1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án Tiến sĩ Quản lý văn hóa: Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại các Đoàn Văn công Quân đội trong giai đoạn hiện nay

322 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 322
Dung lượng 9,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài được thực hiện với mục tiêu nhằm nghiên cứu thực trạng công tác quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật của các Đoàn Văn công Quân đội, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động này ở các đoàn Văn công Quân đội trong thời gian tới. Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM

-

Phạm Phương Oanh

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BIỂU DIỄN NGHỆ THUẬT

TẠI CÁC ĐOÀN VĂN CÔNG QUÂN ĐỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ VĂN HOÁ

Hà Nội – 2022

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM

-

Phạm Phương Oanh

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BIỂU DIỄN NGHỆ THUẬT

TẠI CÁC ĐOÀN VĂN CÔNG QUÂN ĐỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Ngành: Quản lý văn hóa

Mã số: 9229042

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ VĂN HOÁ

Người hướng dẫn khoa học PGS.TS Văn Đức Thanh

Hà Nội – 2022

Trang 3

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số

Phạm Phương Oanh

liệu trong luận án là trung thực và chưa có công bố trong công trình nghiên cứu khoa học nào khác Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình

Tác giả luận án

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

DANH MỤC C C CH VI T TẮT iv

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ v

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KH I QU T VỀ C C ĐOÀN VĂN CÔNG QUÂN ĐỘI 12

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 12

1.1.1 Những công trình nghiên cứu về quản lý văn hoá nghệ thuật, quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật 12

1.1.2 Những công trình nghiên cứu về hoạt động nghệ thuật trong Quân đội 19

1.1.3 Nhận xét chung về tình hình nghiên cứu 27

1.2 Cơ sở lý luận 30

1.2.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 30

1.2.2 Lý thuyết nghiên cứu 36

1.3 Khung phân tích của đề tài 41

1.4 Khái quát về hoạt động các Đoàn Văn công Quân đội 43

1.4.1 Khái quát chung 43

1.4.2 Khái quát các đơn vị khảo sát 48

Tiểu kết 54

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BIỂU DIỄN NGHỆ THUẬT CỦA C C ĐOÀN VĂN CÔNG QUÂN ĐỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 55

2.1 Chủ thể quản lý và cơ chế quản lý 55

2.1.1 Chủ thể quản lý 55

2.1.2 Cơ chế quản lý và phối hợp 57

2.2 Công tác quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật của các Đoàn Văn công Quân đội 62

2.2.1 Triển khai thực hiện các văn bản pháp lý có liên quan đến hoạt động biểu diễn nghệ thuật 62

2.2.2 Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch biểu diễn 65

2.2.3 Quản lý chất lượng hoạt động biểu diễn nghệ thuật 70

2.2.4 Quản lý nguồn nhân lực hoạt động biểu diễn nghệ thuật 77

2.2.5 Quản lý về cơ sở vật chất, trang thiết bị 92

2.2.6 Thanh tra, kiểm tra, giám sát và thi đua khen thưởng 95

Trang 5

2.3 Đánh giá công tác quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại các Đoàn Văn

công Quân đội 97

2.3.1 Thành tựu 97

2.3.2 Hạn chế 99

2.3.3 Những yếu tố tác động đến công tác quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật 102

Tiểu kết 113

Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PH P QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHỆ THUẬT CỦA C C ĐOÀN VĂN CÔNG QUÂN ĐỘI 115

3.1 Định hướng của Đảng, Nhà nước, Quân đội về văn hóa văn nghệ và hoạt động biểu diễn nghệ thuật 115

3.1.1 Định hướng chung của Đảng và Nhà nước về văn hoá nghệ thuật 115

3.1.2 Định hướng cụ thể quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại các Đoàn Văn công Quân đội 116

3.1.3 Vai trò của hoạt động văn hoá nghệ thuật trong Quân đội 121

3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý hoạt động nghệ thuật của các Đoàn Văn công Quân đội 129

3.2.1 Về công tác tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức 129

3.2.2 Đổi mới nội dung, hình thức, phương thức hoạt động biểu diễn nghệ thuật 133

3.2.3 Đào tạo nguồn nhân lực 145

3.2.4 Đầu tư cơ sở vật chất 151

3.2.5 Tăng cường cơ chế phối hợp, các hoạt động giao lưu, hợp tác 152

3.2.6 Tiếp cận hoạt động Marketing trong quảng bá hoạt động biểu diễn nghệ thuật 153

3.2.7 Hoàn thiện cơ chế, chính sách 155

Tiểu kết 159

K T LUẬN 161

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA T C GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ 164

TÀI LIỆU THAM KHẢO 165

PHỤ LỤC 180

Trang 6

CTH

Câu lạc bộ Cục Tuyên huấn

PL

Phó giáo sƣ Phụ lục QĐND

TW

Thanh niên cộng sản Trung ƣơng

Trang 7

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Bảng 1 Cơ chế quản lý các đơn vị nghệ thuật công lập và lực lượng vũ trang 57

Bảng 2: Số lượng buổi biểu diễn hàng năm của các đơn vị 69

Bảng 3: Chất lượng hoạt động biểu diễn nghệ thuật của các Đoàn Văn công Quân đội hiện nay (đơn vị %) 74

Bảng 4 Trình độ học vấn đội ngũ hoạt động biểu diễn nghệ thuật của các đơn vị (bao gồm cả đối tượng LĐHĐ) 77

Bảng 5: Thống kê nguồn nhân lực hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại các đơn vị 79

Bảng 6: Đánh giá về chất lượng đội ngũ biểu diễn của các Đoàn Văn công Quân đội (đơn vị %) 84

Bảng 7: Cơ cấu theo độ tuổi của đội ngũ hoạt động nghệ thuật tại các đơn vị 86

Bảng 8: Tương quan giữa tuổi với lý do quan tâm đến các Đoàn Văn công Quân đội (đơn vị %) 90

Bảng 9 Số lượng Nghệ sĩ nhân dân - Nghệ sĩ ưu tú của các đơn vị 90

Bảng 10: Xe trang bị cho các đoàn Văn công Quân đội 94

Bảng 11: Mức độ yêu thích về loại hình biểu diễn (đơn vị %) 106

Bảng 12: Mức độ yêu thích về loại hình nghệ thuật (đơn vị %) 106

Bảng 13: Mức độ yêu thích về chương trình nghệ thuật (đơn vị %) 108

Bảng 14: Tương quan giữa tuổi với đề xuất việc cần làm để đổi mới nâng cao chất lượng hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại các Đoàn Văn công Quân đội (đơn vị %) 110

Biểu đồ 1: Cán bộ, chiến sĩ thưởng thức nghệ thuật của các Đoàn Văn công Quân đội 72

Biểu đồ 2: Mức độ cán bộ, chiến sĩ thưởng thức nghệ thuật của các Đoàn Văn công Quân đội 73

Biểu đồ 3: Lý do cán bộ, chiến sĩ quan tâm đến các Đoàn Văn công Quân đội 89

Biểu đồ 4: Việc cần làm để đổi mới nâng cao chất lượng hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại các Đoàn Văn công Quân đội 108

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Chủ trương của Đảng ta kh ng định, văn hóa là nền tảng tinh thần của

xã hội, vừa là động lực, vừa là mục tiêu phát triển kinh tế xã hội Việc xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt trong quá trình phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội, hướng tới sự phát triển nhanh và bền vững đất nước Để thực hiện thắng lợi sự nghiệp đó, cần phải kể đến tác động to lớn của văn hóa nghệ thuật (VHNT) đến sự phát triển văn hóa, con người, trong đó có những đóng góp không nhỏ của hoạt động biểu diễn nghệ thuật trên phạm vi cả nước, mà tiêu biểu là hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại các Đoàn Văn công Quân đội

Thực hiện Chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh, ngày 22-12-1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập đánh dấu sự ra đời của một sự kiện chính trị - lịch sử rất đặc thù - “quân đội có trước chính quyền” Bản chất, chức năng, nhiệm vụ của Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân xuất phát từ tư tưởng Hồ Chí Minh: sự phát triển của cách mạng Việt Nam phải đi từ đấu tranh chính trị tiến lên kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, khởi nghĩa với chiến tranh cách mạng Ra đời và hoạt động với phương châm “tuyên truyền trọng hơn tác chiến”, “chính trị trọng hơn quân sự” Sự ra đời của Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân là tất yếu lịch

sử, đáp ứng yêu cầu phát triển của cách mạng Việt Nam, đánh dấu bước ngoặt trên con đường đấu tranh cách mạng của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Trong đó, nguyên tắc nhất quán về xây dựng đội quân chủ lực đầu tiên là phải “người trước, súng sau”, “chính trị trọng hơn quân sự” và mọi hoạt động quân sự phải lấy “chính trị làm gốc” [153] Trong

đó công tác văn hóa, văn nghệ Quân đội là nội hàm của công tác Đảng công tác Chính trị trong Quân đội Các đơn vị nghệ thuật Quân đội nói chung,

Trang 9

Đoàn Văn công Quân đội (VCQĐ) nói riêng được thành lập cũng chính để đảm nhiệm chức năng này của Quân đội dù trong thời chiến hay thời bình

Văn hóa, nghệ thuật là một mặt hoạt động của công tác Đảng, công tác chính trị trong Quân đội, góp phần xây dựng, phát triển nhân cách con người, xây dựng môi trường văn hóa quân sự tốt đẹp, lành mạnh, góp phần trực tiếp

và có hiệu quả nhất củng cố vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội nh m nâng cao lập trường quan điểm, trình độ và bản lĩnh chính trị, trách nhiệm và ý thức chiến đấu, tạo cho được ổn định vững vàng trước mọi diễn biến phức tạp của tình hình, s n sàng chiến đấu bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa Để làm được điều đó, việc nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động văn hoá, nghệ thuật trong các đoàn Văn công quân đội là rất cần thiết Cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ X, Quân ủy Trung ương đã ban hành

Chỉ thị số 355-CT/QUTW ngày 20-4-2017 Về việc tăng cường lãnh đạo, chỉ

đạo công tác văn hóa, VHNT trong Quân đội giai đoạn hiện nay Quân ủy

Trung ương yêu cầu cấp ủy, chính ủy, chính trị viên và chỉ huy các cơ quan, đơn vị trong toàn quân phải nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ, trước hết là cấp ủy, cán bộ chủ trì, cán bộ chính trị các cấp về vai trò, tầm quan trọng của văn hóa, VHNT trong giai đoạn hiện nay; VHNT không chỉ góp phần xây dựng QĐND Việt Nam vững mạnh về chính trị, lan tỏa hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong thời đại mới, mà còn góp phần tạo ra nhiều giá trị văn hóa mới cho xã hội, làm giàu đời sống văn hóa tinh thần cho quân đội và đất nước

Ngày nay, cùng với kinh tế, trên tầm vĩ mô, quản lý văn hóa nói chung, quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật (HĐBDNT) nói riêng, được coi là thành tố đảm bảo sự phát triển bền vững, kh ng định vị thế, sức mạnh của mỗi quốc gia, dân tộc và tổ chức, cá nhân trong quá trình hội nhập, góp phần định hướng, điều chỉnh sự phát triển của văn hóa nghệ thuật, hiện thực hóa

