1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng hệ thống hỗ trợ tư vấn hướng nghiệp tại trường thpt nguyễn huệ tỉnh quảng nam

95 55 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 3,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một bộ phận học sinh chưa ý thức đúng về việc tham gia hoạt động giáo dục hướng nghiệp nên còn xem nhẹ hoạt động này, hậu quả là lúng túng khi chọn ngành chọn nghề, chọn nghề không phù h

Trang 1

TRẦN VĂN CHƯƠNG

XÂY DỰNG HỆ THỐNG

HỖ TRỢ TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP TẠI TRƯỜNG THPT NGUYỄN HUỆ

TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ HỆ THỐNG THÔNG TIN

Đà Nẵng - Năm 2016

Trang 2

TRẦN VĂN CHƯƠNG

XÂY DỰNG HỆ THỐNG

HỖ TRỢ TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP TẠI TRƯỜNG THPT NGUYỄN HUỆ

TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành: Hệ thống thông tin

Mã số: 60.48.01.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ HỆ THỐNG THÔNG TIN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Vo Trung Hu ng

Đà Nẵng - Năm 2016

Trang 3

Tôi xin cam đoan:

Những nội dung trong luận văn này là do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn trực tiếp của PGS.TS Võ Trung Hùng

Mọi tham khảo dùng trong luận văn đều được trích dẫn rõ ràng tên tác giả, tên công trình, thời gian, địa điểm công bố

Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm quy chế đào tạo, hay gian trá, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Tác giả

Trần Văn Chương

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 6

1.1 HỆ CHUYÊN GIA 6

1.1.1 Khái niệm 6

1.1.2 Đặc trưng và ưu điểm của hệ chuyên gia 7

1.1.3 Kiến trúc tổng quát của hệ chuyên gia 10

1.1.4 Biểu diễn tri thức trong hệ chuyên gia 13

1.1.5 Kỹ thuật suy luận trong hệ chuyên gia 14

1.1.6 Hệ chuyên gia dựa trên luật 17

1.2 LÝ THUYẾT CHỌN NGHỀ NGHIỆP 21

1.2.1 Lý thuyết cây nghề nghiệp 21

1.2.2 Lý thuyết mật mã Holland 23

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 27

CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH, THIẾT KẾ HỆ THỐNG 28

2.1 TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG 28

2.2 MÔ TẢ HỆ THỐNG HỖ TRỢ TƯ VẤN TUYỂN SINH 29

2.2.1 Mô tả hiện trạng về trường THPT Nguyễn Huệ 29

2.2.2 Mô tả hệ thống hỗ trợ tư vấn hướng nghiệp 31

2.2.3 Bài toán tư vấn hướng nghiệp 31

Trang 5

2.3.1 Phân tích lý thuyết nghề nghiệp 37

2.3.2 Biểu đồ lớp 44

2.3.3 Biểu đồ hoạt động 46

2.3.4 Biểu đồ ca sử dụng 47

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 48

CHƯƠNG 3 XÂY DỰNG VÀ KIỂM THỬ HỆ THỐNG 49

3.1 LỰA CHỌN CÔNG CỤ PHÁT TRIỂN 49

3.2 XÂY DỰNG HỆ THỐNG 49

3.2.1 Cách xây dựng tập luật 49

3.2.2 Cách xây dựng bộ máy suy diễn 73

3.2.3 Xây dựng các chức năng 74

3.3 KẾT QUẢ KIỂM THỬ 75

3.3.1 Giao diện màn hình chính 75

3.3.2 Một số chức năng dành cho quản trị viên 77

3.3.3 Một số chức năng dành cho chuyên gia 78

3.3.4 Giao diện màn hình tư vấn 79

3.3.5 Đánh giá kết quả chương trình 82

KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN 83 TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (luận văn)

Trang 7

ES Expert System

PHP Personal Home Page (hay Hypertext

PreProcessor) RIASEC Realistic-Investigate-Artistic-Social-

Enterissing- Conventional

Trang 8

Số hiệu Tên bảng Trang

1.1 Bảng so sánh giữa chuyên gia con người và HCG 7 2.1 Danh sách các nhóm ngành nghề trong hệ thống tư vấn 34 2.2 Bảng tóm tắt 6 nhóm tính cách/môi trường làm việc 39

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

1.1 Những thành phần cơ bản của một HCG 10

1.6 Quy trình hoạt động của Recognize-Action 18

3.4 Giao diện màn hình thêm tài khoản người dùng mới 77 3.5 Giao diện thêm thông tin ngành mới 78

3.9 Giao diện màn hình tư vấn dựa trên LTCNN 80

Trang 10

3.10 Xem gợi ý các nhóm ngành trong tƣ vấn 81 3.11 Giao diện màn hình tƣ vấn dựa trên LTMM Holland 81 3.12 Xem gợi ý các nhóm ngành trong tƣ vấn 82

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây, công tác tư vấn hướng nghiệp đã giúp cho thanh thiếu niên chọn được nghề phù hợp Nhờ đó thanh thiếu niên có thể phát huy khả năng làm việc, khả năng sáng tạo, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, hạn chế nạn thất nghiệp, giảm bớt gánh nặng cho xã hội, tránh lãng phí về đào tạo và sử dụng lao động hợp lý

Việt Nam có cơ cấu dân số tương đối trẻ, đây là một thế mạnh rất lớn

để thực hiện mục tiêu “công nghiệp hóa – hiện đại hóa” dựa trên lợi thế và

tiềm năng của nguồn nhân lực Để chọn được cho mình một công việc ổn định và phù hợp để sinh sống và phát triển là một việc không dễ Trên thực

tế, có rất nhiều người phải thất nghiệp hay phải làm việc không đúng với chuyên môn là khá phổ biến, không cảm thấy hứng thú và muốn gắn bó với nghề nghiệp mà mình đã chọn Điều này đã gây nên sự lãng phí nhân lực rất lớn và phân bố nhân lực không hợp lý

Theo thống kê của Tổng cục thống kê, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước ước tính đến thời điểm 01/4/2016 là 54,4 triệu người Trong

đó lao động 15 tuổi trở lên có việc làm trong quý I năm 2016 ước tính chỉ 53,3 triệu người Như vậy tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động của quý I/2016 ước tính là 2,23% Riêng số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động có trình độ Đại học trở lên chiếm 3,96% tổng số người thất nghiệp [9] Quảng Nam là một trong hai tỉnh được tổ chức VVOB (Cơ quan Hợp tác phát triển và Hỗ trợ kĩ thuật vùng Fla - măng, Vương quốc Bỉ - là một tổ chức hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục Việt Nam) chọn để thực hiện các nội dung Giáo dục hướng nghiệp qua Hoạt động giáo dục nghề phổ thông theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo

Trang 12

Trường THPT Nguyễn Huệ là một trong những trường THPT của Quảng Nam hàng năm đã xây dựng kế hoạch và tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo các quy định trên Ngoài ra, hằng năm nhà trường còn liên kết với các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp tổ chức tư vấn cho học sinh lớp 12 về chọn ngành chọn nghề trước khi các em làm hồ sơ thi tuyển hoặc xét tuyển vào các trường đại học, cao đẳng

Tuy có nhiều cố gắng để tổ chức các hoạt động giáo dục hướng nghiệp nhưng nhà trường vẫn còn gặp nhiều khó khăn, một số tồn tại cần được nghiên cứu để khắc phục như: cơ sở vật chất còn thiếu, tư liệu dành cho học sinh gần như không có Việc tổ chức cho học sinh tham quan các cơ sở sản xuất, các xí nghiệp, nhà máy liên quan đến một số ngành nghề tại địa phương chưa thực hiện được nhiều do không có kinh phí và thời gian để tổ chức Một

bộ phận học sinh chưa ý thức đúng về việc tham gia hoạt động giáo dục hướng nghiệp nên còn xem nhẹ hoạt động này, hậu quả là lúng túng khi chọn ngành chọn nghề, chọn nghề không phù hợp với khả năng, sở thích, cá tính của bản thân, không xác định được giá trị nghề nghiệp và nhu cầu của xã hội

về nghề mình chọn Việc tư vấn nghề và chọn trường cho học sinh còn mang tính mùa vụ, chưa được thực hiện thường xuyên, liên tục Một số tác động bất lợi từ bên ngoài như sinh viên nhiều ngành nghề sau khi được đào tạo, tốt nghiệp ra trường không có việc làm, hiện tượng “thừa thầy thiếu thợ” đang diễn ra phổ biến, có tính chất ngày càng gay gắt, tạo nên những bức xúc trong

xã hội nên ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý chọn ngành chọn nghề của học sinh phổ thông

