Dạng phổ biến nhất của hệ chuyên gia là một chương trình gồm một tập luật phân tích thông tin thường được cung cấp bởi người sử dụng hệ thống về một lớp vấn đề cụ thể, cũng như đưa ra cá
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
LUẬN VĂN THẠC SĨ HỆ THỐNG THÔNG TIN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TSKH Trần Quốc Chiến
Đà Nẵng - Năm 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
Những nội dung trong luận văn này là do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn trực tiếp của PGS.TSKH Trần Quốc Chiến.
Mọi tham khảo dùng trong luận văn đều được trích dẫn rõ ràng tên tác giả, tên công trình, thời gian, địa điểm công bố.
Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm quy chế đào tạo, hay gian trá, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Tác giả
Đinh Thế Vũ
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC HÌNH iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 1
3 Mục đích nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Nhiệm vụ của đề tài 3
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4
8 Bố cục luận văn 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 5
1.1 CƠ SỞ TRI THỨC VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN TRI THỨC 5
1.1.1 Cơ sở tri thức 5
1.1.2 Phân loại tri thức 6
1.1.3 Biễu diễn tri thức 7
1.2 HỆ CHUYÊN GIA 9
1.2.1 Khái niệm 9
1.2.2 Đặc trưng và ưu điểm của hệ chuyên gia 9
1.2.3 Kỹ thuật suy diễn trong các hệ chuyên gia 10
1.2.4 Thiết kế hệ chuyên gia 12
1.2.5 Các lĩnh vực ứng dụng 17
1.3 NGÔN NGỮ LẬP TRÌNH PROLOG 18
1.3.1 Khái niệm 18
Trang 51.3.2 Các kiểu dữ liệu trong Prolog 18
1.3.3 Sự kiện và luật trong Prolog 20
1.3.4 Cú pháp và ngữ nghĩa của các chương trình Prolog 22
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 23
CHƯƠNG 2 GIẢI PHÁP HỆ CHUYÊN GIA VÀ BÀI TOÁN TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP 24
2.1 HƯỚNG NGHIỆP VÀ NHU CẦU HƯỚNG NGHIỆP 24
2.1.1 Hướng nghiệp 24
2.1.2 Tư vấn hướng nghiệp 25
2.1.3 Nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của học sinh THPT 26
2.1.4 Nội dung của hoạt động tư vấn hướng nghiệp 28
2.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA JOHN HOLLAND 30
2.2.1 Lý thuyết mật mã Holland 30
2.2.2 Đặc tả 6 nhóm nghề nghiệp 34
2.3 CÔNG TÁC TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRƯỜNG THPT TRẦN CAO VÂN 42
2.3.1 Giới thiệu về trường THPT Trần Cao Vân 42
2.3.2 Thực trạng công tác hướng nghiệp tại trường THPT Trần Cao Vân 44 2.3.3 Giải pháp cho bài toán hướng nghiệp tại trường THPT Trần Cao Vân 49
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 52
CHƯƠNG 3 CÀI ĐẶT HỆ THỐNG VÀ KẾT QUẢ CHẠY THỬ CHƯƠNG TRÌNH 54
3.1 HỆ THỐNG HỆ CHUYÊN GIA TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP 54
3.1.1 Môi trường cài đặt chương trình 54
3.1.2 Mô hình hệ thống 55
3.1.3 Đối tượng khai thác và sử dụng hệ thống 56
3.1.4 Phương pháp sử dụng 56
Trang 63.1.5 Kết quả dự kiến 56
3.2 THIẾT KẾ, XÂY DỰNG CƠ SỞ LUẬT 57
3.2.1 Biểu diễn các sự kiện, tập luật trong chương trình 57
3.2.2 Thiết kế các luật 57
3.3 TẠO CƠ SỞ DỮ LIỆU LÀM VIỆC 62
3.3.1 Xác định các tập thực thể 62
3.3.2 Sơ đồ dữ liệu quan hệ 63
3.4 KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM 64
3.4.1 Giao diện chương trình 64
3.4.2 Thử nghiệm hệ thống 65
3.5 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CHƯƠNG TRÌNH 70
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 71
KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)
PHỤ LỤC
Trang 7GD&ĐT Giáo dục và đào tạo
ĐTNCS HCM Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
TIẾNG ANH
RIASEC Realistic (R) – Investigate (I) – Artistic (A) – Social
(S) – Enterrising (E) – Conventional (C) (Đây là 6 nhóm nghề nghiệp theo nguyên lý John Holland)
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Số
hiệu
1.1 Một số ứng dụng diện rộng của các hệ chuyên gia 17
2.3 Tìm hiểu về thị trường lao động của học sinh (n=250) 482.4 Nguồn tư vấn về thị trường lao động (n=250) 492.5 Sự cần thiết xây dựng hệ chuyên gia tư vấn hướng nghiệp
cho học sinh (n=250)
50
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Số
hiệu
1.4 Các giai đoạn phát triển của một hệ chuyên gia 16
2.2 Sáu nhóm nghề nghiệp dựa trên nguyên lý của John Holland 34
3.5 Giao diện thử nghiệm nhóm nghề giáo dục – đào tạo 663.6 Giao diện thử nghiệm nhóm nghề kỹ thuật – công nghệ 673.7 Giao diện thử nghiệm nhóm nghề Kế toán – Tài chính 683.8 Giao diện thử nghiệm nhóm nghề Y tế - Sức khỏe 69
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Một trong những mục tiêu quan trọng của giáo dục phổ thông là giúp
học sinh “có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có
khả năng phát huy năng lực cá nhân hoặc để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động” Với tầm quan trọng như vậy, tháng 10 năm 2005, Bộ Giáo dục và Đào
tạo đã ban hành văn bản số 9971/BGD&ĐT-HSSV nhấn mạnh nội dung tư vấn hướng vào “hướng nghiệp, chọn nghề và thông tin tuyển sinh”
Để giúp học sinh lựa chọn đúng ngành học phù hợp với năng lực, sở thích và điều kiện cá nhân, thì công tác tư vấn hướng nghiệp là hết sức quan trọng Tuy nhiên, hoạt động tư vấn và giáo dục hướng nghiệp hiện nay còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được nhu cầu của học sinh Tại trường THPT Trần Cao Vân, vấn đề hướng nghiệp còn chưa được nhà trường quan đúng mức Chất lượng tư vấn hướng nghiệp chưa cao Việc tư vấn còn mang tính chất chủ quan của cán bộ tư vấn Do đó, tôi thấy cần thiết thực hiện đề tài
“Xây dựng hệ chuyên gia tư vấn hướng nghiệp tại trường THPT Trần Cao Vân” nhằm giúp cho học sinh chọn được hướng đi, nghề nghiệp phù hợp
với tính cách, năng lực bản thân mình
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Hiện nay, việc hướng nghiệp đã có nhiều tổ chức xã hội quan tâm, thực
tế là có nhiều chương trình hướng nghiệp được tổ chức như: ngày hội hướng nghiệp, báo cáo chuyên đề, tham quan trường Cao đẳng, Đại học của các tổ chức xã hội, các trường, cơ quan truyền thông… Tuy nhiên, những chương trình như vậy vẫn mang nặng tính hình thức Các trường Cao đẳng, Đại học phần lớn làm tư vấn hướng nghiệp chỉ đơn giản là xuống các trường phổ
Trang 11thông quảng cáo về đơn vị mình mà chưa có những bài trắc nghiệm về sở trường, sở đoản, năng lực, tố chất… của từng học sinh.