Trang 10

các chủ trương, đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng Đồng thời, tác động đến mục tiêu, bản chất của văn hóa, góp phần đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của đội ngũ văn hóa nghệ thuật với Quân đội, với đất nước Dưới góc độ vi mô, Quản lý HĐBDNT góp phần kiểm soát chặt ch việc thực hiện các hoạt động này, định hướng theo đúng đường lối, chủ trương mà v n đẩm bảo giá trị cốt lõi HĐBDNT là một đặc thù và đặc trưng trong cơ chế hoạt động nghệ thuật của các Đoàn Văn công quân đội (VCQĐ), vừa là nhiệm vụ chính trị qua lăng kính nghệ thuật nh m thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ, sáng tạo nghệ thuật, vun đắp, phát triển giá trị văn hóa cho quân nhân, xây dựng đời sống tinh thần lành mạnh, góp phần phát triển các giá trị văn hóa dân tộc, nâng cao sức mạnh chiến đấu của bộ đội

HĐBDNT gắn liền với những kỹ năng, kỹ nghệ và các cung bậc của cảm xúc Với những người họat động trong lĩnh vực nghệ thuật nói chung và HĐBDNT tại các đoàn VCQĐ nói riêng thì sáng tạo là yếu tố không thể thiếu trong suốt cuộc hành trình kể cả trong công việc quản lý, bảo đảm tính liên tục, bền vững, mang lại hiệu quả, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản

lý Nhà nước đối với công tác này Trong thời kỳ đổi mới, giao lưu hội nhập quốc tế, dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, đất nước ta đã

và đang tiến hành đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và phát triển nền kinh tế số, xã hội số, quốc gia số, vận dụng thành quả của cách mạng Công nghiệp 4.0, xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Vì vậy, công tác quản lý văn hóa nói chung quản lý HĐBDNT trong các Đoàn VCQĐ nói riêng trong giai đoạn hiện nay không chỉ đáp ứng chức năng giáo dục tuyên truyền nhận thức cho bộ đội mà còn góp phần vào xây dựng phát triển con người Việt Nam, văn hóa dân tộc, phát triển văn hóa quân sự, quảng bá giá trị văn hóa quân sự tới quần chúng nhân dân và bạn bè quốc tế, đồng thời đáp ứng được nhu cầu thưởng thức ngày càng đa dạng, phong phú của cán bộ, chiến sĩ

Trang 11

Hoạt động biểu diễn nghệ thuật hiện nay đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức Điều này không chỉ đến từ lý do của dịch bệnh COVID-19,

mà còn bởi những lý do liên quan đến quản lý văn hóa Việc thiếu những kỹ năng quản lý và kỹ năng kinh doanh trong quản lý hoạt động biểu diễn khiến cho các đơn vị nghệ thuật lúng túng trong nền kinh tế thị trường Đoàn văn công quân đội lại là những đơn vị nghệ thuật đặc thù Ra đời trong chiến tranh với nhiệm vụ phục vụ quân đội, nâng cao đời sống tinh thần cho chiến sĩ, giờ đây, bối cảnh xã hội thay đổi đòi hỏi các đoàn văn công quân đội cũng cần có cách thích nghị với điều kiện cụ thể Để làm được điều đó, việc nâng cao hiệu quả công tác quản lý HĐBDNT tại các Đoàn VCQĐ là rất cần thiết Hiện nay, các Đoàn VCQĐ đang phải đối mặt với những khó khăn trong vấn đề quản lý nói chung và quản lý HĐBDNT nói riêng Từ kĩ năng, phương thức quản lý; phát triển nguồn nhân lực, xây dựng nội dung, hình thức, phương thức biểu diễn nghệ thuật; cơ sở vật chất và đặc biệt là cơ chế chính sách đặc thù cho lĩnh vực này

Bởi những yếu tố trên, NCS lựa chọn đề tài Quản lý hoạt động biểu

diễn nghệ thuật tại các Đoàn Văn công Quân đội trong giai đoạn hiện nay

như một nghiên cứu ứng dụng nh m đưa ra những giải pháp về công tác quản

lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật của các Đoàn VCQĐ nh m nâng cao chất lượng quản lý các hoạt động nghệ thuật tại các đoàn VCQĐ

2 M c đ ch v nhiệm v nghi n cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật của các ĐoànVCQĐ, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động này ở các đoàn VCQĐ trong thời gian tới

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận án có các nhiệm vụ chủ

yếu sau đây:

Trang 12

- Hệ thống hóa những khái niệm những vấn đề lý luận và thực tiễn về

HĐBDNT và cơ chế quản lý các hoạt động này tại các đoàn VCQĐ

- Phân tích thực trạng công tác quản lý HĐBDNT của một số đoàn văn công theo phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Đánh giá chất lượng các HĐBDNT qua việc phân tích, làm rõ các nguyên nhân của ưu điểm và hạn chế từ thực trạng quản lý hoạt động này tại

03 đoàn VCQĐ từ năm 2018 đến nay

- Nêu định hướng và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng các

HĐBDNT tại các đoàn VCQĐ nh m đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ, gắn liền với

xu hướng phát triển văn hóa nghệ thuật của Quân đội và đất nước trong giai đoạn hiện nay

3 Đối tư ng v phạm vi nghi n cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Công tác quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật của các Đoàn Văn công Quân đội trong giai đoạn hiện nay

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian: luận án lựa chọn 03 Đoàn Văn công là Đoàn Văn công

Quân khu 1 (QK1); Đoàn Văn công Quân khu 3 (QK3) và Đoàn Văn công Quân chủng Phòng Không - Không quân (PKKQ) vì các lí do sau:

- Đoàn Văn công QK1 có địa bàn biểu diễn tại các tỉnh miền núi phía Bắc gồm: Lạng Sơn, Cao B ng, Bắc Giang, Bắc Kạn, Bắc Ninh và Thái Nguyên…

- Đoàn Văn công QK3 có địa bàn biểu diễn tại 9 tỉnh/ thành phố vùng duyên hải và đồng b ng phía Bắc gồm: Quảng Ninh (vùng Đông Bắc Bộ), Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình (vùng đồng b ng sông Hồng) và Hòa Bình (vùng Tây Bắc Bộ)

- Đoàn Văn công Quân chủng PKKQ với đặc thù là một đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp thuộc Quân chủng mang đặc thù của khoa học kĩ thuật có

Trang 13

địa bàn biểu diễn tại khắp các điểm đóng quân trên cả nước, từ Bắc vào Nam

Như vậy, việc lựa chọn 3 đơn vị VCQĐ có tính đại diện địa bàn biểu diễn: miền núi, vùng duyên hải và đồng b ng, cũng như có tính linh hoạt theo nhiệm vụ điều động của Cục Chính trị; Cục Tuyên huấn; Tổng Cục Chính trị theo từng mục đích và giai đoạn Trong nghiên cứu của đề tài, chúng tôi cũng

đề cập đến bối cảnh chung của các đoàn VCQĐ và d n số liệu, thực trạng HĐBDNT của 03 Đoàn để làm rõ những luận điểm đưa ra

Về thời gian: nghiên cứu đánh giá quá trình từ khi hình thành các đoàn

VCQĐ đến nay Trong đó phạm vi thời gian lấy số liệu khảo sát được thực hiện từ năm 2018 đến năm 2021 Đây là thời gian đề tài trực tiếp tiến hành khảo sát, lấy số liệu tại địa bàn

4 Phương pháp luận v phương pháp nghi n cứu

4.1 Phương pháp tiếp cận

Luận án sử dụng phương pháp tiếp cận liên ngành Phương pháp này

nh m tiếp cận quản lý HĐBDNT b ng nhiều cách thức như từ góc độ quản lý văn hoá để đánh giá hoạt động quản lý của các Đoàn VCQĐ, từ góc độ của nghệ thuật học để tìm hiểu các thành tố nghệ thuật nh m trả lời cho câu hỏi HĐBDNT nào phù hợp trong điều kiện nhân lực hiện có ở mỗi đoàn VCQĐ;

xã hội học để biết được nhu cầu thưởng thức HĐBDNT trong toàn quân hay kinh tế học văn hóa để tìm giải pháp nh m đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, bồi dưỡng diễn viên để đưa HĐBDNT trở nên thiết thực, phù hợp với điều kiện thực tiễn, trong bối cảnh hiện nay

Luận án sử dụng quan điểm nghiên cứu dựa trên nền tảng của tư tưởng

Hồ Chí Minh, chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước và

của Quân đội nhân dân Việt Nam về văn hóa nghệ thuật

4.2 Phương pháp nghiên cứu

4.2.1 Phương pháp khảo sát

Phương pháp này dự kiến được áp dụng tại 03 địa bàn: (1) Đoàn Văn

Trang 14

công quân khu 1, (2) Đoàn Văn công quân khu 3; (3) Đoàn Văn công quân chủng Phòng không - Không quân nh m tìm hiểu thực trạng HĐBDNT và qua đó biết được mặt tích cực, hạn chế để đưa ra những giải pháp phù hợp

- Phương pháp điều tra, phỏng vấn sâu

Tham vấn chuyên gia: phỏng vấn các nhà quản lý, các nghệ sĩ, các chuyên gia trong và ngoài Quân đội thuộc lĩnh vực quản lý văn hóa, thực hành nghệ thuật biểu diễn

Phiếu điều tra xã hội học: Khảo sát nhu cầu và đánh giá về các hoạt động biểu diễn nghệ thuật của đối tượng thụ hưởng nghệ thuật, điều tra phỏng vấn một cách ng u nhiên b ng phiếu hỏi cán bộ, chiến sĩ tại 10 đơn vị cơ sở thuộc các địa bàn đóng quân của Quân khu 1, Quân khu 3, Phòng không - Không quân với 495 phiếu phỏng vấn Kết quả khảo sát được xử lý b ng chương trình phần mềm SPSS 22.0

4.2.2 Phương pháp tổng hợp

Tất cả các tài liệu trong nước và nước ngoài được tìm kiếm theo các chủ đề: (1) Lý thuyết về quản lý văn hóa (2) Lý thuyết về nghiên cứu ứng dụng Nghệ thuật học (3) Các công trình nghiên cứu ứng dụng các mô hình quản lý văn hóa nghệ thuật trong Quân đội Nguồn tài liệu cho chủ đề (1) và (2) tập hợp qua các thư viện và sự tư vấn của các chuyên gia thì tài liệu cho chủ đề (3) được tìm kiếm từ 2 nguồn: (1) các tài liệu lưu trữ trong các đoàn Văn công Quân đội từ 2018 đến nay (2) những hoạt động biểu nghệ thuật tại các đoàn Văn công Quân đội từ 2018 đến nay

Phương pháp này được sử dụng để hệ thống hóa những thông tin, dữ liệu liên quan đến đối tượng nghiên cứu, các văn bản chỉ đạo tổ chức HĐNTBD của các Đoàn Văn công quân từ năm 2018 đến nay Phương pháp này cho phép người viết nhìn nhận vấn đề một cách chỉnh thể, từ đó rút ra những kết luận, những tổng kết, đánh giá về vấn đề nghiên cứu

4.3 Cách thức tiến hành khảo sát, điều tra thực trạng

Trang 15

Đề tài tiến hành các phương pháp nghiên cứu, khảo sát như sau:

- Tổng hợp số liệu về hoạt động biểu diễn nghệ thuật, hoạt động quản

lý biểu diễn nghệ thuật của các Đoàn Văn công Quân khu 1, Quân khu 3, Phòng không - Không quân

- Tổ chức khảo sát thực tế tại các Đoàn Văn công

- Tổ chức phát phiếu điều tra cho cán bộ chiến sĩ các đơn vị có các Đoàn Văn công đến biểu diễn với 495 phiếu phỏng vấn Kết quả khảo sát được xử lý b ng chương trình phần mềm SPSS 22.0 Phép phân tích được dùng trong nghiên cứu là: Phân tích thống kê mô tả tần suất (%), phân tích tương quan giữa biến số độc lập và biến số phụ thuộc, điểm trung bình Mean

với cơ cấu m u như sau: Về giới tính: Về cơ cấu giới tính trong cuộc khảo sát,

tỷ lệ nam giới là 94.5% (468 người) và nữ giới là 27 người chiếm 5.5%; Về

tuổi: độ tuổi của cán bộ tham gia trong cuộc khảo sát từ 17 đến 54 tuổi, phân

chia theo nhóm tuổi ta có: nhóm từ 25 tuổi trở xuống là 194 người chiếm 39.2%, từ 26-35 tuổi chiếm 26.7% (132 người) và từ 36 tuổi trở lên chiếm 37.1% với 169 người Để so sánh giá trị trung bình của biến độc lập với biến phụ thuộc, tức là so sánh điểm trung bình giữa 2 nhóm tuổi với các biến phụ thuộc, NCS phân chia tuổi của người trả lời thành 2 nhóm là dưới 30 tuổi và trên 30 tuổi trong phân tính so sánh điểm trung bình ở một số nội dung có ý nghĩa thống kê

- Phỏng vấn sâu cán bộ quản lý các Đoàn Văn công, các chiến sĩ, diễn viên các Đoàn VCQĐ, các chuyên gia trong lĩnh vực quản lý HĐBDNT để có những nhận định khách quan về công tác quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật của các Đoàn VCQĐ

5 Câu hỏi nghi n cứu v giả thuyết nghi n cứu

5.1 Câu hỏi nghiên cứu

- HĐBDNT và quản lý HĐBDNT của các Đoàn VCQĐ có đặc thù gì

Trang 16

5.2 Giả thuyết nghiên cứu

- Hoạt động biểu diễn nghệ thuật của các đoàn VCQĐ là nội hàm hoạt động của các thiết chế văn hóa, là một bộ phận của công tác Đảng, công tác Chính trị (CTĐ, CTCT) của Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam nh m đáp ứng nhu cầu sáng tạo, phổ biến, hưởng thụ, bảo tồn các giá trị văn hóa; tuyên truyền giáo dục, nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần cho bộ đội Đồng thời góp phần đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống… góp phần củng cố vững chắc trận địa văn hóa tư tưởng của Đảng trong Quân đội, xây dựng và phát huy nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Chính vì vậy, công tác quản lý HĐBDNT của các Đoàn VCQĐ cũng có những đặc thù riêng, khác với công tác quản lý HĐBDNT của các đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp công lập

- Công tác quản lý HĐBDNT của các Đoàn VCQĐ trong giai đoạn hiện nay đã được thực hiện tốt, hiệu quả cao, góp phần nâng cao đời sống tinh thần của cán bộ, chiến sĩ, thực hiện tốt các vai trò, nhiệm vụ chính trị đặt ra Tuy nhiên, thực trạng công tác quản lý v n còn nhiều hạn chế, bất cập cần được khắc phục

- Để công tác quản lý HĐBDNT tại các Đoàn VCQĐ đạt được hiệu quả cao cần có những giải pháp đồng bộ, kịp thời, toàn diện, bám sát quan điểm, chủ trương, định hướng của Đảng, Nhà nước về chiến lược phát triển văn hóa của đất nước và trong Quân đội, đáp ứng yêu cầu phát triển văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học, thống nhất trong đa

Trang 17

dạng của cộng đồng các dân tộc, đảm bảo văn hóa là sự nghiệp của toàn dân

do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân là chủ thể sáng tạo, đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ và những người làm công tác văn hóa giữ vai trò nòng cốt

6 Ý nghĩa khoa học v thực tiễn của đề t i

6.1 Ý nghĩa khoa học

- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về các HĐBDNT; các quan điểm,

giải pháp về nâng cao chất lượng HĐBDNT trong Quân đội

- Xác định hệ quy chiếu giữa giá trị nghệ thuật, HĐBDNT và cơ chế

quản lý từ đó đề xuất định hướng và xây dựng các nhóm giải pháp quản lý mang tính hệ thống Đây được xem là đóng góp có ý nghĩa khoa học quan trọng đối với khoa học chuyên ngành Quản lý văn hóa bởi việc hướng đến

nghiên cứu ứng dụng của ngành khoa học này

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Kết quả nghiên cứu đóng góp thêm các phương thức quản lý

HĐBDNT hướng tới các giá trị mà không tách rời hay đi ngược với cơ chế

quản lý văn hóa nghệ thuật trong Quân đội

- Kết quả nghiên cứu giúp các Đoàn VCQĐ, các cán bộ quản lý văn

hóa, nhận diện những tác động tích cực của giá trị nghệ thuật trong các

HĐBDNT

- Kết quả nghiên cứu góp phần trong việc phát triển văn hóa nghệ thuật

trong Quân đội giai đoạn hiện nay, từ đó trở thành bài học kinh nghiệm cho

các nhà quản lý, lãnh đạo các Đoàn VCQĐ

Trang 18

về các đoàn văn công quân đội (42 trang)

Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật của các

đoàn văn công quân đội (45 trang)

Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng quản lý hoạt động biểu diễn

nghệ thuật tại các đoàn văn công quân đội (48 trang)

Trang 19

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ CÁC ĐOÀN VĂN CÔNG QUÂN ĐỘI

1.1 Tổng quan tình hình nghi n cứu

1.1.1 Những công trình nghiên cứu về quản lý văn hoá nghệ thuật, quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật

1.1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài

Tác giả Laurent Lapierre với bài “Lãnh đạo và quản lý nghệ thuật” [144]

đã nhìn nhận quản lý một tổ chức nghệ thuật dưới góc nhìn quản lý chung với việc quản lý nhân sự - nghệ sĩ Một tổ chức nghệ thuật cũng như một doanh nghiệp Muốn việc quản lý đạt hiệu quả phải phụ thuộc vào quản lý người nghệ

sĩ Đây vừa là vấn đề chung mà cũng là vấn đề riêng trong quản lý nghệ thuật

Vì người nghệ sĩ vừa là nhân lực của 1 tổ chức, vừa có những đặc điểm riêng của người sáng tạo nghệ thuật Sự thành công của các tổ chức nghệ thuật nói chung phụ thuộc vào khả năng s n sàng của người nghệ sĩ cống hiến bản thân mình cho tác phẩm, bộ môn nghệ thuật hay cho một tiết mục

Thống nhất quan điểm này, trong Management and the Arts (Quản lý

nghệ thuật), tác giả Byrnes cũng đánh giá quá trình quản lý 1 tổ chức nghệ thuật cũng giống quản lý ở các tổ chức khác, đó là quá trình lập kế hoạch, điều hành, lãnh đạo và giám sát nh m đạt được mục tiêu của tổ chức [139]

Art management (Quản lý nghệ thuật) [140]; “From Arts Management

to Cutural Adminitration” (Từ quản lý nghệ thuật đến quản trị văn hoá) [142];

“Leader ship and Arts Management” (Lãnh đạo và quản lý nghệ thuật) [144]

đều đề cập đến vai trò quan trọng của công tác quản lý, định hướng trong sự tồn tại phát triển của tổ chức

Các công trình nghiên cứu về quản lý tổ chức nghệ thuật của các nhà nghiên cứu trên thế giới cũng là nguồn tài liệu tham khảo trong đề tài, như:

Trang 20

How to run a theatre (Làm thế nào để vận hành một tổ chức nghệ thuật: một hướng dẫn thú vị, thực tế về quản lý văn hoá nghệ thuật) [136] đã đưa ra

những giải pháp nh m phát huy sự sáng tạo của một đơn vị hoạt động nghệ thuật trong bối cảnh phải tự chủ về mặt tài chính Trong đó có những ví dụ minh họa việc tổ chức hoạt động nghệ thuật hướng đến công chúng, để bán vé nhưng v n giữ được tính nghệ thuật

Cuốn Theatre Management: Producing and Managing the Perfoming

Arts (Quản lý nhà hát: Sản xuất và quản lý nghệ thuật) [141] đưa ra mô hình

hoạt động mà việc quản lý nh m tạo điều kiện và thúc đấy sự đa dạng và sáng tạo của nghệ sĩ

Trong bài “Làm thế nào để vận hành một tổ chức nghệ thuật: một hướng d n thú vị, thực tế về quản lý văn hoá nghệ thuật” của Jim Volz [143]

đã phân tích hiện trạng quản lý hoạt động nghệ thuật, trong đó có đề cập đến công cụ quản lý, cấu trúc tổ chức và nguồn nhân lực Đồng thời tác giả đưa ra các đề xuất liên quan đến cải cách các công cụ quản lý, về cơ cấu tổ chức và nguồn nhân lực

Như vậy, các nghiên cứu đều đề cập đến vai trò của công tác quản lý nguồn nhân lực, trong đó kh ng định nguồn nhân lực luôn đóng một vai trò quan trọng trong sự tồn tại phát triển của tổ chức Tuy nhiên các nghiên cứu này được nghiên cứu trong bối cảnh của các nước phương Tây, nơi có nền kinh tế và khoa học phát triển, do đó các nghiên cứu này có mô hình quản lý nhân lực phù hợp với đơn vị nghệ thuật ở các nước phát triển

Các nghiên cứu về quản lý nghệ thuật đều nhận định được những đặc thù và khó khăn riêng của ngành nghệ thuật, trong đó nhấn mạnh tác động của yếu tố môi trường khách quan và chủ quan, cũng như tầm quan trọng của việc thích ứng với môi trường và xây dựng môi trường thuận lợi để kích thích, tạo coư hội cho sáng tạo của người nghệ sĩ

Trang 21

1.1.1.2 Nghiên cứu trong nước

Các nghiên cứu lý luận về quản lý văn hóa ở Việt Nam rất rộng và có tầm khái quát cao Đề tài chỉ tổng quan một số các công trình lý luận chung

về văn hóa nghệ thuật được xem xét, nghiên cứu, làm cơ sở lý luận cho đề tài như:

Cuốn Văn hoá nghệ thuật với sự hình thành nhân cách và phát triển xã

hội của tác giả Nguyễn Đình Quang (1998) Tác phẩm đề cập đến vấn đề văn

hoá, nghệ thuật trong sự hình thành và phát triển xã hội Nội dung cuốn sách này củng cố luận điểm về mối quan hệ giữa các hoạt động văn hoá xã hội trong sự hình thành, phát triển nhân cách tốt đẹp của mỗi cá nhân trong xã hội hay của mỗi người lính Đây là cơ sở cần thiết định hướng trong nghiên cứu của đề tài [91]

Năm 2001, tác giả Nguyễn Khoa Điềm trong Xây dựng và phát triển

nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã có những nghiên cứu cụ thể

về tình hình văn hoá dân tộc hiện nay, Trong cuốn sách, tác giả đã đưa ra những d n chứng cụ thể về các hoạt động văn hoá dân tộc, từ đó đề xuất biện pháp xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong bối cảnh xây dựng, phát triển, hội nhập và giao lưu văn hoá [38]

Góp phần quan trọng trong xây dựng hệ thống lý luận về quản lý văn hoá, đề tài có tham khảo một số công trình nghiên cứu liên quan như: cuốn

Quản lý hoạt động văn hoá (1998) của nhóm tác giả Nguyễn Văn Hy, Phan

Văn Tú đã đề cập đến những khái niệm cơ bản của khoa học quản lý như: quản lý, quản lý văn hoá, chính sách văn hoá, quy trình quản lý văn hoá, nội dung quản lý văn hoá trên tất cả các lĩnh vực về văn hoá nghệ thuật, về hợp tác quốc tế về xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở, Đây là những căn cứ xác

đáng mà đề tài có thể tham khảo [63], Mấy vấn đề lí luận và thực tiễn xây

dựng văn hoá ở nước ta của tác giả Hoàng Vinh [126] Trong cuốn này,

Trang 22

những khái niệm, cách tiếp cận được tác giả hệ thống và có những ví dụ từ thực tiễn giúp cho đề tài hiểu rõ hơn về tác động của lí luận vào thực tiễn quản lý, xây dựng văn hoá trong bối cảnh đặc thù như ở Việt Nam

Đề cập đến mảng chính sách văn hoá, năm 2009, cuốn Chính sách văn

hoá trên thế giới và việc hoàn thiện chính sách văn hoá ở Việt Nam của tác

giả Nguyễn Văn Tình tập trung trình bày chính sách của một số nước phát triển trong khu vực và trên thế giới, cũng như đánh giá tình hình thực thi chính sách văn hoá ở Việt Nam Qua đó, tác giả đã đề xuất hệ thống các giải pháp nh m hoàn thiện chính sách văn hoá ở Việt Nam Những giải pháp trong cuốn sách này là những gợi ý cho đề tài nh m đề xuất, đưa ra giải pháp hoàn thiện trong công tác quản lý các đoàn văn công trong bối cảnh hiện nay [108]

Cũng bàn về kinh nghiệm thực tiễn về quản lý văn hoá ở một số nước phát triển đã đạt được những thành tựu nhất định là điều rất cần thiết cho những nhà quản lý nghệ thuật Tác giả Phan Hồng Giang và Bùi Hoài Sơn trong bài viết “Quản lý văn hoá ở một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” đã tìm hiểu kinh nghiệm quản lý văn hoá ở các quốc gia tiêu biểu như Anh, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, và Trung Quốc Từ đó, đề ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam [44, tr 12-14]

Cuốn sách Quản lý văn hoá Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội

nhập quốc tế của Phan Hồng Giang và Bùi Hoài Sơn đồng chủ biên Nội dung

cuốn sách giới thiệu những quan điểm chung về quản lý văn hoá trong bối cảnh hiện nay; giới thiệu kinh nghiệm quản lý văn hoá của một số quốc gia trên thế giới; đánh giá thực trạng quản lý văn hoá ở Việt Nam từ khi bắt đầu tiến trình đổi mới (1986); đề xuất những định hướng, giải pháp nh m hoàn thiện và nâng cao hiệu quả quản lý văn hoá trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế Đây

là tài liệu tham khảo có tính định hướng chung cho các quan điểm về hoạt động quản lý văn hoá ở nước ta trong giai đoạn hiện nay [45]

Trang 23

Cũng bàn về quản lý văn hoá trong bối cảnh hội nhập quốc tế có thể kể

đến cuốn Hợp tác quốc tế về văn hoá trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam của

tác giả Lê Thị Hoài Phương (2009) Tác giả đánh giá những mặt ưu điểm và hạn chế của mô hình quản lý lý văn hoá ở các phương diện: cơ chế quản lý, công tác đào tạo, đãi ngộ, chế độ dành cho đào tạo và bồi dưỡng nhân lực ở nước ngoài của trong các tổ chức văn hoá nghệ thuật [86]

Năm 2010, cuốn Văn hoá Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế

quốc tế của tác giả Nguyễn Chí Bền Cuốn sách đã phác hoạ bức tranh toàn

cảnh về nền văn hoá Việt Nam theo dòng chảy lịch sử từ quá khứ đến hiện tại, với mọi mặt của đời sống văn hoá xã hội, cũng như đề cập đến hiện trạng và những tác động của quá trình hội nhập quốc tế đối với các thành tố của nền văn hoá dân tộc [18]

Ngoài ra còn một số giáo trình như: Lược sử Quản lý văn hoá ở Việt Nam của tác giả Hoàng Sơn Cường; Quản lý văn hoá trong kinh tế thị trường

định hướng xã hội chủ nghĩa của tác giả Nguyễn Tri Nguyên,… được biên

soạn để giảng dạy và học tập của giảng viên, học viên và sinh viên Các giáo trình đã đề cập tới nội dung của quản lý lĩnh vực văn hoá như quản lý đời sống văn hoá ở cơ sở, môi trường bảo tồn di sản văn hoá trong bối cảnh giao lưu, hội nhập quốc tế,… Đây là các giáo trình mang tính đại cương, cơ bản, cung cấp những vấn đề quản lý về các lĩnh vực văn hoá

Đề cập trực tiếp đến các vấn đề nghệ thuật phải kể đến các công trình như:

Năm 2001, trong bài nghiên cứu “Quản lý văn hoá nghệ thuật” của tác giả Lương Hồng Quang đã đưa đến cho người đọc nhiều vấn đề có tính nguyên lý quan trọng trong quản lý văn hoá như: Khái niệm quản lý, nhà quản

lý, cấp độ quản lý, tiến trình quản lý, kinh tế học và nghệ thuật, marketing, gây quỹ Đây có thể coi là những nghiên cứu lý luận đầu tiên về quản lý trong

Trang 24

lĩnh vực nghệ thuật ở nước ta trong bối cảnh nền kinh tế thị trường [92]

Năm 2004, cuốn Nhập môn Quản lý Văn hoá nghệ thuật do tác giả

Lương Hồng Quang và Đỗ Thị Thanh Thủy biên dịch Nội dung cuốn sách gồm 7 chương, gồm những nội dung mang tính sơ khởi, căn bản nhất trong lĩnh vực quản lý văn hoá nói chung, quản lý nghệ thuật nói riêng [94]

Cũng bàn về những vấn đề căn bản của quản lý nghệ thuật, tác giả Lương Hồng Quang trong bài viết “Tổ chức nghệ thuật và vấn đề quản lý tài chính” (2004) [93, tr 24-26], hay bài “Về ngành quản lý văn hoá” (2009) [58,

tr 32-34.] của tác giả Phạm Bích Huyề đều đề cập đến vấn đề quản lý tài chính trong các tổ chức nghệ thuật, phân tích điểm giống và khác nhau trong quản lý tài chính của tổ chức lợi nhuận và tổ chức phi lợi nhuận về nghệ thuật, vì sao nhà quản lý phải coi trọng quản lý tài chính?

Công trình Về lãnh đạo, quản lý văn học nghệ thuật trong công cuộc đổi

mới của tác giả Nguyễn Duy Bắc đã tuyển chọn các nghị quyết, chỉ thị, báo cáo

chính trị và bài viết của nhiều nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước như: Tổng bí thứ Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu,… về xây dựng, phát triển văn học nghệ thuật Cùng các bài viết của nhiều nhà nghiên cứu như Hồ Sĩ Vịnh, Nguyễn Duy Bắc, Phạm Duy Đức, Phan Cự Đệ, Trần Văn Bính, Từ Sơn, Trần Đình Sử, đưa đến nhiều góc độ, nhiều quan điểm khác nhau xoay quanh chủ

đề lãnh đạo, quản lý văn học nghệ thuật trong công cuộc đổi mới [16]

Nhìn từ góc độ các đơn vị biểu diễn nghệ thuật, tác giả Phạm Phương Thuỳ lại kh ng định, bên cạnh vai trò của nhà nước, các đon vị cũng phải chủ động tìm hướng đi riêng để phát triển Các đơn vị cần có chính sách riêng để phát triển đội ngũ nghệ sĩ, diễn viên thuộc đơn vị mình, từ khâu: tuyển chọn,

bố trí việc làm đúng năng lực, sở trường, có chế độ bồi dưỡng, đãi ngộ thoả đảng Bên cạnh đó, các đơn vị không chỉ trông chờ vào nguồn ngân sách nhà nước mà cần xây dựng cơ chế xã hội hoá, tăng cường kêu gọi tài trợ từ các tổ

Trang 25

chức, cá nhân bên ngoài nhà nước [105]

Cũng nghiên cứu vấn đề cơ chế, chính sách tạo bước phát triển đột phá cho các đơn vị nghệ thuật là bài viết “Một số đề xuất về chính sách cấp bách trong nghệ thuật biểu diễn”, Đào Đăng Hoàn (2011) [57] Bài viết đề xuất một

số chính sách để phát triển nghệ thuật biểu diễn như: có Bộ Luật cho hoạt động biểu diễn nghệ thuật; xây dựng các quy định về điều kiện tuyển dụng và chế độ đãi ngộ cho nghệ sĩ phù hợp…

Năm 2014, liên quan đến nhu cầu thẩm mỹ trong hoạt động nghệ thuật, tác giả Lê Hường trong bài viết “Những mâu thu n của việc nâng cao nhu cầu thẩm mỹ trong hoạt động nghệ thuật ở nước ta hiện nay” đã chỉ ra bốn mâu thu n cơ bản trong quá trình thực hiện mục tiêu nâng cao nhu cầu thẩm mỹ trong các hoạt động nghệ thuật cho công chúng hiện nay, đó là:

- Mâu thu n giữa truyền thống và hiện đại

- Mâu thu n giữa cái tôi và cái ta

- Mâu thu n giữa tính giải trí và tính nghệ thuật

- Mâu thu n giữa mục tiêu nâng cao nhu cầu thẩm mỹ cho nhân dân với thực trạng quản lý hoạt động văn hoá nghệ thuật

Trên cơ sở đó, tác giả đề ra một số biện pháp khắc phục những mâu thu n này nh m hiện thực hoá chủ trương nâng cao nhu cầu thẩm mỹ trong hoạt động nghệ thuật, để văn hoá ngày càng thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội [61, tr 29-36]

Tác giả Lê Hường trong cuốn Nâng cao nhu cầu thẩm mỹ trong hoạt

động nghệ thuật ở Việt Nam hiện nay đưa ra luận điểm và phân tích: Thỏa

mãn nhu cầu thẩm mỹ trong văn học và nghệ thuật là làm cho con người tin tưởng vào một hệ giá trị nhân văn của dân tộc, để hành động, vun đắp, xây dựng và bảo vệ nó [62, tr 29]

Về quản lý hoạt động nghệ thuật trong cơ chế thị trường, cuốn sách

Trang 26

Quản lý hoạt động nghệ thuật biểu diễn trong cơ chế thị trường của tác giả Lê

Thị Hoài Phương đã khái quát về nghệ thuật biểu diễn Việt Nam và trình bày nội dung quản lý nghệ thuật biểu diễn trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam Trong công trình này, tác giả đã nghiên cứu quá trình xã hội hoá hoạt động nghệ thuật biểu diễn Kinh nghiệm quản lý hoạt động nghệ thuật biểu diễn ở nước Anh Hoạt động biểu diễn nghệ thuật của các nghệ sĩ không chuyên được tác giả đề cập đến như một nhu cầu tất yếu của sự phát triển xã hội, hay nhu cầu thưởng thức của công chúng (đặc biệt ở những nơi công cộng) Tuy nhiên, do mục đích riêng nên tác giả chỉ tập trung nghiên cứu về quản lý nghệ thuật biểu diễn trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam, việc xã hội hoá hoạt động nghệ thuật biểu diễn Qua đó đưa ra một số giải pháp định hướng phát triển ngành nghệ thuật biểu diễn [89]

Các công trình nghiên cứu này đều có những đánh giá khách quan, khoa học về thành tựu cũng như khó khăn, hạn chế của công tác quản lý nguồn nhân lực trong các tổ chức nghệ thuật hiện nay, đồng thời đề xuất những giải pháp nh m tháo gỡ khó khăn trong công tác quản lý

1.1.2 Những công trình nghiên cứu về hoạt động nghệ thuật trong Quân đội

+ Nghiên cứu về hoạt động nghệ thuật trong Quân đội nói chung

Văn hoá, văn nghệ là một hình thức hoạt động cơ bản của công tác Đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam, có vai trò quan trọng, trực tiếp giáo dục chính trị tư tưởng, xây dựng động cơ, ý chí, quyết tâm cho cán bộ, chiến sĩ Cùng với các mặt công tác khác, thông qua các hoạt động văn hoá, văn nghệ nh m làm cho thế giới quan Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước giữ vị trí chủ đạo trong đời sống chính trị tinh thần của Quân đội; góp phần hình thành phát triển nhân cách quân nhân, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư

Trang 27

tưởng, tổ chức, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ được giao Trong đó, việc tổ chức hoạt động biểu diễn nghệ thuật góp phần không nhỏ vào việc hoàn thiện nhân cách của mỗi thành viên trong cộng đồng nói chung và của mỗi người lính nói riêng Việc tổ chức tốt hoạt động biểu diễn nghệ thuật cho người lính tạo tiền đề thúc đẩy quá trình huấn luyện và rèn luyện đạt kết quả cao trong các đơn vị Đối với lĩnh vực này không có nhiều tài liệu nghiên cứu chuyên khảo mà chỉ có một số công trình nghiên cứu liên quan có thể tham khảo như:

Năm 2003, tác giả Ứng Duy Thịnh thực hiện đề tài khoa học cấp Tổng

cục Chính trị: Nâng cao chất lượng hoạt động ca múa nhạc chuyên nghiệp

trong quân đội hiện nay Trong đề tài này, tác giả đã khái quát một số vấn đề

lý luận và thực tiễn về nâng cao chất lượng hoạt động ca múa nhạc chuyên nghiệp trong Quân đội, từ đó đề ra một số giải pháp để nâng cao chất lượng các hoạt động này như: Xác định đối tượng phục vụ làm cơ sở để xây dựng và biểu diễn nghệ thuật; Nâng cao chất lượng nghệ thuật ca múa nhạc; Nâng cao chất lượng công tác Đảng, công tác chính trị trong hoạt động nghệ thuật; Nâng cao chất lượng biểu diễn nghệ thuật và một số nguyên tắc cơ bản trong quá trình xây dựng chương trình; Đầu tư kinh phí, trang thiết bị, ứng dụng những thành tựu khoa học tiên tiến; Tăng cường hợp tác giữa các đoàn nghệ thuật trong và ngoài quân đội Đề tài nghiên cứu trong bối cảnh đất nước có những chuyển biến sâu rộng trên cơ sở của giao lưu và hội nhập quốc tế, cũng như nhiệm vụ của người lính trong thời bình có những chuyển biến rõ ràng, từng bước tham gia sâu rộng vào đời sống xã hội như làm kinh tế, hỗ trợ người dân ở những vùng còn khó khăn Do đó, kết quả nghiên cứu của đề tài giúp cơ quan chủ quan, Tổng cục Chính trị, có những điều chỉnh kịp thời, phù hợp với những đổi thay của xã hội nói chung và Quân đội nói riêng [101]

Xuất phát từ nhu cầu đời sống tinh thần của cán bộ, chiến sĩ và đặc thù của nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, nên các hoạt động văn hoá nghệ thuật trong

Trang 28

Quân đội đã được hình thành ngay từ khi Đảng ta thành lập ra các tổ chức vũ trang cách mạng đầu tiên Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định: “Văn hoá, văn nghệ là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời và có tác dụng trực tiếp, to lớn đối với nhiệm vụ xây dựng Quân đội và các lực lượng vũ trang cách mạng nói chung và để nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng nói riêng” [80, tr.163-164]

Năm 2007, tác giả Nguyễn An Thuyên thực hiện đề tài khoa học cấp

Bộ Quốc phòng Đổi mới nội dung phương thức hoạt động văn hoá nghệ thuật

góp phần bồi dưỡng phẩm chất bộ đội Cụ Hồ thời kì mới Đề tài gồm 3

chương đã làm rõ được cơ sở lý luận và thực tiễn trong việc đổi mới nội dung, phương thức hoạt động văn hoá - nghệ thuật trong Quân đội (chương 1); Những vấn đề cơ bản về đổi mới nội dung, phương thức hoạt động văn hoá - nghệ thuật trong Quân đội (chương 2); Các giải pháp thực hiện đổi mới nội dung, phương thức hoạt động văn hoá - nghệ thuật trong Quân đội (chương 3) Theo đó, trong đề tài nghiên cứu này, tác giả đã trình bày và làm rõ nội dung các thiết chế văn hoá trong Quân đội cũng ngày càng phát triển, hoàn thiện và tương đối ổn định; hoạt động có hiệu quả, phát huy được chức năng, nhiệm vụ, giữ vững định hướng chính trị trong hoạt động, góp phần nâng cao đời sống văn hoá, tinh thần, góp phần chống lại văn hoá xấu độc và âm mưu thủ đoạn diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch, phản động Đặc biệt từ năm 1992, thực hiện Nghị quyết Trung ương IV (khoá VII), Bộ Quốc phòng

và Tổng cục Chính trị đã chỉ đạo, củng cố, tổ chức lại hệ thống thiết chế văn hoá trong Quân đội Đề tài làm rõ những vấn đề lý luận, quan điểm, đường lối, chính sách, nguyên tắc hoạt động văn hoá nghệ thuật của Đảng cộng sản Việt Nam, những vấn đề về phẩm chất, nhân cách của quân đội cách mạng

Đề tài cũng đã làm rõ những tác động tích cực của hoạt động văn hóa nghệ thuật trong việc hình thành nhân cách chiến sĩ, từ đó đề xuất một số giải pháp đổi mới nội dung, phương thức hoạt động văn hóa nghệ thuật trong quân đội

Trang 29

góp phần xây dựng hình ảnh bộ đội Cụ Hồ Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần tác động không nhỏ đến nhận thức, đường lối chỉ đạo trong toàn quân về hoạt động văn hoá nghệ thuật sau hơn 20 năm đổi mới (từ 1986) [106]

Năm 2009, tác giả Đặng Mỹ Hạnh thực hiện đề tài khoa học cấp Tổng

cục Chính trị: Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng biểu diễn ca múa

nhạc của các đoàn nghệ thuật trong Quân đội hiện nay Đề tài đã nghiên cứu

thực trạng hoạt động biểu diễn tại các đơn vị nghệ thuật trong Quân đội giai đoạn hiện tại, xây dựng các giải pháp nâng cao nhận thức vai trò của nghệ thuật biểu diễn ca, múa, nhạc trong đời sống tinh thần bộ đội, nâng cao trình

độ thẩm mỹ, thị hiếu nghệ thuật ở các đơn vị cơ sở, nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý, xây dựng phng trào hoạt động văn hoá văn nghệ tại các đơn vị

cơ sở, kết hợp đồng bộ giữa các cấp quản lý từ góc tiếp cận hoạt động biểu diễn [48]

Năm 2011, tác giả Nguyễn Thị Tuyết Mai thực hiện luận văn thạc sỹ

của về Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật ca - múa - nhạc dân tộc trong

các đoàn nghệ thuật Quân đội đã tập trung nghiên cứu hoạt động biểu diễn

nghệ thuật ca - múa - nhạc dân tộc ở một số đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp trong thời kỳ hội nhập từ năm 2005 - 2010 Luận văn đánh giá thực trạng, vai trò, giá trị của hoạt động biểu diễn ca - múa - nhạc dân tộc trong đời sống tinh thần của chiến sĩ và nhân dân; chỉ ra những nội dung cơ bản trong hoạt động quản lý biểu diễn nghệ thuật, đồng thời đề xuất một số giải pháp nh m nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật ca - múa - nhạc

ở các đơn vị nghệ thuật trong thời kỳ hội nhập [71]

Năm 2013, tác giả Nguyễn Đức Trịnh thực hiện đề tài khoa học cấp Bộ

Quốc phòng Phát triển nguồn nhân lực văn hoá nghệ thuật Quân đội thời kì

mới, trong đó đã phân tích làm rõ những vấn đề lý luận và đặc điểm của

nguồn nhân lực văn hóa nghệ thuật quân đội, làm tiền đề cho việc xác định cơ

Trang 30

cấu và trình độ chuyên môn cần đạt được đối với nguồn nhân lực văn hóa nghệ thuật Quân đội, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới Đề tài đánh giá thực trạng đội ngũ hoạt động văn hóa nghệ thuật Quân đội, phân tích các nguyên nhân của ưu điểm, hạn chế và dự báo nhu cầu phát triển nguồn nhân lực văn hóa nghệ thuật từ đó đề xuất các giải pháp phát triển nguồn nhân lực văn hóa nghệ thuật thời kỳ mới như nâng cao nhận thức lãnh đạo, tăng cường sự của các cấp ủy đảng, chính trị viên và người chỉ huy các cấp đối với phát triển nguồn nhân lực Đổi mới cơ bản, đồng bộ cơ chế, chính sách phát triển nguồn nhân lực văn hóa nghệ thuật quân đội, đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục đào tạo nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại [120]

Liên quan đến nhóm nghiên cứu này, tác giả Bùi Lê Phong trong bài

viết: Nâng cao chất lượng hoạt động văn hoá văn nghệ ở đơn vị cơ sở Quân

đội đã nhận định: Đi đôi với việc quy hoạch, cần chú trọng đào tạo, bồi

dưỡng, tuyển chọn đội ngũ cán bộ, nhân viên, lực lượng có khả năng ngay từ cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị làm hạt nhân, nòng cốt hoạt động VHVN Thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán

bộ, hạt nhân VHVN của các đơn vị cơ sở; đưa các nội dung công tác VHVN vào chương trình đào tạo đối với học viên tại các học viện, trường sĩ quan quân đội Kết hợp tốt công tác giáo dục chính trị tại đơn vị với các hoạt động bồi dưỡng nâng cao khả năng, kỹ năng thực hành về tổ chức các hoạt động VHVN cho đội ngũ cán bộ cơ sở” [85, tr.113-116]

+ Nghiên cứu về hoạt động nghệ thuật của Đoàn Văn công, Nhà hát ca múa nhạc Quân đội

Sau này, khi quan điểm của Đảng về đường lối văn nghệ đã mở rộng cho nhiều hình thức và loại hình văn nghệ được tổ chức thì cũng có nhiều hơn

Trang 31

các công trình nghiên cứu liên quan như:

Năm 2001, cuốn 50 năm Đoàn ca múa nhạc Quân đội nhân dân

(1951-2001) do Nxb Quân đội Nhân dân phát hành, đã hệ thống quá trình hình

thành, phát triển của Đoàn, trong đó có đề cập đến những nghệ sĩ có những đóng góp đưa tiếng hát, tiết mục văn nghệ, chương trình nghệ thuật đến các điểm đóng quân, mặt trận trong những ngày tháng cam co của cuộc chiến chống quân xâm lược, cũng như là một địa chỉ đào tạo, biểu diễn tin cậy của Quân đội trong thời bình [79]

Năm 2018, tác giả Lê Thị Minh Thu thực hiện và bảo vệ thành công,

luận văn thạc sĩ Quản lý nhà hát ca múa nhạc quân đội, tại trường Đại học

Văn hoá Hà Nội Đề tài gồm 3 chương, trong đó có hệ thống cơ sở lý luận về quản lý nhà hát và về Nhà hát ca múa nhạc Quân đội, khảo sát thực trạng công tác quản lý của nhà hát để từ đó đưa ra giải pháp nh m nâng cao hiệu quả công tác quản lý trong tình hình mới Kết quả nghiên cứu là những dữ liệu tham khảo có giá trị trong nghiên cứu trong đề tài này [103]

Năm 2017, tác giả Lê Đặng Bảo Anh bảo vệ thành công luận văn Thạc

sỹ của về Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại Đoàn Văn công Phòng

không - Không quân Tác giả mới cũng nghiên cứu về thực trạng quản lý hoạt

động biểu diễn nghệ thuật tại Đoàn Văn công Phòng không, không quân đồng thời đưa ra một số giải pháp trong công tác quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại Đoàn [3]

Năm 2018, tác giả Nguyễn Văn Hiếu bảo vệ thành công luận văn thạc

sĩ Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật của Đoàn Văn công Quân khu 3,

tại trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương Trong nghiên cứu, trên

cơ sở những thực trạng quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật, tác giả đã đưa

ra định hướng và giải pháp nh m nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý tại Đoàn Văn công quân khu 3 Hai công trình trên đều đã đánh giá được cơ bản

Trang 32

thực trạng hoạt động quản lý biểu diễn nghệ thuật ở các đơn vị VCQĐ, qua đó góp phần đổi mới nội dung chương trình biểu diễn nghệ thuật, làm đa dạng và hấp d n hơn nữa các hoạt động biểu diễn nghệ thuật ở Đoàn Văn công [53] Tuy nhiên, đây chỉ là các nghiên cứu nhỏ lẻ, từng trường hợp, mà chưa nghiên cứu hoạt động quản lý biểu diễn nghệ thuật ở các Đoàn VCQĐ một cách tổng thể để có cái nhìn toàn diện về mặt mạnh, mặt yếu trong hoạt động của các Đoàn VCQĐ, đặc thù, sự khác biệt giữa các đoàn VCQĐ với các đơn

vị biểu diễn nghệ thuật ngoài Quân đội

+ Một số báo cáo, bài viết về hoạt động nghệ thuật tại các đoàn văn công quân đội

Năm 1998, Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam có Báo cáo tổng

kết hoạt động văn hoá, văn nghệ toàn quân tại Hội nghị Ban Chấp hành TƯ 5 khoá VIII, trong đó nhấn mạnh đến sự cần thiết đổi mới về hoạt động nghệ

thuật tại các Đoàn Văn công đáp ứng được tình hình mới, cũng như đa dạng, phong phú và đưa các hoạt động nghệ thuật tại Đoàn Văn công thực chất theo đúng mục tiêu đề ra [113]

Năm 2001, Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam xuất

bản cuốn Một số hiểu biết cơ bản về văn học - nghệ thuật, trong đó nhấn

mạnh đến sự cần thiết của hoạt động nghệ thuật trong các đơn vị Quân đội, góp phần hoàn thiện nhân cách và nâng cao đời sống tinh thần cho người lính tại các địa điểm đóng quân, sinh hoạt tập trung và có tính chất đặc thù của lực lượng vũ trang [115]

Năm 2006, tác giả Trần Văn Giàu có bài viết “Đặc điểm của văn hoá

Quân đội” đăng trên Tạp chí văn hoá quân sự, trong đó đề cập đến sự cần

thiết của hoạt động nghệ thuật của các Đoàn Văn công như một phương thức hiệu quả, góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho người lính [46]

Bàn về lĩnh vực giáo dục văn hoá thẩm mỹ trong Quân đội, tác giả

Trang 33

Phạm Văn Xây kh ng định “Nghệ thuật là phương pháp giáo dục quan trọng

và hiệu quả nhất, bởi nghệ thuật có khả năng tác động rất lớn tới tư tưởng, tình cảm và sự phát triển toàn diện của bộ đội Với sức mạnh riêng của mình, nghệ thuật s tác động vào mỹ cảm, tạo nên những rung động trong hoạt động tinh thần, xây dựng tư tưởng đúng, tình cảm đẹp, làm cơ sở cho việc hình thành những thị hiếu tốt, lý tưởng trong sáng, lành mạnh của bộ đội” [133, tr 92-95]

Trong bài viết “Đẩy mạnh phát triển văn hoá, văn học, nghệ thuật quân đội đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới”, tác giả nhận định Văn hoá, văn học, nghệ thuật trong quân đội là một bộ phận không thể tách rời của

sự nghiệp xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Cùng với sự phát triển của đất nước và nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, các hoạt động văn hoá, văn học, nghệ thuật và đời sống tinh thần của bộ đội đang đứng trước vận hội mới Với chủ trương đúng đắn của Quân

ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị cùng với tài năng, nhiệt huyết của các nghệ sĩ - chiến sĩ, hoạt động văn hoá, văn học, nghệ thuật trong Quân đội chắc chắn s có bước phát triển mới, góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ

mà Đảng, Tổ quốc và nhân dân giao phó [148]

Trong bối cảnh giao lưu, tiếp biến và hội nhập văn hoá quốc tế, nhiều chương trình, hoạt động nghệ thuật được du nhập vào nước ta, với những hình thức mới lạ đã và s thách thức công tác quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật của Đoàn Văn công trong việc tổ chức những hoạt động nghệ thuật mới đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn nhưng theo tôn chỉ, mục đích, nhiệm vụ chính trị của Đoàn Văn công Với mục tiêu tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động văn hoá văn nghệ cũng như biểu diễn nghệ thuật cho người lính, nâng cao đời sống văn hoá trong tình hình mới, các cấp,

Trang 34

ngành cần bám sát một số định hướng như: tiếp tục nghiên cứu, quán triệt, nắm vững các quan điểm của Đảng về công tác văn hoá văn nghệ được thể hiện tập trung trong nhiều Nghị quyết quan trọng về văn hoá, văn học, nghệ thuật như

Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 Hội nghị Trung ương 9 khoá XI về

xây dựng và phát triển văn hoá, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước; tiếp tục đổi mới mạnh m , toàn diện các hoạt động

văn hoá văn nghệ, trong đó có hoạt động biểu diễn nghệ thuật Chú trọng huy động hiệu quả sự sáng tạo của chiến sĩ, diễn viên các đoàn văn công trong việc dàn dựng, viết kịch bản những đề tài, chương trình gắn liền với nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của chiến sĩ, của nhân dân trong bối cảnh hiện nay [149]

1.1.3 Nhận xét chung về tình hình nghiên cứu

- Đóng góp của các nguồn tư liệu về vấn đề nghiên cứu và những vấn

đề cần tiếp tục đặt ra

Việc nghiên cứu hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại các Đoàn Văn công Quân đội có mục đích để tìm ra phương thức quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật sao đem lại hiệu quả thiết thực, nh m nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của bộ đội Đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ về công tác Đảng, công tác Chính trị của quân đội, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc, gắn liền với quan điểm, chủ trương về phát triển văn hóa của Chính phủ

Do đó, luận án được thực hiện với mong muốn góp phần bổ sung thêm tài liệu nghiên cứu có hệ thống về công tác quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật, cũng như qua nghiên cứu đưa ra những giải pháp nh m nâng cao chất lượng cho công tác tổ chức các hoạt động này ở Đoàn Văn công quân đội trong bối cảnh hiện nay

- Những đóng góp của các nguồn tư liệu nghiên cứu trước đây:

+ Về mặt lý luận: Đóng góp nổi bật về mặt lý luận của các công trình nghiên cứu trước đây được thể hiện qua hệ thống các khái niệm liên quan đến

Trang 35

hoạt động nghệ thuật tại các Đoàn Văn công, tiêu biểu là các nghiên cứu của tác giả Ứng Duy Thịnh, Nguyễn An Thuyên, Đặng Mỹ Hạnh, Với cách tiếp cận này các tác giả đã làm rõ sự cần thiết của hoạt động nghệ thuật góp phần nâng cao chất lượng đời sống tinh thần trong toàn quân, tạo những không gian

và hoạt động lành mạnh giúp người hình hoàn thiện nhân cách, cân b ng sau thời gian rèn luyện, tham gia chiến đấu Theo đó việc nghiên cứu hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại các Đoàn Văn công quân đội cần đặt trong bối cảnh

cụ thể về thời gian, không gian, trong sự xem xét đồng bộ mối quan hệ giữa các yếu tố như: bối cảnh xã hội, nhu cầu của đối tượng thụ hưởng nghệ thuật, định hướng của Đảng - Nhà nước - Bộ Quốc phòng, yếu tố hội nhập và phát triển của cách mạng công nghiệp 4.0 Như vậy, hoạt động biểu diễn nghệ thuật trong Đoàn VCQĐ phải được xem là trung tâm hội tụ các hình thức văn hoá nghệ thuật phù hợp với nhu cầu thưởng thức của đối tượng thụ hưởng nghệ thuật và khả năng đáp ứng của đội ngũ hoạt động biểu diễn nghệ thuật Nói cách khác, sự đa dạng trong hình thức thể hiện s góp phần chuyển tải nội dung và đáp ứng được mục đích đề ra đối với những hoạt động này Vì vậy, đối với việc nghiên cứu hoạt động biểu diễn nghệ thuật trong Đoàn Văn công Quân đội cũng phải đặt trong bối cảnh cụ thể, nghệ sĩ và không gian, môi trường cụ thể để từ đó làm rõ đặc điểm nghệ thuật biểu diễn trong mối liên hệ với địa phương, vùng miền, hay nơi đóng quân, Theo đó, việc thực hiện đề tài luận án này chính là sự tiếp tục hướng tiếp cận nghiên cứu về hoạt động biểu diễn nghệ thuật của các tác giả đi trước, trên cơ sở đó đi sâu về sự cần thiết đổi mới nh m đáp ứng xu thế vận động, phát triển của các loại hình nghệ thuật biểu diễn của xã hội nói chung và trong Quân đội nói riêng

Về mặt thực tiễn:

Với sự tham gia của nhiều tác giả công tác tại các đơn vị khác nhau, về

cơ bản các công trình đi trước đã cung cấp được một cách hệ thống về hoạt

Trang 36

động biểu diễn nghệ thuật tại các Đoàn VCQĐ Tùy vào đặc điểm của các Đoàn Văn công trên các địa bàn khác nhau và nhiệm vụ đặt ra ở mỗi thời điểm nên đây là nguồn tư liệu cần thiết cho việc tìm hiểu, so sánh thực trạng trước và nay để từ đó đưa ra được những giải pháp có tính kế thừa, cũng như phát huy những mặt tích cực và nhiệm vụ chính trị có tính then chốt ở các Đoàn Văn công

Một số công trình đã có những đóng góp nhất định qua việc chỉ ra đặc trưng của hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại các Đoàn Văn công có tính đa dạng, căn cứ vào đội ngũ văn nghệ sĩ tại Đoàn và từng thời điểm, nhiệm vụ chính trị đặt ra Qua đó cho thấy sự nổi bật đồng thời cũng là sức hút của các hoạt động nghệ thuật, chủ yếu là ca múa nhạc Vì vậy, trong giải pháp đưa ra cần chú trọng vấn đề này để phù hợp với thực tiễn, nguồn nhân lực và khả năng đáp ứng tại các Đoàn Văn công

Chưa làm rõ về các vấn đề lý luận về quản lý ứng dụng và các nguyên lí vận dụng khoa học trong đưa ra các giải pháp có tính thực tiễn trong bối cảnh sự thay đổi sâu rộng trong hoạt động nghệ thuật

- Những vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận án

Qua phần tổng quan về lịch sử nghiên cứu cũng như tổng quan về những các tài liệu liên quan tới đề tài, tác giả luận án cho r ng việc thực hiện

đề tài: “Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại các Đoàn VCQĐ trong giai đoạn hiện nay” là một hướng nghiên cứu kế thừa kết quả của các tác giả

Trang 37

đi trước, trên cơ sở tiếp tục làm rõ hơn và trả lời xác đáng về những vấn đề liên quan đến quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật thông qua việc làm rõ và khái quát các vấn đề sau:

- Đặc thù của hoạt động quản lý nghệ thuật biểu diễn trong các đoàn VCQĐ

- Thực trạng chung trong công tác quản lý hoạt động NTBD trong các đoàn VCQĐ hiện nay đang đặt ra những vấn đề gì cần điều chỉnh trong cơ chế, mô hình quản lý

1.2 Cơ sở lý luận

1.2.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài

- Quản lý

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, Quản lý: chức năng và hoạt động

của hệ thống có tổ chức thuộc các giới khác nhau (sinh học, kĩ thuật, xã hội), bảo đảm giữ gìn một cơ cấu ổn định nhất định, duy trì sự hoạt động tối ưu và bảo đảm thực hiện những chương trình trình và mục tiêu của hệ thống đó [78, tập 3, tr 580] Theo đó, quản lý có những đặc điểm:

- Xuất hiện trong một hệ thống có tổ chức;

- Duy trì và đảm bảo mục tiêu;

- Thể hiện trong mối quan hệ giữa người với người

Trong cuốn sách Khoa học quản lý, Quản lý nh m tại sự thống nhất ý

chí trong tổ chức, bao gồm các thành viên của tổ chức, giữa những người bị quản lý với nhau và giữa người bị quản lý và người quản lý Trong đó, đặc trưng của quản lý được thể hiện:

- Định hướng sự phát triển của tổ chức trên cơ sở xác định mục tiêu chung

và hướng mọi nỗ lực của các cá nhân của tổ chức vào mục tiêu chung đó;

- Tổ chức, điều hòa, phối hợp và hướng d n hoạt động của các cá nhân trong tổ chức, giảm độ bất định nh m đạt được mục tiêu quản lý;

Trang 38

- Tạo động lực cho mọi cá nhân trong tổ chức b ng cách kích thích, đánh giá, khen thưởng những người có công, uốn nắn những lệch lạc, sai sót của cá nhân trong tổ chức nh m giảm bớt những thất thoát sai lệch trong quá trình quản lý;

- Tạo môi trường và điều kiện cho sự phát triển cá nhân và tổ chức, đảm bảo phát triển ổn định, bền vững và hiệu quả [64, tr 4]

Trong cuốn Đại cương về khoa học quản lý, Quản lý trong xã hội nói

chung là quá trình tổ chức điều hành các hoạt động nh m đạt được những mục tiêu và yêu cầu nhất định dựa trên những quy luật khách quan “Quản lý

là sự chỉ đạo, điều khiển một hệ thống, một quá trình căn cứ vào các quy luật, định luật, nguyên tắc tương ứng để cho hệ thống, quá trình vận động theo ý muốn của người quản lý nh m đạt mục tiêu đề ra” [123, tr 26]

Trong cuốn Từ điển Bách khoa Britannica, quản lý vận hành được hiểu

là “việc lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát các quá trình sản xuất để đảm bảo hoạt động trôi chảy và hiệu quả [81, tr 2194]

Như vậy, có thể thấy quản lý là hoạt động nhằm duy trì một quá trình làm việc, sản xuất hiệu quả với một lực lượng lao động có thể sẵn sàng thích ứng với những phương tiện và điều kiện làm việc, trong những sự vận động, thay đổi phù hợp với bối cảnh xã hội chung

- Hoạt động biểu diễn nghệ thuật

Theo tác giả Nguyễn Khoa Điềm: Nghệ thuật là sự sáng tạo ra những sản phẩm vật thể hoặc phi vật thể chứa đựng những giá trị lớn về tư tưởng - thẩm mỹ, mang tính chất văn hóa làm rung động cảm xúc, tư tưởng tinh cảm cho người thưởng thức [38, tr 23] Theo ý nghĩa này, hoạt động nghệ thuật có đặc điểm:

- Sự sáng tạo có giá trị về mặt thẩm mỹ, tác động vào cảm xúc của công chúng;

Trang 39

- Do con người thực hiện và thường được cộng đồng đón nhận

Ở nước ta, khái niệm về biểu diễn nghệ thuật xuất hiện đã lâu, tuy nhiên v n chưa được đồng nhất về nội hàm của nó Tác giả Đỗ Thị Hương cho r ng:

Khái niệm nghệ thuật diễn xuất hay nghệ thuật trình diễn, biểu diễn nghệ thuật được dùng để chỉ một nghệ thuật vốn tồn tại b ng phương thức “diễn” trên sàn diễn bởi con người (performence) Trong nghiên cứu văn hóa nghệ thuật, cách tiếp cận performance nghĩa là nghiên cứu một hành động, một sự kiện, một thể loại hay hình thức từ mọi góc độ để thấy đối tượng thực thi ra sao, b ng cách thức nào, trọng bối cảnh nào, ai là người thực hiện, ai là người tham gia

Theo Quy chế hoạt động biểu diễn và tổ chức Biểu diễn nghệ thuật

chuyên nghiệp ban hành kèm theo Quyết định số 47/2004/QĐ-BVHTT ngày

2/7/2004 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa -Thông tin:

Là hoạt động đưa chương trình, tiết mục, vở diễn đến với công chúng qua sự trình diễn của diễn viên chuyên nghiệp, thể hiện hình tượng nghệ thuật, phản ánh cuộc sống thông qua tác phẩm sân khấu, ca, múa, nhạc nh m giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức, lối sống, nâng cao dân trí, thẩm mỹ đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hoá tinh thần của nhân dân, góp phần xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc [41]

Liên quan đến biểu diễn nghệ thuật và quản lý biểu diễn nghệ thuật, Nghị định số 79/2012/NĐ-CP quy định về biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang; thi người đẹp và người m u, ban hành ngày 5 tháng 10 năm 2012 Trong điều 2, chương 1, phần giải thích từ ngữ đã ghi rõ: Biểu diễn nghệ thuật

là trình diễn chương trình, tiết mục, vở diễn trực tiếp trước công chúng của người biểu diễn

Loại hình nghệ thuật biểu diễn bao gồm: Tuồng, chèo, cải lương, xiếc,

Trang 40

múa rối, bài chòi, kịch nói, kịch dân ca, kịch câm, nhạc kịch, giao hưởng, ca, múa, nhạc, ngâm thơ, tấu hài, tạp kỹ và các loại hình nghệ thuật biểu diễn khác [69]

Trong cuốn Cơ sở văn hóa của nghệ thuật biểu diễn Việt Nam, tác giả

Trần Trí Trắc có quan điểm: Nghệ thuật là hoạt động sáng tạo của con người

b ng chất liệu do con người làm ra hoặc từ tự nhiên để tạo thành những sản phầm cho con người, b ng con người, vì con người theo ý tưởng, cảm xúc của con người để thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ trong đời sống xã hội con người Nghệ thuật có nhiều loại hình, thể loại sáng tạo khác nhau: Hội họa, kiến trúc,

âm nhạc, điêu khắc, múa, hát, diễn xướng, nghệ thuật sân khấu, nghệ thuật điện ảnh,… Nhìn chung, nghệ thuật là cái hay, cái đẹp, cái sáng tạo của con người nh m đáp ứng nhu cầu về tinh thần, vật chất, tư tưởng, thẩm mĩ, văn hóa và làm rung động cảm xúc nhân văn cho con người,… [118]

Trong Văn bản hợp nhất số: 4955/VBHN-BVHTTDL ban hành ngày

31 tháng 10 năm 2018, tại điều 2 có giải thích: Biểu diễn nghệ thuật là trình diễn chương trình, tiết mục, vở diễn trực tiếp trước công chúng của người biểu diễn Lúc này, hoạt động nghệ thuật là khái niệm đồng nhất với biểu diễn nghệ thuật

Như vậy, tựu chung đặc điểm của hoạt động biểu diễn nghệ thuật đó là:

- Sự sáng tạo hướng đến các giá trị nhân văn, thẩm mỹ của cộng đồng trong một bối cảnh xã hội cụ thể;

- Các hoạt động nghệ thuật đa dạng và thường có đối tượng công chúng

cụ thể;

- Những người tham gia hoạt động nghệ thuật được xem là nghệ sĩ và những lao động của họ góp phần đáp ứng nhu cầu thưởng thức văn hóa nghệ thuật của cộng đồng

Theo đó, hoạt động nghệ thuật được hình thành bởi nhu cầu và ý thức

Ngày đăng: 24/04/2022, 10:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. A. A. Rađughin (chủ biên) (người dịch Vũ Đình Phùng) (2002), Từ điển bách khoa Văn hóa học, Viện Nghiên cứu văn hóa - nghệ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển bách khoa Văn hóa học
Tác giả: A. A. Rađughin (chủ biên) (người dịch Vũ Đình Phùng)
Năm: 2002
2. Đào Duy Anh (1998), Việt Nam văn hóa sử cương (tái bản), Nxb. Tổng hợp Đồng Tháp, Đồng Tháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb. Tổng hợp Đồng Tháp
Năm: 1998
3. Lê Đặng Bảo Anh (2017), Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại đoàn Văn công Phòng không, Không quân, Luận văn Thạc sĩ bảo vệ tại Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại đoàn Văn công Phòng không, Không quân
Tác giả: Lê Đặng Bảo Anh
Năm: 2017
4. Ban Chấp hành TW Đảng (2014), Nghị quyết số 33-NQ/TW (khóa XI) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 33-NQ/TW (khóa XI) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước
Tác giả: Ban Chấp hành TW Đảng
Năm: 2014
5. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2004), Tài liệu nghiên cứu kết luận hội nghị lần thứ X, Ban chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb.CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu kết luận hội nghị lần thứ X, Ban chấp hành Trung ương khóa IX
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương
Nhà XB: Nxb. CTQG
Năm: 2004
6. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2004), Tài liệu nghiên cứu kết luận hội nghị lần thứ X, Ban chấp hành Trung ương khóa X, Nxb.CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu kết luận hội nghị lần thứ X, Ban chấp hành Trung ương khóa X
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương
Nhà XB: Nxb. CTQG
Năm: 2004
7. Hoàng Chí Bảo (2006), Văn hóa và con người Việt Nam trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb.CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và con người Việt Nam trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Nxb. CTQG
Năm: 2006
8. Báo cáo “Công tác quân sự năm 2021 và phương hướng năm 2022 của Đoàn Văn công Quân chủng PKKQ”, Đoàn Văn công Quân chủng PKKQ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác quân sự năm 2021 và phương hướng năm 2022 của Đoàn Văn công Quân chủng PKKQ
9. Báo cáo tổng kết “Phong trào thi đua Quyết thắng năm 2021 của Đoàn Văn công Quân chủng PKKQ”, Đoàn Văn công Quân chủng PKKQ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong trào thi đua Quyết thắng năm 2021 của Đoàn Văn công Quân chủng PKKQ
10. Báo cáo tóm tắt “Thành tích Đoàn Văn công Quân chủng PK-KQ”, Đoàn Văn công Quân chủng PKKQ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành tích Đoàn Văn công Quân chủng PK-KQ
11. Báo cáo “Đề nghị phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND của Đoàn Văn công Quân chủng PKKQ trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước”, Đoàn Văn công Quân chủng PKKQ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề nghị phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND của Đoàn Văn công Quân chủng PKKQ trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước
12. Báo cáo tóm tắt “Kết quả thực hiện nhiệm vụ Biểu diễn nghệ thuật 5 năm (2016-2021) của Đoàn Văn công Quân khu 1”, Đoàn Văn công Quân khu 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả thực hiện nhiệm vụ Biểu diễn nghệ thuật 5 năm (2016-2021) của Đoàn Văn công Quân khu 1
14. Báo cáo đề d n “Nâng cao chất lƣợng hoạt động nghệ thuật chuyên nghiệp trong quân đội”, Trường Đại học VHNT Quân đội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lƣợng hoạt động nghệ thuật chuyên nghiệp trong quân đội
15. Chris Barker (2011), Nghiên cứu văn hóa – Lý thuyết và thực hành, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu văn hóa – Lý thuyết và thực hành
Tác giả: Chris Barker
Nhà XB: Nxb. Văn hóa Thông tin
Năm: 2011
16. Nguyễn Duy Bắc (t.c) (2001), Về lãnh đạo, quản lý văn học, nghệ thuật trong công cuộc đổi mới, Nxb. CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về lãnh đạo, quản lý văn học, nghệ thuật trong công cuộc đổi mới
Tác giả: Nguyễn Duy Bắc (t.c)
Nhà XB: Nxb. CTQG
Năm: 2001
17. Khánh B ng (2007), “Đoàn văn công Đồng Tháp: Những người lính giữa thời bình”, Tạp chí Sân khấu, số 3, tr. 26-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đoàn văn công Đồng Tháp: Những người lính giữa thời bình”, Tạp chí" Sân khấu
Tác giả: Khánh B ng
Năm: 2007
18. Nguyễn Chí Bền (Ch.b) (2010), Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, Nxb. CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Nguyễn Chí Bền (Ch.b)
Nhà XB: Nxb. CTQG
Năm: 2010
19. Nguyễn Chí Bền (2011), Văn hóa truyền thống và văn hóa dân gian Việt Nam, Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa truyền thống và văn hóa dân gian Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Năm: 2011
20. Nguyễn Chí Bền (2013), “Nhà nước và công tác bảo tồn, phát huy di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam, những bài học từ lịch sử”, Tạp chí Văn hóa học, số 4, tr. 8 - 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nước và công tác bảo tồn, phát huy di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam, những bài học từ lịch sử”, Tạp chí" Văn hóa học
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Năm: 2013
21. Nguyễn Chí Bền (2016), “Sức mạnh nội sinh và yêu cầu hiện đại hóa văn hóa dân tộc thời kỳ mới”, Tạp chí Văn hóa học, số 2, tr. 3 - 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức mạnh nội sinh và yêu cầu hiện đại hóa văn hóa dân tộc thời kỳ mới”, Tạp chí" Văn hóa học
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Năm: 2016

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Cơ chế quản lý các đơn vị nghệ thuật công lập và lực lượng vũ trang - Luận án Tiến sĩ Quản lý văn hóa: Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại các Đoàn Văn công Quân đội trong giai đoạn hiện nay
Bảng 1. Cơ chế quản lý các đơn vị nghệ thuật công lập và lực lượng vũ trang (Trang 64)
Bảng 2: Số lƣ ng buổi biểu diễn h ng năm của các đơn vị - Luận án Tiến sĩ Quản lý văn hóa: Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại các Đoàn Văn công Quân đội trong giai đoạn hiện nay
Bảng 2 Số lƣ ng buổi biểu diễn h ng năm của các đơn vị (Trang 76)
Bảng 3: Chất lƣ ng hoạt động biểu diễn nghệ thuật của các Đoàn Văn - Luận án Tiến sĩ Quản lý văn hóa: Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại các Đoàn Văn công Quân đội trong giai đoạn hiện nay
Bảng 3 Chất lƣ ng hoạt động biểu diễn nghệ thuật của các Đoàn Văn (Trang 81)
Bảng 4. Trình độ học vấn đội ngũ hoạt động biểu diễn nghệ thuật - Luận án Tiến sĩ Quản lý văn hóa: Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại các Đoàn Văn công Quân đội trong giai đoạn hiện nay
Bảng 4. Trình độ học vấn đội ngũ hoạt động biểu diễn nghệ thuật (Trang 84)
Bảng 5: Thống kê nguồn nhân lực hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại các - Luận án Tiến sĩ Quản lý văn hóa: Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại các Đoàn Văn công Quân đội trong giai đoạn hiện nay
Bảng 5 Thống kê nguồn nhân lực hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại các (Trang 86)
Bảng 6: Đánh giá về chất lƣ ng đội ngũ biểu diễn của các Đoàn Văn công - Luận án Tiến sĩ Quản lý văn hóa: Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại các Đoàn Văn công Quân đội trong giai đoạn hiện nay
Bảng 6 Đánh giá về chất lƣ ng đội ngũ biểu diễn của các Đoàn Văn công (Trang 91)
Bảng 7: Cơ cấu theo độ tuổi của đội ngũ hoạt động nghệ thuật tại các đơn - Luận án Tiến sĩ Quản lý văn hóa: Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại các Đoàn Văn công Quân đội trong giai đoạn hiện nay
Bảng 7 Cơ cấu theo độ tuổi của đội ngũ hoạt động nghệ thuật tại các đơn (Trang 93)
Bảng 10: Xe trang bị cho các đo n Văn công Quân đội - Luận án Tiến sĩ Quản lý văn hóa: Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại các Đoàn Văn công Quân đội trong giai đoạn hiện nay
Bảng 10 Xe trang bị cho các đo n Văn công Quân đội (Trang 101)
Bảng 13: Mức độ yêu thích về chương trình nghệ thuật (đơn vị %) - Luận án Tiến sĩ Quản lý văn hóa: Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại các Đoàn Văn công Quân đội trong giai đoạn hiện nay
Bảng 13 Mức độ yêu thích về chương trình nghệ thuật (đơn vị %) (Trang 115)
Hình 1.1. Tập huấn chuyên môn năm 2017   Nguồn: Đoàn Văn công Quân khu 1 cung cấp - Luận án Tiến sĩ Quản lý văn hóa: Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại các Đoàn Văn công Quân đội trong giai đoạn hiện nay
Hình 1.1. Tập huấn chuyên môn năm 2017 Nguồn: Đoàn Văn công Quân khu 1 cung cấp (Trang 189)
Hình 1.3. Tập huấn chuyên môn năm 2018  Nguồn: Đoàn Văn công Quân khu 1 cung cấp - Luận án Tiến sĩ Quản lý văn hóa: Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại các Đoàn Văn công Quân đội trong giai đoạn hiện nay
Hình 1.3. Tập huấn chuyên môn năm 2018 Nguồn: Đoàn Văn công Quân khu 1 cung cấp (Trang 190)
Hình 1.4. Tập huấn chuyên môn năm 2017  Nguồn: Đoàn Văn công Quân khu 1 cung cấp - Luận án Tiến sĩ Quản lý văn hóa: Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại các Đoàn Văn công Quân đội trong giai đoạn hiện nay
Hình 1.4. Tập huấn chuyên môn năm 2017 Nguồn: Đoàn Văn công Quân khu 1 cung cấp (Trang 190)
Hình 1.5. Tập huấn chuyên môn năm 2017  Nguồn: Đoàn Văn công Quân khu 1 cung cấp - Luận án Tiến sĩ Quản lý văn hóa: Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại các Đoàn Văn công Quân đội trong giai đoạn hiện nay
Hình 1.5. Tập huấn chuyên môn năm 2017 Nguồn: Đoàn Văn công Quân khu 1 cung cấp (Trang 191)
Hình 1.6. Tập huấn chuyên môn năm 2018  Nguồn: Đoàn Văn công Quân khu 1 cung cấp - Luận án Tiến sĩ Quản lý văn hóa: Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại các Đoàn Văn công Quân đội trong giai đoạn hiện nay
Hình 1.6. Tập huấn chuyên môn năm 2018 Nguồn: Đoàn Văn công Quân khu 1 cung cấp (Trang 191)
Hình 1.9. Hội diễn Nghệ thuật chuyên nghiệp Toàn quân năm 2018 - Luận án Tiến sĩ Quản lý văn hóa: Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại các Đoàn Văn công Quân đội trong giai đoạn hiện nay
Hình 1.9. Hội diễn Nghệ thuật chuyên nghiệp Toàn quân năm 2018 (Trang 193)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm