Phương pháp phát triển một hệ thống thông tin Mục đích chính xác của dự án phát triển một hệ thống thông tin là có được một sản phẩm đáp ứng nhu cầu của người sử dụng, mà nó được hòa hợ
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
PHAN THỊ DIỄM THÚY
XÂY DỰNG HỆ THỐNG THÔNG TIN THI TRẮC NGHIỆM TRỰC TUYẾN
LUẬN VĂN THẠC SĨ HỆ THỐNG THÔNG TIN
Đà Nẵng - Năm 2016
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
PHAN THỊ DIỄM THÚY
XÂY DỰNG HỆ THỐNG THÔNG TIN THI TRẮC NGHIỆM TRỰC TUYẾN
Chuyên ngành: HỆ THỐNG THÔNG TIN
Mã số: 60.48.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ HỆ THỐNG THÔNG TIN
Người hướng dẫn khoa học P S TS V Trung H ng
Đà Nẵng - Năm 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
- Những nội dung trong luận văn này là do tôi thực hiện dưới sự
hướng dẫn trực tiếp của PGS.TS Võ Trung Hùng
- Mọi tham khảo dùng trong luận văn đều được trích dẫn rõ ràng
tên tác giả, tên công trình, thời gian, địa điểm công bố
- Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm quy chế đào tạo, hay gian
trá, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Tác giả
Phan Thị Diễm Thúy
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
6 Bố cục luận văn 4
CHƯƠN 1 NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN 5
1.1 HỆ THỐNG THÔNG TIN 5
1.1.1 Khái niệm 5
1.1.2 Nhiệm vụ và vai trò của hệ thống thông tin 7
1.1.3 Các thành phần của hệ thống thông tin 8
1.1.4 Phương pháp phát triển một hệ thống thông tin 10
1.2 TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN 11
1.2.1 Khái niệm 11
1.2.2 Cách phân loại trắc nghiệm trong giáo dục 12
1.2.3 Các kiểu câu hỏi trắc nghiệm khách quan 14
1.2.4 Những nguyên tắc ra đề thi trắc nghiệm loại nhiều lựa chọn 16
1.2.5 Các tham số đặc trưng cho một câu hỏi và đề thi trắc nghiệm 17
1.2.6 Chất lượng của các câu hỏi và đề thi trắc nghiệm 19
1.2.7 Phân tích và đánh giá một bài trắc nghiệm 22
1.2.8 So sánh kiểm tra TNKQ và tự luận 22
1.2.9 Ứng dụng thi trắc nghiệm ở Việt Nam 24
1.3 MỘT SỐ HỆ THỐNG THI TRẮC NGHIỆM TRỰC TUYẾN 25
1.3.1 Ngân hàng đề thi trắc nghiệm vật lý 25
1.3.2 Ngân hàng đề thi của Sở giáo dục và Đào tạo Thừa Thiên Huế 28
Trang 51.3.3 Ngân hàng đề thi Vnschool.net 29
1.3.4 Nhận xét chung 31
1.4 MỘT SỐ CÔNG CỤ TẠO ĐỀ THI TRẮC NGHIỆM 31
1.4.1 Phần mềm trắc nghiệm Test Professional 2008 32
1.4.2 Phần mềm trắc nghiệm KENTEST 33
1.4.3 Phần mềm UQUIZ 34
1.4.4 Phần mềm ExamGen 37
1.4.5 Phần mềm McMIX 38
1.4.6 Đánh giá các công cụ phần mềm 39
1.5 KẾT LUẬN 41
CHƯƠN 2 PHÂN TÍCH VÀ THIẾT KẾ HỆ THỐNG 42
2.1 MÔ TẢ BÀI TOÁN 42
2.1.1 Tổ chức thi tại trường Cao đẳng Công nghệ 42
2.1.2 Yêu cầu chức năng 42
2.1.3 Yêu cầu phi chức năng 43
2.2 THIẾT KẾ HỆ THỐNG 44
2.2.1 Thiết kế hệ thống 44
2.2.2 Mô tả Actor và đặc tả Use Case của hệ thống 44
2.2.3 Biểu đồ hoạt động 64
2.2.4 Cơ sở dữ liệu 67
2.3 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP TRIỂN KHAI 72
2.4 KẾT LUẬN 72
CHƯƠN 3 CÀI ĐẶT VÀ THỬ NGHIỆM 73
3.1 CÀI ĐẶT HỆ THỐNG 73
3.1.1 Môi trường cài đặt 73
3.1.2 Phát triển mô-đun quản lý ngân hàng câu hỏi 73
3.1.3 Phát triển mô-đun quản lý ca thi 74
Trang 63.1.4 Phát triển mô-đun thi của sinh viên 77
3.1.5 Phát triển các hàm API phục vụ cho nhà phát triển khác 79
3.2 THỬ NGHIỆM CHO MÔN TIN HỌC ĐẠI CƯƠNG 80
3.2.1 Qui trình thử nghiệm 80
3.2.2 Xây dựng ứng dụng 81
3.3 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 84
3.4 KẾT LUẬN 84
KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN 85 TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH IAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
Trang 91.6 Trang chủ website của Sở giáo dục và Đào tạo Thừa
2.3 Biểu đồ hoạt động của chức năng quản lý ngân hàng
2.4 Biểu đồ hoạt động của chức năng quản lý ca thi và đề
Trang 10Số hiệu
2.5 Biểu đồ hoạt động của chức năng quản lý hoạt động thi 66 2.6 Sơ đồ quan hệ giữa các bảng của chương trình 67 3.1 Giao diện ngân hàng câu hỏi cơ bản 73 3.2 Danh sách ca thi của giảng viên 74 3.3 Chức năng quản lý chi tiết một ca thi 75 3.4 Chức năng quản lý và thêm câu hỏi cho ca thi 75 3.5 Chức năng quản lý đề thi của giảng viên 76 3.6 Giao diện quản lý sinh viên và xem điểm 76 3.7 Giao diện xem chi tiết kết quả thi một sinh viên 77 3.8 Danh sách ca thi của sinh viên 77 3.9 Sinh viên thực hiện thi 78 3.10 Giao diện xem điểm tổng hợp 78 3.11 Sinh viên xem chi tiết các lần thi 79 3.12 Giao diện khi giảng viên lựa chọn danh sách câu hỏi 81
3.13 Giao diện sau khi sinh viên đăng nhập và lựa chọn ca thi
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sự phát triển của CNTT đã và đang làm thay đổi toàn bộ thế giới Mọi ngành nghề, mọi lĩnh vực như kinh tế, y khoa, công nghiệp… dần dần được tin học hóa và làm cho công việc trở nên dễ dàng, nhanh chóng, chính xác hơn Đặc biệt, trong công tác giáo dục, việc tin học hóa góp phần nâng cao chất lượng dạy và học, do đó việc ứng dụng CNTT trong dạy và học đang là một trong những xu thế phát triển nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ở bậc học phổ thông và đại học, góp phần đổi mới phương pháp dạy học và quản lý trong trường học Nhiều thành tựu của CNTT được ứng dụng trong dạy học
và quản lý giáo dục đã góp phần thay đổi theo chiều hướng tích cực, thực tiễn