Dân số tăng nhanh, thu nhập và mức sống của người dân nói chung không đồng đều Với sự phát triển của lĩnh vực truyền thông và công nghệ thông tin, cùng với vấn đề hợp tác quốc tế, chính sách đối ngoại, đối nội của Nhà nước thì cơ hội việc làm của mỗi người không ngừng tăng lên Tuy nhiên, với việc đào tạo ngành nghề còn nhiều bất hợp lý: “thừa thầy- thiếu thợ”, phân bố không đồng đều giữa nông thôn, thành thị, miền núi, miền xuôi… và số người trong độ tuổi lao động nhiều để tìm được một việc làm phù hợp không phải là điều dễ dàng
Hệ chuyên gia là một chương trình thông minh nhằm dạy cho máy tính biết các hoạt động của một chuyên gia thực thụ Dạng phổ biến nhất của hệ chuyên gia là một chương trình gồm một tập luật phân tích thông tin (thường được cung cấp bởi người sử dụng hệ thống) về một lớp vấn đề cụ thể, cũng như đưa ra các phân tích về các vấn đề đó, và tùy theo thiết kế chương trình
mà đưa lời khuyên về trình tự các hành động cần thực hiện để giải quyết vấn
đề Đây là một hệ thống sử dụng các khả năng lập luận để đạt tới các kết luận
Hệ chuyên gia đã được thiết kế và xây dựng rộng rãi để phục vụ các lĩnh vực kế toán, y học, dịch vụ tư vấn, v.v
3 Mục đích nghiên cứu
- Ứng dụng Hệ chuyên gia và lĩnh vực công nghệ tri thức xây dựng hệ chuyên gia tư vấn hướng nghiệp nhằm phần nào hỗ trợ công tác tư vấn hướng nghiệp, đồng thời giúp các người học tự định hướng chính xác hơn về nghề nghiệp phù hợp với mình
- Giúp cho học sinh có định hướng đúng khi chọn nghề dựa trên cơ sở hiểu biết khoa học về nghề nghiệp, về năng lực, sở trường của bản thân, hoàn
Trang 12cảnh gia đình, những yêu cầu của nghề đối với người lao động, triển vọng phát triển của nghề ở địa phương và nhu cầu nhân lực xã hội.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ chuyên gia tư vấn hướng nghiệp
- Đối tượng phục vụ: Đề tài phục vụ cho các đối tượng sau:
Học sinh: Tư vấn đưa ra những ngành nghề thích hợp phù hợp với năng lực, tính cách của học sinh đó
Phụ huynh học sinh: Giúp cho con em mình có được những lời khuyên về ngành nghề, từ đó định hướng cho các em về ngành nghề sau này
Nhà trường: Có những kiến thức về tư vấn hướng nghiệp
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu cách thức cải tiến và tin học hóa quy trình
tư vấn hướng nghiệp cho học sinh một cách khoa học
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phỏng vấn trực tiếp học sinh và thống kê số liệu
- Nghiên cứu tài liệu, lý thuyết nội dung để xây dựng các tập luật
- Lựa chọn công nghệ đã có để cài đặt và thể hiện cụ thể những kết quả của nội dung nghiên cứu
6 Nhiệm vụ của đề tài
- Tìm hiểu về tri thức và hệ chuyên gia và các kỹ thuật suy diễn cũng như các lĩnh vực ứng dụng
- Tìm hiểu các ngành nghề đào tạo, nhu cầu xã hội về việc làm và định hướng ngành nghề tương lai
- Xây dựng chương trình trên nền tảng Windows, sử dụng ngôn ngữ lập trình Prolog để đưa ra tư vấn hướng nghiệp cho học sinh
Trang 137 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Giúp giảm thiểu rủi ro trong tư vấn và chọn nghề
Tiết kiệm thời gian trong công tác tư vấn hướng nghiệp
8 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung đề tài được chia thành 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận.
Trong chương này, tôi trình bày các vấn đề liên quan đến cơ sở tri thức
và các vấn đề liên quan đến tri thức, hệ chuyên gia và ngôn ngữ lập trình Prolog
Chương 2: Giải pháp hệ chuyên gia và bài toán tư vấn hướng nghiệp.
Trong chương này, tôi trình bày các lý thuyết về hướng nghiệp và nhu cầu hướng nghiệp; cơ sở lý luận về hướng nghiệp của John Holland Đồng thời đưa ra giải pháp cho bài toán tư vấn hướng nghiệp tại trường THPT Trần Cao Vân
Chương 3: Cài đặt và kết quả chạy thử chương trình
Chương này tập trung vào việc thiết kế, xây dựng, thử nghiệm ứng dụng
và từ đó đánh giá kết quả đạt được
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
Trong chương này, tôi trình bày các vấn đề liên quan đến cơ sở tri thức
và các vấn đề liên quan đến tri thức, hệ chuyên gia và ngôn ngữ lập trình Prolog
1.1 CƠ SỞ TRI THỨC VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN TRI THỨC
1.1.1 Cơ sở tri thức
“Cơ sở tri thức là tập hợp các tri thức liên quan đến vấn đề mà chương trình quan tâm giải quyết Cơ sở tri thức chứa các kiến thức được sử dụng để giải quyết vấn đề (hoặc bài toán) trong trí tuệ nhân tạo” [1, tr 8] Cơ sở tri
thức có thể được tìm hiểu thông qua 5 vai trò quan trọng sau:
Về cơ bản, biểu diễn tri thức là 1 đại diện, biểu diễn cho 1 sự vật Trong
đó quá trình xử lý tính toán cho ra kết quả được xuất phát từ việc suy luận, mà không phải từ việc thực thi các hành vi cố định [3]
Ví dụ: “Suy luận về thế giới” thay vì “thực thi các xử lý trong phạm vi thế giới” đó Tuy nhiên suy luận là quá trình mô tả lại sự vật bên ngoài, do đó, nó không thể giống hoàn toàn sự vật thật, cả về thực tế lẫn lý thuyết và có 1 bộ phận xử lý suy luận
Cơ sở tri thức là một tập các cam kết về bản chất của sự vật
Ví dụ: Câu trả lời cho câu hỏi “Tôi nên nghĩ về thế giới trong những điều kiện nào ?”