Với thực tế nêu trên, bản thân tôi đã có nhiều suy nghĩ làm sao để nâng cao hiệu quả của giáo dục hướng nghiệp, gây chuyển biến nhận thức, giúp các

em học sinh của Trường THPT Nguyễn Huệ nói riêng và học sinh THPT nói chung có được những nhận thức đúng đắn về nghề nghiệp mình gắn bó trong

Trang 13

tương lai thông qua việc tham gia tích cực các hoạt động hướng nghiệp khi đang ngồi trên ghế nhà trường phổ thông Chính vì vậy, tôi quyết định chọn

đề tài: “Xây dựng hệ thống hỗ trợ tư vấn hướng nghiệp tại Trường THPT

Nguyễn Huệ Tỉnh Quảng Nam” Trong đề tài này, tôi đề xuất giải pháp ứng

dụng hệ chuyên gia để xây dựng hệ thống hỗ trợ tư vấn hướng nghiệp trực tuyến giúp các em học sinh có thể định hướng được ngành nghề phù hợp sau này, góp một phần nhỏ cho xã hội, phát triển nền kinh tế, giảm tỉ lệ nạn thất nghiệp

2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu và xây dựng hệ chuyên gia ứng dụng trong lĩnh vực hỗ trợ tư vấn hướng nghiệp học sinh trung học phổ thông

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

- Học sinh Trường trung học phổ thông Nguyễn Huệ, Quảng Nam

- Cơ sở lý thuyết về kho dữ liệu tri thức, hệ chuyên gia, hoạt động lý thuyết và tư vấn nghề nghiệp, ngôn ngữ lập trình mã nguồn mở PHP, một số bài báo và luận văn tốt nghiệp khóa trước

Phạm vi nghiên cứu

- Số liệu được thu thập từ học sinh Trường trung học phổ thông Nguyễn Huệ, Quảng Nam

- Tập trung nghiên cứu cách tạo cách tập luật, lưu trữ tri thức vào cơ sở

dữ liệu, cách biểu diễn cũng như cơ chế suy diễn từ tri thức có sẵn để đưa vào các tư vấn phù hợp cho học sinh Bên cạnh đó, đề tài chỉ gói gọn phạm vi tìm hiểu những tồn tại, bất cập trong tư vấn hướng nghiệp tại Trường trung học phổ thông Nguyễn Huệ để từ đó xây dựng một hệ thống hỗ trợ tư vấn theo mô hình kiến trúc của hệ chuyên gia

Trang 14

4 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được những yêu cầu trên, tôi sử dụng chủ yếu hai phương pháp chính là phương pháp nghiên cứu tài liệu và phương pháp thực nghiệm

Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tôi sử dụng phương pháp này trong

nghiên cứu các tài liệu về cơ sở lý thuyết: hệ chuyên gia, cách tạo tập luật; các tài liệu mô tả một số hệ thống tư vấn

Phương pháp thực nghiệm:

- Tư vấn cá nhân

- Sử dụng phiếu điều tra nhằm làm sáng tỏ thực trạng nhu cầu tư vấn

h ư ớ n g nghiệp của học sinh trung học phổ thông và những nguyên nhân của thực trạng đó nhất là học sinh lớp 12

Từ kết quả khảo sát, tôi tiến hành phân tích các yêu cầu và thiết kế giải pháp tư vấn hướng nghiệp dựa trên hệ chuyên gia Kết quả hệ thống được xây dựng sẽ được kiểm thử trên máy cục bộ và trên Internet

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Về khoa học: Đề tài sẽ góp phần thúc đẩy việc nghiên cứu các mô hình

kiến trúc hệ chuyên gia và đưa ra giải pháp phù hợp trong lĩnh vực tư vấn

Về thực tiễn: Ứng dụng tại trường THPT Nguyễn Huệ, Quảng Nam,

giúp học sinh hiểu rõ hướng nghiệp và chọn được ngành nghề phù hợp với khả năng, giảm tỷ lệ thất nghiệp trên địa bàn Đồng thời đề tài cũng trở thành một kênh thông tin bổ ích cho các em học sinh cuối cấp quyết định cho tương lai của mình

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Ba o ca o cu a luân văn đươc tô chư c tha nh 3 chương chính:

Chương 1 Cơ sở lý thuyết

Trong chương này, chúng tôi tr nh bày một cách tổng quan về hệ chuyên gia và một số lý thuyết trong hướng nghiệp

Trang 15

Chương 2 Phân tích, thiết kế hệ thống

Trong chương này, từ phân tích thực trạng TVHN tại trường THPT Nguyễn Huệ hằng năm, chúng tôi trình bày hướng khắc phục những hạn chế trên bằng cách mô tả một hệ thống để tin học hóa quá trình TVHN Đồng thời, nội dung chương này cũng đề xuất giải pháp xây dựng hệ thống theo mô hình của hệ chuyên gia (HCG) Bên cạnh đó, nội dung chương cũng trình bày sự phân tích các lý thuyết về hướng nghiệp như lý thuyết cây nghề nghiệp, lý thuyết Holland

Chương 3 Xây dựng và kiểm thử hệ thống

Từ cơ sở lý thuyết về HCG đã tìm hiểu trong chương 1 cùng với mô hình

đề xuất cho bài toán TVHN và tiến hành phân tích, thiết kế hệ thống theo mô hình đã đề xuất ở chương 2 Chương 3 này xây dựng các luật cho HCG hỗ trợ TVHN cho trường T ừ đó lựa chọn công cụ phát triển cũng như đi vào thực hiện xây dựng hệ thống thực nghiệm

Trang 16

vở, tạp chí, các chuyên gia hay các nhà khoa học HCG còn có tên gọi khác

là hệ thống dựa trên tri thức hoặc HCG dựa trên tri thức [2] Thông thường, các nhà thiết kế HCG thu thập tri thức này, bao gồm lý thuyết đến các kinh nghiệm, kỹ xảo, phương pháp làm tắt, các luật dùng để chọn ra cách để giải quyết vấn đề có nhiều khả năng được chấp nhận nhất (chiến lược heuristic) đã tích lũy được của các chuyên gia con người qua quá trình làm việc của họ trong một lĩnh vực chuyên môn Từ tri thức này, người ta cố gắng cài đặt chúng vào hệ thống để hệ thống có thể mô phỏng theo cách thức các chuyên gia làm việc Tuy nhiên, không giống với con người, các chương trình hiện tại không tự học lấy kinh nghiệm mà tri thức phải được lấy

từ con người và mã hóa thành ngôn ngữ hình thức Đây chính là nhiệm vụ chính của các nhà thiết kế HCG phải đương đầu [5]

Ngày nay, HCG được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau như y học, toán học, công nghệ, hóa học, địa chất, khoa học máy tính, kinh doanh, luật pháp, quốc phòng và giáo dục

Trang 17

Chuyên gia con người là tài nguyên quý giá cho nhiều tổ chức Họ có thể giải quyết những vấn đề khó và hiệu quả Vậy có giá trị không khi chúng ta cố gắng xây dựng một HCG nhằm thay thế cho chuyên gia con người? Bảng so sánh 1.1 sau đây sẽ phần nào trả lời được câu hỏi trên

Bảng 1.1 Bảng so sánh giữa chuyên gia con người và HCG

Tiêu chí Chuyên gia con người Hệ chuyên gia

Sẵn dùng Thời gian hành chính Mọi lúc

1.1.2 Đặc trưng và ưu điểm của hệ chuyên gia

Một HCG thường có các đặc trưng cơ bản sau [1]:

- Phân tích tri thức và điều khiển: Như trong hệ luật sinh/hệ sinh,

bộ điều khiển nhận dạng – hành động hoạt động trong vòng lặp của hệ sinh, còn các tri thức được mã hóa vào trong các luật Ưu điểm của sự tách biệt này là dễ thay đổi loại cơ sở tri thức (CSTT) mà không thay đổi việc điều khiển chương trình và ngược lại