đã chứng minh
Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, song song với việc đổi mới
phương pháp dạy và học, việc đổi mới hình thức thi cử cũng trở thành một việc làm cấp thiết Bộ Giáo dục và Ðào tạo (GD&ÐT) chủ trương từng bước đưa phương pháp trắc nghiệm khách quan (TNKQ) vào áp dụng trong các kỳ thi quốc gia và từng bước áp dụng rộng rãi để đánh giá kết quả học tập tại các bậc học Việc khai thác và sử dụng phần mềm mã nguồn mở là một chủ trương lớn của Nhà nước Bộ GD&ÐT đã có Chỉ thị số 55/2008/CT-BGDÐT
ngày 30/9/2008 của Bộ trưởng Bộ GDÐT và thực hiện chủ đề “Năm học đẩy
mạnh ứng dụng CNTT” yêu cầu các đơn vị đào tạo, các sở GD&ÐT tại các
địa phương triển khai các phần mềm ứng dụng CNTT trong công tác dạy học
tại các trường phổ thông và trong công tác quản lý
Hiện nay thi trắc nghiệm là một hình thức thi rất phổ biến tại các nước trên thế giới Nhờ vào đặc điểm luôn có sự rõ ràng của đáp án; tính khách quan trong cách đánh giá kết quả của người học; kết quả của bài thi cũng
Trang 12được biết ngay sau khi thí sinh hoàn thành bài thi, cho nên làm tăng tính hiệu quả trong việc tổ chức thi Do đó từ năm 2007, ở nước ta đã bắt đầu áp dụng hình thức thi trắc nghiệm cho các kỳ thi tuyển sinh cao đẳng, đại học Từ năm học 2014-2015, Bộ GD&ĐT đã ghép 2 kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học, cao đẳng thành 1 đợt thi với 8 môn thi trong đó có 4 môn thi theo hình thức trắc nghiệm
Nhằm tạo điều kiện cho SV tại trường có điều kiện học và ôn thi tốt hơn cũng như giúp cho GV có thể thuận tiện hơn trong quá trình tạo đề thi (có thể
tạo offline hoặc online), tôi quyết định chọn đề tài “Xây dựng hệ thống thông
tin thi trắc nghiệm trực tuyến” làm đề tài tốt nghiệp luận văn cao học của
2.2 Nhiệm vụ
Ðể hoàn thành mục tiêu đề ra, tôi sẽ tập trung nghiên cứu những nội dung sau:
Về lý thuyết:
- Tìm hiểu tổng quan cơ sở lý thuyết về trắc nghiệm khách quan
- Tìm hiểu tổng quan cơ sở lý thuyết về hệ thống thông tin
- Nghiên cứu tài liệu về các công nghệ, ngôn ngữ lập trình, mã nguồn mở,… liên quan đến xây dựng hệ thống thi trắc nghiệm
Về thực tiễn:
- Nghiên cứu các công cụ hỗ trợ xây dựng website và tổ chức lưu trữ kho
đề thi: ASP.NET, SQL Server 2008, Visual Studio 2013
Trang 13- Cài đặt triển khai trên hệ thống mạng LAN hiện có tại trường
- Kiểm thử và hoàn thiện các tính năng theo yêu cầu của đề tài
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Phương pháp ra đề thi TNKQ và phương pháp đánh giá kết quả sinh viên
- Các tính năng của phần mềm thi trắc nghiệm
- Cấu trúc định dạng tập tin phục vụ tích hợp ngân hàng đề thi TNKQ
- Một số bài báo và luận văn tốt nghiệp cao học khóa trước
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Giới hạn việc nghiên cứu ở các lĩnh vực sau:
- Phương pháp ra đề thi trắc nghiệm với nhiều lựa chọn
- Các tập tin có định dạng *.doc, *.xml, *.pdf, *.html
- Giới hạn ở nội dung phục vụ ôn và thi theo hình thức trắc nghiệm
4 Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi sử dụng hai phương pháp chính là phương pháp tài liệu và phương pháp thực nghiệm
Phương pháp tài liệu: Với phương pháp này, chúng tôi nghiên cứu các
tài liệu liên quan đến lý thuyết về trắc nghiệm và hình thức tổ chức thi trắc nghiệm; các tài liệu về công nghệ và ngôn ngữ lập trình; các tài liệu về phân tích và thiết kế hệ thống thông tin
Phương pháp thực nghiệm: Với phương pháp này, chúng tôi đã cài đặt
thử nghiệm các công cụ hỗ trợ, phân tích yêu cầu thực tế của bài toán và xây dựng các bước phân tích hệ thống để hỗ trợ việc lập trình, xây dựng ứng dụng Bên cạnh đó, chúng tôi đã đánh giá kết quả đạt được và triển khai bảo trì
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Về khoa học: Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, song song với
Trang 14việc đổi mới phương pháp dạy và học, việc đổi mới hình thức thi cử cũng trở thành một việc làm cấp thiết Trong các hình thức thi cử, trắc nghiệm khách quan là hình thức được nhiều người chú ý nhất do những ưu điểm của nó trong việc kiểm tra, đánh giá trình độ người dự thi như: khách quan, trung thực, kiểm tra được nhiều kiến thức, tránh được việc học tủ, học vẹt…Do đó, trắc nghiệm đang là khuynh hướng của hầu hết các kỳ thi ở Việt Nam hiện nay
Về thực tiễn: Vấn đề đặt ra là đề tài phải giải quyết tốt các phương pháp
để GV có thể linh động trong quá trình cập nhật kho dữ liệu đề thi, đồng thời
có thể tổ chức thuận tiện cho người học có thể tự ôn luyện thi và tham gia thi
6 Bố cục luận văn
Báo cáo của luận văn được tổ chức thành 3 chương chính:
Chương 1 Nghiên cứu tổng quan
Trong chương này, chúng tôi trình bày tổng quan về hệ thống thông tin, trắc nghiệm khách quan, một số hệ thống thi trắc nghiệm trực tuyến, một số công cụ tạo đề thi trắc nghiệm Trên cơ sở đó, chúng tôi đưa ra một số nhận xét, đánh giá cho các trang Web trắc nghiệm trực tuyến, cũng như một vài phần mềm trắc nghiệm đã có hiện nay tại Việt Nam
Chương 2 Phân tích và thiết kế hệ thống
Chương 2 chúng tôi tập trung nghiên cứu, đưa ra các giải pháp để tổ chức và phân tích thiết kế hệ thống kho dữ liệu sao cho hợp lý và hiệu quả
Chương 3 Thử nghiệm