Các hệ cơ sở tri thức dùng các luật suy diễn để mô tả đại diện cho sự vật
và đưa ra những kết luận về sự vật đó Các hệ cơ sở tri thức khác nhau, (với cách tiếp cận sự vật khác nhau) đưa ra các kết luận khác nhau hoàn toàn tùy
Trang 15vào câu hỏi mà các cơ sở tri thức muốn giải quyết Do đó, khi chọn cơ sở tri thức cũng đồng nghĩa với việc chọn tập các cam kết về bản chất của sự vật đó
Cơ sở tri thức là 1 lý thuyết suy luận thông minh rời rạc, được thể hiện
với 3 phần :
(1) Cơ chế suy diễn thông minh Các phương pháp tiếp cận để xây dựng nên cơ sở tri thức hiện nay được phổ biến theo 5 lĩnh vực chính : toán lý luận, tâm lý học, sinh học, thống kê và kinh tế
(2) Cơ chế xử lý suy diễn của cơ sở tri thức, hay nói đúng hơn là cơ chế
xử lý để đưa ra kết luận của cơ sở tri thức được định nghĩa gồm 2 dạng: frame-based (dựa trên các luật đã được định sẵn, tiến hành suy đoán thu hẹp phạm vi lựa chọn cũng như đưa ra kết luận) và rule-based (dựa trên khả năng phối chọn dự đoán và mặc định)
(3) Cơ chế suy diễn đang được khuyến cáo
Cơ sở tri thức đồng thời là phương tiện tiện tính toán thực dụng, đó là
môi trường tính toán có sự hiện diện của sự tư duy Một trong những đóng góp của vai trò này hiện nay là các hệ chuyên gia
1.1.2 Phân loại tri thức
Người ta thường phân loại tri thức thành các dạng sau: tri thức thủ tục – tri thức mô tả, tri thức ẩn – tri thức tường minh, tri thức chắc chắn – tri thức không chắc chắn [15]
+ Tri thức thủ tục và tri thức mô tả
Tri thức thủ tục là tri thức mô tả cách giải quyết một vấn đề, quy trình xử
lý các công việc, lịch trình tiến hành các thao tác … Các dạng của tri thức thủ tục thường dùng là các luật, chiến lược, lịch trình…
Ví dụ: Các bước giải một phương trình bậc 2; cách làm bánh chưng
Tri thức mô tả là một khẳng định về một sự kiện, hiện tượng hay một khái niệm nào đó trong một hoàn cảnh không gian hoặc thời gian nhất định
Trang 16Ví dụ: khẳng định về hiện tượng: “Mặt trời lặn ở phía Tây”
+ Tri thức ẩn và tri thức tường minh
Tri thức tường minh là những tri thức được giải thích và mã hóa dưới dạng văn bản, tài liệu, âm thanh, phim, ảnh,… thông qua ngôn ngữ Đây là những tri thức đã được thể hiện ra ngoài và dễ dàng chuyển giao, thường được tiếp nhận qua hệ thống giáo dục và đào tạo chính quy
Tri thức ẩn là những tri thức thu được từ sự trải nghiệm thực tế, dạng tri thức này thường ẩn trong mỗi cá nhân và rất khó “mã hóa” và chuyển giao, thường bao gồm: niềm tin, giá trị, kinh nghiệm, bí quyết, kỹ năng
+ Tri thức chắc chắn và tri thức không chắc chắn
Tri thức chắc chắn là những tri thức chắc chắn đúng
Ví dụ: khẳng định: tổng các góc trong một tam giác bằng
Tri thức không chắc chắn là những khẳng định, luật suy diễn không chắc chắn đúng
Ví dụ: khẳng định: Nếu bệnh nhân bị sốt cao và ho thì bệnh nhân bị viêm phổi; Nếu xe máy không khởi động được thì xe máy bị hỏng bộ điện
1.1.3 Biễu diễn tri thức
Biểu diễn bằng văn bản, băng ghi âm, băng ghi hình: Mô tả tri thức bằng
cách viết ra trong một văn bản, hoặc bằng lời ghi vào băng có thể kết hợp hình ảnh minh họa Để xử lý được tri thức loại này cần có các công cụ phân tích câu, hoặc đoạn văn bản
Ví dụ: sách giáo khoa, băng ghi cách dạy nấu ăn…
Biểu diễn tri thức bằng logic mệnh đề, logic vị từ: Thông qua các quy tắc
biểu diễn và xử lý mệnh đề, vị từ, các luật sản xuất, luật suy diễn
Ví dụ: Định nghĩa các vị từ LH(x,y): x lớn hơn y, CTG(a,b,c): a, b, c là cạnh của một tam giác
Trang 17Biểu diễn bằng mạng ngữ nghĩa: Phương pháp sử dụng các nút để chỉ
các đối tượng và các mũi tên để chỉ mối quan hệ giữa các nút
Hình 1.1 Ví dụ về biểu diễn tri thức [15]
Biểu diễn bằng khung (Frame): Mỗi một đối tượng tri thức được biểu
diễn thông qua một khung gồm các thuộc tính của đối tượng và các giá trị, hoặc các thủ tục tính các giá trị
Trang 181.2 HỆ CHUYÊN GIA
1.2.1 Khái niệm
Theo E Feigenbaum: “Hệ chuyên gia là một chương trình máy tính
thông minh sử dụng tri thức và các thủ tục suy luận để giải những bài toán tương đối khó khăn đòi hỏi những chuyên gia mới giải được” [6]
Ta có sơ đồ mô tả như sau:
Hệ chuyên gia ứng dụng = cơ sở tri thức + Mô-tơ suy diễn
(biễu diễn tri thức) Nguồn tri thức Người sử dụng
Chuyên gia Tài liệu chuyên môn
Qua sơ đồ trên ta có thể thấy: Một chương trình ứng dụng được xây dựng dựa trên cơ sở tri thức và mô tơ suy diễn Trong đó cơ sở tri thức được lấy từ nguồn tri thức Có hai loại là xin ý kiến từ các chuyên gia trong lĩnh vực đó, cũng có thể lấy theo cách thứ hai đó là tổng hợp từ các tài liệu chuyên môn Còn mô tơ suy diễn phụ thuộc vào người dùng do người dùng đưa ra
1.2.2 Đặc trưng và ưu điểm của hệ chuyên gia
a Đặc trưng
Có bốn đặc trưng cơ bản của một hệ chuyên gia :
Hiệu quả cao: Khả năng trả lời với mức độ tinh thông bằng hoặc cao
hơn so với chuyên gia trong cùng lĩnh vực
Thời gian trả lời thoả đáng: Thời gian trả lời hợp lý, bằng hoặc nhanh
hơn so với chuyên gia để đi đến cùng một quyết định Hệ chuyên gia là một
hệ thống thời gian thực
Độ tin cậy cao: Không thể xảy ra sự cố hoặc giảm sút độ tin cậy khi sử
dụng
Trang 19Dễ hiểu: Hệ chuyên gia giải thích các bước suy luận một cách dễ hiểu và
nhất quán
b Ưu điểm
Những ưu điểm của hệ chuyên gia:
Phổ cập: Là sản phẩm chuyên gia, được phát triển không ngừng với hiệu
quả sử dụng không thể phủ nhận
Giảm giá thành.
Giảm rủi ro: Giúp con người tránh được trong các môi trường rủi ro,
nguy hiểm
Tính thường trực: Bất kể lúc nào cũng có thể khai thác sử dụng trong khi
con người có thể mệt mỏi, nghỉ ngơi hay vắng mặt
Đa lĩnh vực: chuyên gia về nhiều lĩnh vực khác nhau và được khai thác
đồng thời bất kể thời gian sử dụng
Độ tin cậy: Luôn đảm bảo độ tin cậy khi khai thác.
Khả năng giảng giải: Câu trả lời với mức độ tinh thông được giảng giải
rõ ràng chi tiết, dễ hiểu
Khả năng trả lời: Trả lời theo thời gian thực, khách quan.
Tính ổn định, suy luận có lý và đầy đủ mọi lúc mọi nơi.
Trợ giúp thông minh như một người hướng dẫn.
Có thể truy cập như là một cơ sở dữ liệu thông minh.