- Sở hữu tri thức chuyên gia: HCG có chứa tri thức của lĩnh vực trong cơ

sở tri thức Nhờ có tri thức mà nó có giá trị Đặc biệt tri thức này có thể được nhân ra thành nhiều bản, có thể cập nhật trong khi hệ thống đã được triển

Trang 18

- Suy luận có heuristic: Chuyên gia con người có thể từ kinh nghiệm của mình để dẫn ra cách giải quyết vấn đề hiệu quả hơn Để có thể hiện thực điều này trong HCG, người thiết kế cần phải có cách đánh giá thứ tự ưu tiên của các luật, để từ một ngữ cảnh nào đó có thể chọn một luật có lý nhất để bắt đầu

- Cho phép suy luận không chính xác: HCG có một khả năng rất mạnh,

đó là nó có thể làm việc với các vấn đề đang thiếu thông tin, hay có những hỗn tạp, không rõ ràng Cũng giống như trường hợp: một đội ngũ bác sĩ đang phải cứu một bệnh nhân hấp hối, lúc đó họ không còn kịp thời gian để làm tất

cả các xét nghiệm cần thiết Khi thiếu thông tin như vậy, họ đành tiến hành những cách có lý nhất theo họ Chúng ta cũng có thể hiện thực cho HCG có tính chất đó bằng cách đưa vào những luật tương ứng với tình huống thiếu thông tin để động cơ suy diễn vận dụng

- Bị giới hạn vào vấn đề giải quyết: Không phải mọi vấn đề đều có thể giải quyết bởi HCG Cụ thể, nếu lĩnh vực chúng ta muốn xây dựng HCG hiện tại chưa có hoặc chưa cần một chuyên gia con người thì việc xây dựng HCG khó mà thành công

- Giải quyết các vấn đề có độ phức tạp vừa phải: Nếu vấn đề quá khó, yêu cầu chuyên gia con người đến vài giờ, cần thiết nghĩ đến khả năng chia

Trang 19

thành nhiều bài toán con tương ứng mỗi HCG con

- Có khả năng bị lỗi: Giống như chuyên gia con người, HCG cũng có khả năng bị lỗi Chính vì vậy cần phải đưa vào khả năng phục hồi lại lỗi cho HCG tức là HCG có khả năng lưu vết quá trình suy luận, nếu nó đưa ra một kết luận mà người dùng kiểm nghiệm thực tế có sai và báo cho HCG, lúc đó

nó phải có khả năng ghi nhận và theo đuổi một hướng suy luận khác Đặc điểm này không có trong các chương trình truyền thống

Những ưu điểm của HCG:

- Phổ cập: HCG là một sản phẩm của chuyên gia, được phát triển không ngừng và có hiệu quả sử dụng không thể phủ nhận

- Giảm giá thành: Việc sử dụng HCG để giải quyết một vấn đề thường

có chi phí thấp hơn so với việc tìm một chuyên gia để giải quyết vấn đề

Trang 20

- Tính ổn định, suy luận có lý và đầy đủ mọi lúc mọi nơi: HCG thường hoạt động ổn định, đảm bảo các câu trả lời đều khách quan, không cảm tính như chuyên gia là con người

- Trợ giúp thông minh như một người hướng dẫn: HCG là một hệ thống thông minh, có khả năng trả lời câu hỏi, giải thích, hỗ trợ người dùng

ra quyết định kịp thời, nhanh chóng HCG đóng vai trò như một người bạn đồng hành thông minh và đáng tin cậy

- Có thể truy cập như là một cơ sở dữ liệu thông minh: HCG được xây dựng bởi các chuyên gia tri thức Tri thức mà hệ thống có được là các tri thức của chuyên gia, rất có giá trị Bên cạnh đó, HCG còn có khả năng tự học hỏi, tự tích lũy tri thức để ngày càng hoàn thiện

1.1.3 Kiến trúc tổng quát của hệ chuyên gia

a Những thành phần cơ bản của hệ chuyên gia

Một HCG kiểu mẫu gồm 7 thành phần cơ bản như sau:

Hình 1.1 Những thành phần cơ bản của một HCG

- Cơ sở tri thức: Gồm các phần tử (hay đơn vị) tri thức, thông thường được gọi là luật, được tổ chức như một CSDL Cơ sở tri thức (CSTT) còn được gọi là bộ nhớ sản xuất trong HCG Trong một CSTT, người ta thường phân biệt hai loại tri thức là tri thức phán đoán và tri thức thực hành Các tri thức phán đoán mô tả các tình huống đã được thiết lập hoặc sẽ được thiết

Trang 21

lập Các tri thức thực hành thể hiện những hậu quả rút ra hay những thao tác cần phải hoàn thiện khi một tình huống đã được thiết lập hoặc sẽ được thiết lập trong lĩnh vực đang xét Các tri thức thực hành thường được thể hiện bởi các biểu thức dễ hiểu và dễ triển khai thao tác đối với người sử dụng

- Máy duy diễn: Là công cụ/chương trình hay bộ xử lý tạo ra sự suy luận bằng cách quyết định xem những luật nào sẽ làm thỏa mãn các sự kiện, các đối tượng, chọn ưu tiên các luật thỏa mãn, thực hiện các luật có tính ưu tiên cao nhất

- Lịch công việc: Chứa danh sách các luật ưu tiên do máy suy diễn tạo

ra thỏa mãn các sự kiện, các đối tượng có mặt trong bộ nhớ làm việc

- Bộ nhớ làm việc: CSDL toàn cục chứa các sự kiện phục vụ cho các luật Các sự kiện này có thể do người dùng nhập vào lúc đầu hoặc do HCG sinh ra trong quá trình làm việc

- Khả năng giải thích: Giải nghĩa cách lập luận của hệ thống cho người

sử dụng Đây là một trong các điểm nổi bật của HCG Khả năng giải thích được xem như là một tiện ích của HCG Với tiện ích này, HCG có thể cung cấp cho người dùng các khả năng giải thích: Tại sao HCG lại hỏi câu hỏi nào đó và bằng cách nào HCG có thể suy ra được kết luận nào đó Khi chúng ta hỏi, HCG thường đáp trả bằng cách mô tả cái mà nó có thể kết luận

từ câu trả lời; hầu hết các HCG thường đáp trả bằng cách hiện luật mà nó đang quan tâm Còn khả năng giải thích của HCG có thể thực hiện được bằng cách cho phép nó theo vết các luật mà nó sử dụng trong quá trình suy luận Khả năng giải thích vừa thuận tiện cho cả người phát triển HCG, vừa hữu ích cho phía người dùng Người phát triển có thể nhờ đó tìm ra các lỗi trong tri thức của HCG Người dùng thì có thể yên tâm hơn khi nhận được một kết luận nào đó

- Khả năng thu nhận tri thức: Cho phép người sử dụng bổ sung các tri

Trang 22

thức vào hệ thống một cách tự động thay vì tiếp nhận tri thức bằng cách mã hoá tri thức một cách tường minh Khả năng thu nhận tri thức là yếu tố mặc nhiên của nhiều HCG

- Giao diện người sử dụng: Là nơi người sử dụng và HCG trao đổi với nhau Yêu cầu cao nhất cho giao diện là khả năng cung cấp cách hỏi đáp tương tự như giao tiếp giữa người với người Tuy nhiên, khi thực hiện hệ thống, vì những hạn chế của những kỹ thuật hiện tại nên người thiết kế phải nghĩ đến những hình thức giao tiếp sao cho tiện lợi, chưa thật sự giống hỏi đáp giữa người với người như các câu hỏi YES/NO, các câu hỏi cho phép lựa chọn từ hộp chọn trả lời, hoặc chấp nhận những từ khóa trả lời đơn giản…

b Một số mô hình kiến trúc hệ chuyên gia

Có nhiều mô hình kiến trúc HCG theo các tác giả khác nhau Sau đây là một số mô hình

