a) đã sớm nhận thức được sựcần thiết phải xây dựng sự hợp tác có hiệu quả về kinh tế ở khu vực

Tư tưởng này đã thúc đẩy những nỗ lực hình thành Hội đồng Hợptác kinh tế TBD (PECC) năm 1980 Chính PECC sau này đã cùngvới ASEAN đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành chế độ tưvấn kinh tế rộng rãi giữa các nền kinh tế trong khu vực cũng nhưthúc đẩy ý tưởng thành lập APEC

- Cuối những năm 80, một số quan chức Chính phủ Nhật Bản,đặc biệt là Bộ trưởng Thương mại và Công nghiệp lúc đó là HajimeTamura đã gợi ý thành lập một diễn đàn hợp tác có tính chất kỹthuật về các vấn đề kinh tế khu vực Cùng thời gian đó, chính phủCông đảng của Thủ tướng ốt-trây-li-a Bob Hawke đã nhận thấyđược tầm quan trọng thiết yếu của mối quan hệ kinh tế, thương mạivới châu á nên đã kịp thời nắm bắt và thúc đẩy ý tưởng về một diễnđàn hợp tác kinh tế trong khu vực

Trang 3

- Từ cuối những năm 70, đặc biệt là trong những năm 80 củathế kỷ XX, sự tăng trưởng kinh tế liên tục với nhịp độ cao của châu

á mà nòng cốt là các nền kinh tế Đông á đã thu hút sự chú ý của cảthế giới Tiếp theo sự “thần kỳ” của Nhật Bản các nền kinh tế côngnghiệp mới (NIEs), ASEAN và đặc biệt là sự nổi lên của TrungQuốc đã biến châu á thành khu vực phát triển kinh tế năng động bậcnhất thế giới Từ những năm 80, các nước châu á luôn dẫn đầu thếgiới về tốc độ phát triển trong khi kinh tế thế giới bị suy thoái vàođầu những năm 80 Thời kỳ này, xuất khẩu thực sự là động lực tăngtrưởng kinh tế ở các nước châu á Trong giai đoạn (1980 – 1992),xuất khẩu của các nước châu á tăng nhanh nhất thế giới, đạt tốc độbình quân hàng năm trên 10%, so với 4% của các nước châu Âu và

Mỹ la tinh và 6% của các nước công nghiệp phát triển vốn chiếm tới2/3 thương mại thế giới Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào cácnước châu á tăng mạnh, phần lớn từ Mỹ, Nhật và các nền kinh tếNIEs Tiềm lực lớn về xuất khẩu hàng hoá dịch vụ và vốn đầu tư đòihỏi phải có thị trường ổn định, rộng mở và hạn chế đến mức tối đanhững hàng rào ngăn trở sự lưu chuyển của hàng hoá, dịch vụ, đầu

tư trong khu vực Do đó, hợp tác và liên kết kinh tế ở khu vực trởthành nhu cầu cấp thiết để bảo đảm cho sự phát triển kinh tế cao và

ổn định

- Trong khi đó, xu thế toàn cầu hoá phát triển mạnh thể hiệnqua sự phân công lao động quốc tế đan xen nhau dưới tác động củanhững tiến bộ KH-CN, đặc biệt là công nghệ thông tin Việc Trung

Trang 4

Quốc cải cách và mở cửa càng làm gia tăng xu thế này ở châu á Thái Bình Dương (CA-TBD) Trong nền kinh tế thế giới, các hoạtđộng sản xuất, thương mại, tài chính và dịch vụ ngày càng đượcquốc tế hoá Cùng với toàn cầu hoá và như một sự ứng phó với toàncầu hoá, xu thế khu vực hoá cũng cũng phát triển mạnh cả về chiềurộng và chiều sâu Từ cuối những năm 80, liên kết kinh tế khu vực ởchâu Âu và Bắc Mỹ được đẩy mạnh thêm một bước Các nướcthuộc liên hiệp châu Âu đã thoả thuận lập ra một thị trường chungvào năm 1992 và ráo riết lập kế hoạch cho một liên minh tiền tệ vớimột đồng tiền chung Còn ở Bắc Mỹ, tháng 1/1989 Mỹ và Ca-na-đachính thức ký hiệp định thành lập khu vực mậu dịch tự do songphương (CAFTA) Trong khi đó, ở CA-TBD tuy có ổn định tươngđối về chính trị và là khu vực năng động, có nhịp độ tăng trưởngkinh tế tương đối cao nhưng chưa có một hình thức liên kết nào cótính chất chính thức, liên chính phủ và toàn thể khu vực để đảm bảolợi ích của các nước trong khu vực trước sự gia tăng ngày càngmạnh của chủ nghĩa bảo hộ ở Tây Âu và Bắc Mỹ.