1.2.3 Kỹ thuật suy diễn trong các hệ chuyên gia
Có nhiều phương pháp tổng quát để suy luận trong các chiến lược giải
quyết vấn đề của hệ chuyên gia Những phương pháp hay gặp là suy diễn tiến,
suy diễn lùi và phối hợp hai phương pháp này là suy diễn hỗn hợp Những
phương pháp khác là phân tích phương tiện, rút gọn vấn đề, quay lui, kiểm tra
lập kế hoạch, lập kế hoạch phân cấp Dưới đây là nền tảng của công nghệ hệ
chuyên gia hiện đại:
Trang 20Suy diễn tiến: là lập luận từ các sự kiện, sự việc để rút ra các kết luận.
Ví dụ : Nếu thấy trời mưa trước khi ra khỏi nhà (sự kiện), thì phải lấy áo mưa (kết luận)
Trong phương pháp này, người sử dụng cung cấp các sự kiện cho hệ chuyên gia để hệ thống (máy suy diễn) tìm cách rút ra các kết luận có thể Kết luận được xem là những thuộc tính có thể được gán giá trị Trong số những kết luận này, có thể có những kết luận làm người sử dụng quan tâm, một số khác không nói lên điều gì, một số khác có thể vắng mặt
Lần lượt các sự kiện trong cơ sở tri thức được chọn và hệ thống xem xét tất
cả các luật mà các sự kiện này xuất hiện như là tiền đề Theo nguyên tắc lập luận trên, hệ thống sẽ lấy ra những luật thoã mãn Sau khi gán giá trị cho các thuộc tính thuộc kết luận tương ứng, người ta nói rằng các sự kiện đã được thoã mãn Các thuộc tính được gán giá trị sẽ là một phần của kết quả chuyên gia Sau khi mọi sự kiện đã được xem xét, kết quả được xuất ra cho người sử dụng
Suy diễn lùi: Phương pháp suy diễn lùi tiến hành các lập luận theo chiều
ngược lại (đối với phương pháp suy diễn tiến) Từ một giả thuyết (như là một kết luận), hệ thống đưa ra một tình huống trả lời gồm các sự kiện là cơ sở của giả thuyết đã cho này
Ví dụ: nếu ai đó vào nhà mà cầm áo mưa và áo quần bị ướt thì ta giả thuyết là trời mưa Để củng cố giả thuyết này, ta sẽ hỏi người đó xem có phải trời mưa không ? Nếu người đó trả lời có thì giả thuyết trời mưa đúng và trở thành một
sự kiện Nghĩa là trời mưa nên phải cầm áo mưa và áo quần bị ướt
Suy diễn lùi là cho phép nhận được giá trị của một thuộc tính Đó là câu trả lời cho câu hỏi “giá trị của thuộc tính A là bao nhiêu ?” với A là một đích
Để xác định giá trị của A, cần có các nguồn thông tin Những nguồn này có thể là những câu hỏi hoặc có thể là những luật Căn cứ vào các câu hỏi, hệ thống nhận được một cách trực tiếp từ người sử dụng những giá trị của thuộc
Trang 21tính liên quan Căn cứ vào các luật, hệ thống suy diễn có thể tìm ra giá trị sẽ
là kết luận của một trong số các kết luận có thể của thuộc tính liên quan, v.v
Ý tưởng của thuật toán suy diễn lùi như sau Với mỗi thuộc tính đã cho, người ta định nghĩa nguồn của nó :
+ Nếu thuộc tính xuất hiện như là tiền đề của một luật (phần đầu của luật), thì nguồn sẽ thu gọn thành một câu hỏi
+ Nếu thuộc tính xuất hiện như là hậu quả của một luật (phần cuối của luật), thì nguồn sẽ là các luật mà trong đó, thuộc tính là kết luận
+ Nếu thuộc tính là trung gian, xuất hiện đồng thời như là tiền đề và như là kết luận, khi đó nguồn có thể là các luật, hoặc có thể là các câu hỏi mà chưa được nêu ra Nếu mỗi lần với câu hỏi đã cho, người sử dụng trả lời hợp lệ, giá trị trả lời này sẽ được gán cho thuộc tính và xem như thành công Nếu nguồn là các luật, hệ thống sẽ lấy lần lượt các luật mà thuộc tính đích xuất hiện như kết luận, để có thể tìm giá trị các thuộc tính thuộc tiền đề Nếu các luật thoã mãn, thuộc tính kết luận sẽ được ghi nhận
1.2.4 Thiết kế hệ chuyên gia
Để thiết kế một hệ chuyên gia, trước tiên cần có sự lựa chọn một bài toán thích hợp Tương tự các dự án phần mềm, để triển khai thiết kế một hệ chuyên gia, cần phải có các yếu tố về nhân lực, tài nguyên và thời gian Những yếu tố này ảnh hưởng đến giá thành của một hệ chuyên gia Người ta thường đặt ra các câu hỏi sau đây :
Tại sao cần xây dựng một hệ chuyên gia ?
Câu hỏi này thường xuyên được đặt ra cho bất kỳ dự án nào Có thể trả lời ngay là do những đặc trưng và ưu điểm của các hệ chuyên gia Trước khi bắt đầu, cần xác định rõ đâu là bài toán, ai là chuyên gia, và ai là người sử dụng
Sử dụng những công cụ nào để xây dựng một hệ chuyên gia ?
Hiện nay có rất nhiều công cụ để xây dựng các hệ chuyên gia Mỗi công
Trang 22cụ đều có những ưu điểm và nhược điểm nhất định Những công cụ phổ biến
là CLIPS và OPS5, ngoài ra có ART, ART-IM, Eclipse, Cognate
Chi phí để xây dựng một hệ chuyên gia là bao nhiêu ?
Chi phí hay giá thành để xây dựng một hệ chuyên gia phụ thuộc vào nguồn nhân lực, tài nguyên và thời gian hoàn thiện nó Bên cạnh chi phí về phần cứng, phần mềm, còn chi phí về đào tạo Ví dụ ở Mỹ, chi phí để đào tạo
sử dụng thành thạo một hệ chuyên gia có thể lên tới 2.500USD/tuần lễ/người
Hệ chuyên gia được phát triển như thế nào ?
Trong phạm vi rộng, việc phát triển một hệ chuyên gia phụ thuộc vào nguồn tài nguyên cung cấp Tuy nhiên, giống như các dự án khác, việc phát triển còn phụ thuộc vào cách tổ chức quản lý quá trình phát triển như thế nào.Các bước phát triển hệ chuyên gia [8]
(1) Quản lý dự án: Quản lý dự án, chủ đề tiếp cận hệ chuyên gia, bao
gồm các công đoạn như sau :
+ Quản lý hoạt động, gồm :
• Lập kế hoạch
- Định nghĩa các hoạt động
- Xác định hoạt động ưu tiên
- Nhu cầu tài nguyên
- Ghi nhớ các sự kiện
- Xác định thời gian
- Phân công trách nhiệm
• Lập biểu công việc
- Ấn định điểm bắt đầu và điểm kết thúc dự án
- Giải quyết xung đột khi gặp các việc cùng mức ưu tiên
• Phân bổ thời gian
- Kiểm tra thực hiện dự án
Trang 23- Quản lý các phiên bản khác nhau của các sản phẩm.
• Quản lý thay đổi
- Quản lý các giải pháp sửa đổi sản phẩm và ước lượng ảnh hưởng của thay đổi sản phẩm
- phân công người sửa đổi hệ thống
- cài đặt phiên bản mới
+ Quản lý tài nguyên :
• Dự báo nhu cầu tài nguyên
• Thu nhận tài nguyên
• Phân công trách nhiệm để sử dụng tối ưu nguồn tài nguyên
• Phân bổ tài nguyên để giảm thiểu tắc nghẽn
Hình dưới đây mô tả quá trình quản lý dự án phát triển một hệ chuyên gia
Hình 1.2 Quản lý dự án phát triển một hệ chuyên gia [2]
Trang 24(2) Tiếp nhận tri thức
Các bước tiếp nhận tri thức cho một hệ hệ chuyên gia như sau : Đầu tiên, công nghệ tri thức thu nhận tri thức nhờ đối thoại trực tiếp với tri thức con người Sau đó, tri thức được biểu diễn tường minh trong cơ sở tri thức Các chuyên gia đánh giá hệ chuyên gia, trao đổi qua lại với công nghệ tri thức cho đến khi hệ chuyên gia hoàn toàn thỏa mãn yêu cầu
Hình 1.3 Tiếp nhận tri thức trong một hệ chuyên gia [2]
(3) Vấn đề phân phối
Vấn đề phân phối một hệ thống phụ thuộc chủ yếu vào số lượng các hệ chuyên gia sẽ được phát triển Tốt nhất là hệ chuyên gia có thể chạy trên các thiết bị phần cứng chuẩn Tuy nhiên, một số hệ chuyên gia đòi hỏi phải có bộ
xử lý danh sách LISP (LISt Processing), từ đó làm tăng giá thành sản phẩm Nói chung, một hệ chuyên gia cần phải được tích hợp với những chương trình
đã có sẵn để có thể dùng lời gọi thủ tục từ một ngôn ngữ lập trình thông thường và hệ thống có thể hỗ trợ quá trình này
(4) Bảo trì và phát triển
Các hệ chuyên gia đòi hỏi các hoạt động bảo trì và phát triển không hạn chế so với các chương trình thông thường Bởi vì các hệ chuyên gia không
Trang 25dựa trên các thuật toán, mà thành tích của chúng phụ thuộc vào tri thức Vấn
đề là phải thường xuyên bổ sung tiếp nhận các tri thức mới và thay đổi các tri thức cũ để đổi mới hệ thống
Trong một sản phảm có chất lượng thương mại, cần phải thu thập một cách có hệ thống và có hiệu quả các báo cáo sai sót hệ thống do người sử dụng phát hiện Nếu việc thu thập và khắc phục lỗi không được ưu tiên trong quá trình nghiên cứu thì phải được ưu tiên trong hệ thống chất lượng thương mại Việc bảo trì chỉ được thực hiện tốt khi thu thập đầy đủ các báo cáo sai sót
Sự phát triển một hệ hệ chuyên gia cũng tác động nhiều trong một hệ thống chất lượng thương mại Người ta luôn mong muốn nhận được những thành công một khi hệ chuyên gia được phân phối đến người dùng
Hình 1.4 Các giai đoạn phát triển của một hệ chuyên gia [2]
Trang 261.2.5 Các lĩnh vực ứng dụng
Cho đến nay, hàng trăm hệ chuyên gia đã được xây dựng và đã được báo cáo thường xuyên trong các tạp chí, sách, báo và hội thảo khoa học Ngoài ra còn các hệ chuyên gia được sử dụng trong các công ty, các tổ chức quân sự
mà không được công bố vì lý do bảo mật
Bảng dưới đây liệt kê một số lĩnh vực ứng dụng diện rộng của các hệ chuyên gia
Bảng 1.1 Một số ứng dụng diện rộng của các hệ chuyên gia [2]
Lĩnh vực Ứng dụng diện rộng
Cấu hình Tập hợp thích đáng những thành phần của một hệ
thống theo cách riêngChẩn đoán Lập luận dựa trên những chứng cứ quan sát được
Truyền đạt
Dạy học kiểu thông minh sao cho sinh viên có thể hỏi
vì sao, như thế nào và cái gì nếu giống như hỏi một
người thầy giáoGiải thích Giải thích những dữ liệu thu nhận được
Kiểm tra So sánh dữ liệu thu lượm được với dữ liệu chuyên môn
để đánh giá hiệu quảLập kế hoạch Lập kế hoạch sản xuất theo yêu cầu
Dự đoán Dự đoán hậu quả từ một tình huống xảy ra
Chữa trị Chỉ định cách thụ lý một vấn đề
Điều khiển Điều khiển một quá trình, đòi hỏi diễn giải, chẩn đoán,
kiểm tra, lập kế hoạch, dự đoán và chữa trị
Trang 271.3 NGÔN NGỮ LẬP TRÌNH PROLOG
1.3.1 Khái niệm
Prolog còn được gọi là ngôn ngữ lập trình ký hiệu tương tự các ngôn ngữ
lập trình hàm, hay lập trình phi số Prolog rất thích hợp để giải quyết các bài
toán liên quan đến các đối tượng và mối quan hệ giữa chúng
Prolog được sử dụng phổ biến trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo Nguyên lý lập trình lôgich dựa trên các mệnh đề Horn Một mệnh đề Horn biểu diễn một
sự kiện hay một sự việc nào đó là đúng hoặc không dúng, xảy ra hoặc không xảy ra (có hoặc không có, v.v )
Ví dụ : Sau đây là một mệnh đề Horn :
1 Nếu X là cha mẹ của Y và Y là cha mẹ của Z thì X là ông của Z.
2 Tom là ông của Sue.
Mệnh đề 1 được gọi là luật, mệnh đề 2 được gọi là sự kiện Một chương trình logic có thể được xem như là một cơ sở dữ liệu gồm các mệnh đề Horn, hoặc dạng luật, hoặc dạng sự kiện
Một hệ thống logic sẽ thực hiện chương trình theo cách “suy luận” – tìm kiếm dựa trên vốn “hiểu biết” là chương trình – cơ sở dữ liệu, để minh chứng
câu hỏi là một khẳng định, là đúng (Yes) hoặc sai (No)
1.3.2 Các kiểu dữ liệu trong Prolog
Cú pháp của Prolog quy định mỗi kiểu đối tượng có một dạng khác nhau Prolog không cần cung cấp một số thông tin nào khác để nhận biết kiểu của một đối tượng Trong Prolog, người sử dụng không cần khai báo dữ liệu
Trang 28Kiểu dữ liệu
Kiểu sơ cấp Kiểu phức hợp
Hằng Biến
Số Chuỗi ký tự Nguyên tử
Hình 1.5 Các kiểu dữ liệu trong Prolog
Các kiểu dữ liệu trong Prolog được xây dựng từ các ký tự ASCII:
+ Các chữ cái in hoa A, B, C,…, Z và chữ cái in thường a, b, c,…, z.+ Các chữ số 0, 1, …, 9
Kiểu hằng chuỗi ký tự
Các hằng là chuỗi (string) các ký tự được đặt giữa 2 dấu nháy kép
"H@ng s0 #!" chuỗi có tùy ý ký tự
"\"" chuỗi chỉ có một dấu nháy kép
Kiểu hằng nguyên tử
Các hằng nguyên tư Prolog là chuỗi ký tự ở một trong 3 dạng sau:
Trang 29(1) Chuỗi gồm chữ cái, chữ số và ký tự _ luôn luôn được bắt đầu bằng chữ cái in thường
1.3.3 Sự kiện và luật trong Prolog
Một chương trình Prolog là một cơ sở dữ liệu gồm các mệnh đề (clause) Mỗi mệnh đề được xây dựng từ các vị từ
Trang 30- Vị từ
Vị từ là những kiến thức mà người lập trình cần cung cấp cho chương trình Vị từ có thể được xem là các hàm nhưng giá trị trả về chỉ là các giá trị chân lý đúng hoặc sai
- Mệnh đề
Các khái niệm được mô tả qua các vị từ sẽ được giải thích bằng các mệnh đề Có 2 dạng mệnh đề: sự kiện và luật
+ Sự kiện là những điều chúng ta công nhận là đúng
Quy ước: P(A): A có tính chất P
P(A,B): A là P đối với B
Ví dụ: dong_vat_an_co(Dê): Dê là động vật ăn cỏ
+ Luật là những qui tắc mà chúng ta xác định điều kiện đúng cho chúng
Ví dụ: an(X,co):-dong_vat_an_co(X) : X ăn cỏ nếu X là động vật ăn cỏ
Từ nếu trong Prolog được viết là “:-”
Luật có 2 phần:
+ Đầu luật (kết luận) ở bên trái của luật
+ Thân luật (điều kiện) ở bên phải của luật
Nếu có nhiều điều kiện thì cách nhau bởi dấu “,”
Ví dụ: Giải bài toán dưới đây tìm các sự kiện và luật
Trang 31loai_an_thit(ho)
Luật: loai_an_thit(Y)
loai_hung_du(Y) an(X,thit):-loai_an_thit(X)
an(X,co):-loai_an_co(X)
an(X,Y):-loai_an_thit(X),loai_an_co(Y)
1.3.4 Cú pháp và ngữ nghĩa của các chương trình Prolog
Cú pháp gồm 4 đoạn cơ bản sau: domains, predicates, clause, goal
+ Domain: là nơi để người lập trình định nghĩa những tập hợp mới (hoặc đặt tên lại)
Nơi tạo tập hợp mới có cùng kiểu dữ liệu với tập hợp sẵn có
Tạo tập hợp là tích các tập hợp
Tạo tập hợp là hội các tập hợp
+ Predicates: là phàn khai báo các quan hệ giữa các domains
Tạo quan hệ giữa các tập hợp
Tạo quan hệ trống
+ Clauses: là phần định nghĩa các quan hệ đã khai báo trong phần predicates
Biến và hằng
Turbo Prolog qui định biến có ký tự bắt đầu là ký tự in (uppercase) hoặc ký
tự gạch dưới (underscore) Hằng có ký tự bắt đầu là ký tự thường (lowercase)
Trang 32quả) Tuy nhiên Rule là câu điều kiện được trình bày theo dạng thức : Hậu quả nguyên nhân.
Các dạng sau đây tương đương:
Hậu quả nguyên nhânHậu quả if nguyên nhânHậu quả :- nguyên nhân
Do đó Fact có thể được xem là một loại rule đặc biệt – rule không có điều kiện
Nếu mệnh đề nguyên nhân gồm 3 mệnh đề nguyên nhân ngnh1, ngnh2, ngnh3 kết hợp lại thì được biểu diễn như sau:
Nguyên nhân = Ngnh1 and Ngnh2 and Ngnh3
Hoặc Nguyên nhân = Ngnh1, Ngnh2, Ngnh3
Nhận xét: Một predicates được định nghĩa trong clauses bằng nhiều fact
hoặc nhiều rule hoặc kết hợp vừa fact vừa rule
+ Goal: Goal là một nơi đặt câu hỏi với hệ thống và hệ thống sẽ cho câu
trả lời Goal gồm một hay nhiều predicates cùng với thông số Nếu goal gồm nhiều thành phần thì mỗi thành phần được gọi là subgoal
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương này, luận văn đã tập trung tìm hiểu về các khái niệm của
cơ sở tri thức và các vấn đề liên quan đến tri thức; cũng như tìm hiểu nghiên cứu khái niệm về hệ chuyên gia, các đặc trưng, những kỹ thuật suy diễn trong các hệ chuyên gia và phương pháp thiết kế của một hệ chuyên gia Bên cạnh
đó, luận văn còn giới thiệu về Prolog, khái niệm, sự kiện và luật trong Prolog
Đó là những phần lý thuyết cơ bản hỗ trợ cho việc xây dựng và phát triển một
hệ chuyên gia và là nền tảng để giải quyết bài toán đặt ra ở chương sau
Trang 332.1 HƯỚNG NGHIỆP VÀ NHU CẦU HƯỚNG NGHIỆP
2.1.1 Hướng nghiệp
“Hướng nghiệp là những biện pháp dựa trên cơ sở tâm lý học, y học và nhiều khoa học khác để giúp đỡ học sinh phù hợp với yêu cầu xã hội, đồng thời thỏa mãn tối đa nguyện vọng, thích hợp với những năng lực, sở trường và điều kiện tâm lý cá nhân nhằm mục đích phân bố hợp lý và sử dụng có hiệu quả nhất lực lượng dự trữ sẵn có của đất nước” [14]
Có thể nói hướng nghiệp là sự kết hợp tương đối hài hòa giữa nhu cầu của mỗi cá nhân và nhu cầu xã hội; đặt nhiệm vụ đào tạo con người cho xã hội làm nhiệm vụ trung tâm trước tiên, đồng thời luôn đảm bảo tính cá thể trong sự phát triển tự do của mỗi nhận cách Mặt khác hướng nghiệp cũng đề cập tới tính chất phức tạp của công tác hướng hiệp, đòi hỏi phải có sự tham gia đồng bộ của nhiều bộ phận xã hội, nhằm giải quyết hợp lý lực lượng lao động dự trữ sẵn có của đất nước
Nói một cách cụ thể, hướng nghiệp chính là quá trình hướng dẫn chọn nghề, quá trình chuẩn bị cho thế hệ trẻ bước vào cuộc sống lao động sản xuất Đây là một hệ thống các biện pháp tác động của gia đình, nhà trường và xã hội cùng phối hợp thực hiện, trong đó nhà trường phải nắm giữ vai trò chủ
Trang 34đạo trong việc hướng dẫn thế hệ trẻ sẵn sang đi vào lao động ở các ngành nghề, tại những nơi mà xã hội đang cần, đồng thời cũng phù hợp với hứng thú, năng lực của cá nhân.