Tiến hành xây dựng ngân hàng câu hỏi, xây dựng hệ thống hỗ trợ ôn tập Sau đó tiến hành thử nghiệm cho môn học Tin học Đại cương tại trường
Trang 15
CHƯƠN 1
NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN
Trong chương này, tôi trình bày tổng quan về hệ thống thông tin, trắc nghiệm khách quan, một số hệ thống thi trắc nghiệm trực tuyến, một số công
cụ tạo đề thi trắc nghiệm Sau đó đưa ra một số nhận xét, đánh giá cho các trang Web trắc nghiệm trực tuyến, cũng như một vài phần mềm trắc nghiệm
đã có hiện nay tại Việt Nam
1.1 HỆ THỐN THÔN TIN
1.1.1 Khái niệm
Ngày nay hệ thống thông tin được ứng dụng rộng rãi trong cuộc sống, để hiểu rõ thuật ngữ này chúng ta xuất phát từ khái niệm hệ thống chung nhất, hệ thống nghiệp vụ (Business) rồi đến hệ thống thông tin
Hệ thống là một tập hợp gồm nhiều phần tử tương tác, có các mối quan
hệ ràng buộc lẫn nhau và cùng hoạt động hướng tới một mục tiêu chung thông qua chấp thuận các đầu vào, biến đổi có tổ chức để tạo kết quả đầu ra
Hệ thống nghiệp vụ là một loại hệ thống bao gồm các hoạt động kinh doanh, dịch vụ chẳng hạn như sản xuất, phân phối, lưu thông các sản phẩm, các hoạt động giáo dục, y tế Nghiệp vụ là hoạt động của con người nhằm mang lại lợi ích hoặc lợi nhuận
Một hệ thống nghiệp vụ có thể phân làm ba hệ thống con:
- Hệ thống quyết định là hệ thống bao gồm con người, phương tiện và
các phương pháp tham gia đề xuất quyết định trong các hoạt động nghiệp vụ
- Hệ thống tác nghiệp là hệ thống bao gồm con người, phương tiện và
các phương pháp tham gia trực tiếp thực hiện các hoạt động nghiệp vụ Đó là các hoạt động nhằm thực hiện có tính cách cạnh tranh để đạt được mục tiêu đã xác định của hệ quyết định
Trang 16- Hệ thống thông tin là hệ thống bao gồm con người, phương tiện và
các phương pháp tham gia xử lý thông tin của các hoạt động nghiệp vụ Nó là
hệ thống trung gian giữa hệ tác nghiệp và hệ quyết định , cung cấp thông tin
và phản ánh cơ cấu tổ chức và các hoạt động nghiệp vụ
Hệ thống thông tin là một tập hợp các phần cứng, phần mềm, hệ mạng truyền thông được xây dựng và sử dụng để thu thập, tạo, tái tạo, phân phối và chia sẻ dữ liệu, thông tin và tri thức nhằm phục vụ các mục tiêu của tổ chức
Hình 1.1 Khung tri thức về Hệ thống thông tin
Sự cần thiết của HTTT
CNTT có thể hỗ trợ mọi doanh nghiệp cải thiện hiệu quả và hiệu suất của các qui trình nghiệp vụ kinh doanh , quản trị ra quyết định, cộng tác nhóm làm việc, qua đó tăng cường vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp trong một thị trường thay đổi nhanh
Những hệ thống trên nền Internet đã trở thành một thành phần rất cần thiết để kinh doanh thành công trong môi trường toàn cầu động năng động hiện nay
CNTT đóng vai trò ngày càng lớn hơn trong kinh doanh
Trang 171.1.2 Nhiệm vụ và vai trò của hệ thống thông tin
Chức năng chính của HTTT là xử lý thông tin của hệ thống nghiệp vụ Quá trình xử lý thông tin như một mô hình hộp đen bao gồm: Bộ xử lý, thông tin đầu vào, thông tin đầu ra và thông tin phản hồi cần thiết của hệ thống Bộ
xử lý biến đổi dữ liệu đầu vào và cho ra thông tin đầu ra
Nhiệm vụ của hệ thống thông tin
Xét về quan điểm hệ thống, nhiệm vụ HTTT có các hoạt động đối nội và đối ngoại
Về đối ngoại: HTTT thu nhận thông tin từ môi trường bên ngoài và đưa thông tin ra môi trường bên ngoài Thí dụ như thông tin về giá cả, thị trường, sức lao động, nhu cầu hàng hóa…
Về đối nội: HTTT là cầu nối liên lạc giữa các bộ phận của hệ nghiệp vụ
Nó cung cấp cho hệ tác nghiệp, hệ quyết định các thông tin gồm hai loại tự nhiên và cấu trúc nhằm phản ánh cơ cấu tổ chức nội bộ và tình trạng hoạt động nghiệp vụ của hệ thống
Vai trò của hệ thống thông tin
HTTT đóng vai trò trung gian giữa hệ thống nghiệp vụ và môi trường, giữa hệ thống con quyết định và hệ thống con tác nghiệp Mỗi hệ thống con đều có đầu vào đầu ra Ngoài ra, HTTT cung cấp các thông tin cho các hệ quyết định và tác nghiệp Các thông tin xuất phát từ hệ tác nghiệp và hệ quyết định sẽ được HTTT chế biến, tổng hợp trước khi đưa ra môi trường bên ngoài
Trang 181.1.3 Các thành phần của hệ thống thông tin
Hình 1.2 Mô hình tổng quát HTTT
HTTT bao gồm năm thành phần chính:
- Phần cứng: là tập hợp các thiết bị kỹ thuật phục vụ cho việc để thu
thập , xử lý, lưu trữ và truyền thông tin
- Phần mềm: là tập hợp các chương trình hệ thống và chương trình ứng
dụng phục vụ cho HTTT quản lý
- Nguồn nhân lực: là chủ thể điều hành và sử dụng HTTT Tài nguyên
về nhân lực là thành phần rất quan trọng của HTTT nên tổ chức phải có kế hoạch đào tạo đội ngũ lao động tri thức có tay nghề cao để sử dụng HTTT, nó bao gồm 2 nhóm:
+ Nhóm 1: là những người sử dụng HTTT trong công việc hàng ngày của mình như các nhà quản lý, kế toán, nhân viên các phòng ban
+ Nhóm 2: là các phân tích viên hệ thống, lập trình viên, kỹ sư bảo hành máy là những người xây dựng và bảo trì HTTT quản lý
Trang 19- Hệ thống mạng: mạng máy tính là một tập hợp nhiều máy tính nối với
nhau bằng các đường truyền vật lý theo một kiến trúc nào đó nhằm chia sẻ các tài nguyên, dữ liệu, giữa các máy tính trên 1 mạng
- Dữ liệu: gồm các cơ sở dữ liệu Cơ sở dữ liệu phải được thu thập, lựa
chọn và tổ chức một cách khoa học theo một mô hình có cấu trúc xác định, tạo điều kiện cho người sử dụng có thể truy cập một cách dễ dàng, thuận tiện