Từ những năm 70 – 80, nhất là cuối những năm 80, trongkhu vực CA-TBD đã thấy rõ xu thế là các nền kinh tế ngày càng tuỳthuộc lẫn nhau một cách chặt chẽ hơn về nhiều mặt Chỉ riêng vềthương mại, năm 1989 xuất khẩu của các nước CA-TBD sang Mỹchiếm 25,8% tổng giá trị xuất khẩu của họ, trong khi đó xuất khẩucủa Mỹ sang CA-TBD chiếm 30,5% tổng giá trị xuất khẩu của Mỹ.Xuất khẩu của Nhật sang các nước CA-TBD chiếm 33% tổng kim

Trang 5

ngạch xuất khẩu của Nhật và xuất khẩu của CA-TBD sang Nhậtchiếm 9,8% tổng kim ngạch xuất khẩu của các nước này Xuất khẩucủa Nhật sang Mỹ chiếm 34,2% giá trị xuất khẩu của Nhật và xuấtkhẩu của Mỹ sang Nhật chiếm 12,3% tổng giá trị xuất khẩu của Mỹ.

Sự tuỳ thuộc lẫn nhau về kinh tế ngày càng tăng đã tạo ra một lựcgắn kết, một nhu cầu phối hợp giữa các nền kinh tế trong khu vựcvới nhau

Chính sự tăng trưởng cao liên tục và phát triển của nền kinh tế

ở khu vực CA-TBD, xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá cũng như

sự tuỳ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng giữa các nền kinh tế đặt ra yêucầu khách quan, cấp bách cho việc hình thành một diễn đàn kinh tế

mở rộng trong khu vực nhằm phối hợp chính sách về các lĩnh vựckinh tế, KH-CN giữa các nền kinh tế ở CA-TBD, qua đó duy trì tốc

độ tăng trưởng kinh tế cao và bảo đảm sự phát triển bền vững củakhu vực này

Tháng 1/1989, tại Xê-un (Hàn Quốc), Thủ tướng ốt-trây-li-aBob Hawke đã nêu ý tưởng về việc thành lập một diễn đàn tư vấnkinh tế cấp bộ trưởng ở CA-TBD với mục đích phối hợp hoạt độngcủa các chính phủ nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế ở khu vực và

hỗ trợ hệ thống thương mại đa phương, 12 nước thành viên đã ủng

hộ sáng kiến này Tháng 11/1989, hội nghị bộ trưởng ngoại giao vàkinh tế của các nước trên đã họp tại Ca-bê-ra (ốt-trây-li-a) quyếtđịnh chính thức thành lập Diễn đàn hợp tác kinh tế CA-TBD (Asia –Pacific Economic Cooperation) viết tắt là APEC

Trang 6

2 Mục tiêu, nguyên tắc hoạt động của APEC

2.1 Mục tiêu của APEC

Mục đích chung của APEC đã được xây dựng ngay từ hội nghị

bộ trưởng APEC lần thứ nhất ở Can-bê-ra (ốt-trây-li-a) năm 1989

Do mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế của khu vực đòi hỏiphải thúc đẩy hệ thống thương mại đa phương mở, tập trung giảiquyết những vấn đề kinh tế nhằm tăng cường lợi ích chung thôngqua việc khuyến khích các luồng hàng hoá, dịch vụ, vốn đầu tư

và chuyển giao công nghệ giữa các thành viên Tại hội nghị bộtrưởng lần thứ 3 ở Xê-un (Hàn Quốc) năm 1991, đã thông quatuyên bố Xê-un, đặt nền móng cho sự phát triển của APEC nhưmột khuôn khổ hợp tác với 4 mục tiêu là:

- Duy trì sự tăng trưởng và phát triển của khu vực vì lợi íchchung của các dân tộc trong khu vực và bằng cách đó đã đónggóp vào sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế thế giới

- Phát huy các kết quả tích cực đối với khu vực và nền kinh

tế thế giới do sự tuỳ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng về kinh tế tạo

ra, khuyến khích các luồng hàng hoá, dịch vụ, vốn và công nghệ

- Phát triển và tăng cường hệ thống thương mại đa phương

mở vì lợi ích của các nước CA-TBD và các nền kinh tế khác

- Cắt giảm những hàng rào cản trở việc trao đổi hàng hoá,dịch vụ và đầu tư giữa các thành viên phù hợp với nguyên tắccủa GATT/WTO ở những lĩnh vực thích hợp và không làm tổnhại đến các nền kinh tế khác

Trang 7

Đến hội nghị cấp cao Bogor (In-đô-nê-xi-a), các nhà lãnhđạo APEC đã tiến một bước lớn hơn hướng tới mục tiêu dài hạn

về thương mại, đầu tư tự do và mở cửa trong khu vực CA-TBD.Tuyên bố về quyết tâm của hội nghị nhấn mạnh: chúng ta nhất trítuyên bố cam kết hoàn thành việc đạt được mục tiêu về thươngmại, đầu tư và mở cửa trong khu vực CA-TBD vào năm 2010 đốivới các nền kinh tế thành viên phát triển và năm 2020 đối với cácthành viên đang phát triển Có thể nói một cách ngắn gọn mụctiêu cơ bản của APEC là: tự do hoá, thuận lợi hoá thương mại,đầu tư và đẩy mạnh hợp tác trong các lĩnh vực kinh tế và kỹ thuậtgiữa các thành viên Tuy nhiên, trước yêu cầu của sự phát triển,nhiều mục tiêu cụ thể được bổ sung cho phù hợp trong từng giaiđoạn nhất định

2.2 Nguyên tắc hoạt động của APEC

Để thực hiện mục tiêu nêu trên, hoạt động của APEC đượcđiều tiết bởi các nguyên tắc:

2.2.1 Nguyên tắc cùng có lợi

Tuyên bố Xê-un của hội nghị bộ trưởng lần thứ ba (1991) nêurõ: việc hợp tác trong APEC dựa trên nguyên tắc cùng có lợi, cótính đến sự khác biệt trong các giai đoạn phát triển kinh tế trong các

hệ thống chính trị – xã hội và chú ý đầy đủ đến các nhu cầu củanhững nền kinh tế đang phát triển

Việc duy trì nguyên tắc này đóng vai trò quyết định đối với sựphát triển của APEC Bởi lẽ, diễn đàn này là tập hợp các lực lượng

Trang 8

của các nền kinh tế rất đa dạng về điều kiện địa lý, lịch sử và vănhoá, về chế độ chính trị – xã hội và đặc biệt có sự chênh lệch vềtrình độ phát triển giữa các thành viên (Chẳng hạn, sự khác biệt vềthể chế nhà nước: có quốc gia thể chế nhà nước là chế độ quân chủnhư Nhật Bản, Thái Lan, Niu-di-lân ; có quốc gia là thể chế cộnghoà liên bang như Mỹ, Nga, Ca-na-đa; quốc gia khác là thể chế nhànước cộng hoà như In-đô-nê-xi-a, Chi-lê ; có quốc gia là thể chếnhà nước XHCN như Trung Quốc, Việt Nam Phân theo thu nhập: 2nước trong diện thu nhập thấp là Việt Nam, Pa-pua Niu-ghi-nê; 5nước thu nhập trung bình trong đó có Trung Quốc, In-đô-nê-xi-a,Phi-lip-pin; 4 nước thu nhập trung bình cao như: Nga, Chi-lê, Ma-lai-xi-a, Mê-xi-cô; 10 nước thuộc nhóm nước thu nhập cao Cònphân theo trình độ phát triển thì có 6 nước trong nhóm phát triển là

Mỹ, Ca-na-đa, Nhật Bản, Nga, ốt-trây-li-a, Niu-di-lân) Bởi vậy,chính nguyên tắc này mà APEC có sức hấp dẫn đối với các nướctrong và ngoài khu vực