2.1.2 Tư vấn hướng nghiệp
Theo tác giả Phan Thị Tố Oanh : “Tư vấn hướng nghiệp là hệ thống biện pháp tâm lý giáo dục nhằm đánh giá toàn bộ năng lực thể chất và trí tuệ của thanh thiếu niên, đối chiếu những năng lực đó với những yêu cầu do nghề đặt
ra với người lao động, có cân nhắc đến nhu cầu nhân lực của địa phương, xã hội, trên cơ sở đó cho họ những lời khuyên về chọn nghề, có căn cứ khoa học, loại bỏ những trường hợp may rủi, thiếu chín chắn khi chọn nghề nhằm mục đích giúp thanh thiếu nhiên nhận ra chính mình, tạo điều kiện cho họ phát huy cao độ sở trường cũng như trong bước đường hoạt động nghề nghiệp tương lai”
Theo P.A.Savin: “Tư vấn nghề thực hiện chức năng liên kết giúp cho học sinh đối chiếu hứng thú, sở thích và khả năng vốn có của mình với nhu cầu kinh tế quốc dân”
Theo K.K Platonov “Tư vấn nghề là hệ thống những hình thức y học và những hình thức tác động đa dạng khác nhau nhằm phát hiện, khám phá những khả năng tinh thần và thể lực của học sinh trong lựa chọn nghề”
Trong từ điển Tâm lý học Đức (55tr-63) “Tư vấn nghề là hoạt động tư vấn giúp các cá nhân đặc biệt là thanh niên trong quá trình định hướng tìm chọn cũng như thay đổi nghề”
Như vậy, theo nhận định của phần đông các tác giả (trong và ngoài nước) thì mục đích của tư vấn hướng nghiệp chính là giúp học sinh nhận biết được những đặc điển tâm sinh lý vốn có của bản thân và những nhu cầu của
xã hội trong lựa chọn nghề Tư vấn hướng nghiệp rất có ích cho học sinh vì
nó không chủ đề cập đến nhân cách, mơ ước, sở thích, nguyện vọng của học
Trang 35sinh mà còn đề cập đến những yếu tố khác trong bức tranh nghề nghiệp rộng lớn, từ đó giúp học sinh có một cáu nhìn từ bên trong và học sinh có cơ hội lựa chọn, an tâm, dành hết năng lực và công sức của bản thân một khi đã chọn được một nghề thích hợp cho mình Trên cơ sở cung cấp cho học sinh những tri thức cơ bản của các môn học, những hiểu biết về các ngành nghề trong xã hội, tư vấn hướng nghiệp giúp học sinh nhận thức đúng đắn hơn về nghề nghiệp mà mình định chọn Đồng thời giúp cho các em tự đánh giá những đặc điểm tâm sinh lý của mình Từ đó giúp các em có thể tự đối chiếu những đặc điểm tâm sinh lý của mình với những yêu cầu của nghề nghiệp đòi hỏi, để các
em tự xác định được nghề nghiệp tương lai phù hợp với mình
Vậy, “Tư vấn hướng nghiệp là một hệ thống những biện pháp thích hợp nhằm đánh giá toàn bộ năng lực thể chất và trí tuệ của thanh thiếu niên, đối chiếu những năng lực đó với những yêu cầu do nghề đặt ra đối với người lao động, bên cạnh có cân nhắc đến nhu cầu nhân lực của thị trường lao động Trên cơ sở đó cho họ những lời khuyên đúng đắn về chọn nghề, có căn cứ khoa học và loại bỏ những trường hợp thiếu chín chắn khi chọn nghề”
2.1.3 Nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của học sinh THPT
a Khái niệm
Chúng ta biết rằng, ý thức chọn nghề của học sinh THPT có một ý nghĩa nghiêm túc, trực tiếp và cấp bách Chính ý thức này làm nảy sinh ở học sinh nhu cầu cần được tư vấn hướng nghiệp để các em có cơ sở khoa học cho việc chọn cho mình một nghề nghiệp phù hợp trong tương lai
Nhu cầu tư vấn hướng nghiệp thuộc nhu cầu về nhận thức của con người, nhu cầu nhận thức một lĩnh vực riêng, như vậy nhu cầu này sẽ có đầy đủ các đặc điểm chung của một nhu cầu nhận thức nói chung, đồng thời có thêm những đặc điểm riêng của tư vấn hướng nghiệp Từ cơ sở lý luận về nhu cầu nói chung, nhu cầu nhận thức nói riêng “nhu cầu tư vấn hướng nghiệp là nhu
Trang 36cầu cần được tư vấn về các nội dung có liên quan đến lĩnh vực nghề nghiệp và trên cơ sở đó mỗi cá nhân có sự đối chiếu với năng lực bản thân để chọn cho mình một nghề phù hợp” [11]
Tương tự như vậy, nhu cầu hướng nghiệp của học sinh lớp 12 THPT cũng mang đầy đủ những đặc điểm của nhu cầu tư vấn hướng nghiệp nhưng lại kết hợp thêm những đặc điểm riêng của lứa tuổi học sinh lớp 12 THPT Đây là một nhu cầu cơ bản và mang tính thiết yếu của học sinh nhằm để nhận biết được sự phù hợp giữa các đặc điểm tâm sinh lý và điều kiện riêng của cá nhân với hệ thống nghề nghiệp, có tính đến nhu cầu của thị trường lao động,
từ đó giúp các em có quyết định lựa chọn nghề nghiệp trong tương lai đúng đắn và khoa học có dựa trên sự hỗ trợ của những nhà tư vấn hướng nghiệp
Điều kiện và phương thức để thỏa mãn nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của học sinh THPT thì bản thân hoạt động tư vấn hướng nghiệp phải được tổ chức dưới nhiều hình thức tư vấn đa dạng, phong phú và nội dung tư vấn phải đầy
đủ, sâu và rộng, giải quyết được những boăn khoăn, thắc mắc của học sinh Thông qua các hoạt động tư vấn hướng nghiệp nhằm giúp các em khám phá hứng thú, năng lực bản thân Xây dựng kế hoạch nghề nghiệp, rèn luyện cho mình những kỹ năng tương ứng với nghề nghiệp tương lai
Trang 37Nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của học sinh THPT cũng mang tính chu
kỳ, có nghĩa là nhu cầu này chỉ được hình thành và củng cố trong điều kiện được thỏa mãn một cách có hệ thống
Nhu cầu tư vấn hướng nghiệp mang bản chất lịch sử - xã hội bởi nó gắn liền với sự phát triển của xã hội Sự phát triển của xã hội đã đẩy nhanh quá trình mở rộng hệ thống ngành nghề cùng với những yêu cầu ngày càng cao đối với người lao động đã làm cho đối tượng của nhu cầu tư vấn hướng nghiệp ngày càng phong phú hơn, và phương thức để thỏa mãn được nhu cầu cũng ngày càng đa dạng hơn
2.1.4 Nội dung của hoạt động tư vấn hướng nghiệp
a Các hình thức tư vấn hướng nghiệp
+ Tư vấn thông tin hướng dẫn: nhằm giới thiệu nghề, nhóm nghề mà
thanh thiếu niên định chon qua các bản mô tả nghề Ở đây cán bộ tư vấn sẽ giới thiệu về những yêu cầu do nhóm nghề đề ra đối với những phẩm chất cá nhân của con người, đông thời chỉ ra con đường để đạt được nghề nghiệp và triển vọng nâng cao tay nghề
+ Tư vấn chẩn đoán: trên cơ sở nghiên cứu và đo đạc nhân cách của con
người một cách toàn diện được thực hiện bằng các bài kiểm tra như: tìm hiểu hứng thú xu hướng nghề, tìm hiểu kiểu thần kinh khí chất; trắc nghiệm tư duy; trắc nghiệm trí nhớ; trắc nghiệm trí tưởng tượng không gian, trắc nghiệm chú ý; trắc nghiệm khả năng giao tiếp; trắc nghiệm khả năng kinh doanh… để tìm hiểu hứng thú, thiên hướng, năng lực và những phẩm chất nghề chuyên biệt của con người
