Thời Lê Sơ Chiêm thành tiến đánh Đại Việt Năm 1460 vua Chiêm là Trà Duyệt mất, em là Trà Toàn lên ngôi Đại Việt sử ký toàn thư của Đại Việt mô tả Trà Toàn là “hung bạo làm càn, dối thần ngược dân, ngạ[.]
Trang 1Thời Lê Sơ:
Chiêm thành tiến đánh Đại Việt
Năm 1460 vua Chiêm là Trà Duyệt mất, em là Trà Toàn lên ngôi Đại Việt sử ký toàn thư của Đại Việt mô
tả Trà Toàn là “hung bạo làm càn, dối thần ngược dân, ngạo mạn kiêu căng” Trà Toàn lăng nhục cả sứ thần Đại Việt do vua Lê gửi đến, cho quân gây hấn biên giới với Đại Việt rồi sai người tâu với vua nhà Minh rằng Đại Việt xâm lấn và cầu viện binh giúp đỡ
Tháng 8 âm lịch năm 1470, Trà Toàn cho 10 vạn quân tiến đánh Đại Việt, sự kiện này Đại Việt sử ký toàn thư ghi chép như sau:
Tháng 8, quốc vương Chiêm Thành Bàn La Trà Toàn thân hành đem hơn 10 vạn quân thuỷ bộ cùng voi ngựa đánh úp châu Hoá Tướng trấn giữ biên thuỳ ở châu Hoá là bọn Phạm Văn Hiển đánh không nổi, phải dồn cả dân vào thành, rồi cho chạy thư cáo cấp
Đại Việt nam tiến
Nhận được tin báo, vua Lê Thánh Tông cấp tốc chuẩn bị 26 vạn quân tiến đánh Chiêm Thành, trước khi xuất quân Vua soạn tờ chiếu kể tội Trà Toàn cùng những việc làm sai trái của quân Chiêm
Ngày 6 tháng 11 âm lịch, Vua cho hơn 10 vạn quân xuất phát trước Đến 16 nhà Vua cùng hơn 15 vạn quân còn lại lên đường đánh Chiêm
Quân Đại Việt theo đường thủy tiến đến vùng biển thuộc tỉnh Bình Định ngày nay, nhằm đưa quân tiến đánh Kinh thành Chà Bàn của Chiêm
Ngày 5 tháng 2 âm lịch năm 1471, Trà Toàn sai em của mình cùng 6 tướng dẫn 5 vạn quân đến đánh doanh trại Đại Việt Ngày 6 vua Lê sai 3 vạn quân bí mật vào cửa biển Sa Kỳ để chặn đường quân Chiêm rút về; đồng thời sai tướng Nguyễn Đức Trung đưa quân đến chân núi mai phục
Khi 5 vạn quân Chiêm tiến đến, vua Lê Thánh Tông cho 1.000 thuyền ở cửa biển Tân Áp và Cựu Toa đánh trống reo hò rất khí thế Quân Chiêm thấy quân Việt đông đúc thì bỏ chạy vào thành Chà Bàn, nhưng bị quân Đại Việt chờ sẵn tiến đánh, khiến quân Chiêm tử trận rất nhiều
Trang 2Trà Toàn sợ hãi vội dâng biểu xin hàng Ngày 27 vua Lê cho quân tiến đánh tan quân Chiêm ở thành Thi Nại Ngày 28 quân Đại Việt tiến đến Kinh thành Chà Bàn, bao vây nhiều vòng Dù Trà Toàn nhiều lần đem
lễ vật xin hàng, nhưng vua Lê Thánh Tông quyết phải bắt sống Trà Toàn
Quân Đại Việt đóng thang để vượt tường thành, đồng thời cũng phá được cửa đông và tiến vào thành 4 vạn quân Chiêm bị tiêu diệt, 3 vạn quân cùng vua Trà Toàn bị bắt Hậu nhân có người nhận xét đây là một cuộc thảm sát do quân Chiêm đã xin hàng và đã ở vào đường cùng
Trà Toàn bị bắt và quy hàng, bị giải về Đại Việt, nhưng trên đường đi đến Nghệ An thì lo lắng thành bệnh
mà qua đời
Giữ yên biên giới, mở mang bờ cõi, lân bang e sợ
Tướng Chiêm Thành là Bô Trì Trì chạy đến Phan Lung, tự xưng Chúa chiếm giữ 1/5 đất Chiêm, rồi cho người mang lễ vật cống nạp và xin được thần phục Đại Việt Vua Lê Thánh Tông đồng ý phong Bô Trì Trì làm vương vùng đất thuộc Phan Rang, Thuận Hải ngày nay
Bản đồ trước khi đánh Chiêm Thành (Tranh: Luanpt.arc@gmail.com)
Đồng thời vua Lê Thánh Tông cũng phong Vương cho người Ê Đê ở xứ Hoa Anh (Phú Yên và Khánh Hòa ngày nay), và phong Vương cho người Jarai ở Nam Bàn (gồm tỉnh Gia Lai, Kon Tum và Đăk Lăk ngày nay)
Bản đồ sau khi đánh Chiêm Thành (Tranh: Luanpt.arc@gmail.com)
Cuộc tiến quân toàn thắng của Đại Việt không chỉ giữ yên vùng biên giới phía nam, mà còn giúp mở mang bờ cõi Lãnh thổ phía bắc của Chiêm Thành từ đèo Hải Vân – Đà Nẵng đến đèo Cù Mông – Phú Yên (gồm Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định ngày nay) được sáp nhập vào Đại Việt
Không chỉ thế, các nước láng giềng khác cũng e ngại sức mạnh Đại Việt như Lan xang (Lào ngày nay), Ayutthaya, Campuchia, Lan Na (Thái Lan ngày nay), Ava (Miến Điện ngày nay)
Thời Tây Sơn:
I PHONG TRÀO TÂY SƠN VÀ SỰ NGHIỆP THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC (CUỐI THẾ KỶ XVIII)
Trang 3- Giữa thế kỷ XVIII chế độ phong kiến ở cả Đàng Ngoài, khủng hoảng sâu sắc,
nên phong trào nông dân bùng nổ và bị đàn áp
- 1744 Đàng Trong chúa Nguyễn xưng vương, bắt tay xây dựng chính quyền Trung ương, nước ta bị chia làm 2 nước Chính quyền Đàng Trong khủng hoảng suy yếu, đời sống nhân dân cực khổ Phong trào nông dân bùng nổ ở Đàng Trong.
- 1771 khởi nghĩa nông dân bùng lên ở Tây Sơn (Bình Định) do Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ lãnh đạo Từ một cuộc khởi nghĩa nhanh chóng thành phong trào lật đổ chúa Nguyễn ở Đàng Trong.
- 1886 - 1788 nghĩa quân tiến ra Bắc lật đổ tập đoàn Lê - Trịnh, thống nhất đất nước.
Lược đồ Tây Sơn khởi nghĩa chống các thế lực phong kiến và chống quân xâm lược nước ngoài.
Lược đồ căn cứ địa của nghĩa quân Tây Sơn
II CÁC CUỘC KHÁNG CHIẾN Ở CUỐI THẾ KỶ XVIII
1 Kháng chiến chống quân Xiêm 1785
- Nguyễn Ánh cầu viện quân Xiêm , Vua Xiêm sai tướng đem 5 vạn quân thủy
bộ tiến sang nước ta.
- Cuối năm 1784 chiếm gần nửa đất Nam Bộ, ra sức cướp phá chuẩn bị tấn công quân Tây Sơn.
- Năm 1785 Nguyễn Huệ đã tổ chức trận đánh phục kích Rạch Gầm - Xoài Mút (trên sông Tiền - Tiền Giang) đánh tan quân Xiêm, Nguyễn Ánh phải chạy sang Xiêm.
Đây là một thắng lợi lớn tiêu diệt gần 4 vạn quân Xiêm, thể hiện tài tổ chức, cầm quân của Nguyễn Huệ , đập tan mưu đồ xâm lược của quân Xiêm, nêu cao ý thức dân tộc của phong trào Tây Sơn.
Lược đồ chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Chiến thuyền Tây Sơn trong trận Rạch Gầm - Xoài Mút.
2 Kháng chiến chống quân Thanh (1789)
Sau khi đánh thắng quân Xiêm, 1786 Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc tiêu diệt họ Trịnh.
Họ Trịnh đổ, ông tôn phò vua Lê và kết duyên với Công chúa Lê Ngọc Hân (con gái Lê Hiển Tông) Sau đó ông về Nam (Phú Xuân).
- Ở ngoài Bắc, Nguyễn Hữu Chỉnh giúp vua Lê Chiêu Thống phản bội Tây Sơn Sau khi
bị quân Tây Sơn đánh vua Lê Chiêu Thống đã cầu cứu quân Thanh Vua Thanh đã cho
29 vạn quân sang nước ta.