Trong khi thừa nhận mối quan hệ hợp tác giữa các nước trongkhu vực phải dựa trên cơ sở cùng có lợi, để phù hợp với tính đadạng của khu vực, nguyên tắc này cũng nhấn mạnh cần chú ý tới sựkhác biệt về trình độ phát triển, chế độ chính trị – xã hội và yêu cầucủa các nền kinh tế đang phát triển Đó là điểm rất quan trọng trongnguyên tắc hoạt động của APEC, nhằm giải toả mối lo ngại của một

số thành viên là các nước đang phát triển rằng sự khác biệt lớn về

Trang 9

trình độ phát triển kinh tế, KH-CN có thể dẫn tới sự lệ thuộc bấtbình đẳng của họ vào các nền kinh tế tiên tiến hơn.

2.2.2 Nguyên tắc đồng thuận

Một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của hợp tác trongAPEC như tuyên bố Xê-un đã nêu rõ là dựa trên: cam kết về sự đốithoại cởi mở và xây dựng sự đồng thuận, bình đẳng, tôn trọng quanđiểm của tất cả các thành viên tham gia

Khác với hoạt động của GATT/WTO, trong đó các nước phảitrải qua một quá trình thương thuyết, đàm phán lâu dài và thường làgay gắt để đạt được những thoả thuận và hiệp định có tính pháp lýquốc tế cao, APEC đi đến các quyết định thông qua quá trình xâydựng sự đồng thuận Tất cả các hội nghị, từ hội nghị cấp cao đến hộinghị bộ trưởng hay cấp chuyên viên đều mang tính chất tư vấn, theonghĩa là các thành viên không tham gia vào những cuộc thươnglượng, mặc cả để đạt được những quyết định ràng buộc Toàn bộquyết định của các nhà lãnh đạo cấp cao, các bộ trưởng đều đượcđưa ra trong tuyên bố chung phản ánh ý chí của tất cả các thànhviên Nguyên tắc này là cơ sở bảo đảm cho sự bình đẳng giữa cácthành viên tham gia APEC

2.2.3 Nguyên tắc tự nguyện

Xuất phát từ đặc điểm của các nền kinh tế thành viên và cácmối quan hệ kinh tế trong khu vực CA-TBD, sự hợp tác giữa cácthành viên trong APEC mang tính chất tự nguyện Điều này thể hiệntrước hết, APEC chỉ là một diễn đàn tư vấn kinh tế, một cơ chế liên

Trang 10

chính phủ nhằm xúc tiến sự hợp tác, tăng trưởng và phát triển củakhu vực Thứ hai, với tính chất là một diễn đàn tư vấn kinh tế nênAPEC không đưa ra những quyết định, nguyên tắc có tính chất bắtbuộc đối với các thành viên Mọi hoạt động hợp tác đều dựa trên cơ

sở tự nguyện phù hợp với lợi ích các bên Sự phát triển về cơ cấu tổchức của APEC cho đến nay mới chỉ mang tính chất hỗ trợ cho quátrình hợp tác trong APEC chứ không phải là mục tiêu tự thân của nónhư cơ cấu tổ chức chính trị – xã hội của khu vực (chẳng hạn nhưliên hiệp châu Âu - EU) Điều này, phù hợp với đặc điểm đa dạng

về chế độ chính trị – xã hội của các thành viên APEC, vì nó chophép trong khi khai thác được những lợi ích từ sự hợp tác vẫn giữđược chủ quyền kinh tế, bảo đảm không có sự can thiệp từ bênngoài vào chế độ chính trị – xã hội của các thành viên

2.2.4 APEC là diễn đàn mở, hoạt động phù hợp với các nguyên tắc của GATT/WTO

APEC là một diễn đàn mở theo nghĩa APEC ủng hộ chế độthương mại đa phương, không tạo ra sự khác biệt hay đối xử giữaAPEC với các nước và nhóm nước khác trên thế giới, đồng thời mởcửa cho các nền kinh tế không phải là thành viên APEC trong khuvực tham gia ủng hộ chế độ thương mại đa phương không chỉ làmột nguyên tắc mà còn là một trong những mục tiêu của APEC.Điều này thể hiện rõ trong tuyên bố Xê-un (1991): một trong nhữngnguyên tắc cơ bản của APEC là tạo ra ảnh hưởng mạnh mẽ, tích cựctới sự tiến triển của hệ thống thương mại toàn cầu, và khả năng của

Trang 11

APEC để thực hiện điều đó sẽ được tăng cường mạnh mẽ qua việc

tự mình làm một hình mẫu tích cực Việc theo đuổi tự do hoáthương mại trong APEC phù hợp với cơ sở của GATT/WTO vàkhông làm tổn hại tới các nước khác sẽ tạo ra sự hỗ trợ mạnh mẽcho hệ thống thương mại toàn cầu v.v

Nói tóm lại, nguyên tắc hoạt động của APEC là: bình đẳng vàtôn trọng lẫn nhau; hỗ trợ và đôi bên cùng có lợi; quan hệ đối tácchân thành và theo tinh thần xây dựng; mọi quyết định được đưa ratrên cơ sở nhất trí chung

3 Cơ cấu tổ chức của APEC

3.1 Cấp chính sách

3.1.1 Hội nghị các nhà lãnh đạo kinh tế APEC

Bắt đầu từ năm 1993, theo sáng kiến của Tổng thống Mỹ tơn, tháng 11/1993 lần đầu tiên tại Seattle (Mỹ), 14 nguyên thủđứng đầu các thành viên đã gặp gỡ trao đổi về các vấn đề kinh tếtrong khu vực, từ đó hội nghị này được tổ chức đều đặn hàngnăm Đây là diễn đàn có tính quyết định cao nhất, nơi hoạch địnhcác chiến lược và viễn cảnh dài hạn cho APEC

3.1.2 Hội nghị liên bộ trưởng ngoại giao và kinh tế APEC

Tổ chức lần đầu tiên tại Can-bê-ra (11/1989) Chủ tịch hội

nghị do nước thành viên đăng cai tổ chức hội nghị đảm nhiệm

Hội nghị có nhiệm vụ: quyết định phương hướng hoạt độngcủa APEC và ấn định thời gian thực hiện chương trình hành độngcho năm sau Theo đó:

Trang 12

- Quyết định các vấn đề về tổ chức, xác định mục tiêu,nguyên tắc hoạt động của APEC; thành lập các uỷ ban, hộiđồng , thành lập quỹ APEC và quy định tỷ lệ đóng góp của cácthành viên; vấn đề kết nạp thành viên mới;

- Quyết định nguyên tắc, mục tiêu, nội dung các chươngtrình hành động và đánh giá tiến trình hợp tác của APEC cũngnhư công tác của các uỷ ban, các nhóm công tác;

- Xem xét và đánh giá việc thực hiện các sáng kiến của hộinghị cấp cao các nhà lãnh đạo kinh tế;

- Thông qua dự thảo chương trình hành động về tự do hoáthương mại và đầu tư, sau đó đệ trình hội nghị lãnh đạo cấp caoxem xét và quyết định cuối cùng

Ngoài ra, các hội nghị bộ trưởng có tính chất chuyên ngànhđược triệu tập khi cần thiết để giải quyết các vấn đề cụ thể liênquan đến lợi ích chung của các thành viên

3.2.2 Uỷ ban Thương mại và đầu tư Thành lập năm 1993, có

nhiệm vụ thúc đẩy hợp tác về tự do hoá thương mại và tạo môitrường đầu tư cởi mở hơn giữa các nền kinh tế thành viên

Trang 13

3.2.3 Uỷ ban SOM về hợp tác kinh tế – kỹ thuật Thành lập

năm 1998 nhằm hỗ trợ hội nghị quan chức cấp cao (SOM) trongviệc phối hợp và quản lý các hoạt động hợp tác kinh tế – kỹ thuật

và triển khai các sáng kiến hợp tác trong lĩnh vực này giữa cácthành viên

3.2.4 Uỷ ban Kinh tế Thành lập năm 1994 để thực hiện việc

nghiên cứu các xu hướng và vấn đề kinh tế thông qua các chỉ sốkinh tế cơ bản Đây là một diễn đàn thúc đẩy đối thoại giữa các nềnkinh tế thành viên về các vấn đề kinh tế, dự báo, xu hướng kinh tếtrong khu vực để tạo khung cảnh rộng hơn cho hợp tác APEC.Hoạt động của nó đóng vai trò quan trọng, hỗ trợ cho việc soạnthảo chính sách trong các diễn đàn khác của APEC