+ Tư vấn y học: Người làm tư vấn đo đạc các chỉ số tâm sinh lý như thị
giác, thính giác, xúc giác, sự phối hợp cảm giác vận động, sự phối hợp hành động Nếu như người được tư vấn mắc một trong những bệnh thuộc loại chống chỉ định của nghề thì người cán bộ tư vấn sẽ khuyên nên chọn một
Trang 38nghề khác gần gũi với thiên hướng và hứng thú, đồng thời phù hợp với trạng thái sức khỏe của người đó Chẵng hạn, người rối loạn sắc giác sẽ không được chọn những ngành nghề giao thông vận tải, thông tin tín hiệu,…
+ Tư vấn hiệu chỉnh: được tiến hành trong trường hợp ý định nghề
nghiệp của con người không phù hợp với khả năng và năng lực thực tế của
họ Trong trường hợp này, kế hoạch nghề nghiệp của cá nhân cần được xem xét và uốn nắn lại cho phù hợp với tình hình Ví dụ: trên cơ sở những cứ liệu thu thập khi nghiên cứu nhân cách con người, cán bộ tư vấn sẽ khuyên thanh thiếu niên nên chọn một nghề khác, phù hợp với những đặc điểm tâm sinh lý của mình hơn
Ngoài ra, người ta có thể chia tư vấn hướng nghiệp thành 2 loại: tư vấn
sơ bộ và tư vấn chuyên sâu
+ Tư vấn sơ bộ: loại này đơn giản có thể thực hiện ở nhiều trường vì
không đòi hỏi phải có thiết bị, các phương tiện kỹ thuật Chuẩn đoán những phẩm chất nhân cách của học sinh không cần đòi hỏi phải có đội ngũ chuyên gia tư vấn hướng nghiệp có tay nghề cao, am hiểu sâu sắc các lĩnh vực tâm sinh lý, giáo dục học, y học, kinh tế học
+ Tư vấn chuyên sâu: loại này phức tap vì việc tư vấn được tiến hành
trên cơ sở khoa học thực sự, đảm bảo độ chính xác cao nhờ một số máy móc hiện đại (ví dụ máy đo độ chính xác của các cử động, sự khéo léo vận động của 2 tay, ) Điều kiện để tư vấn hướng nghiệp chuyên sâu là phải có đội ngũ chuyên gia tư vấn hướng nghiệp được đào tạo có trình độ chuyên môn nghiệp
vụ cao gồm các nhà tâm lý học, giáo dục học, kinh tế học, bác sĩ có kinh nghiệm thực tế Đặc biệt phải có kiến thức sâu sắc về hướng nghiệp, tư vấn hướng nghiệp chọn nghề, kỹ thuật tư vấn hướng nghiệp, biết sử dụng thành thạo các phương pháp test chẩn đoán khả năng trí tuệ, khả năng vận động và nhân cách của học sinh
Trang 39b Các nội dung tư vấn hướng nghiệp
+ Giúp học sinh tìm hiểu thế giới nghề nghiệp: các em biết được tính đa
dạng phong phú của nghề, xu hướng phát triển của nghề, các yêu cầu của nghề, đặc biệt là các yêu cầu về tâm sinh lý, những điều kiện học nghề và vào nghề,… Đồng thời qua quá trình tìm hiểu nghề, ở học sinh sẽ xuất hiện và phát triển hứng thú nghề nghiệp
+ Giúp học sinh tìm hiểu thông tin về định hướng phát triển kinh tế - xã hội, về thị trường lao động ở địa phương, cả nước và xa hơn nữa là trong khu
vực và trên thế giới; giúp học sinh tiếp cận dần về hệ thống thông tin về đào tạo nhân lực và việc làm, giúp các em quen dần với những tính chất, quy luật của thị trường lao động; giúp các em thấy được đòi hỏi mới về nhân lực phục
vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa để các em có trình độ tự chủ cao hơn, có kỹ năng giao tiếp, tinh thần trách nhiệm và sáng kiến trong lao động
+ Giúp học sinh tự đánh giá hứng thú và năng lực nghề nghiệp của bản
thân: Hứng thú là một động lực hết sức quan trọng để con người gắn bó với
nghề; hứng thú được coi như một chỉ số quan trọng hàng đầu để xét sự phù hợp người của con người Bên cạnh đó, để có thể gắn bó với nghề, đạt năng suất lao động cao, người lao động cần phải có năng lực chuyên môn thật sự, đóng góp được sức lực, trí tuệ một cách hữu hiệu với nghề mình yêu thích Hơn nữa, nghề nghiệp cũng không chấp nhận những người thiếu năng lực, do
đó giúp học sinh tự đánh giá và phát triển hứng thú, năng lực nghề nghiệp tương lai của các em trên cơ sở phân tích những đặc điểm, những điều kiện, những hoàn cảnh riêng của từng em một
2.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA JOHN HOLLAND
2.2.1 Lý thuyết mật mã Holland
Lí thuyết Mật mã Holland (Holland codes) được phát triển bởi nhà tâm lí học John Holland (1919 – 2008) Ông là người nổi tiếng và được biết đến
Trang 40rộng rãi nhất qua nghiên cứu lí thuyết lựa chọn nghề nghiệp Ông đã đưa ra lí thuyết RIASEC dựa trên 8 giả thiết, trong đó có 5 giả thiết cơ bản và một số luận điểm rất có giá trị trong hướng nghiệp:
+ Giả thiết thứ nhất: Bất kì ai cũng thuộc vào một trong 6 kiểu người
đặc trưng sau đây: Realistic (R) – người thực tế, thuộc nhóm Kĩ thuật; Investigate (I) – nhà nghiên cứu, thuộc nhóm Nghiên cứu; Artistic (A) – Nghệ
sĩ, thuộc nhóm Nghệ thuật; Social (S) – tạm dịch là người công tác xã hội, thuộc nhóm Xã hội; Enterrising (E) – tạm dịch là người dám làm, thuộc nhóm Quản lí; Conventional (C) – tạm dịch là người tuân thủ, thuộc nhóm Nghiệp
vụ Sáu chữ cái của 6 kiểu người đặc trưng gộp lại thành chữ RIASEC
+ Giả thiết thứ hai: Có 6 loại môi trường tương ứng với 6 kiểu người nói
trên Môi trường tương ứng với kiểu người nào thì kiểu người ấy chiếm đa số trong số người thành viên của môi trường đó Ví dụ môi trường có hơn 50%
số người có mã xã hội trội nhất thì đó là môi trường loại xã hội
+ Giả thiết thứ ba: Ai cũng tìm được môi trường phù hợp cho phép mình
thể hiện được kĩ năng, thái độ và hệ thống giá trị của mình
+ Giả thiết thứ tư: Thái độ ứng xử của con người được quy định bởi sự
tương tác giữa kiểu người của mình với các đặc điểm của môi trường Ví dụ, người mang mã nghệ thuật được tuyển chọn vào môi trường nghệ thuật sẽ dễ dàng cảm thông với người xung quanh, mau chóng bắt nhịp với công việc, được đồng nghiệp tin yêu và có nhiều cơ hội thành công trong công việc
+ Giả thiết thứ năm: Có 4 mức độ phù hợp giữa kiểu người và loại môi
trường: Kiểu người làm làm việc trong môi trường nấy là mức độ cao nhất, ví dụ: người nghệ thuật làm việc trong môi trường nghệ thuật; người nào làm việc trong môi trường cận kề với kiểu người của mình (cùng một cạnh của lục giác), ví dụ như Kỹ thuật-Nghiên cứu (kiểu người kỹ thuật làm việc trong môi trường nghiên cứu) là mức độ phù hợp thứ nhì; người nào làm việc trong môi