Lược đồ diễn biến trận đánh Ngọc Hồi – Đống Đa (Tết Kỷ Dậu -1789)
- Vua Lê Chiêu Thống cầu viện quân Thanh kéo sang nước ta.
- Năm 1788 Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế (25 - 11 - 1788.), lấy niên hiệu là Quang Trung chỉ huy quân tiến ra Bắc.
- Trên đường đi đã dừng lại ở Nghệ An, Thanh Hoá để tuyển thêm quân
Trang 4- Đêm 30 Tết (25-1-1789) quân ta tiến công với khí thế từ lời Hiểu dụ của Vua Quang Trung.
- Đánh cho để dài tóc
- Đánh cho để đen răng
- Đánh cho nó chích luân bất phản
- Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn
- Đánh cho sử tri nam quốc anh hùng chi hữu chủ (Thể hiện tinh thần dân tộc cao cả, ý thức quyết tâm bảo vệ độc lập).
- Bài hiểu dụ đã cổ vũ, tạo khí thế quyết tâm chiến đấu của nghĩa quân Tây Sơn
Phối cảnh Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế tại núi Bân
- Sau 5 ngày tiến quân thần tốc, mùng 5 Tết 1789 nghĩa quân Tây Sơn chiến thắng vang dội ở Ngọc Hồi - Đống Đa tiến vào Thăng Long đánh bại hoàn toàn quân xâm lược.
- Phong trào nông dân Tây Sơn đã bước đầu hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước và bảo vệ tổ quốc.
*Công lao của phong trào nông dân Tây Sơn và Nguyễn Huệ:
- Tiêu diệt các tập đoàn phong kiến phản động và trong cuộc kháng chiến chống Xiêm và chống quân Thanh.
- Thống nhất đất nước và bảo vệ tổ quốc.
III VƯƠNG TRIỀU TÂY SƠN
- Năm 1778 Nguyễn Nhạc xưng Hoàng đế (hiệu Thái Đức) , Vương triều Tây Sơn thành lập.
- Năm 1788 Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế thống trị vùng đất từ Thuận Hóa trở
ra Bắc.
- Thành lập chính quyền các cấp, kêu gọi nhân dân khôi phục sản xuất.
- Lập lại sổ hộ khẩu, tổ chức lại giáo dục, thi cử, tổ chức quân đội (dịch chữ Hán, chữ Nôm để làm tài liệu dạy học).
- Đối ngoại hòa hảo với nhà Thanh, quan hệ với Lào và Chân Lạp rất tốt đẹp.
- Năm 1792 Quang Trung qua đời.
- Năm 1802 Nguyễn Ánh tấn công, các vương triều Tây Sơn lần lượt sụp đổ.
thời Chúa Nguyễn [ sửa | sửa mã nguồn ]
Năm 1611, do người Chiêm Thành lấn chiếm biên ải, chúa Nguyễn Hoàng đã sai một viên tướng gốc Chăm là Văn Phong đưa quân vào dẹp loạn và đặt ra phủ Phú Yên gồm hai huyện Tuy
Hòa và Đồng Xuân, phong cho Văn Phong làm lưu thủ đất này.[2]
Năm 1653, vua Chiêm là Bà Tranh xâm phạm biên cảnh, chúa Hiền (Nguyễn Phúc Tần) sai người đánh dẹp, người Chiêm đầu hàng Nhân đó lấy đất từ Phú Yên vào đến sông Phan Rang đặt làm 2 phủ Thái Khương, Diên Ninh và gồm 5 huyện: Quảng Phước, Tân Định (thuộc phủ Thái Khương), Phước Điền, Vinh Xương và Hoa Châu (thuộc phủ Diên Ninh) Vùng đất này là tỉnh Khánh Hoà ngày nay
Trang 5Năm 1692, vua Chăm tên Bà Tranh đã tấn công vào phủ Diên Ninh và dinh Bình Khang tức vùng Diên Khánh ngày nay Chúa Nguyễn sai Nguyễn Hữu Cảnh đánh đuổi Quân Chiêm và Việt đã giao tranh ác liệt tại Sông Lũy, quân Chiêm Thành bại trận, vua Chiêm và hoàng gia bị bắt
Năm 1693, Chúa Nguyễn Phúc Chu cho thành lập khu tự trị Thuận Thành Trấn tại vùng đất của Chiêm Thành, chúa Chăm được gọi là Trấn Vương, là thần hạ của Chúa Nguyễn
Năm 1697, Chúa Nguyễn lấy một phần đất chiếm được của Chiêm Thành trong trận chiến 1692 lập thành Bình Thuận phủ
Năm 1708, Mạc Cửu đầu phục Chúa Nguyễn Phúc Chu và dâng toàn bộ đất đai mà ông khẩn hoang lập ấp cho Chúa Nguyễn, đó là vùng đất thuộc Kiên Giang, Cà Mau ngày nay Mạc Cửu được phong chức Tổng binh trấn Hà Tiên và phong tước Cửu Ngọc Hầu
Năm 1732, ở đất Chân Lạp thời bấy giờ Prea Sot xách động dân Chân Lạp tàn sat người Việt sinh sống tại nơi đây Sau đó Chúa Ninh cho quân tiến đánh và vua Satha II của Chân Lập (Nặc Tha) sợ
bị vạ lay nên đã gửi thư cho tướng Nguyễn Cửu Triêm xin dâng vùng Peam Mesar (Mỹ Tho) và vùng Longhor (Vĩnh Long) sáp nhập vùng đất Đàng Trong ngày nay là Vĩnh Long, một phần của Mỹ Tho
Năm 1739, Mạc Thiên Tứ khai phá và đưa thêm vào lãnh thổ Đàng Trong các vùng đất thuộc Cần Thơ, Hậu Giang và Bạc Liêu ngày nay
Năm 1756, vua Chân Lạp là Nặc Nguyên (Ang Tong) sau khi bị Chúa Nguyễn Phúc Khoát đánh bại
đã dâng vùng đất ngày nay thuộc Long An, Tiền Giang để cầu hòa
Năm 1757, vua Nặc Nguyên chết, chú là Nặc Nhuận dâng vùng đất Trà Vang Trà Vang (Trà Vinh, Bến Tre) và Ba Thắt (Sóc Trăng, Bạc Liêu) để được chúa Nguyễn Phúc Khoát phong làm vua Chân Lạp
Năm 1758, sau khi Nặc Nhuận chết, Chúa Nguyễn Phúc Khoát đã hỗ trợ Nặc Tôn (Outey II) lên ngôi
và bảo vệ Chân Lạp trước sự tấn công của Xiêm La, vua Nặc Tôn đã dâng vùng đất ngày nay là thuộc An Giang, Đồng Tháp cho Chúa Nguyễn
Các Chúa Nguyễn cũng cho sáp nhập các vùng đất do người Việt vào vùng đất Chân Lạp khẩn hoang làm ăn ngày nay thuộc Bình Phước, Bình Dương, Tây Ninh, Sài Gòn, Biên Hòa, Vũng Tàu Cùng với việc mở rộng lãnh thổ trên đất liền, chính quyền Đàng Trong lần lượt đưa người ra khai thác và kiểm soát các hòn đảo lớn và quần đảo trên Biển Đông và vịnh Thái Lan Quần đảo Hoàng
Sa được khai thác và kiểm soát từ đầu thế kỷ XVII, Côn Đảo từ năm 1704, Phú Quốc từ năm 1708
và quần đảo Trường Sa từ năm 1711[3]
Trang 6Đại Nam dưới thời Minh Mạng, bao gồm cả các trấn ở Lào Vùng thuộc phần đất Campuchia ngày nay là lãnh thổ Trấn Tây Thành mà Nhà Nguyễn chiếm được trong 6 năm (1835-1841) trước khi bị đánh đuổi Bản đồ bao gồm cả các các vùng đất bị cắt cho Nhà Thanh năm 1887 theo công ước Pháp-Thanh, vẽ đè lên biên giới ngày nay.
Dưới thời Nhà Nguyễn và hoàn thiện lãnh thổ Việt Nam [ sửa | sửa mã nguồn ]
Năm 1816, vua Nguyễn Ánh cho cắm cờ xác định chủ quyền tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Năm 1832, khi Lê Văn Duyệt từ trần, vua Minh Mệnh đem quân chiếm khu tự trị Thuận Thành Trấn, trừng phạt những quan chức Champa đã phục tùng Lê Văn Duyệt, xóa bỏ chế độ tự trị lập ra Ninh Thuận phủ
Từ năm 1830-1834, vua Minh Mạng cho sáp nhập các vùng đất của các bộ tộc thiểu số Tây
Nguyên, ngày nay thuộc Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông, Lâm Đồng
Năm 1887, sau Công ước Pháp-Thanh 1895, các vùng đất ngày nay là một phần của Lai
Châu, Điện Biên được trao cho Việt Nam