3.2.5 Uỷ ban Ngân sách và quản lý Thành lập năm 1993,

nhằm tư vấn cho các quan chức cấp cao về những vấn đề ngân quỹ,quản lý và điều hành Uỷ ban này mỗi năm họp 2 lần vào cuốitháng 3 và tháng 7

3.2.6 Hội đồng tư vấn doanh nghiệp APEC Có nhiệm vụ

nghiên cứu, đề xuất các vấn đề liên quan đến phát triển doanhnghiệp trong APEC

3.2.7 Các nhóm công tác Có nhiệm vụ thực hiện các nhiệm

vụ do các nhà lãnh đạo, bộ trưởng và quan chức cấp cao giao Hiện

có 11 nhóm công tác trên các lĩnh vực: hợp tác kỹ thuật nôngnghiệp; năng lượng; nghề cá; phát triển nguồn nhân lực; khoa học

Trang 14

và công nghệ; bảo vệ tài nguyên biển; doanh nghiệp vừa và nhỏ;thông tin và viễn thông; du lịch; xúc tiến thương mại; vận tải.

3.2.8 Các nhóm đặc trách Hiện có 3 nhóm: nhóm đặc trách

về mạng các điểm liên hệ về giới (Gender Focal-Point Network);nhóm chỉ đạo về thương mại điện tử (Electronic commerceSteering Group) và nhóm đặc trách về chống khủng bố (Counter-Terroim Task Force)

3.3 Ban Thư ký APEC

Thành lập năm 1992, trụ sở tại Sing-ga-po Đứng đầu Ban Thư

ký là giám đốc điều hành (do nước giữ ghế chủ tịch APEC cử vớithời hạn 1 năm), đây là các quan chức của chính phủ mang hàm đại

sứ Một phó giám đốc điều hành (do nước sẽ giữ chức chủ tịchAPEC vào năm tiếp sau cử) Ngoài ra, Ban Thư ký hiện có khoảng

20 giám đốc chương trình, 25 nhân viên chuyên nghiệp từ các nướcbiệt phái đến Ban Thư ký thực hiện nhiệm vụ mang tính hành chính,phục vụ các hội nghị và theo dõi việc triển khai các dự án của APEC

4 Một số nét về hoạt động của APEC trong thời gian qua

* APEC thành lập tháng 11/1989 với 12 nước thành viên ban

đầu gồm: ốt-trây-li-a, Nhật Bản, Ma-lai-xi-a, Hàn Quốc, Thái Lan,Phi-líp-pin, Sing-ga-po, Bru-nây, In-đô-nê-xi-a, Niu-di-lân, Ca-na-

đa và Mỹ

- Năm 1991, kết nạp thêm 3 thành viên, gồm: Trung Quốc,Hồng Kông và Đài Loan

Trang 15

- Năm 1993, có thêm 2 thành viên là: Mê-xi-cô và ghi-nê.

Pa-pua-niu Năm 1994, kết nạp thêm ChiPa-pua-niu lê

- Năm 1998, thêm 3 thành viên được kết nạp, gồm: Việt Nam,Liên bang Nga và Pê-ru Hiện APEC gồm 21 thành viên

Theo quy chế thành viên và quan sát viên của APEC được cácnhà lãnh đạo cấp cao thông qua vào kỳ họp hàng năm tại Van-cu-vơ(Ca-na-đa) tháng 11/1997 Về cơ bản, một nước hoặc vùng lãnh thổkinh tế muốn trở thành thành viên của APEC phải có đủ một số điềukiện cần thiết như:

1- Vị trí địa lý: nằm ở khu vực CA-TBD, tiếp giáp với bờ biểnTBD

2- Quan hệ kinh tế:có mối quan hệ kinh tế chặt chẽ với cácnền kinh tế thành viên APEC về thương mại hàng hoá và dịch vụ,đầu tư trực tiếp nước ngoài và sự tự do đi lại của các quan chức

3- Tương đồng về kinh tế: chấp nhận chính sách kinh tế mởcửa theo hướng thị trường

4- Quan tâm và chấp thuận các mục tiêu của APEC: tỏ rõ mốiquan tâm mạnh mẽ tới các lĩnh vực hoạt động của APEC bằng cáchtham gia vào các nhóm công tác hoặc nghiên cứu độc lập và cáchoạt động khác của APEC Tuy nhiên, không có mối liên quan đặcbiệt nào giữa việc tham gia vào các nhóm công tác của APEC vàviệc trở thành thành viên Nếu muốn trở thành thành viên phảihoàn toàn chấp nhận những mục tiêu và nguyên tắc cơ bản được

Trang 16

đề ra trong các tuyên bố và quyết định của APEC, kể cả cácnguyên tắc đồng thuận và tự nguyện.

Ngoài quy chế thành viên chính thức, APEC còn có quy chếquan sát viên dành cho 3 tổ chức khu vực là: Ban Thư ký ASEAN,Hội đồng Hợp tác kinh tế TBD và Diễn đàn đảo TBD Không cóquy chế quan sát viên cho một nước hay vùng lãnh thổ riêng biệt.Quan sát viên có thể tham dự các cuộc họp từ cấp bộ trưởng trởxuống và tham gia vào các hoạt động của APEC Các nước khôngphải thành viên APEC có thể được tham gia các hoạt động với tưcách khách mời tại các nhóm công tác của APEC

Căn cứ quy chế trên, tính từ khi thành lập (1989) đến năm

1998, tức sau gần 10 năm, APEC đã kết nạp thêm 9 thành viênmới Từ năm 1998 đến nay, APEC thống nhất tạm ngừng thờihạn xem xét kết nạp thành viên mới trong 10 năm để củng cố tổchức

* Theo số liệu thống kê, APEC có diện tích 62.620,1 nghìn

km2 Dân số tính đến năm 2005 là 2.647,6 triệu người, mật độdân số 42,3 người/km2 GDP đạt 23.008 tỷ USD, bình quân đầungười đạt 8.739 USD Kim ngạch xuất khẩu đạt 4.038,5 tỷ USD,bình quân đầu người 1.533,9 USD Kim ngạch nhập khẩu4.446,4 tỷ đồng Tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)cộng dồn hết 2004 đạt 3.641,8 tỷ USD Tổng dự trữ quốc tế(không kể vàng) đạt 2.347,3 tỷ USD APEC hiện chiếm 46%diện tích, 41,2% dân số, xấp xỉ 60% GDP và hơn 57% giá trị

Trang 17

giao dịch thương mại toàn cầu Trong tổng số 14 nền kinh tế lớnnhất thế giới với GDP lớn hơn 500 tỷ USD, thì có 7 nền kinh tế

là thành viên của APEC, trong đó có 2 nền kinh tế lớn nhất thếgiới là Mỹ và Nhật Bản Chỉ qua một vài số liệu nêu trên cũngchứng tỏ APEC là khu vực có vị trí địa – kinh tế, địa – chính trịrất quan trọng trong khu vực và trên thế giới

II Việc tham gia APEC của Việt Nam và một số nét về APEC 2006

1 Việt Nam với APEC

Trên cơ sở sự ra đời của APEC cùng với mục tiêu, nguyên tắchoạt động, quy chế thành viên cũng như vị trí địa – kinh tế, địa –chính trị của APEC , Đảng, Nhà nước ta nhận thấy, Việt Nam cầnthiết, đồng thời có đủ điều kiện để tham gia diễn đàn quan trọngnày Bởi vậy, tháng 6/1996 chúng ta đã nộp đơn và đến tháng11/1998 được kết nạp vào APEC Quá trình tham gia của APECViệt Nam, mặc dù thời gian chưa dài, mới chỉ 8 năm, song sự hoạtđộng cùng với những đóng góp tích cực của Việt Nam trong điễnđàn này (cho đến 2005): đưa ra sáng kiến thành lập quỹ hỗ trợAPEC cho các doanh nghiệp nhỏ và xúc tiến đầu tư nội khối APEC(2003); tổ chức tuần lễ APEC tại Hà Nội để mở rộng hơn sự hiểubiết của các tầng lớp nhân dân Việt Nam vào các hoạt động củaAPEC(2003); bảo trợ cho các sáng kiến tăng cường hoạt động củaAPEC nhằm sẵn sàng đối phó với dịch cúm gia cầm và dịch sát,đồng thời tham gia chương trình thẻ thông hành doanh nghiệp tạo

Ngày đăng: 24/04/2022, 15:24

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w