 Mô hình J L Ermine

Hình 1.2 Kiến trúc HCG theo J L Ermine

 Mô hình C Ernest

Trang 23

Hình 1.3 Kiến trúc HCG theo C Ernest

 Mô hình E V Popov

Hình 1.4 Kiến trúc HCG theo E V Popov

1.1.4 Biểu diễn tri thức trong hệ chuyên gia

Biểu diễn tri thức là phương pháp để mã hóa tri thức, nhằm thành lập CSTT cho các HCG Tri thức thực của lĩnh vực gồm các đối tượng và quan hệ giữa chúng trong lĩnh vực Biểu diễn tri thức dùng các lược đồ biểu diễn

Có rất nhiều lược đồ nên việc chọn dùng lược đồ nào cho loại tri thức nào

là vấn đề quan trọng Tri thức tính toán gồm bảng ánh xạ giữa đối tượng thực với đối tượng tính toán và quan hệ thực với quan hệ tính toán

Trang 24

Hình 1.5 Lược đồ biểu diễn tri thức

Các lƣợc đồ biểu diễn tri thức gồm [1]:

- Lược đồ logic: Dùng các biểu thức trong logic hình thức, nhƣ phép toán

vị từ, để biểu diễn tri thức Các luật suy diễn áp dụng cho loại lƣợc đồ này rất

rõ ràng, ví dụ: luật Modus Ponens, Modus Toilens,… Ngôn ngữ lập trình thực hiện tốt nhất cho loại lƣợc đồ này là PROLOG

- Lược đồ thủ tục: Biểu diễn tri thức nhƣ tập các chỉ thị lệnh để giải

quyết vấn đề Ngƣợc lại với các lƣợc đồ dạng khai báo, nhƣ lƣợc đồ logic và lƣợc đồ mạng, các chỉ thị lệnh trong lƣợc đồ thủ tục chỉ ra bằng cách nào giải quyết vấn đề Các luật trong CSTT của HCG dựa trên luật là một ví dụ của thủ tục giải quyết vấn đề Hệ luật sinh là ví dụ điển hình của loại lƣợc đồ này

- Lược đồ mạng: Biểu diễn tri thức nhƣ là đồ thị, các đỉnh nhƣ là các đối

tƣợng hoặc khái niệm, các cung nhƣ là quan hệ giữa chúng Các ví dụ về loại lƣợc đồ này gồm mạng ngữ nghĩa, phụ thuộc khái niệm, đồ thị khái niệm

- Lược đồ cấu trúc: Là một mở rộng của lƣợc đồ mạng, bằng cách cho

phép các node có thể là một cấu trúc dữ liệu phức tạp gồm các khe có tên

và trị hay một thủ tục Chính vì vậy nó tích hợp cả hai dạng khai báo và thủ tục Kịch bản, khung, đối tƣợng là ví dụ của lƣợc đồ này

1.1.5 Kỹ thuật suy luận trong hệ chuyên gia

Suy luận hay suy diễn là quá trình làm việc với tri thức, sự kiện, chiến lƣợc giải toán để dẫn ra kết luận Các kỹ thuật suy luận cơ bản: suy diễn tiến,

Trang 25

suy diễn lùi

a Kỹ thuật suy diễn tiến

Suy diễn tiến là lập luận từ các sự kiện, sự việc để rút ra các kết luận Ví dụ: Nếu thấy trời mưa trước khi ra khỏi nhà (sự kiện) thì phải lấy áo mưa (kết luận)

Trong phương pháp này, người sử dụng cung cấp các sự kiện cho HCG

để máy suy diễn tìm cách rút ra các kết luận có thể Kết luận được xem là các thuộc tính có thể gán giá trị Trong số những kết luận này, có thể có những kết luận làm người sử dụng quan tâm, một số khác không nói lên điều gì, một số khác có thể vắng mặt

Các sự kiện thường có dạng: Attribute = value Lần lượt các sự kiện trong CSTT được chọn và hệ thống xem xét tất cả các luật mà các sự kiện này xuất hiện như là tiền đề Theo nguyên tắc lập luận trên, hệ thống sẽ lấy ra những luật thỏa mãn Sau khi gán giá trị cho các thuộc tính thuộc kết luận tương ứng, người ta nói rằng các sự kiện đã được thỏa mãn Các thuộc tính được gán giá trị sẽ là một phần của kết quả chuyên gia Sau khi mọi sự kiện

đã được xem xét, kết quả được xuất ra cho người sử dụng [2]

Ưu điểm của kỹ thuật suy diễn tiến là làm việc với bài toán có bản chất gôm thông tin và sau đó tìm xem có thể suy ra được gì từ thông tin đó Cũng với kỹ thuật này, có thể dẫn ra rất nhiều thông tin chỉ từ một ít sự kiện ban đầu Kỹ thuật suy diễn tiến thích hợp cho một số vấn đề như hoạch định, giám sát, điều khiển, diễn dịch,…

Nhược điểm của kỹ thuật suy diễn tiến là không có cách để nhận thấy tính quan trọng của từng sự kiện, hỏi nhiều câu hỏi thừa vì đôi lúc chỉ cần một vài sự kiện là cho ra kết luận Bên cạnh đó, với kỹ thuật này, hệ thống có thể hỏi những câu hỏi không liên quan nhau

b Kỹ thuật suy diễn lùi

Trang 26

Kỹ thuật suy diễn lùi tiến hành các lập luận theo chiều ngược lại so với

kỹ thuật suy diễn tiến Từ một giả thuyết được xem như là một kết luận, hệ thống đưa ra một tình huống trả lời gồm các sự kiện là cơ sở của giả thuyết đã cho này Ví dụ, nếu ai đó vào nhà mà cầm áo mưa và áo quần bị ướt thì giả thuyết này là trời mưa Để củng cố giả thuyết này, ta sẽ hỏi người đó xem có phải trời mưa không? Nếu người đó trả lời có thì giả thuyết trời mưa là đúng

và trở thành một sự kiện Nghĩa là trời mưa nên phải cầm áo mưa và áo quần

là kết luận của một trong số các kết luận có thể của thuộc tính liên quan,…

Ý tưởng của thuật toán suy diễn lùi là với mỗi thuộc tính đã cho, người

ta định nghĩa nguồn của nó:

- Nếu thuộc tính xuất hiện như là tiền đề của một luật (phần đầu của luật), thì nguồn sẽ thu gọn thành một câu hỏi

- Nếu thuộc tính xuất hiện như là hậu quả của một luật (phần cuối của luật), thì nguồn sẽ là các luật mà trong đó thuộc tính là kết luận

- Nếu thuộc tính là trung gian, xuất hiện đồng thời như là tiền đề và hậu quả, khi đó nguồn có thể là các luật, hoặc có thể là các câu hỏi mà chưa được nêu ra

- Nếu mỗi lần với câu hỏi đã cho, người sử dụng trả lời hợp lệ, giá trị trả lời này được gán cho thuộc tính và xem như thành công Nếu nguồn là các

Trang 27

luật, hệ thống sẽ lấy lần lượt các luật mà thuộc tính đích xuất hiện như là kết luận, để có thể tìm giá trị các thuộc tính thuộc tiền đề Nếu các luật thỏa mãn, thuộc tính kết luận sẽ được ghi nhận [2]

Ưu điểm của kỹ thuật suy diễn lùi là làm việc tốt với bài toán có bản chất thành lập giả thiết, sau đó tìm xem có thể chứng minh được không Vì kỹ thuật này hướng đến một đích nên hỏi những câu hỏi liên quan nhau Máy suy diễn áp dụng kỹ thuật này chỉ khảo sát CSTT trên nhánh vấn đề đang quan tâm Với kỹ thuật này, thích hợp cho các vấn đề chuẩn đoán, kê toa, gỡ rối,… Nhược điểm của kỹ thuật này là luôn hướng theo dòng suy luận định trước thậm chí có thể dừng hoặc rẽ sang một đích khác

1.1.6 Hệ chuyên gia dựa trên luật

HCG dựa trên luật là một chương trình máy tính, xử lý các thông tin cụ thể của bài toán được chứa trong bộ nhớ làm việc và tập các luật được chứa trong CSTT, sử dụng động cơ suy luận để suy ra thông tin mới

HCG dựa trên luật có nền tảng xây dựng là hệ luật sinh

a Hệ luật sinh

Hệ luật sinh (HLS) hay hệ sinh hay hệ thống sản xuất đều có cùng ý nghĩa HLS là một mô hình tính toán quan trọng trong các bài toán tìm kiếm cũng như mô phỏng cách giải quyết vấn đề của con người trong lĩnh vực ứng dụng trí tuệ nhân tạo HLS cung cấp cơ chế điều khiển Pattern-directed trong quá trình giải quyết vấn đề Cấu trúc HLS gồm 3 thành phần: tập luật sản sinh,

bộ nhớ làm việc, bộ điều khiển nhận dạng và hành động Trong đó:

- Tập luật sản sinh được đặc tả dạng: Điều kiện – hành động Một

luật là một mắt xích của kho tri thức giải quyết vấn đề Kho tri thức là một CSDL của các tập luật sản sinh Thành phần Condition là một mẫu dùng xác định điều kiện áp dụng của luật cho một vấn đề tương ứng Thành phần Action được xem như là điều hướng dùng để đưa ra kết luận của luật hoặc

Trang 28

dẫn đến một luật kế tiếp nhằm tìm ra kết luận cuối cùng Các luật sinh thường được viết dưới dạng IF THEN Có hai dạng: IF <điều kiện> THEN

<hành động> hoặc IF <điều kiện> THEN <kết luận> DO <hành động>

- Bộ nhớ làm việc chứa những đặc tả trạng thái hiện tại của quá trình suy

luận Chúng được lưu trữ như là tập các mẫu Những đặc tả này là các mẫu để

so trùng với các điều kiện của tập luật sản sinh Khi một luật trong tập luật sản sinh được so trùng phần điều kiện thì phần hành động của nó có thể được

áp dụng và phần hành động này được xây dựng đặc thù để tác động trực tiếp lên bộ nhớ làm việc

- Bộ điều khiển nhận dạng và hành động là cấu trúc điều khiển dùng

trong HLS Tập các mẫu trong bộ nhớ làm việc lần lượt được đưa vào thành phần nhận dạng để thực hiện so trùng mẫu Kết quả của quá trình so khớp sẽ tạo thành một tập các luật sản sinh đã so khớp Tập kết quả này được đưa vào bộ điều khiển quyết định chọn luật phù hợp, trong quá trình điều khiển có thể áp dụng các chiến lược giải quyết xung đột đơn giản hoặc áp dụng các chiến lược lựa chọn heuristic Với luật được chọn, hệ thống sẽ thực hiện hành động tương ứng Quy trình hoạt động của bộ điều khiển nhận dạng và hành động là một quy trình khép kín được lặp đi lặp lại nên trong quá trình thực hiện nó sẽ tác động trở lại và làm thay đổi các tập mẫu trong bộ nhớ làm việc Đây chính là đặc trưng cơ bản của HLS trong quá trình cải thiện các tập mẫu của hệ thống Quy trình hoạt động được mô tả bởi hình 1.9 [1]:

Hình 1.6 Quy trình hoạt động của Recognize-Action

Trang 29

HLS là khung làm việc tổng quát để thực thi các giải thuật tìm kiếm Với đặc tính đơn giản, dễ sửa đổi và linh động, HLS được dùng như một công cụ quan trọng để xây dựng các HCG và các ứng dụng trí tuệ nhân tạo khác Các

ưu điểm của HLS:

- Tách bạch giữa tri thức và điều khiển: Điều khiển nằm trong chu trình Recognize-Action; tri thức được chứa đựng trong các luật sinh Chính vì vậy, HLS có khả năng cập nhật tri thức mà không cần điều chỉnh chương trình và ngược lại

- Dễ dàng áp dụng trong tìm kiếm trên không gian trạng thái

- Tính độc lập của các luật sinh

- Khả năng áp dụng heuristic cho việc điều khiển quá trình hoạt động

- Theo dõi và giải thích quá trình hoạt động

- Độc lập với ngôn ngữ và có thể dùng như kỹ thuật mô phỏng giải pháp của con người

b Các đặc trưng và kiến trúc của hệ chuyên gia dựa trên luật

HCG dựa trên luật cũng có những đặc trưng cơ bản của HCG tổng quát, một vài đặc điểm tiêu biểu: Có CSTT chứa các luật, có bộ nhớ làm việc tạm thời, có động cơ suy luận, có giao diện để giao tiếp với người dùng và người phát triển, có tiện ích giải thích và có khả năng giao tiếp với chương trình ngoài như các hệ quản trị CSDL, xử lý bảng tính,…

HCG dựa trên luật có kiến trúc như sau:

Trang 30

Hình 1.7 Kiến trúc HCG dựa trên luật

c Ưu và nhược điểm của hệ chuyên gia dựa trên luật

Ưu điểm của HCG dựa trên luật:

- Các luật được xây dựng từ cách con người giải quyết vấn đề Cách biểu diễn luật nhờ IF THEN đơn giản cho phép giải thích dễ dàng cấu trúc tri thức cần trích lọc

- Phân tách tri thức và điều khiển

- Tri thức là tập các luật có tính độc lập cao nên dễ thay đổi và chỉnh sửa

- HCG dựa trên luật dễ mở rộng

- Tận dụng được tri thức heuristic

- Có thể dùng biến trong luật, truy xuất chương trình ngoài

Nhược điểm của HCG dựa trên luật:

- Các sự kiện muốn đồng nhất nhau phải khớp nhau hoàn toàn Các sự kiện cùng một nghĩa phải giống nhau về cú pháp nhưng ngôn ngữ tự nhiên thì không như vậy

- Khó tìm mối quan hệ giữa các luật trong một chuỗi suy luận vì chúng nằm rải rác trong CSTT

- Có thể hoạt động chậm

- Làm cho nhà phát triển phải hình chung mọi cái ở dạng luật, không

Trang 31

phải bài toán nào cũng có thể làm được như vậy

1.2 LÝ THUYẾT CHỌN NGHỀ NGHIỆP

1.2.1 Lý thuyết cây nghề nghiệp

a Nội dung lý thuyết cây nghề nghiệp (LTCNN)

Sở thích, khả năng, cá tính và giá trị nghề nghiệp của mỗi người đóng vai trò rất quan trọng trong việc chọn hướng học, chọn nghề phù hợp và nó được coi là phần “Rễ” của cây nghề nghiệp Rễ có khỏe thì cây mới khỏe và

ra hoa, kết trái như mong muốn của người trồng cây Vì vậy, muốn lựa chọn nghề nghiệp phù hợp, trước hết phải hiểu rõ sở thích, khả năng, cá tính và giá trị nghề nghiệp của bản thân và phải dựa vào chính những hiểu biết này để lựa chọn nghề nghiệp Nói cách khác là phải chọn nghề theo “rễ” vì đây là yếu tố

có ảnh hưởng mang tính quyết định tới sự kết trái của cây nghề nghiệp Thực

tế đã chứng minh, những người quyết tâm chọn nghề và theo đuổi nghề phù hợp với “rễ” sẽ có nhiều khả năng thu được những “quả ngọt” trong hoạt động nghề nghiệp như: Có cơ hội việc làm cao, được nhiều người tôn trọng, lương cao, công việc ổn định Tuy nhiên, trong quá trình tư vấn hướng nghiệp, cần lưu ý các yếu tố định kiến và khuôn mẫu giới trong quá trình hình thành các “rễ” cây nghề nghiệp của HS [3], [7]

Trang 32

Hình 1.8 Mô hình LTCNN

b Ý nghĩa lý thuyết cây nghề nghiệp

LTCNN là lý thuyết quan trọng nhất trong hướng nghiệp vì lý thuyết này

đã chỉ ra rằng, công việc đầu tiên cần làm trong công tác giáo dục hướng nghiệp (GDHN) là phải giúp cho HS nhận thức đầy đủ về bản thân để các em chọn được nghề phù hợp với “rễ”, tránh được tình trạng chọn nghề theo

“quả”, chọn nghề theo cảm tính, theo ý kiến của người khác hoặc chọn nghề theo trào lưu chung