và nhanh chóng
a Phân loại hệ thống thông tin
Phân loại theo mục đích phục vụ của thông tin đầu ra:
- Hệ thống thông tin xử lý giao dịch (TPS – Transaction Processing System)
- Hệ xử lý dữ liệu (DBS)
- Hệ thống thông tin quản lý (MIS – Management Informaton System)
- Hệ thống trợ giúp ra quyết định (DSS – Decision Support System)
- Hệ thống chuyên gia (ES – Expert System)
- Hệ thống tăng cường khả năng cạnh tranh (ISCA – Information System for Competitive Advantage)
Phân loại hệ thống thông tin trong tổ chức doanh nghiệp:
- Hệ thống thông tin tài chính
- Hệ thống thông tin Marketing
- Hệ thống thông tin quản lý kinh doanh và sản xuất
- Hệ thống thông tin quản trị nhân lực
- Hệ thống thông tin văn phòng
b Tầm quan trọng của một hệ thống thông tin
Như chúng ta đã thấy trước đây, quản lý có hiệu quả của một tổ chức dựa phần lớn vào chất lượng thông tin do các hệ thống thông tin chính thức
Trang 20sản sinh ra Dễ thấy rằng từ sự hoạt động kém của một hệ thống thông tin sẽ
là nguồn gốc gây ra những hậu quả xấu nghiêm trọng
Hoạt động tốt hay xấu của một HTTT được đánh giá thông qua chất lượng của thông tin mà nó cung cấp Tiêu chuẩn chất lượng của thông tin như sau:
Làm thế nào để có một hệ thống thông tin hoạt động tốt có hiệu quả cao
là một trong những công việc của bất kỳ một nhà quản lý hiện đại nào Đế giải quyết vấn đề đó cần phải xem xét cơ sở kỹ thuật cho các HTTT và phương pháp phân tích thiết kế và cài đặt HTTT
1.1.4 Phương pháp phát triển một hệ thống thông tin
a Nguyên nhân dẫn đến việc phát triển một HTTT
Câu hỏi đầu tiên của việc phát triển một hệ thống thông tin mới là cái gì bắt buộc một tổ chức phải tiến hành phát triển hệ thống thông tin? Như chúng
ta đã biết sự hoạt động tồi tệ của hệ thống thông tin, những vấn đề về quản lý
và việc thâm thủng ngân quỹ là những nguyên nhân đầu tiên thúc đẩy một yêu cầu phát triển hệ thống Nhưng cũng còn một số nguyên nhân khác nữa như những yêu cầu mới của nhà quản lý, sự thay đổi của công nghệ và cả sự thay đổi sách lược chính trị
b Phương pháp phát triển một hệ thống thông tin
Mục đích chính xác của dự án phát triển một hệ thống thông tin là có được một sản phẩm đáp ứng nhu cầu của người sử dụng, mà nó được hòa hợp vào trong các hoạt động của tổ chức, chính xác về mặt kỹ thuật, tuân thủ các giới hạn về tài chính và thời gian định trước
Trang 21Một phương pháp được định nghĩa như một tập hợp các bước và các công cụ cho phép tiến hành một quá trình phát triển hệ thống chặt chẽ nhưng
dễ quản lý hơn Phương pháp được đề nghị ở đây dựa vào ba nguyên tắc cơ sở chung của nhiều phương pháp hiện đại có cấu trúc để phát triển hệ thống thông tin Ba nguyên tắc đó là:
Nguyên tắc 1: Sử dụng các mô hình
Mô hình logic: cái gì? để làm gì?
Mô hình vật lý ngoài: cái gì? ở đâu? Khi nào?
Mô hình vật lý trong: như thế nào?
Nguyên tắc 2: Chuyển từ cái chung sang cái riêng
Đơn giản hoá, đi từ cái chung đến các chi tiết Mô hình hoá hệ thống bằng các chi tiết
Nguyên tắc 3: Chuyển mô hình vật lý sang mô hình logic khi phân tích
và từ mô hình logic sang mô hình vật lý khi thiết kế
Các công đoạn của phát triển một hệ thống thông tin gồm có 7 giai đoạn
Giai đoạn 1: Đánh giá yêu cầu
Giai đoạn 2: Phân tích chi tiết
Giai đoạn 3: Thiết kế lôgic
Giai đoạn 4: Đề xuất các phương án của giải pháp
Giai đoạn 5: Thiết kế vật lý ngoài
Giai đoạn 6: Triển khai kỹ thuật hệ thống
Giai đoạn 7: Cài đặt và khai thác
1.2 TRẮC N HIỆM KH CH QUAN
1.2.1 Khái niệm
Trắc nghiệm khách quan (tiếng Anh: Objective test) là một phương tiện kiểm tra, đánh giá về kiến thức hoặc để thu thập thông tin
Trang 22Nguồn gốc: Theo nghĩa chữ Hán, "trắc" có nghĩa là "đo lường","nghiệm"
là "suy xét", "chứng thực" Trắc nghiệm xuất hiện từ thế kỉ 19, do một nhà khoa học người Mỹ nghĩ ra nhằm đánh giá trí thông minh của con người Sau
đó, hai nhà tâm lý học người Pháp soạn ra bộ giáo án trắc nghiệm [9]
Ưu điểm của phương pháp TNKQ khi sử dụng cho kỳ thi là đánh giá bao phủ được một môn học hoặc chương trình học trong một thời gian ngắn do đó giảm thiểu sự may rủi, chấm điểm một cách khách quan và hết sức nhanh chóng nhờ máy móc, giảm thiểu được nạn “quay, cóp” Mặt khác, ưu điểm quan trọng của phương pháp TNKQ là nó cho phép sử dụng một quy trình lâu dài để chế tác, thử nghiệm, chỉnh sửa từng CH nhằm thu được các CH có chất lượng cao nhằm thiết kế nên một ĐTN tốt, đồng thời vẫn đảm bảo được tính
bí mật của ĐTN và có một khoa học đo lường hiện đại với những thành tựu to lớn hỗ trợ cho quy trình xây dựng các ĐTN thành các thước đo chuẩn xác, khoa học đó tạo khả năng thiết kế ĐTN tương đương để có thể tổ chức nhiều lần thi mà kết quả so sánh được với nhau
Bên cạnh đó phương pháp TNKQ có những hạn chế nhất định như học sinh có khuynh hướng đoán mò đáp án và không thấy rõ diễn biến tư duy của học sinh khi làm bài
1.2.2 Cách phân loại trắc nghiệm trong giáo dục
Trắc nghiệm theo nghĩa rộng là một hoạt động để đo lường năng lực của các đối tượng nào đó nhằm những mục đích xác định Trong giáo dục trắc nghiệm được tiến hành thường xuyên ở các kỳ thi, kiểm tra để đánh giá kết quả học tập, giảng dạy đối với một phần của môn học, toàn bộ môn học, đối với cả một cấp học; hoặc để tuyển chọn một số người có năng lực nhất vào học một khoá học
Có thể phân chia các phương pháp trắc nghiệm ra làm 3 loại: loại quan sát, loại vấn đáp và loại viết
Trang 23Hình 1.3 Sơ đồ phân loại phương pháp trắc nghiệm
Loại quan sát: Giúp xác định những thái độ, những kỹ năng thực hành
hoặc một số kỹ năng về nhận thức, chẳng hạn cách giải quyết vấn đề trong một tình huống đang được nghiên cứu
Loại vấn đáp Thường được dùng khi tương tác giữa người chấm và
người học là quan trọng, chẳng hạn cần xác định thái độ phản ứng khi phỏng vấn…
Loại viết: Thường được sử dụng nhiều nhất vì nó có những ưu điểm sau:
- Cho phép kiểm tra nhiều thí sinh một lúc
- Cho phép thí sinh cân nhắc nhiều hơn khi trả lời
- Đánh giá được một vài loại tư duy ở mức độ cao
- Cung cấp bản ghi rõ ràng các câu trả lời của thí sinh để dùng khi chấm
- Người ra đề không nhất thiết phải tham gia chấm bài
- Trắc nghiệm viết được chia thành 2 nhóm chính:
Trang 24- Nhóm các câu hỏi trắc nghiệm buộc trả lời theo dạng mở, thí sinh phải
tự trình bày ý kiến trong một bài viết dài để giải quyết vấn đề mà câu hỏi nêu
ra Người ta gọi trắc nghiệm theo kiểu này là kiểu tự luận (essay) Thi, kiểm tra tự luận rất quen biết với tất cả những ai đi học
- Nhóm các câu trắc nghiệm mà trong đó đề thi thường gồm rất nhiều câu hỏi, mỗi câu nêu ra một vấn đề cùng với những thông tin cần thiết sao cho thí sinh chỉ phải trả lời vắn tắt cho từng câu Người ta thường gọi nhóm các câu trắc nghiệm này là trắc nghiệm khách quan (objective test) Trắc nghiệm khách quan tuy còn mới trong nhà trường nhưng đã khá phổ biến trong xã hội, dạng đơn giản nhất được dùng trong các chương trình về an toàn giao thông trên truyền hình hàng ngày
Để tạo đề kiểm tra, đề thi theo phương pháp TNKQ thông thường có các kiểu câu hỏi trắc nghiệm như sau:
1.2.3 Các kiểu câu hỏi trắc nghiệm khách quan
Trong nhóm trắc nghiệm khách quan có nhiều loại câu hỏi, sau đây là những dạng câu hỏi thường được sử dụng trong các kỳ kiểm tra định kỳ hoặc các kỳ thi quốc gia [9]
a Câu đúng sai (yes/no question)
Đây là hình thức trắc nghiệm đơn giản nhất, thí sinh trả lời bằng cách chọn câu trả lời Đúng hoặc Sai Độ may rủi: 50%
Ví dụ câu trắc nghiệm về môn mạng máy tính:
Mô hình OSI có 7 lớp, đúng hay sai?
A Đúng B Sai
Đáp án: A
b Câu nhiều lựa chọn (multiple choise questions)
Gồm hai phần: Phần gốc là một câu hỏi hay một câu được bỏ lửng, phần trả lời bao gồm từ bốn đến sáu phương án nhưng chỉ có một phương án tối ưu,
Trang 25các phương án còn lại chỉ là "mồi nhử" Độ may rủi đối với câu hỏi có 4 phương án lựa chọn là: 25%
Ví dụ câu trắc nghiệm về môn mạng máy tính:
Địa chỉ Ipv4 được chia làm mấy lớp ?
Phần 1: Nội dung kiểm tra
Phần 2: Các câu trả lời tương ứng cho phần 1 nhưng bị xáo trộn vị trí,
trong đó có cả những câu đáp án không chính xác
Khi làm bài, thí sinh phải ghép hai phần thành từng cặp sao cho đúng nhất Độ may rủi: Gọi n là số câu hỏi có ở phần 1, m là số phương án trả lời ở phần 2 (thông thường thì m gấp 2, 3 lần n), quy tắc xác suất: Độ may rủi=n!/m! (rất thấp)
Ví dụ trắc nghiệm về mạng máy tính:
Hãy tìm ở cột bên phải đáp án tương ứng khi các phát biểu sau nói về môi truờng Client-Server:
1) Lệnh gốc nào sau đây cho phép thiết lập kết nối ?
2) Lệnh gốc nào sau đây cho phép gửi bản tin ?
3) Lệnh gốc nào sau đây cho phép kết thúc kết nối
a) SEND b) RECEIVE c) CONNECT d) DISCONNECT Đáp án: 1c; 2a; 3d
Trang 26d Câu điền khuyết (supply items)
Nêu một mệnh đề có khuyết một bộ phận, học sinh phải nghĩ ra nội dung thích hợp để điền vào chỗ trống Độ may rủi: không có
Ví dụ với câu trắc nghiệm mạng máy tính:
Trong mô hình phân lớp ranh giới giữa hai lớp liền kề được gọi là… Đáp án: “giao diện”
Về nguyên tắc, một nội dung bất kỳ nào cần kiểm tra đều có thể được thể hiện vào một câu hỏi trắc nghiệm theo một kiểu nào đó Vì thế đối với tất cả các môn học người ta đều có thể chế tác câu hỏi trắc nghiệm Tuy nhiên do đặc thù môn học mà việc chế tác trắc nghiệm cho môn này có thể khó hơn môn kia
Trong các kiểu câu hỏi trắc nghiệm, kiểu câu nhiều lựa chọn được sử dụng phổ biến hơn cả vì chúng có cấu trúc đơn giản, dễ xây dựng thành các bài thi, dễ chấm điểm Vì thế, các kỳ thi tốt nghiệp quốc gia thường chọn câu trắc nghiệm dạng nhiều lựa chọn trong đề thi
Ðể ra ÐTN với kiểu câu hỏi dạng nhiều lựa chọn (multiple choise questions) cần tuân theo các nguyên tắc ra đề
1.2.4 Những nguyên tắc ra đề thi trắc nghiệm loại nhiều lựa chọn
Khi ra câu hỏi trắc nghiệm chúng ta cần tuân thủ theo những nguyên tắc chung cho mọi loại câu hỏi Đối với loại câu hỏi nhiều lựa chọn, thì chúng ta cần tuân thủ theo các nguyên tắc sau :
- Sử dụng ngôn ngữ phù hợp với người học
- Không hỏi quan điểm riêng của học sinh, chỉ hỏi sự kiện, kiến thức
- Các phương án sai phải hợp lý và chỉ nên dùng 4 hoặc 5 phương án chọn
- Đảm bảo mọi câu dẫn nối liền với mọi phương án chọn theo đúng ngữ pháp
- Chỉ có một phương án chọn là đáp án đúng
- Tránh dùng câu phủ định hoặc phủ định hai lần
Trang 27- Tránh việc làm cho phương án đúng khác biệt so với phương án nhiễu
- Phải sắp xếp phương án đúng và các phương án nhiễu theo thứ tự ngẫu nhiên
- Ngoài những nguyên tắc chung trên, chúng ta cũng cần để ý đến một vài tham số nó cũng làm ảnh hưởng đến kết quả đánh giá thí sinh
1.2.5 Các tham số đặc trưng cho một câu hỏi và đề thi trắc nghiệm
Để nghiên cứu định lượng với số liệu chi tiết hơn cho các CH hoặc ĐTN người ta phải đưa vào các tham số đặc trưng Khi soạn thảo xong một CH hoặc một ĐTN người soạn thảo chưa thể xác định các tham số đó, vì chúng chỉ được xác định bằng phương pháp thống kê từ kết quả trả lời của thí sinh đối với các CH
Theo lý thuyết trắc nghiệm cổ điển
Độ khó: Độ khó p bằng tỷ số phần trăm thí sinh làm đúng CH trên tổng
số thí sinh tham gia làm CH đó
Độ khó p của câu thứ i= Tổng số thí sinh làm đúng CH
Tổng số thí sinh tham gia làm
Độ khó của một câu hỏi trắc nghiệm chấp nhận được trong khoảng 0,25– 0,75
Độ phân biệt: Để phân biệt trong nhóm thí sinh có những người có năng
lực khác nhau: giỏi, trung bình, kém…
S: Số lượng thí sinh của một trong hai nhóm nói trên (27 % tổng số)
Độ tin cậy: Độ tin cậy của ĐTN chính là đại lượng biểu thị mức độ
chính xác của phép đo Cho biết bài trắc nghiệm đo cái cần đo ổn định đến
Trang 28mức nào Có nhiều cách để tính độ tin cậy của ĐTN như phương pháp trắc nghiệm – trắc nghiệm lại, phương pháp các ĐTN tương đương, phương pháp phân đôi ĐTN, phương pháp Kuder-Richardson
Ta xét phương pháp phân đôi bài trắc nghiệm vì dễ thực hiện
Phương pháp phân đôi bài trắc nghiệm
Bài trắc nghiệm được chia thành 2 phần tương đương nhau về tính chất, nội dung và độ khó của câu hỏi
Phân đôi đề thi TNKQ thành 2 đề:
- Đề 1 gồm các câu lẻ
- Đề 2 gồm các câu chẵn
Gọi X, Y tương ứng là đại lượng điểm của đề 1 và đề 2 (xác định trên từng sinh viên)
Công thức Spearman – Brown tính hệ số tin cậy của đề thi
- Tính hệ số tương quan giữa X và Y:
= ̅̅̅̅ ̅ ̅ Trong đó: là hệ số tương quan
̅̅̅̅ là trung bình của tích XY ̅, ̅ lần lượt là trung bình của X, Y
Trang 29Ví dụ: Phân tích một đề TNKQ của Học kỳ 13.2A
Đề thi cuối kỳ gồm 2 phần ( tự luận và TNKQ), trong đó phần tự luận được 4 điểm, phần TNKQ gồm 30 câu hỏi, mỗi câu làm đúng được 0,2 điểm, điểm tối đa là 6
Mỗi câu hỏi có 4 phương án trả lời nên điểm may rủi toàn bài là 1,5 Điểm trung bình lý thuyết là: I = (6 + 1,5) : 2 = 3,75
Khảo sát bài làm của 196 sinh viên, điểm trung bình: E = 3,57
Độ giá trị: Độ giá trị của ĐTN là đại lượng biểu thị mức độ đạt được
mục tiêu đề ra cho phép đo nhờ ĐTN
1.2.6 Chất lượng của các câu hỏi và đề thi trắc nghiệm
a Mục tiêu giảng dạy là cơ sở quan trọng để xây dựng các đề thi trắc nghiệm
Để một đề trắc nghiệm đo được cái cần đo, tức là đo được mức độ đạt các mục tiêu cụ thể của môn học, cần phải thiết kế và viết đề thi trắc nghiệm bám sát mục tiêu của môn học Một đề thi tốt kết hợp với việc tổ chức kỳ thi tốt sẽ làm cho kỳ thi đạt được độ giá trị cao
Một công cụ thuận lợi để thiết kế các thành phần của một đề trắc nghiệm
là bảng các mục tiêu giảng dạy Trong bảng đó có chia ra các hàng ứng với các phần của môn học, và các cột ứng với các mức kỹ năng liên quan đến mục
Trang 30tiêu cơ thể Ứng với mỗi ô của bảng người ta ghi số câu hỏi cần xây dựng cho bài trắc nghiệm
b Độ khó và độ phân biệt của các câu trắc nghiệm
Độ khó
Khi nói đến độ khó, hiển nhiên phải xem câu trắc nghiệm là khó đối với đối tượng nào Nhờ việc thử nghiệm trên các đối tượng thí sinh phù hợp, người ta có thể đo độ khó bằng tỷ số phần trăm thí sinh làm đúng câu trắc nghiệm đó trên tổng số thí sinh dự thi:
Khi soạn thảo xong một câu hoặc một bài trắc nghiệm người soạn chỉ có thể ước lượng độ khó hoặc độ phân biệt của nó bằng cảm tính Độ lớn của các đại lượng đó chỉ có thể tính được cụ thể bằng phương pháp thống kê sau lần trắc nghiệm thử, dựa vào kết quả thu được từ các câu và bài trắc nghiệm của thí sinh
Để xét độ khó của cả một bài trắc nghiệm, người ta có thể đối chiếu điểm số trung bình của bài trắc nghiệm và điểm trung bình lý tưởng của nó Giả sử có bài trắc nghiệm 50 câu, mỗi câu có 5 phương án trả lời Điểm tối đa
là 50, điểm có thể đạt được do chọn hú họa là 0,2x50=10, điểm trung bình lý tưởng là (50+10)/2=30 Nếu điểm trung bình quan sát được trên hay dưới 30 quá xa thì bài trắc nghiệm ấy sẽ là quá dễ hay quá khó Khi chọn lựa các câu trắc nghiệm theo độ khó người ta thường phải loại các câu quá khó (không ai làm đúng) hoặc quá dễ (ai cũng làm đúng) Một bài trắc nghiệm tốt khi có nhiều câu hỏi ở độ khó trung bình
Độ phân biệt
Khi ra một câu hoặc một bài trắc nghiệm cho một nhóm thí sinh nào đó, người ta thường muốn phân biệt nhóm ấy thành những người có năng lực khác nhau: giỏi, khá, trung bình…Khả năng của câu trắc nghiệm thực hiện được sự phân biệt ấy được gọi là độ phân biệt
Trang 31Độ phân biệt của một câu hoặc một bài trắc nghiệm liên quan đến độ khó Thật vậy, nếu một bài trắc nghiệm dễ đến mức mọi thí sinh đều làm tốt, các điểm số đạt được chụm ở phần điểm cao, thì độ phân biệt của nó rất kém,
vì mọi thí sinh đều có phản ứng như nhau đối với bài trắc nghiệm đó Cũng giống vậy, nếu một bài trắc nghiệm khó đến mức mọi thí sinh đều không làm được, các điểm số đạt được chụm ở phần điểm thấp, thì độ phân biệt của nó cũng rất kém Từ các trường hợp giới hạn nói trên có thể suy ra rằng muốn có
độ phân biệt tốt thì bài trắc nghiệm phải có độ khó ở mức trung bình
c Độ tin cậy, độ giá trị của một bài trắc nghiệm
Độ giá trị
Yêu cầu quan trọng nhất của bài trắc nghiệm với tư cách là một phép đo lường trong giáo dục là phép đo ấy đo được cái cần đo Hay nói cách khác, độ giá trị của bài trắc nghiệm là đại lượng biểu thị mức độ đạt được mục tiêu đề
ra cho phép đo nhờ bài trắc nghiệm
Để bài trắc nghiệm có độ giá trị cao, cần phải xác định tỉ mỉ mục tiêu cần
đo qua bài trắc nghiệm và bám sát mục tiêu đó trong quá trình xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm cũng như khi tổ chức triển khai kỳ thi Nếu thực hiện các quá trình nói trên không đúng thì có khả năng kết quả của phép đo sẽ phản ánh một cái gì khác chứ không phải cái mà ta muốn đo nhờ bài trắc nghiệm
Qua định nghĩa về độ tin cậy và độ giá trị chúng ta có thể thấy rõ mối
Trang 32tương quan giữa chúng Khi bài trắc nghiệm không có độ tin cậy, tức là phép
đo nhờ bài trắc nghiệm rất kém chính xác, thì chúng ta không thể nói đến độ giá trị của nó Nói cách khác, khi bài trắc nghiệm không có độ tin cậy thì nó cũng không thể có độ giá trị
1.2.7 Phân tích và đánh giá một bài trắc nghiệm
Để hoàn thiện các bài trắc nghiệm người ta phải triển khai các trắc nghiệm thử Trắc nghiệm thử là một phép đo kép: dùng bài trắc nghiệm để thử năng lực các thí sinh, đồng thời sử dụng thí sinh để đo chất lượng các câu trắc nghiệm và bài trắc nghiệm
Hai đại lượng quan trọng thường được dựa vào để đánh giá một bài trắc nghiệm là độ tin cậy và độ giá trị Bài trắc nghiệm muốn có độ giá trị tất yếu phải có độ tin cậy, tuy nhiên bài trắc nghiệm có độ tin cậy chưa hẳn có độ giá trị Có thể làm tăng độ tin cậy của bài trắc nghiệm khi tăng mức độ thuần nhất
về nội dung của nó, nhưng để tăng mức độ thuần nhất, chẳng hạn tước bỏ bớt các câu hỏi khó, đôi khi phải hy sinh độ giá trị Trong những trường hợp đó nên coi trọng độ giá trị hơn là độ tin cậy
1.2.8 So sánh kiểm tra TNKQ và tự luận
Bảng 1.1 So sánh kiểm tra TNKQ và tự luận
Chấm bài nhanh, chính xác và khách
quan
Chấm bài mất nhiều thời gian, khó chính xác và khách quan
Có thể sử dụng các phương tiện hiện
đại trong chấm bài và phân tích kết
quả kiểm tra
Không thể sử dụng các phương tiện hiện đại trong chấm bài và phân tích kết quả kiểm tra Cách chấm bài duy nhất là giáo viên phải đọc bài của học sinh
Trang 33Trắc nghiệm khách quan Tự luận
Có thể tiến hành kiểm tra đánh giá
trên diện rộng trong một khoảng thời
gian ngắn
Mất nhiều thời gian để tiến hành
kiểm tra trên diện rộng
Biên soạn khó, tốn nhiều thời gian,
thống và toàn diện kiến thức và kĩ
năng của học sinh, tránh được tình
trạng học tủ, dạy tủ
Bài kiểm tra chỉ có một số rất hạn chế câu hỏi ở một số phần, số chương nhất định nên chỉ có thể kiểm tra được một phần nhỏ kiến thức và kĩ năng của học sinh, dễ gây ra tình
Không hoặc rất khó đánh giá được
khả năng diễn đạt, sử dụng ngôn ngữ
và quá trình tư duy của học sinh để đi
đến câu trả lời
Có thể đánh giá được khả năng diễn đạt, sử dụng ngôn ngữ và quá trình tư duy của học sinh để đi đến câu trả lời Thể hiện ở bài làm của học sinh
Không rèn luyện cho HS khả năng
trình bày, diễn đạt ý kiến của mình
Học sinh khi làm bài chỉ chọn câu trả
lời đúng có sẵn
Góp phần rèn luyện cho học sinh khả năng trình bày, diễn đạt ý kiến của mình
Sự phân phối điểm trải trên một phổ
rất rộng nên có thể phân biệt được rõ
Sự phân phối điểm trải trên một phổ hẹp nên khó có thể phân biệt được rõ
Trang 34Trắc nghiệm khách quan Tự luận
1.2.9 Ứng dụng thi trắc nghiệm ở Việt Nam
Năm 1974, kỳ thi tú tài IBM (International Business Machines) ở miền Nam Việt Nam ghi dấu mốc đầu tiên trong việc áp dụng hình thức thi trắc
nghiệm khách quan ở nước ta, đến năm 1996 tại Đà Lạt đã thử nghiệm thi tuyển
đại học Hiện nay, Bộ GD&ĐT có chủ trương từng bước đưa phương pháp TNKQ vào kỳ thi tuyển sinh đại học và kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông, nâng cao chất lượng các kỳ thi Thực hiện các chủ trương nói trên như sau: Đưa dần phương pháp TNKQ vào kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông
và thi tuyển sinh đại học được hoạch định:
- Năm 2006: Đưa vào môn Ngoại ngữ
- Năm 2007: Thêm môn Vật Lý, Hóa học, Sinh học
- Năm 2009 đến nay: Phần lớn các môn còn lại, trừ môn Văn có thêm phần tự luận
Ngày 9/10, Bộ GD&ĐT đã họp và quyết định cấu trúc và hình thức đề thi tốt nghiệp trung học phổ thông, tuyển sinh đại học, cao đẳng năm 2009 Theo đó, các môn Vật Lý , Hóa học, Sinh học, Ngoại ngữ thi trắc nghiệm Đối với cấp bậc Cao đẳng, Đại học ở Việt Nam hiện nay, thay đổi hình thức giảng dạy và chuyển đổi dần hình thức đánh giá thông qua đề thi trắc nghiệm cũng đang được chú trọng Cụ thể vào tháng 6 năm 2010 tại trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng, đã tổ chức buổi tiến hành triển khai buổi tập huấn
Trang 35cho các Giảng viên về việc soạn thảo câu hỏi trắc nghiệm và sử dụng phần mềm liên quan Thầy Hiệu trưởng nhà trường, TS.Nguyễn Bảo Hoàng Thanh,
đã nhận định: “Công việc xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm đã bắt đầu được tiến hành tại Đại học Đà Nẵng từ năm 1994, song cho đến nay vẫn còn nhiều khó khăn, nên việc tiếp thu, vận dụng phương pháp và kỹ thuật
Từ năm học 2014-2015, Bộ GD&ĐT đã ghép 2 kỳ thi tốt nghiệp THPT
và tuyển sinh đại học, cao đẳng thành 1 đợt thi với 8 môn thi trong đó có 4 môn thi theo hình thức trắc nghiệm
Thực tế tại trường, nơi tôi công tác số lượng môn thi trắc nghiệm cũng dần tăng Hiện tại có khoảng 20% tỷ lệ học phần thi với hình thức thi trắc nghiệm so với tổng số môn học Trong đó có các hình thức thi khác như: tự luận; bảo vệ đồ án Bên cạnh đó, công tác ra đề thi trắc nghiệm cũng được nâng cao Bởi lẽ tuy hình thức thi này có nhiều ưu điểm, nhưng để tận dụng được những ưu điểm đó thì chính cách thức ra các câu hỏi trắc nghiệm ấy cũng góp phần rất quan trọng
1.3 MỘT SỐ HỆ THỐNG THI TRẮC NGHIỆM TRỰC TUYẾN
Hiện nay nhiều trường Đại học, Cao đẳng, Trung học phổ thông trong cả nước đều có kho dữ liệu chứa các đề thi, các giáo án, tài liệu giảng dạy vô cùng phong phú, hỗ trợ cho học tập và giảng dạy của sinh viên và giảng viên rất tốt Trong phần này tôi chọn 3 trang Web viết bằng 3 ngôn ngữ khác nhau:
mã nguồn mở Moodle, ASP và PHP để khảo sát tìm hiểu các kho đề thi trắc nghiệm đã có về cách tổ chức kiểm tra Trên cơ sở đó, chúng ta có thể so sánh
ưu và nhược điểm các tính năng hiện các trang Web đó đang có
1.3.1 Ngân hàng đề thi trắc nghiệm vật lý
a Giới thiệu
Trang Web được đăng nhập thông qua đường link:
http://tracnghiem.thuvienvatly.com/, được viết dựa trên nền tảng của phần
Trang 36mềm mã nguồn mở (Moodle) với giao diện thân thiện, sinh động
Hình 1.4 Giao diện trang chủ
Hiện có 10.199 câu hỏi trực tuyến dành cho các lớp: Ôn thi tốt nghiệp THPT, khối lớp 10, khối lớp 11 và khối lớp 12 Đề thi có sự phân biệt về cấp
độ khó: khó, trung bình và dễ Các câu hỏi trắc nghiệm thuộc dạng câu có nhiều lựa chọn cụ thể là câu có 4 lựa chọn và chỉ có 1 đáp án đúng Đề thi có giới hạn thời gian làm bài, mỗi câu hỏi trắc nghiệm được ấn định có điểm số
là 1 Cuối mỗi lần thi, có hiển thị kết quả làm bài: được bao nhiêu điểm và có hiển thị hướng dẫn giải và các đáp án đúng của đề thi Nhưng muốn sử dụng chức năng này phải nộp tiền vào tài khoản
Trang 37Hình 1.5 Giao diện tham gia kiểm tra thử
b Các chức năng
- Tham gia kiểm tra trắc nghiệm online
- Tham gia vào lớp học online cho cả đối tượng học: Học sinh và Giáo viên
- Có thể download được: Đề thi trắc nghiệm, giáo án, tài liệu và phần mềm
- Xem và download bài giảng dưới dạng tệp tin video
- Tham gia diễn đàn
Ngoài ra, hệ thống còn có các tính năng khác như: cập nhật ngân hàng câu hỏi, chọn đề kiểm tra,… Tuy nhiên, muốn thực hiện phải được cấp quyền
sử dụng từ Admin
Trang 381.3.2 Ngân hàng đề thi của Sở giáo dục và Đào tạo Thừa Thiên Huế
a Giới thiệu
Ngân hàng đề thi và kho tư liệu kiến thức của Sở GD&ĐT Thừa Thiên
Huế có địa chỉ http://www.thuathienhue.edu.vn Trang Web được xây dựng
trên môi trường ASP Nguồn tài nguyên gồm có: giáo án điện tử, sách điện tử, tài liệu bài giảng và đề thi rất phong phú Cho phép người dùng có thể truy cập tự do và download dễ dàng dưới nhiều dạng file khác nhau
Hình 1.6 Trang chủ website của Sở giáo dục và Đào tạo Thừa Thiên Huế
b Các chức năng
- Thường xuyên cập nhật cung cấp các thông tin và các văn bản mới của ngành Giáo dục
- Nguồn tài liệu phong phú chủ yếu các môn Toán, Lý, Hóa, Sinh, Anh
để phục vụ các em học sinh cấp 3 chuẩn bị thi tốt nghiệp THPT
- Để khắc phục cho hạn chế của trang Web là không có chức năng thi hoặc kiểm tra trắc nghiệm; trang Web có cung cấp phần mềm luyện thi trắc nghiệm toán, Anh văn Nguồn của phần mềm này được cung cấp từ trang:
http://thuathienhue.edu.vn/khaothi/DETHI/phanmemluyenthi.htm
Trang 39Hình 1.7 Giao diện kho dữ liệu
1.3.3 Ngân hàng đề thi Vnschool net
a Giới thiệu
Địa chỉ của trang Web: http://vnschool.net/ Đây là trang Web của Công
ty Công nghệ Tin học Nhà trường School@net viết bằng ngôn ngữ PHP Công ty thành lập tháng 12/1998 với mục đích duy nhất là thiết kế các giải pháp phần mềm ứng dụng Tin học trong Nhà trường Công ty School@net đã đăng ký bản quyền tác giả và nhãn hiệu thương mại với hơn 30 sản phẩm quan trọng của mình, là một trong các công ty có số lượng bản quyền tác giả phần mềm được đăng ký nhiều nhất tại Việt Nam Trang Web có kho đề thi phong phú, hiện tại áp dụng kiểm tra thử trực tuyến với các môn học: Vật lý, Hóa, Sinh, Anh văn, Toán Địa chỉ tham gia luyện thi tại: http://vnschool.net/testonline/index.php Đề thi đã được tạo sẵn, với số câu hỏi trong mỗi đề và thời gian làm bài đã được ấn định trước
Trang 40Hình 1.8 Giao diện thi trắc nghiệm trực tuyến
Sau khi thí sinh chọn môn học và đề kiểm tra thử thì hệ thống yêu cầu điền thông tin và tiến hành kiểm tra Kết quả kiểm tra hiển thị điểm và kết quả đúng hoặc sai đối với những câu hỏi đã chọn lựa câu trả lời Tuy nhiên có phần hạn chế của phần kết quả này là không hiển thị đáp án như một số trang Web khác
b Các chức năng
- Trang Web này cung cấp khá đầy đủ các tính năng phục vụ cho việc học của người học và hỗ trợ công tác giảng dạy cho giảng viên Đối tượng chủ yếu dành cho các em học sinh cấp 1 hoặc cấp 2 Để tham khảo về các phần mềm dùng thử chúng ta có thể tìm hiểu qua trang Web: http://vnschool.net/modules.php?name=Files
- Giới thiệu các sản phẩm phần mềm mà công ty đã phát triển và đang