Trong trường phổ thông, việc GDHN cho HS dựa vào LTCNN rất quan trọng Phần lớn HS khi được hỏi: “Vì sao em học ngành này hay thích nghề này?”, câu trả lời thường là: “Vì công việc này hiện đang được xem là nóng trên thị trường lao động”, hay “Vì cơ hội việc làm của công việc này cao”, hoặc “Công việc này trả lương tương đối cao so với các việc khác”… Những câu trả lời trên cho thấy những HS đó đã chọn nghề theo “quả”, không chọn nghề theo “rễ” của cây nghề nghiệp Điều này là không nên bởi những “quả ngọt” của cây nghề nghiệp chỉ có được khi các em được làm công việc phù hợp với sở thích và khả năng của bản thân, hay còn gọi là “gốc rễ” của cây

Trang 33

nghề nghiệp Một công việc có thể được xem là rất thịnh hành không có nghĩa

là ai học nó ra cũng có việc làm tốt Doanh nghiệp chỉ tuyển dụng những người lao động có đam mê và khả năng phù hợp với vị trí công việc chứ không tuyển dụng người nào đó chỉ vì họ đã tốt nghiệp ở ngành nghề “hot” Việc học và tốt nghiệp một ngành nào đó không đủ để chứng minh là người

đó có khả năng làm việc tốt ở vị trí tuyển dụng Trong thực tế đã có không ít trường hợp người lao động bị cho thôi việc sau thời gian thử việc do không chứng minh được sở thích nghề nghiệp, khả năng của bản thân ở vị trí công việc được giao

Hiện nay, hoạt động giáo dục nghề phổ thông (HĐGDNPT) được chính thức đưa vào chương trình giáo dục phổ thông nhằm tạo cơ hội cho HS được thử sức mình trong một nghề cụ thể, qua đó giúp HS hiểu rõ hơn sở thích nghề nghiệp, khả năng của bản thân để có cơ sở chọn nghề tương lai phù hợp

Vì vậy, một trong những yêu cầu mà giáo viên dạy nghề phổ thông (NPT) cần quan tâm thực hiện ngay từ khi bắt đầu tổ chức HĐGDNPT cho đến khi kết thúc khóa học là giúp HS xác định được và hiểu rõ sở thích nghề nghiệp, khả năng của bản thân thông qua việc thực hiện những nội dung nghề cụ thể trong chương trình [3], [7]

1.2.2 Lý thuyết mật mã Holland

a Nội dung lý thuyết Holland

Lý thuyết mật mã Holland được phát triển bởi nhà tâm lý học John Holland (1919-2008) Ông là người nổi tiếng và được biết đến rộng rãi nhất qua nghiên cứu lý thuyết lựa chọn nghề nghiệp Ông đã đưa ra lý thuyết RIASEC dựa trên 8 giả thiết, trong đó có 5 giả thiết cơ bản và một số luận điểm rất có giá trị trong hướng nghiệp như sau:

- Bất kỳ ai cũng thuộc vào một trong 6 kiểu người đặc trưng sau đây: Realistic (R) - tạm dịch là người thực tế/nhóm kỹ thuật (KT); Investigative (I)

Trang 34

- tạm dịch là nhà nghiên cứu/nhóm nghiên cứu (NC); Artistic (A) – tạm dịch là người nghệ sĩ/nhóm nghệ thuật (NT); Social (S) - tạm dịch là người công tác xã hội/nhóm xã hội (XH); Enterprising (E) - tạm dịch là người dám làm/nhóm quản lý (QL); Conventional (C) - tạm dịch là người tuân thủ/nhóm nghiệp vụ (NV) 6 chữ cái của 6 kiểu người đặc trưng hợp lại thành RIASEC Những người thuộc cùng một kiểu người có sở thích tương đối giống nhau: Người mang mã XH (code S) rất thích tiếp xúc với người khác và thấy khó khăn khi tiếp xúc với vật thể; người mã QL (code E) thì thích tiếp xúc với dữ liệu và người khác, trong khi kiểu người có mã NC (code I) lại thích tiếp cận với ý tưởng và vật thể; người mã NV (code C) thích tiếp xúc với dữ liệu và vật thể; người mã NT (code A) thích tiếp xúc với ý tưởng và người; người mã KT (code R) thích tiếp xúc với vật thể

- Có 6 loại môi trường tương ứng với 6 kiểu người nói trên Môi trường tương ứng với kiểu người nào thì kiểu người ấy chiếm đa số trong số người thành viên của môi trường ấy Ví dụ: Môi trường có hơn 50% số người có mã

XH (code S) trội nhất thì đó là môi trường loại XH

- Ai cũng tìm được môi trường phù hợp cho phép mình thể hiện được kỹ năng, thái độ và hệ thống giá trị của mình

- Thái độ ứng xử của con người được quy định bởi sự tương tác giữa kiểu người của mình với các đặc điểm của môi trường Ví dụ, người mang mã

NT (code A) được tuyển chọn vào môi trường NT (A) sẽ dễ dàng cảm thông với người xung quanh, mau chóng bắt nhịp với công việc, được đồng nghiệp tin yêu và có nhiều cơ hội thành công trong công việc

- Mức độ phù hợp giữa một người với môi trường có thể được biểu diễn trong mô hình lục giác Holland

Trang 35

Hình 1.9 Mô hình lục giác Holland

Có 4 mức phù hợp giữa kiểu người và loại môi trường: Kiểu người nào làm việc trong môi trường ấy là mức phù hợp cao nhất, ví dụ như kiểu người

NT làm việc trong môi trường NT; người nào làm việc trong môi trường cận

kề với kiểu người của mình (cùng một cạnh của lục giác), ví dụ như KT-NC (người kiểu KT làm việc trong môi trường NC) là mức độ phù hợp thứ nhì; người nào làm việc trong môi trường cách 1 đỉnh của lục giác, ví dụ NC-NV (kiểu người NC làm việc trong loại môi trường NV) sẽ có mức phù hợp thứ 3; còn kiểu ít phù hợp nhất là khi kiểu người và loại môi trường nằm ở 2 đỉnh đối xứng trong lục giác Holland, ví dụ KT-XH hay QL-NC hay NT-NV

Từ những giả thiết của lý thuyết Holland trên, có thể rút ra 2 kết luận:

- Một là, hầu như ai cũng có thể được xếp vào 1 trong 6 kiểu tính cách và

có 6 môi trường hoạt động tương ứng với 6 kiểu tính cách, đó là: Nhóm kỹ thuật (KT); nhóm nghiên cứu (NC); nhóm nghệ thuật (NT); nhóm xã hội (XH); nhóm quản lý (QL); nhóm nghiệp vụ (NV)

- Hai là, nếu một người chọn được công việc phù hợp với tính cách của

họ, thì họ sẽ dễ dàng phát triển và thành công trong nghề nghiệp Nói cách khác: Những người làm việc trong môi trường tương tự như tính cách của

Trang 36

mình, hầu hết sẽ thành công và hài lòng với công việc

Trong thực tế, tính cách của nhiều người không nằm gọn trong một nhóm tính cách mà thường là sự kết hợp của 2 nhóm tính cách, có khi còn nhiều hơn Ví dụ: NC-KT, NT-XH, Do đó, khi tìm hiểu bản thân có thể phải xem xét ở nhiều hơn một nhóm tính cách [3], [6], [8]

b Ý nghĩa lý thuyết mật mã Holland

Lý thuyết mật mã (LTMM) Holland có liên quan rất chặt chẽ với LTCNN vì sử dụng LTMM Holland là một trong những cách giúp HS biết được sở thích và khả năng nghề nghiệp của bản thân và những nghề nghiệp phù hợp nhanh nhất, dễ làm nhất

Vì lẽ đó, trước khi tổ chức cho HS học NPT, nhà trường và giáo viên dạy NPT nên tổ chức cho HS làm trắc nghiệm tìm hiểu sở thích và khả năng nghề nghiệp của bản thân theo LTMM Holland Kết quả tìm hiểu bản thân là cơ sở quan trọng để các em dựa vào đó lựa chọn NPT theo học cho phù hợp

Ví dụ: Những HS có kết quả làm trắc nghiệm thuộc nhóm kỹ thuật, bản thân lại có mơ ước trở thành kỹ sư điện thì có thể đăng ký học nghề Điện dân dụng; những HS có kết quả làm trắc nghiệm thuộc nhóm nghiệp vụ và nhóm

xã hội, bản thân lại có mơ ước trở thành thư ký văn phòng thì có thể đăng ký học nghề tin học văn phòng hoặc quản trị văn phòng,…

Các trường hợp đặc biệt:

Một người thuộc cả 6 nhóm: Là những người sau khi làm trắc nghiệm thấy mình có sở thích và khả năng rộng, trải đều cả 6 nhóm Thông thường những người có đặc điểm này phải mất một thời gian dài mới tìm được công việc mình thực sự yêu thích Cũng có trường hợp, họ sẽ làm một số công việc cùng một lúc

Một người không thuộc về nhóm nào: Là những người thấy mình có sở thích và khả năng rất thấp ở tất cả các nhóm, gần như không nổi trội ở nhóm

Trang 37

nào Thông thường, những người có đặc điểm này cần phải có cơ hội trải nghiệm thêm ở những môi trường hoạt động khác nhau trước khi hiểu được bản thân hơn Có những trường hợp, HS có các khả năng trong mỹ thuật, âm nhạc và thủ công mỹ nghệ nhưng không được gia đình khuyến khích hoặc chưa bao giờ có cơ hội tiếp cận với những lĩnh vực này thì khó mà biết được những sở thích và khả năng nghề nghiệp của mình

Một người thuộc về hai nhóm sở thích và khả năng nghề nghiệp đối lập nhau: Là những người có sở thích và khả năng nghề nghiệp ở các nhóm đối lập nhau Ví dụ như NV và NT; XH và KT; QL và NC Thông thường những người có đặc điểm này thường cảm thấy mâu thuẫn với chính bản thân vì các đặc điểm của hai nhóm đối lập rất khác nhau Những người này sau khi hiểu được bản thân và học được cách kết hợp, dung hòa giữa hai nhóm sẽ tìm được câu trả lời cho mục tiêu nghề nghiệp của đời mình

Khi gặp các trường hợp trên thì người tư vấn không nên cho HS một câu trả lời khẳng định Điều quan trọng là người tư vấn hoặc người hướng dẫn cần hiểu rằng, trắc nghiệm, đặc biệt là trắc nghiệm trong nghiên cứu tự định hướng nghề nghiệp là công cụ để giúp HS bắt đầu tự hỏi về bản thân, về thế giới nghề nghiệp Nếu các HS cảm thấy lo lắng thì đó là dấu hiệu tốt Vì vậy, người làm công tác tư vấn cần hiểu rõ LTMM Holland và dùng nó để hướng dẫn, tư vấn về việc chọn ngành học, trường học và nghề nghiệp tương lai cho HS một cách tốt nhất [3], [6], [8]

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong chương này, chúng tôi đã tập trung tìm hiểu một số cơ sở lý thuyết phục vụ cho việc nghiên cứu và xây dựng HCG tư vấn tuyển như các khái niệm HCG, các thành phần cơ bản của một HCG kiểu mẫu, một số mô hình kiến trúc HCG đã có cũng như các đặc trưng và ưu điểm của HCG Bên cạnh

đó, nội dung luận văn cũng đã thể hiện một số lý thuyết về hướng nghiệp làm

cơ sở cho công tác TVHN sau này

Trang 38

CHƯƠNG 2

PHÂN TÍCH, THIẾT KẾ HỆ THỐNG

Nội dung chương này sẽ trình bày kết quả nghiên cứu về phân tích hiện trạng tư vấn hướng nghiệp tại trường THPT Nguyễn Huệ, tìm ra những ưu nhược điểm của công tác này trong hiện tại Đồng thời đưa ra giải pháp khắc phục nhược điểm góp phần cải thiện chất lượng của công tác tư vấn hướng nghiệp tại trường Sau đó tiến hành phân tích và thiết kế hệ thống theo giải pháp đã đề ra

2.1 TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG

Hầu hết các học sinh phổ thông đều mang suy nghĩ tốt nghiệp xong sẽ phải vào Đại học, rồi mới tính tiếp vào các trường Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp Vì vậy, một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng

“Đại học” trong đầu đa số học sinh, phụ huynh là do công tác giáo dục, tuyên truyền hướng nghiệp hiện nay còn nhiều hạn chế

Chẳng hạn hàng năm trong khi các trường Đại học, cả công lập lẫn bán công, dán lấp đều rầm rộ tổ chức những cuộc quảng bá ảnh để cạnh tranh thu hút thi sinh đăng kí dự thi vào trường mình thì các trường Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp vẫn còn khá im lặng Phía bộ Giáo dục – Đào tạo và các sở trực thuộc cũng gần như “bỏ quên” hai loại hình đào tạo này, những chương trình tuyển sinh thì hầu như đều gắn với hai chữ Đại học Chính vì thế, cũng không khó hiểu cho tâm lý xem Đại học là con đường duy nhất, sự bất cặp trong công tác tư vấn tuyển sinh là nguyên nhân dẫn đến tình trạng năm nào các trường Đại học, Cao đẳng cũng thiếu chỉ tiêu, phải kiếm chỗ này một ít, chỗ kia một ít cho đủ số người học, làm cho chất lượng đầu vào kém, chất lượng đào tạo cũng không cao Thực trạng

“thừa thầy, thiếu thợ” cũng bắt nguồn từ đây Đội ngủ “thợ” không những

Trang 39

thiếu về số lượng mà còn yếu về chất lượng , trong khi đội ngủ “thầy” tuy đủ

về lượng nhưng cũng thiếu về chất

Mặt khác, “lấy cho được bằng Đại học cái đã, sau đó tính tiếp” đã làm cho thị trường lao động đang trong tình trạng “chấp vá”, nghĩa là người tốt nghiệp Đại học nhưng ra trường làm không đúng ngành, đúng nghề, bị đặt sai vị trí, không thể phát huy hết khả năng của mình Nhiều trường hợp tuy mang danh nghĩa là “thầy” nhưng thực chất công việc không khác gì “thợ”, thặm chí còn kém xa do không được đào tạo bài bản về nghiệp vụ

Do đó, để góp phần cân bằng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thì tâm lí Đại học là con đường duy nhất nên tránh Phải có những biện pháp tư vấn, giáo dục nghề nghiệp sao cho học sinh thấy rằng còn có nhiều con đường khác để các em thành đạt, chứ không phải nhất thiết phải vào Đại học trong khi bản thân không phù hợp

2.2 MÔ TẢ HỆ THỐNG HỖ TRỢ TƯ VẤN TUYỂN SINH

2.2.1 Mô tả hiện trạng về trường THPT Nguyễn Huệ

Tiền thân của Trường THPT Nguyễn Huệ bây giờ là Trường THPT BC Núi Thành được thành lập từ đầu năm học 2000 - 2001 theo Quyết định số 33/2000/QĐ-UB ngày 19/6/2000 của UBND tỉnh Quảng Nam Lúc đầu quy

mô của trường chỉ có 15 lớp, 714 học sinh, hơn 20 CB-GV-NV, qua hơn 15 năm xây dựng và phát triển, đến nay trường có 31 lớp (12 lớp 12, 9 lớp 11, 10 lớp 10) với hơn 1265 học sinh ở 3 khối lớp và 95 CB-GV-NV (trong đó: Ban Giám hiệu: 4; giáo viên trong biên chế: 73; nhân viên: 08 Ngoài ra trường hợp đồng 11 thầy cô giáo thỉnh giảng để giảng dạy một số môn thiếu giáo viên) Vượt qua bao khó khăn gian khổ, nhiều thầy cô giáo đã thực hiện tốt nhiệm vụ, khẳng định bản lĩnh sư phạm của mình

Nhà trường luôn nỗ lực phấn đấu hết mình, luôn coi trọng giáo dục toàn diện cho học sinh; Nhà trường đã tìm tòi nhiều biện pháp nhằm nâng cao chất

Trang 40

lượng học tập và hạnh kiểm cho học sinh vốn chất lượng đầu vào quá thấp theo cơ chế của một trường bán công Bên cạnh đó, các hoạt động hướng nghiệp, dạy nghề và hoạt động ngoài giờ lên lớp, phong trào văn nghệ, thể dục thể thao được chú ý đúng mức, học sinh của trường đã tham gia và nhiều lần đạt giải thi thuyết trình văn học, đạt huy chương ở các môn việt dã, điền kinh, đặc biệt đội bóng chuyền học sinh nam của trường nhiều năm đạt giải nhất, nhì hoặc ba ở tỉnh Trong mười lăm năm qua, nhà trường đã thu nhận hơn 5000 học sinh vào học và tiễn hơn 4000 học sinh ra trường Nhiều học sinh của trường nay đã thành đạt trên nhiều lĩnh vực, có em thi đỗ vào các trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp, có em trở về với ruộng đồng hoặc tham gia đánh bắt hải sản, có em đi bộ đội góp phần bảo vệ Tổ quốc thân yêu dù làm ngành nghề gì thì các em cũng đã có một số vốn liếng

về tri thức để làm hành trang vào đời cho mình

Mặc dù vậy, trong nhiều năm qua việc giáo dục hướng nghiệp ở nhà trường phổ thông vẫn chưa được các cấp quản lý giáo dục và các trường học quan tâm đúng mức, còn có địa phương và trường học chưa thực hiện đầy đủ các nội dung giáo dục hướng nghiệp; chất lượng hoạt động hướng nghiệp vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của học sinh và xã hội, học sinh phổ thông cuối các cấp học và bậc học chưa được chuẩn bị chu đáo để lựa chọn nghề nghiệp, lựa chọn ngành học phù hợp với bản thân và yêu cầu của xã hội

Trong những năm gần đây, để phù hợp với tình hình thực tế, đáp ứng các yêu cầu về việc chọn ngành chọn nghề của học sinh bậc trung học, Bộ Giáo dục và Đào tạo nhờ sự hỗ trợ của tổ chức VVOB (Cơ quan Hợp tác phát triển

và Hỗ trợ kĩ thuật vùng Fla - măng, Vương quốc Bỉ - là một tổ chức hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục Việt Nam) đã

có những hoạt động tích cực góp phần nâng cao chất lượng giáo dục hướng nghiệp như tổ chức hội thảo, biên soạn tài liệu bổ sung, trao đổi, hội thảo để

Ngày đăng: 24/04/2022, 15:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Phạm Minh Tuấn (2014), Trí tuệ nhân tạo nâng cao, trường Đại học Bách Khoa Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trí tuệ nhân tạo nâng cao
Tác giả: Phạm Minh Tuấn
Năm: 2014
[2] Phan Huy Khánh (2004), Giáo trình Hệ chuyên gia, Đại học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Hệ chuyên gia
Tác giả: Phan Huy Khánh
Năm: 2004
[3] Tổ chức VVOB Việt Nam (2013), Giáo dục hướng nghiệp qua hoạt động giáo dục nghề phổ thông, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục hướng nghiệp qua hoạt động giáo dục nghề phổ thông
Tác giả: Tổ chức VVOB Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2013
[5] Võ Huỳnh Trâm, Trần Ngân Bình (2007), Trí tuệ nhân tạo, trường Đại học Cần Thơ.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trí tuệ nhân tạo
Tác giả: Võ Huỳnh Trâm, Trần Ngân Bình
Năm: 2007
[6] Gottfredson, G., &amp; Holland, J. (1996). Dictionary of Holland occupational codes, 3rd ed., Odessa, FL: PAR Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dictionary of Holland occupational codes
Tác giả: Gottfredson, G., &amp; Holland, J
Năm: 1996
[7] Ho, P. (October 2012), Career Tree, RMIT University Vietnam, Career Centre Sách, tạp chí
Tiêu đề: Career Tree
[8] Holland, John L. (1966), The Psychology of Vocational Choice, Waltham, Mass.: Blaisdell.Trang Web Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Psychology of Vocational Choice
Tác giả: Holland, John L
Năm: 1966
[9] Tổng cúc thống kê, Tình hình kinh tế xã hội quý I năm 2016. https://www.gso.gov.vn/Default.aspx?tabid=621&amp;ItemID=15722 , ngày truy cập 12/5/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình kinh tế xã hội quý I năm 2016
[4] Trường Đại học Trà Vinh (2015), Quyển thông tin tuyển sinh Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Số hiệu Tên bảng Trang - Xây dựng hệ thống hỗ trợ tư vấn hướng nghiệp tại trường thpt nguyễn huệ tỉnh quảng nam
hi ệu Tên bảng Trang (Trang 8)
Bảng 1.1. Bảng so sánh giữa chuyên gia con người và HCG - Xây dựng hệ thống hỗ trợ tư vấn hướng nghiệp tại trường thpt nguyễn huệ tỉnh quảng nam
Bảng 1.1. Bảng so sánh giữa chuyên gia con người và HCG (Trang 17)
Hình 1.1. Những thành phần cơ bản của một HCG - Xây dựng hệ thống hỗ trợ tư vấn hướng nghiệp tại trường thpt nguyễn huệ tỉnh quảng nam
Hình 1.1. Những thành phần cơ bản của một HCG (Trang 20)
b. Một số mô hình kiến trúc hệ chuyên gia - Xây dựng hệ thống hỗ trợ tư vấn hướng nghiệp tại trường thpt nguyễn huệ tỉnh quảng nam
b. Một số mô hình kiến trúc hệ chuyên gia (Trang 22)
Hình 1.3. Kiến trúc HCG theo C. Ernest - Xây dựng hệ thống hỗ trợ tư vấn hướng nghiệp tại trường thpt nguyễn huệ tỉnh quảng nam
Hình 1.3. Kiến trúc HCG theo C. Ernest (Trang 23)
 Mô hình E. V. Popov - Xây dựng hệ thống hỗ trợ tư vấn hướng nghiệp tại trường thpt nguyễn huệ tỉnh quảng nam
h ình E. V. Popov (Trang 23)
Hình 1.5. Lược đồ biểu diễn tri thức - Xây dựng hệ thống hỗ trợ tư vấn hướng nghiệp tại trường thpt nguyễn huệ tỉnh quảng nam
Hình 1.5. Lược đồ biểu diễn tri thức (Trang 24)
Hình 1.6. Quy trình hoạt động của Recognize-Action - Xây dựng hệ thống hỗ trợ tư vấn hướng nghiệp tại trường thpt nguyễn huệ tỉnh quảng nam
Hình 1.6. Quy trình hoạt động của Recognize-Action (Trang 28)
Hình 1.7. Kiến trúc HCG dựa trên luật - Xây dựng hệ thống hỗ trợ tư vấn hướng nghiệp tại trường thpt nguyễn huệ tỉnh quảng nam
Hình 1.7. Kiến trúc HCG dựa trên luật (Trang 30)
Hình 1.8. Mô hình LTCNN - Xây dựng hệ thống hỗ trợ tư vấn hướng nghiệp tại trường thpt nguyễn huệ tỉnh quảng nam
Hình 1.8. Mô hình LTCNN (Trang 32)
Hình 1.9. Mô hình lục giác Holland - Xây dựng hệ thống hỗ trợ tư vấn hướng nghiệp tại trường thpt nguyễn huệ tỉnh quảng nam
Hình 1.9. Mô hình lục giác Holland (Trang 35)
2.2.4. Mô hình đề xuất - Xây dựng hệ thống hỗ trợ tư vấn hướng nghiệp tại trường thpt nguyễn huệ tỉnh quảng nam
2.2.4. Mô hình đề xuất (Trang 42)
Bảng 2.1. Danh sách các nhóm ngành nghề trong hệ thống tư vấn - Xây dựng hệ thống hỗ trợ tư vấn hướng nghiệp tại trường thpt nguyễn huệ tỉnh quảng nam
Bảng 2.1. Danh sách các nhóm ngành nghề trong hệ thống tư vấn (Trang 44)
Nghệ thuật hình ảnh, tạo hình, kiến trúc - Xây dựng hệ thống hỗ trợ tư vấn hướng nghiệp tại trường thpt nguyễn huệ tỉnh quảng nam
gh ệ thuật hình ảnh, tạo hình, kiến trúc (Trang 45)
Bảng 2.2. Bảng tóm tắt 6 nhóm tính cách/môi trường làm việc - Xây dựng hệ thống hỗ trợ tư vấn hướng nghiệp tại trường thpt nguyễn huệ tỉnh quảng nam
Bảng 2.2. Bảng tóm tắt 6 nhóm tính cách/môi trường làm việc (Trang 49)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm