1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án Tiến sĩ Nghệ thuật: Nghệ thuật tranh lụa Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945

241 59 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghệ Thuật Tranh Lụa Việt Nam Giai Đoạn 1930 - 1945
Tác giả Hoàng Minh Đức
Người hướng dẫn PGS.TS Bùi Thị Thanh Mai
Trường học Viện Văn Hóa Nghệ Thuật Quốc Gia Việt Nam
Chuyên ngành Lý luận và lịch sử mỹ thuật
Thể loại luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 241
Dung lượng 19,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận án tìm hiểu đặc điểm nghệ thuật tranh lụa Việt Nam giai đoạn 1930 -1945 trên cơ sở nghiên cứu tác giả, tác phẩm tranh lụa giai đoạn 1930 -1945. Từ đó khẳng định giá trị nghệ thuật của tranh lụa trong sự phát triển của mỹ thuật Việt Nam. Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận án Tiến sĩ Nghệ thuật Nghệ thuật tranh lụa Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi

Các tài liệu được trích dẫn trong luận án là trung thực, có nguồn gốc và xuất xứ

rõ ràng Các kết quả nghiên cứu của luận án chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Nghiên cứu sinh

Hoàng Minh Đức

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN iv

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ NGHỆ THUẬT TRANH LỤA…………

9 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu……… 9

1.1.1 Nhóm các công trình tiếp cận từ hướng nghiên cứu về lịch sử, văn hoá, xã hội………

9 1.1.2 Nhóm các công trình tiếp cận từ hướng nghiên cứu về mỹ thuật… 15 1.2 Cơ sở lý luận……… 23

1.1.1 1.2.1 Những khái niệm liên quan đến đề tài……… 23

1.1.2 1.2.2 Lý thuyết nghiên cứu……… ……… 27

1.3 Khái quát về nghệ thuật tranh lụa ……… 31

1.3.1 Lịch sử hình thành và phát triển tranh lụa thế giới 31

1.3.2 Lịch sử hình thành và phát triển tranh lụa Việt Nam 37

Tiểu kết 48

Chương 2: NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT TRANH LỤA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1930 - 1945

50 2.1 Nội dung thể hiện trong tranh lụa Việt Nam ……… ……… 50

2.1.1 Đề tài sinh hoạt……… 51

2.1.2 Đề tài chân dung……… 73

2.1.3 Đề tài tĩnh vật……… 79

2.1.4 Đề tài phong cảnh……… ….……… 80

2.2 Hình thức thể hiện của tranh lụa Việt Nam….……… 83

2.2.1 Về bố cục……… 83

2.2.2 Về màu……… 92

2.2.3 Về kỹ thuật……… 96

Tiểu kết 101

Trang 5

GIAI ĐOẠN 1930 - 1945

3.1 Đặc điểm nghệ thuật của tranh lụa Việt Nam 103

3.2 Giá trị nghệ thuật của tranh lụa Việt Nam 120

Tiểu kết 145

KẾT LUẬN 147

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ 150

TÀI LIỆU THAM KHẢO 151

PHỤ LỤC 160

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

NCLLPBMT Nghiên cứu lý luận phê bình mỹ thuật

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tranh lụa là thể loại nghệ thuật hội hoạ gắn liền với lịch sử sử dụng bút, mực trên thẻ tre, lụa trước khi giấy ra đời ở khu vực Á Đông Từ một nghề thủ công quay tơ, dệt lụa tạo nên những bộ trang phục sang trọng, đẹp mắt, lụa đã góp phần làm nên một thể loại nghệ thuật mới tao nhã, đậm đà bản sắc và thẩm mỹ - đó là tranh lụa Trong nền mỹ thuật Việt Nam, lụa là một chất liệu có lịch sử phát triển lâu đời với những nét đẹp riêng biệt, độc đáo và có hình thức biểu đạt phù hợp với tâm hồn Á Đông của người Việt Nếu căn cứ vào sự xuất hiện của nghề trồng dâu, nuôi tằm ở nước ta thì nghề dệt lụa đã rất phát triển từ thời kỳ nhà Lý Tuy nhiên, không có cứ liệu nào bàn luận tới nghệ thuật vẽ tranh trên lụa từ thời Lý đến trước thế kỷ XVII trước khi xuất hiện một số tranh chân dung các vị hiền tài vẽ trên lụa hiện còn Những tác phẩm tranh lụa này phần nào giúp chúng ta có được hiểu biết nhất định về chất liệu, kỹ thuật và phong cách tạo hình tranh lụa trong nghệ thuật dân tộc

Đầu thế kỷ XX, mỹ thuật Việt Nam được biết đến chủ yếu là nền nghệ thuật thủ công truyền thống như nghề làm tranh dân gian, làm giấy, đúc đồng, điêu khắc dân gian (phù điêu và tạc tượng), nghề may mặc, xây dựng (kiến trúc dân gian)… Nghề thủ công và thợ thủ công là đối tượng được quan tâm trước hết do bối cảnh xã hội thuộc Pháp đương thời trong vấn đề khai thác thuộc địa Chủ trương đào tạo nghệ nhân bản xứ trong các bản báo cáo trình chính phủ Pháp được quan tâm xem xét với mưu cầu kinh

tế hơn là văn hoá Trường Mỹ nghệ Thủ Dầu Một (1901), Mỹ nghệ Bản xứ Biên Hoà (1903) và trường Vẽ Gia Định (1913) được thiết lập ở Nam bộ không nằm ngoài lý do đó Xưởng học nghề được mở ở khắp nơi đặc biệt

là Nam kỳ và Trung kỳ nhằm đào tạo thợ lành nghề và đốc công Xã hội

Trang 8

Việt Nam đóng khung nghệ thuật trong việc chế tác đồ thủ công, mỹ nghệ

từ đôi bàn tay tài hoa của người thợ Nhiều sản phẩm được đặt hàng thông qua những lần trưng bày trong các triển lãm đấu xảo thuộc địa đã minh chứng nội dung này Nghệ thuật Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

“vai trò của hoạ sĩ và nhà điêu khắc chỉ là một người phụ trợ của kiến trúc sư” [38, tr.307], điều này cho thấy nghệ thuật kiến trúc chiếm ưu thế, nghệ thuật dân gian đóng vai trò chủ đạo, hội hoạ tập trung ở tranh tôn giáo, tranh dân gian… Tranh lụa chưa được nhắc tới ngoài một vài tranh chân dung từ thế kỷ trước đã được nêu ở trên

Năm 1924, trước những đề xuất của hoạ sĩ Victor Tardieu về “tương lai của nghệ thuật bản xứ” [70, tr.22] nhà cầm quyền Đông Dương đã cho phép thành lập trường Mỹ thuật Đông Dương Sự kiện này “đã tạo thời cơ

vô cùng thuận lợi cho cuộc khởi đầu xây dựng một nền hội họa quốc gia đầu tiên của nước Việt Nam” [70, tr.9] Nghệ thuật hội hoạ, đồ hoạ, điêu khắc, kiến trúc hiện đại được tính từ mốc thời gian này khi khoá I bắt đầu tuyển sinh năm 1925 Chủ trương quay trở lại nghệ thuật dân tộc, Victor Tardieu cùng những cộng sự đã áp dụng bài học châu Âu bên cạnh những thử nghiệm về chất liệu truyền thống như chất liệu sơn mài, khắc gỗ… Sản phẩm của học viên được giới thiệu trưng bày tại các triển lãm thuộc địa trong và ngoài nước Từ đây, các hoạ sĩ tiếp xúc với phương pháp tạo hình phương Tây về khái niệm không gian, ánh sáng, màu sắc… Năm 1931, tại đấu xảo thuộc địa Paris tác phẩm của các hoạ sĩ trường Mỹ thuật Đông Dương gồm Nam Sơn, Nguyễn Phan Chánh, Lê Phổ, Mai Trung Thứ, Georges Khánh, Lê Văn Đệ, Vũ Cao Đàm, Lê Thị Lựu, An Sơn - Đỗ Đức Thuận đã được trưng bày Những tác phẩm tranh lụa của Nguyễn Phan Chánh được đánh giá cao, ghi dấu ấn rất riêng và độc đáo về bản sắc Á Đông Kết quả này là cơ sở định danh cho nghệ thuật tranh lụa Việt Nam

Trang 9

và xác định được vị trí của tranh lụa trong lịch sử phát triển của mỹ thuật Việt Nam Như vậy, từ thế hệ các họa sĩ học tập và trưởng thành tại trường

Mỹ thuật Đông Dương, ảnh hưởng phong cách tạo hình châu Âu và không gian ước lệ phương Đông, tranh lụa ra đời và trở thành một chất liệu sáng tác trong hội họa Từ những thể nghiệm, các họa sĩ vẽ tranh lụa đã chứng minh được khả năng biểu đạt phong phú của chất liệu Sự tiếp thu lối tạo hình phương Tây thông qua quan niệm thẩm mỹ phương Đông khiến tranh lụa Việt Nam vừa hiện đại vừa đậm tính dân tộc, mang bản sắc riêng mà không lẫn với bất cứ quốc gia nào khác

Gần một thế kỷ qua, nghệ thuật tranh lụa Việt Nam đã đạt được những thành tựu nhất định về ngôn ngữ tạo hình, phong cách sáng tác, kỹ thuật thể hiện Tuy nhiên, giai đoạn 1930-1945 được coi là giai đoạn mang tính bản

lề, liên quan đến sự ra đời của tranh lụa hiện đại, làm cơ sở cho tranh lụa Việt Nam những giai đoạn sau phát triển Xuất phát từ những lý do trên, với mong muốn nghiên cứu những sáng tạo độc đáo của chất liệu và những đóng góp của tranh lụa đối với nghệ thuật Việt Nam, NCS lựa chọn hướng

nghiên cứu Nghệ thuật tranh lụa Việt Nam giai đoạn 1930-1945 thông qua việc phân tích tác giả, tác phẩm tranh lụa Việt Nam được trưng bày trong

Bảo tàng trong nước, quốc tế, sưu tập nước ngoài và tư gia làm đề tài luận

án Tiến sĩ Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa những kết quả nghiên cứu về nghệ thuật tranh lụa Việt Nam, nghệ thuật hội họa hiện đại và mỹ thuật hiện đại Việt Nam của các nhà khoa học đi trước, thu thập tư liệu và diễn giải nhằm làm sáng tỏ đặc điểm tạo hình và khẳng định những giá trị nghệ thuật của tranh lụa giai đoạn 1930-1945 trong quá trình phát triển của mỹ thuật Việt

Nam Đó là lý do nghiên cứu sinh chọn lựa đề tài Nghệ thuật tranh lụa Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 để nghiên cứu

Trang 10

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Luận án tìm hiểu đặc điểm nghệ thuật tranh lụa Việt Nam giai đoạn

1930 -1945 trên cơ sở nghiên cứu tác giả, tác phẩm tranh lụa giai đoạn 1930 -1945 Từ đó khẳng định giá trị nghệ thuật của tranh lụa trong sự phát triển của mỹ thuật Việt Nam

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận án có các nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, khảo sát các công trình trong nước và nước ngoài liên quan

đến nghệ thuật tranh lụa Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 làm rõ lịch sử hình thành và phát triển tranh lụa, phân tích những ảnh hưởng của tranh lụa thế giới tới Việt Nam

Thứ hai, khái quát về nghệ thuật tranh lụa Việt Nam để hiểu được bối

cảnh xã hội nghệ thuật hình thành quan điểm thẩm mỹ của tác giả, tác phẩm tranh lụa giai đoạn 1930-1945

Thứ ba, nghiên cứu nội dung và hình thức nghệ thuật tranh lụa, nội

dung, bố cục, màu sắc, kỹ thuật để xác định giá trị nghệ thuật của tranh lụa giai đoạn 1930 - 1945

Thứ tư, tìm hiểu đặc điểm nghệ thuật trang lụa và giá trij của tranh

lụa Việt Nam giai đoạn 1930-1945

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là đặc điểm tạo hình của nghệ thuật tranh lụa Việt Nam giai đoạn 1930-1945

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi thời gian: những tác phẩm tranh lụa Việt Nam được sáng tác

trong giai đoạn 1930-1945 Đây là phạm vi thời gian quan trọng trong lịch

Trang 11

sử phát triển của tranh lụa hiện đại Điểm khởi đầu và kết thúc về phạm vi thời gian của luận án dựa trên cơ sở, tác phẩm lụa của Nguyễn Phan Chánh được báo chí thế giới công nhận tại triển lãm đấu xảo Paris năm 1931 và năm 1945 khi Nhật đảo chính Pháp, trường Mỹ thuật Đông Dương đóng

cửa, kết thúc một giai đoạn đào tạo do người Pháp trực tiếp quản lý

Phạm vi không gian: những sáng tác tranh lụa trong giai đoạn

1930-1945 của tác giả Việt Nam sinh sống trong và ngoài nước đã học tập tại trường Mỹ thuật Đông Dương Đó là những tác giả thành danh, danh hoạ

đã đạt giải thưởng Nhà nước, giải thưởng Hồ Chí Minh, tham dự nhiều triển lãm uy tín trong và ngoài nước giai đoạn 1930-1945, đã có những tác phẩm được lưu giữ tại bảo tàng quốc gia, trong các sưu tập cá nhân tiêu biểu và đại diện cho hoạ sĩ Việt Nam

4 Câu hỏi nghiên cứu

Từ những nội dung cần nghiên cứu cho luận án Nghệ thuật tranh lụa Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945, NCS xác định các câu hỏi như sau:

Câu hỏi 1: Nghệ thuật tranh lụa Việt Nam giai đoạn 1930-1945 biểu

hiện như thế nào và có đặc điểm gì?

Câu hỏi 2: Những thành công của tranh lụa Việt Nam giai đoạn

1930-1945 đã đóng góp giá trị nào cho nền mỹ thuật Việt Nam?

Câu hỏi 3: Nghệ thuật tranh lụa Việt Nam giai đoạn 1930-1945 chịu

ảnh hưởng từ nghệ thuật hiện đại Pháp đầu thế kỷ XX không?

5 Giả thuyết nghiên cứu

Căn cứ nội dung các câu hỏi nghiên cứu trên, NCS đặt ra 3 giả thuyết nghiên cứu tương ứng với những nội dung giải quyết tại chương 2 và chương 3 của luận án như sau:

Giả thuyết thứ nhất: Những tác phẩm tranh lụa Việt Nam giai đoạn

1930 - 1945 chịu ảnh hưởng từ nghệ thuật Pháp, mang phong cách tạo hình

Trang 12

hiện đại kết hợp với tư duy tạo hình Á Đông

Giả thuyết thứ hai Nghệ thuật tạo hình tranh lụa Việt Nam giai đoạn

1930-1945 là cơ sở phát triển tranh lụa ở các giai đoạn sau

Giả thuyết thứ ba Tranh lụa Việt Nam giai đoạn 1930-1945 đã để lại

những giá trị nghệ thuật quan trọng và đóng góp cho nền nghệ thuật dân tộc nước nhà

6 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

6.1 Cách tiếp cận

Áp dụng phương pháp tiếp cận liên ngành sử học, văn hóa, xã hội học nhằm tìm hiểu sự hình thành và phát triển tranh lụa trong bối cảnh xã hội Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX, những ảnh hưởng tư duy thẩm mỹ phương Tây và phương Đông trong tranh lụa hiện đại Việt Nam giai đoạn

1930 - 1945

Tiếp cận theo hướng mỹ thuật học là hệ thống lý luận và kiến thức về các lĩnh vực mỹ thuật, mỹ thuật học sẽ là hướng tiếp cận nghiên cứu, phân tích tác phẩm tranh lụa giai đoạn 1930 - 1945

6.2 Phương pháp nghiên cứu

- Thu thập thông tin, phân loại thông tin: để chỉ ra cơ sở lý thuyết cho

việc nghiên cứu Nghệ thuật tranh lụa Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945

- Phân tích tài liệu: tổng hợp, hệ thống tài liệu, các tác phẩm nghệ

thuật liên quan đến đề tài luận án Trên cơ sở đó, phân tích, đánh giá về đặc điểm nghệ thuật của nghệ thuật tranh lụa Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945

- Phương pháp thống kê: là phương pháp tổng hợp các dữ liệu nghiên

cứu nhằm phục vụ cho quá trình phân tích tác phẩm, hoạ sĩ sáng tác tranh lụa giai đoạn 1930-1945

- Phương pháp chuyên gia: được sử dụng trong quá trình thực hiện

luận án trên cơ sở các ý kiến chuyên môn về tranh lụa của một số chuyên

Trang 13

gia trong lĩnh vực này

- Phương pháp so sánh: để làm rõ những ảnh hưởng và đối sánh sự

tương đồng, khác biệt giữa yếu tố thẩm mỹ phương Đông và phương Tây, đồng thời giúp NCS giải quyết các câu hỏi nghiên cứu và nhiệm vụ đề ra

- Phân tích tác phẩm: là hệ thống lý luận và kiến thức về các lĩnh vực

mỹ thuật nhằm đánh giá, làm rõ đặc điểm tạo hình, chất liệu, kỹ thuật thể hiện của tranh lụa… từ đó là cơ sở để đánh giá thẩm mỹ và đặc trưng tác phẩm tranh lụa Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

7.1 Ý nghĩa khoa học

Luận án góp phần vào nghiên cứu lý luận về nghệ thuật tranh lụa Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945, qua việc sử dụng lý thuyết và phương pháp nghiên cứu mỹ thuật tìm hiểu, phân tích quá trình phát triển, đặc điểm nghệ thuật của tranh lụa Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 Luận án tập hợp và hệ thống tương đối đầy đủ các tư liệu quan trọng nghiên cứu về tranh lụa, thông tin về tác giả và tác phẩm tranh lụa Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945

8 Kết cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu (08 trang), Kết luận (03 trang), Tài liệu tham khảo

Trang 14

(9 trang), Phụ lục (75 trang), nội dung luận án gồm 3 chương:

Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát

về nghệ thuật tranh lụa Việt Nam (42 trang)

Chương 2 Đặc điểm nghệ thuật tranh lụa Việt Nam giai đoạn 1930 -

1945 (52 trang)

Chương 3 Bàn luận về nghệ thuật tranh lụa Việt Nam giai đoạn 1930 -

1945 (44 trang)

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN

VÀ KHÁI QUÁT VỀ NGHỆ THUẬT TRANH LỤA

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Nhóm các công trình tiếp cận từ hướng nghiên cứu về lịch

sử, văn hoá, xã hội

Trong quá trình nghiên cứu về nghệ thuật tranh lụa Việt Nam nói chung, nghệ thuật tranh lụa Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945, NCS đã tiếp cận với hệ thống tư liệu trong và ngoài nước tại Thư viện quốc gia Việt Nam, Nhà xuất bản Mỹ thuật, Viện mỹ thuật, Thư viện của Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia, Thư viện của trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam, Thư viện tại Bảo tàng Guimet (Pháp), Bảo tàng Cressnuchi (Pháp), Thư viện Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, ấn phẩm điện tử liên quan đến nội dung nghiên cứu của luận án trong một số bảo tàng, gallery, viện nghiên cứu và trung tâm đấu giá tại nước ngoài Nhiều công trình liên quan trực tiếp đến

đề tài nghiên cứu, và một số tư liệu, công trình liên quan gián tiếp Trên cơ

sở đó, NCS đã phân loại, sắp xếp, hệ thống những công trình khảo cứu, làm tài liệu nghiên cứu và trình bày như sau:

1.1.1.1 Nhóm các công trình tiếp cận từ hướng nghiên cứu về lịch

sử, văn hóa, xã hội của các học giả, nhà nghiên cứu trong nước

Công trình Việt Nam văn hóa sử cương của học giả Đào Duy Anh do

Nxb Văn hóa dân tộc xuất bản năm 2000 [1] với dung lượng 414 trang gồm

5 chương bàn về địa lý, lịch sử, kinh tế, xã hội, tri thức, văn hóa, con người Việt Nam Công trình này được tác giả thực hiện năm 1938, những bàn luận trong công trình trên phương diện lịch sử, văn hóa là sự khái quát xã hội Việt Nam trong khoảng thời gian thập niên 30, 40 của thế kỷ XX trở về trước Căn cứ vào tư liệu này, nghệ thuật Việt Nam tại nội dung Tri thức

Trang 16

sinh hoạt đã nhắc tới sự hiện diện của trường Mỹ thuật Đông Dương, về tôn chỉ của nhà trường, về vai trò của nhà trường trong xã hội, về hội họa “Trong nghệ thuật sử nước ta, trường ấy có cái địa vị rất trọng yếu là làm trung tâm điểm cho một cuộc cải tạo lớn Hiện nay ta nhận thấy có nhiều tác phẩm khả quan, nhất là về hội họa điêu khắc và kiến trúc, mà nghệ thuật thì có khuynh hướng thông tục là hơn tôn giáo, dẫu rằng nó vẫn chưa thoát khỏi tính chất quý tộc như xưa” [1, tr.353] Nguồn tư liệu là cơ sở để NCS có thêm thông tin về giai đoạn bản lề về mỹ thuật Việt Nam những năm 1920

- 1940 và cách đánh giá của học giả Đào Duy Anh về nền mỹ thuật Việt Nam từ phương diện văn hóa

Công trình Văn minh Việt Nam của tác giả Nguyễn Văn Huyên, dịch

giả Đỗ Trọng Quang chuyển ngữ do Nhà xuất bản Nhã Nam ấn hành năm

2017 [38] Tương tự như công trình Việt Nam văn hóa sử cương của học giả Đào Duy Anh, Văn minh Việt Nam được tác giả hoàn thành năm 1939 với đề tựa bằng tiếng Pháp La civilisation annamite Đây là tài liệu do Toàn

quyền Đông Dương đặt tác giả viết để dùng làm sách giáo khoa cho bộ môn văn hoá Việt Nam theo Nghị định ngày 23.4.1938 Sau 5 năm, năm 1944 công trình mới được xuất bản ở Hà Nội dưới sự kiểm duyệt gắt gao của chính quyền thuộc địa Đến năm 1996, sau hơn nửa thế kỷ công trình được dịch ra tiếng Việt và trở thành một tài liệu nghiên cứu chuyên biệt cho người làm chuyên môn Trong công trình này, dù không nhiều, nhưng những thông tin tác giả nhận định là cơ sở trong nghiên cứu luận án của NCS về mỹ thuật Việt Nam “Ở Việt Nam, nghệ thuật hơn ở những lĩnh vực khác, là biểu hiện sâu sắc nhất của tâm tính nhân dân….” [38, tr.305] và “nghệ thuật Việt Nam tiêu biểu nhất vẫn là kiến trúc Họa sĩ và nhà điêu khắc chỉ là một người phụ trợ của kiến trúc sư” [38, tr.305], tuy nhiên “Nghệ thuật của người Việt Nam

đã tiến triển trong những thập kỷ gần đây Những biến đổi của hoàn cảnh

Trang 17

sinh hoạt tiếp xúc với văn minh phương Tây đã kéo theo những thay đổi trong nghệ thuật trang trí và trong kiến trúc dân sự… Hội họa xưa kia chỉ

là tranh tôn giáo hay tranh dân gian thì nay được đổi mới, nhờ có trường

Mỹ thuật Hà Nội Tranh của Nam Sơn, Nguyễn Phan Chánh, Mai Trung Thứ, Lê Phổ, Trần Bình Lộc… là những cái mới thật sự trong nghệ thuật Việt Nam” [38, tr.307-308]

Như vậy, hai công trình Việt Nam văn hóa sử cương của học giả Đào Duy Anh và Văn minh Việt Nam của tác giả Nguyễn Văn Huyên dù chưa

đánh giá cao vai trò của hội họa, nhưng đều ghi nhận những đóng góp của trường Mỹ thuật Đông Dương ở giai đoạn này Tuy nhiên, do hai công trình đều xuất bản năm 1938, 1939 và chưa đi hết chặng đường từ năm 1930 -

1945 nên những đánh giá của các tác giả về chuyển biến của mỹ thuật Việt Nam trong những năm 30 của thế kỷ XX là cơ sở để NCS thực hiện nghiên cứu

Hai công trình của tác giả Phan Ngọc Bản sắc văn hóa Việt Nam (2006) [58], Sự tiếp xúc của văn hóa Việt Nam với Pháp (2018) [59] và công trình Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam của tác giả Trần Ngọc Thêm (1996) [80] cung cấp cho NCS nội dung liên quan đến văn hoá, bản sắc văn

hóa Việt Nam từ phương diện văn hóa học, yêu cầu của tâm thức về Tổ quốc, gia đình - làng xã, thân phận, diện mạo, những nội dung về giáo dục, vai trò của trí thức Việt Nam trong tương quan giữa Khổng học, Nho học

và thời đại Điểm hấp dẫn và thiết thực từ các công trình này là sự đối sánh giữa văn hóa Trung Hoa và Pháp trong quá trình giao lưu, tiếp biến Những nội dung này giúp NCS hiểu được được bối cảnh mỹ thuật Việt Nam trong tương quan mối quan hệ đó Những ảnh hưởng, tiếp thu và biểu hiện việc giữ gìn bản sắc dân tộc Việt Nam thông qua nghệ thuật như thế nào Nguồn

tư liệu này cũng là cơ sở NCS áp dụng lý thuyết giao lưu và tiếp biến văn hóa trong nghiên cứu luận án

Trang 18

Công trình Văn hóa Việt Nam nhìn từ mỹ thuật của tác giả Chu Quang

Trứ do Viện Mỹ thuật và Nxb Mỹ thuật in năm 2002 [90] là tập hợp những nghiên cứu của tác giả về văn hóa, lịch sử, mỹ thuật, lịch sử mỹ thuật Công trình gồm 2 tập: Tập 1 về nội dung Văn hóa trong tâm thức người Việt, Về bản sắc văn hóa Việt Nam, Mỹ thuật hiện đại, Nghệ thuật đình làng, Kiến trúc truyền thống; Tập 2 là nội dung Tiếp cận lịch sử Mỹ thuật Việt Nam, Tranh dân gian, Mỹ thuật ứng dụng, Nghệ thuật Chăm và một số dân tộc ít người khác, Ứng xử với di tích Công trình có một số nội dung liên quan

đến nghiên cứu của luận án về tác giả Nam Sơn giai đoạn 1930 - 1945 Nghệ

sĩ khởi đầu mỹ thuật hiện đại Việt Nam: họa sư Nam Sơn - phẩm tự cao, liên quan đến bản sắc văn hóa và tiếp biến văn hóa như Qua mỹ thuật thử tìm hiểu bản sắc văn hóa dân tộc, Giao lưu để phát triển: Đặc điểm của văn hóa - nghệ thuật Việt Nam

Công trình Xứ Đông Dương - hồi ký (L’Indo - Chine francaise) Paul

Doumer được dịch bởi nhóm tác giả Lưu Đình Tuấn, Hiệu Constant, Lê Đình Chi, Hoàng Long, Vũ Thuý do Nhà xuất bản Thế giới và Alphabook

hợp tác xuất bản năn 2016 [66] Đây là một trong số những công trình quan

trọng về Đông Dương cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Tác giả công trình Paul Doumer (1857-1932) là người từng giữ vai trò Toàn quyền Đông Dương trong 5 năm (1897-1902), là Tổng thống Pháp năm 1931 và bị ám sát năm 1932 Công trình tái hiện một giai đoạn lịch sử Việt Nam dưới góc nhìn của một chính trị gia, một nhà tài phiệt trong thời gian ông đảm nhiệm việc cai quản Đông Dương Bản thảo cuốn sách được hoàn thành năm 1903, ngay sau khi Paul Doumer kết thúc nhiệm kỳ Toàn quyền Đông Dương Dù

có không ít những ý kiến trái chiều về những chính sách của Paul Doumer trong thời gian ở Đông Dương, nhưng từ phương diện nghiên cứu văn hóa,

mỹ thuật công trình cung cấp cho NCS diện mạo chung về Đông Dương

Trang 19

trên lĩnh vực văn hóa, xã hội, kinh tế, giáo dục, cơ sở hạ tầng… cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX Một nhìn nhận đánh giá từ vai trò người cầm quyền, Paul Doumer viết như sau “Người An Nam chắc chắn là tộc người ưu trội

so với các dân tộc xung quanh… Không một dân tộc nào trong Đế quốc các

xứ Ấn Độ có những phẩm chất như họ Phải tới tận Nhật Bản mới có tộc người có phẩm chất của người An Nam và giống như người An Nam Người

An Nam và người Nhật Bản chắc chắn có mối quan hệ thân tộc từ xa xưa

Cả hai đều thông minh, cần cù và dũng cảm… Họ cũng là những người lao động mẫu mực, những nông phu giỏi việc đồng áng, những người thợ lành nghề, những nghệ nhân khéo léo và thông minh So với các dân tộc khác ở châu Á, trên tư cách người thợ và người lính, người An Nam vẫn xếp cao hơn một bậc” [66, tr.92-93] Trong thời gian này, chưa có thông tin nào về việc mở mang đào tạo nghệ thuật cho người An Nam và xứ Đông Dương nhưng tác giả Paul Doumer đã có những đánh giá về thợ thủ công An nam rất khách quan “Các thợ thủ công Bắc kỳ làm việc chăm chỉ và thuần thục

Họ thành công một cách đáng ngưỡng mộ trong các công việc đòi hỏi tỉ mỉ

và tinh xảo Họ có khiếu thẩm mỹ, và một số người trong bọn họ là những nghệ nhân thực sự Những thợ đúc đồng, thợ kim hoàn, thợ khảm men huyền, thợ thêu, thợ điêu khắc, thợ khảm đã tạo được một tiếng tăm xứng đáng Họ không phải là những người thợ bắt chước một nền nghệ thuật ngoại quốc Dẫu vẻ bề ngoài của những sản vật lộ rõ mối quan hệ với những

đồ vật Nhật Bản và Trung Hoa, thì chúng vẫn không phải được lấy cảm hứng từ đó; những người thợ đã tạo ra một nền nghệ thuật An Nam với các hình mẫu và cách trang trí của chính họ” [66, tr.48]

1.1.1.2 Nhóm các công trình tiếp cận từ hướng nghiên cứu về lịch

sử, văn hóa, xã hội của các học giả, nhà nghiên cứu nước ngoài

Sau nhiều năm, những nghiên cứu của người Pháp tại Đông Dương

Trang 20

được dịch hoặc tái bản bằng nhiều ngôn ngữ để phục vụ các nhà nghiên cứu

về Đông Dương Tuỳ từng nội dung, NCS lựa chọn hệ thống các công trình nghiên cứu phù hợp với nội dung luận án Cụ thể như sau:

Cuốn sách Trois Écoles d’Art de l’Indochine Hanoi - Phnompenh - BienHoa (1931) [110], The Ecole des Beaux-Arts de l’Indochine: Victor Tardieu and French Art Between the Wars, tác giả Marie-Agathe Simonetti

(2007) [111] là hai công trình nước ngoài đề cập đến lịch sử các ngôi trường được thành lập ở Đông Dương đầu thế kỷ XX Những ghi chép này bao gồm định hướng đào tạo, tiêu chí và mục đích đào tạo nhân lực tại khu vực Đông Dương, quy chế tuyển sinh, học tập, bài tốt nghiệp quản lý, tuyển sinh, tuyển giáo viên Chương trình đào tạo và những môn học đặc thù theo từng địa phương, các cuộc triển lãm quốc tế, quy mô và giải thưởng… Với những thông tin đó, NCS có cơ sở đánh giá tác phẩm tranh lụa đầu tiên được quốc tế ghi nhận tại triển lãm đấu xảo quốc tế thuộc địa tại Paris năm 1931

cho họa sĩ Nguyễn Phan Chánh (cùng đợt đó là tác phẩm khắc gỗ Thuyền trên bến sông Hồng của An Sơn - Đỗ Đức Thuận)

Bộ sách Technique du peuple Annamite (Kỹ thuật của người An

Nam) của tác giả Henri Oger thực hiện năm 1908-1909 [30, 31] gồm 4200 tranh in từ bản gỗ giới thiệu các nghề truyền thống trong xã hội An Nam đầu thế kỷ XX Đây là bộ tư liệu quý tái hiện cuộc sống của người An Nam

đã được Viện Viễn đông bác cổ nghiên cứu và in năm 2009 nhân kỷ niệm

100 năm bộ sách ra đời Từ cách tiếp cận dân tộc học, Henri Oger đã ghi chép, nghiên cứu nền văn minh vật chất đầu thế kỷ XX của cư dân bản địa Công trình cung cấp cho NCS những thông tin (từ hình ảnh trong tư liệu)

về người thợ thủ công, về sản phẩm thủ công, hình ảnh những người thợ vẽ trong xã hội và bối cảnh xã hội Việt Nam bằng hình ảnh sống động

Nghiên cứu Nền hội họa Pháp ảnh hưởng ở Đông Dương của tác giả

Trang 21

Claude Mahoudot (1943) [18] đã phân tích những xu hướng, trào lưu nghệ

thuật Pháp ảnh hưởng tới hội họa Việt Nam đầu thế kỷ XX Bài viết được đăng trên trang đầu của tạp chí Indochine, số 171 ngày 9 tháng 12 năm

1943 Một sự khẳng định khách quan về sự ra đời của nền mỹ thuật hiện đại Việt Nam mà trước đó, nhà nghiên cứu phương Tây nào cũng đánh đồng

mỹ thuật của người An Nam với nghệ thuật Trung Hoa Dù không phải là người trong cuộc, nhưng những công trình trên là nguồn tư liệu thể hiện sự quan tâm của các học giả quốc tế tới Việt Nam, nghệ thuật Việt Nam, đặc biệt là nghệ thuật tranh lụa Việt Nam Nguồn tư liệu này giúp NCS có cái nhìn chân thực về bối cảnh mỹ thuật Việt Nam đầu thế kỷ XX trước và sau khi trường Mỹ thuật Đông Dương được thành lập

Nhìn chung, những bài viết và công trình nghiên cứu trên đã cung cấp cho NCS diện mạo bối cảnh văn hoá, xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX thông qua văn bản, hình ảnh, bản in khắc gỗ… góp phần bổ sung tư liệu cho việc nghiên cứu luận án Từ những nội dung đã trình bày cũng cho thấy: các tài liệu về trường Mỹ thuật Đông Dương, nghệ thuật tranh lụa, mỹ thuật hiện đại Việt Nam, tác giả, tác phẩm giai đoạn 1930 - 1945, nghệ thuật học… và những tài liệu liên quan khá đa dạng giúp cho NCS có căn cứ để

triển khai các nội dung về đề tài Nghệ thuật tranh lụa Việt Nam giai đoạn

1930 - 1945

1.1.2 Nhóm các công trình tiếp cận từ hướng nghiên cứu về mỹ thuật

1.1.2.1 Nhóm các công trình tiếp cận từ hướng nghiên cứu về mỹ

thuật của các học giả, nhà nghiên cứu trong nước

Những công trình liên quan đến việc ra đời của trường Mỹ thuật Đông

Dương của tác giả Quang Phòng, Quang Việt gồm Trường Mỹ thuật Đông Dương - lịch sử và nghệ thuật (2015) [70], Các họa sĩ trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (1993) [69], Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội 1925 -

Trang 22

2005 (2005) [93] cung cấp cho nội dung luận án thông tin về lịch sử trường

Mỹ thuật Đông Dương, chân dung hiệu trưởng Victor Tardieu, Nam Sơn, Josehp Inguimberty, Tô Ngọc Vân, Lương Xuân Nhị… và những tác phẩm tiêu biểu chất liệu sơn mài, sơn dầu, lụa, thuốc nước, điêu khắc, khắc gỗ… trong giai đoạn này Những công trình trên giúp NCS có thông tin tổng quát

về lịch sử, vai trò, vị trí của trường MTĐD giai đoạn 1925 và một số tác phẩm tranh lụa giai đoạn 1930 - 1945

Công trình Mỹ thuật Việt Nam thế kỷ 20 [78] của Nguyễn Quân, là

một cuốn sách có nhiều nội dung tham khảo vì tính hệ thống về lịch sử mỹ thuật và những nhận định mang tính bản lề trong quá trình giao thoa văn hóa giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX Cách đặt vấn đề có tính gợi

mở tư duy cho người đọc, chẳng hạn như Tình Việt ở lụa, Hồn Việt ở lụa, Cái tôi tự do và chủ nghĩa cá nhân, Cảm hứng tự hào, Tình cảm tưởng niệm

là những đề mục nghiên cứu mà tác giả nhìn nhận về vấn đề lý luận mỹ thuật Tác giả cho là các họa sĩ luôn có những mạch ngầm của thẩm mỹ dân tộc, chủ nghĩa yêu nước đặc trưng của người Việt Chân dung các nghệ sĩ, tác phẩm được nhà nghiên cứu Nguyễn Quân tiếp cận trong từng hoàn cảnh

xã hội cụ thể Ở đó, người họa sĩ có thân phận của người vừa phản ánh lịch

sử thời đại, vừa hưởng những nguồn cảm hứng dân tộc mạnh mẽ ở đương thời Trên con đường phát triển chung của nền nghệ thuật Việt Nam, nghệ thuật tranh lụa là một trong số nhiều chất liệu thuộc lĩnh vực hội họa nhận được sự quan tâm chung Mặc dù, so với nghệ thuật sơn mài hay sơn dầu, nghệ thuật tranh lụa có thể nhận được ít quan tâm hơn vì sự đóng khung trong suy nghĩ với chất liệu, sức biểu cảm của chất liệu hoặc khả năng diễn đạt kỹ thuật Nghệ thuật tranh lụa hiện đại Việt Nam, đặc biệt từ những năm

2010 đến nay đã có những thành công, tạo được thị trường tranh lụa và minh chứng rõ nét về sự khai thác tối đa những yếu tố (được coi là hạn chế) của

Trang 23

tranh lụa đã được bàn luận, nghiên cứu trước đó Đây là cơ sở để NCS phân tích đặc điểm, kỹ thuật và sự biểu cảm của tranh lụa từ phương diện chủ quan và khách quan

Trong nghiên cứu mỹ thuật, trường CĐMTĐD thành lập, mở ra một thời kỳ mỹ thuật hiện đại đối với một quốc gia thuộc địa đầu thế kỷ XX vốn

là một hiện tượng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và công bố Nguồn

tư liệu này hỗ trợ NCS tìm ra những đúc kết quan trọng cho sự nghiệp tranh lụa của cá nhân các họa sĩ ở giai đoạn này Có những tác giả lựa chọn lụa làm chất liệu sáng tác chuyên nghiệp, một số tác giả sáng tác đa dạng và lụa

là một phần trong nhiều sự lựa chọn đó… họ đều là những họa sĩ tài ba, tâm huyết và để lại cho nền mỹ thuật Việt Nam nhiều tác phẩm có giá trị

Những công trình về tác giả, tác phẩm tranh lụa giai đoạn 1930 - 1945

gồm có Họa sĩ Nguyễn Phan Chánh của tác giả Nguyệt Tú, Nguyễn Phan Cảnh do Nxb Văn hóa in năm 1979 [94], Tranh lụa Nguyễn Phan Chánh của tác giả Nguyệt Tú do Nxb Phụ nữ in năm 2006 [95], Họa sĩ và thiếu nữ của tác giả Nguyệt Tú do Nxb Phụ nữ in năm 2009, Tranh lụa Nguyễn Phan Chánh của tác giả Nguyễn Văn Chung (1992) [16], Tranh lụa Nguyễn Phan Chánh của Viện Mỹ thuật - Bảo tàng Mỹ thuật - Vụ Mỹ thuật (1992) [103], Nguyễn Phan Chánh: Hồn quê trên lụa nhiều tác giả (1998), Lương Xuân Nhị - Các tác phẩm hội họa và đồ họa của tác giả Lương Xuân Đoàn, Lê Đức Cường (2003) [23]… Trong những công trình trên, tác giả Nguyệt Tú

không chỉ là người còn lưu giữ một số tác phẩm lụa của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh, mà còn là con gái của tác giả Ba công trình của Nguyệt Tú viết về Nguyễn Phan Chánh thể hiện rõ nét toàn bộ cuộc đời sáng tác của ông, bối cảnh xã hội và lý do từng tác phẩm đó ra đời Các công trình này cho NCS cái nhìn khách quan về chân dung tác giả - những người đại diện cho nền

mỹ thuật tranh lụa hiện đại Việt Nam Lý do sáng tác và động lực của sự

Trang 24

đam mê của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh đối với các tác phẩm của mình Năm 1992, Viện Mỹ thuật phối hợp với Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam và Vụ

Mỹ thuật (nay là Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm) đã tổ chức Hội

thảo khoa học 100 năm nhân ngày sinh của họa sĩ với tiêu đề Tranh lụa Nguyễn Phan Chánh, kỷ yếu tập hợp những bài viết, bài nghiên cứu về tác

giả Nguyễn Phan Chánh từ nhiều góc độ khác nhau, giúp cho nghiên cứu sinh có cái nhìn đa chiều và toàn diện hơn về vai trò của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh trong lịch sử phát triển của nghệ thuật tranh lụa nói riêng và lịch sử phát triển của mỹ thuật Việt Nam nói chung Nhìn chung, dù còn rất khiêm tốn, nhưng những công trình giới thiệu tác giả tranh lụa quan trọng trên đã cung cấp cho NCS những thông tin về tác giả, bối cảnh xã hội, tiểu

sử tác phẩm giai đoạn 1930 - 1945… liên quan trực tiếp tới nội dung nghiên cứu của đề tài luận án được sử dụng trong quá trình diễn giải lịch sử ra đời của trường CĐMTĐD, khái lược hội họa Việt Nam đầu thế kỷ XX ở chương

1 và phân tích tác phẩm ở chương 2

Những công trình nghiên cứu về nghệ thuật truyền thống, tranh lụa

Trung Hoa và Nhật Bản trong tương quan với tranh lụa Việt Nam như Hội họa cổ Trung Hoa, Nhật Bản của tác giả Hoàng Công Luận, Lưu Yên (1993) [50], Tranh lụa Trung Quốc và Việt Nam sự tương đồng và khác biệt của tác giả Trương Phi Đức (2011) [26], Những bức tranh lụa cổ nhất Việt Nam Trịnh Quang Vũ (2008) [109] và Mỹ thuật Trung Quốc của tác giả Lâm Ngữ Đường (2010) [27]… giúp NCS có những hiểu biết về lịch sử tranh

Quốc họa Trung Hoa, tranh lụa Trung Hoa, đặc điểm vẽ lụa cổ Trung Hoa, phương pháp thực hành và dụng ý của họa sĩ khi sử dụng các yếu tố nghệ thuật, hiểu về Lục pháp luận của Tạ Hách bàn về hội họa Trung Hoa trong công trình Hội họa cổ Trung Hoa, Nhật Bản và so sánh điểm tương đồng và khác biệt giữa tranh lụa Trung Hoa và Việt Nam thông qua bài viết của tác

Trang 25

giả Trương Phi Đức Đây là cơ sở để tìm đặc điểm nghệ thuật tranh lụa Việt Nam trong quá trình giao lưu tiếp biến với nền nghệ thuật Trung Hoa và ảnh hưởng từ hội họa Pháp

Những tài liệu nghiên cứu đánh giá về tranh lụa, sự phát triển của tranh lụa Việt Nam tập trung chủ yếu nhóm bài đăng trên các tạp chí như

Từ chất liệu lụa làng quê đến nghệ thuật tranh lụa Việt Nam của họa sĩ Phạm Thanh Liêm đăng trên tạp chí Mỹ thuật (2002), Tình Việt ở lụa của Nguyễn Quân hay bài viết “Tranh lụa đi về đâu?” của Bùi Như Hương

đăng trên tạp chí Thông tin Mỹ thuật (2008) Những bài viết bàn tới tác phẩm tranh lụa của thế hệ các họa sĩ của trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương Một số bài nghiên cứu về mang tính chất tổng quát về tranh lụa,

nghệ thuật tranh lụa Việt Nam ở các giai đoạn hiện đại khác nhau như Thấy

gì và làm gì sau triển lãm tranh lụa Việt Nam 2007? của Phạm Huy Hùng cùng đăng trên tờ Thông tin Mỹ thuật (2008), Tranh lụa Việt Nam vang bóng một thời của tác giả Phạm Quốc Trung đăng trên Thông tin Mỹ thuật

- Trường Đại học Mỹ thuật TP Hồ Chí Minh, số 21-22 (2008), Từ chất lụa làng quê đến nghệ thuật tranh lụa Việt Nam của tác giả Phạm Thanh Liêm đăng trên Tạp chí Mỹ thuật, số 54, Hội Mỹ thuật Việt Nam, Tranh lụa Việt Nam từ 1925 đến 2015 của tác giả Nguyễn Thanh Mai (2016) đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Mỹ thuật, số 3/2016… Nguồn tư liệu này giúp NCS có sự

bao quát về nghệ thuật tranh lụa hiện đại Việt Nam qua các giai đoạn, sự thay đổi về kỹ thuật và chất liệu thể hiện, làm cơ sở cho việc đối chiếu giữa tranh lụa giai đoạn 1930 - 1945 với những giai đoạn khác

Năm 2011, Hội thảo khoa học Kỷ yếu Hội thảo phát huy giá trị bộ sưu tập tranh lụa tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

được nhiều họa sĩ quan tâm, hội thảo bàn luận về nghệ thuật tranh lụa, giá trị của bộ sưu tập tranh lụa tại bảo tàng (bao gồm những tác phẩm tranh lụa

Trang 26

giai đoạn 1930 - 1945), kỹ thuật thể hiện, giải pháp bảo vệ sự xuống cấp của tranh lụa… Đây là tài liệu hữu ích cho NCS trong việc cập nhận thông tin số lượng lưu trữ, tình trạng tác phẩm tranh lụa

Các công trình trên liên quan trực tiếp đến nội dung nghiên cứu của luận án đã cung cấp những thông tin hữu ích từ nhiều góc độ khác nhau, là những gợi ý để NCS triển khai nội dung nghiên cứu Quá trình phát triển của tranh lụa, những thăng trầm, ưu nhược điểm của chất liệu, các tác phẩm được lựa chọn tham dự triển lãm toàn quốc (nội dung, chất lượng…), những trăn trở của các họa sĩ, nhà nghiên cứu cho thể loại này trong gần một thế

kỷ qua Đó là nguồn tư liệu hữu ích cho NCS triển khai các nội dung trong luận án

Những công trình liên quan đến cơ sở lý luận của luận án của tác giả Nguyễn Quân, Đặng Thị Bích Ngân, Lê Bá Dũng và những tác giả khác

như Con mắt nhìn cái đẹp (2005) [74], Ghi chú về nghệ thuật (2008) [76], Ngôn ngữ của hình và màu sắc [75], Từ điển mỹ thuật phổ thông (2012) [55], Đại cương mỹ thuật của tác giả Lê Bá Dũng (2012) [22]… Những

công trình của tác giả Nguyễn Quân [74, 76, 75] được tác giả tiếp cận từ đặc điểm tâm lý thị giác, phân tích các yếu tố tạo hình (hình khối, đường nét, màu sắc… ) như là những cơ cấu của sáng tạo nghệ thuật Bên cạnh đó

là lý những giải về phân chia thể loại, kỹ thuật, chất liệu… giúp NCS có cơ

sở tham khảo trong quá trình thực hiện nghiên cứu, phân tính, đánh giá tác

phẩm Riêng công trình Con mắt nhìn cái đẹp tác giả Nguyễn Quân đồng

nghĩa khái niệm mỹ thuật và nghệ thuật tạo hình, bàn đến cái Đẹp, đồng nhất các yếu tố hình - hình học - hình thị giác và hịnh tâm lý, tưởng tượng

là kết quả tổng hợp của hoạt động tinh thần con người, tạo nên cái đẹp, và khi các yếu tố này thống nhất làm một, sẽ tạo nên cái chân - thiện - mỹ trong tác phẩm Nội dung này được NCS sử dụng như là một trong số những luận

Trang 27

điểm nghiên cứu cùng với quan điểm về cái Đẹp của nhà phê bình nghệ

thuật Thái Bá Vân trong cuốn sách Tiếp xúc với nghệ thuật do Nxb Mỹ thuật

in năm 2009 [99] và một số công trình tập hợp những thuật ngữ liên quan đến mỹ thuật Công trình này giúp NCS có cơ sở để đưa ra những khái niệm liên quan đến công trình nghiên cứu như tranh lụa, nghệ thuật hội họa, tác

phẩm mỹ thuật…

Nghiên cứu về nghệ thuật tranh lụa Việt Nam, họa sĩ Nguyễn Thụ không chỉ là người thường xuyên sáng tác chất liệu này, mà ông còn là tác

giả cuốn Kỹ thuật tranh lụa Việt Nam do Nxb Mỹ thuật in năm 1995 [82]

Tác giả cuốn sách trình bày kỹ lưỡng về những đặc trưng độc đáo của chất liệu lụa Việt Nam thông qua phân tích bố cục, màu sắc, chủ đề trong chất liệu, tác giả cũng giới thiệu về kỹ thuật tranh lụa cơ bản, nhằm giúp độc giả, người yêu nghệ thuật tranh lụa và các nhà nghiên cứu bước đầu hiểu và phân biệt các kỹ thuật xử lý và vẽ tranh lụa

Một số vựng tập về tranh lụa Việt Nam được xuất bản như Tranh lụa Việt Nam do Nxb Mỹ thuật in năm 1997 của nhóm tác giả Dương Viên, Trần

Lưu Hậu và Hoàng Công Luận tập trung giới thiệu các tác phẩm tranh lụa

của các họa sĩ từ năm 1930 đến năm 1997 Vựng tập Triển lãm tranh lụa Việt Nam do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phát hành năm 2007 và Hội thảo triển lãm tranh lụa do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Cục Mỹ thuật,

Nhiếp ảnh và Triển lãm tổ chức năm 2008 bổ sung thêm các tác phẩm, tác giả sáng tác tranh lụa trong từng giai đoạn từ năm 1930 đến năm 2008 Đây cũng là nguồn tư liệu tốt giúp nghiên cứu sinh có cơ sở để quan sát, tìm hiểu, phân tích, so sánh tác giả, tác phẩm tốt hơn

1.1.2.2 Nhóm các công trình tiếp cận từ hướng nghiên cứu về Mỹ

thuật của các học giả, nhà nghiên cứu nước ngoài

Nghệ thuật xứ An Nam của tác giả Henri Gourdon (2017) [29] Trong

Trang 28

công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp tại Đông Dương, bên cạnh phần mở rộng của lãnh thổ, nghệ thuật Pháp thế kỷ XX cũng không còn giới hạn ở di sản nghệ thuật chính quốc mà bao gồm cả các công trình kiến trúc, tác phẩm hội họa, điêu khắc, trang trí, thủ công mỹ nghệ ở các nước thuộc địa Đầu thế kỷ XX, các chuyên gia người Pháp trong lĩnh vực này bắt đầu nghiên cứu nghệ thuật bản địa từ Đông Dương đến Madagascar, Bắc Phi, Syria…

Năm 1933, cuốn Nghệ thuật xứ An Nam của tác giả Henri Goudon được

Nhà xất bản E de Boccard xuất bản Năm 2017, Nxb Nhã Nam đã tiến hành dịch công trình này ra tiếng Việt Là một giáo viên trường Thuộc địa và Đại học Bordeaux, từ năm 1918 đảm nhiệm vị trí Giám đốc Nha học chính Đông Dương, Henri Goudon đã đưa ra cái nhìn toàn cảnh khách quan về nguồn gốc và các xu hướng nghệ thuật tại xứ An Nam trong cuốn sách Cuốn sách

có những nội dung hữu ích về việc thành lập trường Mỹ thuật Đông Dương

và tâm huyết của đội ngũ giáo sư tham gia giảng dạy, đặc biệt là hiệu trưởng Victor Tardieu “Việc thành lập ngôi trường này đã từng gây lo ngại cho những người chỉ đánh giá theo chương trình giảng dạy mà không nắm được tinh thần áp dụng chương trình đó Quả thật ta có thể lo ngại rằng cách thức giảng dạy sẽ quá trung thành với cách giảng dạy tại các trường mỹ thuật ở

“mẫu quốc” để rồi tạo ra một thế hệ họa sĩ và nhà điêu khắc chỉ còn mang yếu tố An Nam trên thẻ căn cước Nhưng nếu nhìn vào những thành quả đạt được, ta sẽ thấy đó chỉ là lo ngại viển vông” [29, tr.122-123]

Paris - Hanoi - Saigon, l’aventure de l’art moderne au Vietnam (Paris - Hà Nội - Sài Gòn, cuộc phiêu lưu của nghệ thuật hiện đại Việt Nam)

do Hiệp hội Paris - Musées ấn hành năm 1998 Cuốn sách dày 183 trang giới thiệu về sự ra đời của nghệ thuật hiện đại Việt Nam, những tác phẩm

mỹ thuật hiện đại tiêu biểu Việt Nam đặc biệt là những tác phẩm tranh lụa giai đoạn 1930 - 1945 của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Nhật, Tô

Trang 29

Ngọc Vân hiện lưu giữ trong sưu tập nước ngoài Đây là cơ sở để NCS phân tích tác phẩm lụa và sự phát triển của nghệ thuật tranh lụa Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945

Những công trình nghiên cứu về trường Mỹ thuật Đông Dương, mỹ thuật Việt Nam hiện đại, tác giả, tác phẩm tranh lụa Việt Nam giai đoạn

1930 - 1945… của các nhà nghiên cứu nước ngoài dù không nhiều nhưng phần nào thể hiện sự khách quan của các tác giả trong nghiên cứu đối với một quốc gia phương Đông như Việt Nam Đồng thời cung cấp cho NCS những quan điểm, đánh giá khách quan của các học giả nước ngoài về mỹ thuật hiện đại Việt Nam, mỹ thuật Việt Nam trong tương quan các nước châu Á, vai trò của Victor Tardieu đối với việc thành lập trường MTĐD, sự giao thoa giữa Tây và Đông trong đào tạo và sáng tác tại trường MTĐD

1.2 Cơ sở lý luận

1.2.1 Những khái niệm liên quan đến đề tài

Lụa thuộc lĩnh vực hội họa là “…nghệ thuật vẽ dùng màu sắc, hình mảng, đường nét để diễn đạt cảm xúc của người vẽ trước vẻ đẹp của con người, thiên nhiên, xã hội” [55, tr.88]

1.2.1.1 Khái niệm nghệ thuật

Nghệ thuật có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau: Là sự sáng tạo ra những sản phẩm vật thể hoặc phi vật thể chứa đựng những giá trị lớn về tư tưởng thẩm mỹ, mang tính chất văn hoá làm rung động cảm xúc, tư tưởng tình cảm cho người thưởng thức Theo ý nghĩa này thường là dùng trong các loại hình nghệ thuật khác nhau Nghệ thuật là cái hay, cái đẹp để người ta chiêm nghiệm qua các giác quan từ đó ngưỡng mộ bởi trình

độ, tài năng Kỹ năng vượt lên trên mức thông thường phổ biến, thường là một tác phẩm nghệ thuật Nghệ thuật là khi một nghề nghiệp nào đó được thực hiện ở mức hoàn hảo với trình độ điêu luyện, thậm chí siêu việt Theo

Trang 30

Từ điển Mỹ thuật “…nghệ thuật là tất cả phương pháp tiến hành và là sản

phẩm của tài khéo léo, trí tưởng tượng và sự sáng tạo của con người [55, tr.61], “Nghệ thuật là một hoạt động nhận thức của con người bằng phương tiện hình tượng [15, tr.5] Theo những nghĩa thông thường thì định nghĩa nghệ thuật thường phản ánh các tiêu chuẩn thẩm mỹ, và từ này bao hàm văn học, âm nhạc, kịch nghệ, hội họa, điêu khắc và kiến trúc

1.2.1.2 Khái niệm tranh lụa

Tranh lụa là một trong những loại hình nghệ thuật có từ lâu đời ở Á Đông trong đó có Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản Vẻ đẹp của tranh lụa khác hẳn với các chất liệu có trong sơn mài, sơn dầu nên trong lĩnh vực hội họa, tranh lụa được gọi tên theo đặc tính của chất liệu làm nền mà không theo chất liệu vẽ lên trên nền như sơn dầu hay sơn mài Vì lý do đó, khi tìm hiểu khái niệm tranh lụa, phần lớn đều nói về lụa, lụa dùng để vẽ, loại lụa

để vẽ, tính chất của lụa…

Từ điển tiếng Việt do GS Hoàng Phê Chủ biên định nghĩa “Tranh lụa

là tranh vẽ trên lụa bằng màu nước” [104, tr.1298] và “tranh là tác phẩm hội họa phản ánh hiện thực bằng đường nét và màu sắc” [104, tr.1297] Khái

niệm tranh lụa trong cuốn Con mắt nhìn cái đẹp, được nhà nghiên cứu mỹ

thuật Nguyễn Quân viết như sau “Tranh lụa trở thành độc đáo ở Việt Nam cũng từ trường Mỹ thuật Đông Dương khi các họa sĩ dùng bột màu, màu nước kết hợp với mực nho vẽ lên nền lụa chưa bồi” [74, tr.87] Một cách định nghĩa khác về chất liệu lụa, tác giả Lê Bá Dũng viết “Lụa là “tên gọi của chất liệu này dựa vào vật liệu dùng làm nền tranh Người ta có thể dùng nhiều thứ màu khác nhau để vẽ lên nền lụa như bột màu, màu nước, mực nho, điệp, tempera… Nhưng các họa sĩ đều cho rằng không giữ được chất lụa của nền tranh thì đó không phải là tranh lụa nữa” [22, tr.99] Trong cuốn

Từ điển mỹ thuật phổ thông, tác giả Đặng Thị Bích Ngân định nghĩa tranh

Trang 31

lụa như sau:

Tranh vẽ trên lụa Lụa vẽ thường là lụa tơ tằm, không lỗi, mịn hoặc hơi thô, dệt thủ công hay dệt bằng máy Gần đây, do yêu cầu của ngành mỹ thuật, các nhà máy dệt đã sản xuất loại lụa chuyên dùng để vẽ tranh, mỏng và hơi thưa, nhìn rõ thớ lụa Màu dùng

để vẽ lụa thường là màu nước, phẩm hoặc mực nho Sau này, người ta còn dùng những họa phẩn đục hơn, dày hơn như tăm-pê-

ra, màu bột, phấn màu…, nhưng khi dùng chúng thì không nên đắp dày vì như vậy sẽ phủ kín nền lụa, không nhìn thấy thớ lụa nữa và làm giảm đi vẻ đẹp của chất lụa Khi vẽ lụa, người ta thường vẽ từ nhạt đến đậm, màu nhạt chồng lên nhau nhiều lần

sẽ thành đậm Vẽ chồng lên nhau bằng các màu khác nhau cũng

là một cách pha màu Thỉnh thoảng, khi màu đã khô, phải rửa nhẹ cho sạch những chất bẩn nổi lên mặt lụa, và để cho màu ngấm vào từng thớ lụa Muốn cho các mảng màu cạnh nhau hoà vào với nhau không còn ranh giới tách bạch, tạo ra một hiệu quả mềm mại, mờ ảo, người ta vẽ khi mặt lụa còn hơi ẩm và không cần viền nét nữa Lụa trước khi vẽ phải căng lên khung Nếu lụa hút nước nhiều như lụa Trung Quốc thì quét một lớp hồ loãng lên trên, có pha lẫn một ít phèn chua để chống mốc [55, tr.142]

Như vậy, định nghĩa về tranh lụa xuất phát từ tên gọi theo nền vẽ, do

đó tranh lụa, chất liệu lụa hay kỹ thuật vẽ tranh lụa không tách bạch mà tương đồng Từ những giải nghĩa trên, NCS đưa ra định nghĩa về tranh lụa như sau: Tranh lụa là một thể loại hội họa vẽ trên lụa tơ tằm Tuỳ theo tính chất từng loại sợi và kỹ thuật dệt khác nhau mà nền lụa có màu vàng, ngà vàng hay trắng, thô (sợi to, dệt thưa) hay mịn (sợi nhỏ, dệt mau), đố sợi ngang, hay dọc, dệt thủ công hay công nghiệp… Màu vẽ trên lụa cũng tuỳ

Trang 32

vào đặc tính từng loại lụa mà phù hợp với mực, màu nước, màu acrylic, màu

tự nhiên vẽ khô hay vẽ ướt (làm ẩm lụa), rửa lụa ít hay nhiều Trước khi

vẽ, lụa cần được căng trên khung để tránh tình trạng bị nhăn, sau khi hoàn thành cần biểu lụa để bảo quản, nếu cần phô diễn bề mặt nền có thể tuỳ từng trường hợp mà phô diễn sớ lụa bằng cách tạo hình khung hoặc chồng lớp…

1.2.1.3 Khái niệm nghệ thuật tranh lụa

Căn cứ vào khái niệm nghệ thuật và tranh lụa đã được nêu trên cho thấy một tác phẩm tranh lụa là một thể loại hội họa vẽ trên lụa tơ tằm, hàm chứa những giá trị nghệ thuật của tác phẩm thông qua yếu tố tạo hình, kỹ thuật thể hiện, vẻ đẹp chất liệu, đem đến cho công chúng, người xem tranh những thông điệp mà người nghệ sĩ cố gắng truyền tải Do vậy, khái niệm nghệ thuật tranh lụa có thể được khái quát như sau:

Nghệ thuật tranh lụa là nghệ thuật thuộc thể loại hội họa vẽ trên lụa, hàm chứa những giá trị nghệ thuật của tác phẩm thông qua yếu tố tạo hình (đường nét, hình dạng, không gian, màu sắc, độ sáng), kỹ thuật thể hiện (vẽ khô hoặc vẽ ướt), vẻ đẹp chất liệu (mực, màu nước, màu acrylic, màu tự nhiên trên nền lụa), tác động thẩm mỹ đến công chúng, khán giả thưởng thức nghệ thuật và chuyển tải những thông điệp, ý tưởng của nghệ sĩ

Trong bất cứ một thời đại nào nghệ thuật luôn đóng vai trò tảng nền tảng góp phần xây dựng nền văn minh, bao hàm hai yếu tố: nghệ sĩ và tác phẩm nghệ thuật Xuyên suốt chiều dài lịch sử, các tác phẩm nghệ thuật luôn mang nhiều hình thức, phục vụ nhiều mục đích khác nhau và không ngừng không ngừng tiến hoá trong quá trình ấy Cả hai yếu tố này luôn gắn

bó mật thiết với nhau và phản ánh xã hội “Xã hội tác động đến nghệ thuật (thông qua ảnh hưởng đến nghệ sĩ), còn nghệ thuật ảnh hưởng tới sự phát triển xã hội qua việc công chúng lĩnh hội các tác phẩm nghệ thuật” [54, tr.501] Vì vậy, nghệ thuật tranh lụa Việt Nam không chỉ thể hiện những

Trang 33

yếu tố nghệ thuật và chuyển tải những thông điệp, ý tưởng của nghệ sĩ mà còn phản ánh bối cảnh xã hội, chính trị, kinh tế, văn hoá Việt Nam thông qua vai trò của người nghệ sĩ “…người họa sĩ có thân phận của người vừa phản ánh lịch sử thời đại, vừa hưởng những nguồn cảm hứng dân tộc mạnh

mẽ ở đương thời” [78] Nghệ thuật không tồn tại biệt lập trước những tác động của xã hội và “các nghệ sĩ, tác phẩm nghệ thuật, công chúng với thị hiếu nghệ thuật của họ - tất cả những cái đó là những yếu tố hợp thành văn hoá nghệ thuật của xã hội” [54, tr.502] Do vậy, nghệ thuật tranh lụa có thể khái niệm như sau: Là nghệ thuật thuộc thể loại hội họa vẽ trên lụa tơ tằm của các nghệ sĩ Việt Nam hàm chứa những giá trị nghệ thuật của tác phẩm thông qua yếu tố tạo hình (đường nét, hình dạng, không gian, màu sắc, độ sáng), kỹ thuật thể hiện (vẽ khô hoặc vẽ ướt), vẻ đẹp chất liệu (mực, màu nước, màu acrylic, màu tự nhiên trên nền lụa), tác động thẩm mỹ đến công chúng, khán giả thưởng thức nghệ thuật và chuyển tải những thông điệp, ý tưởng của nghệ sĩ

1.2.2 Lý thuyết nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu chủ yếu của luận án là Nghệ thuật tranh lụa Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 với nhiệm vụ tìm hiểu cơ sở lý luận, khái quát

chung về tranh lụa Việt Nam, đặc điểm của nghệ thuật tranh lụa Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 qua phong cách sáng tác, chất liệu, kỹ thuật, màu sắc NCS đã sử dụng lý thuyết giao lưu và tiếp biến văn hóa để làm cơ sở

lý luận cho luận án

Giao lưu và tiếp biến văn hóa là một khái niệm, một thuật ngữ khoa

học được hiểu là quá trình tiếp xúc lâu dài của hai hay nhiều nền văn hóa

dẫn đến sự biến đổi mô thức văn hóa cùa một hay các nền văn hóa ấy Giao lưu văn hóa bao hàm trong đó sự chung sống của ít nhất hai nền văn hóa

(của hai cộng đồng, hai dân tộc, hai đất nước) và giao lưu là hình thức quan

Trang 34

hệ trao đổi văn hóa cùng có lợi, giúp đáp ứng một số nhu cầu không thể tự thỏa mãn của mỗi bên, giúp tăng sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nền văn hóa

để từ đó làm nẩy sinh nhiều nhu cầu mới thúc đẩy mỗi nền văn hóa phát

triển Do đó giao lưu văn hóa là dạng cộng sinh giữa các nền văn hóa Tiếp biến văn hóa - một hình thức biến nhiều lợi ích tiềm năng mà giao lưu văn

hóa đem lại thành những lợi ích thực tế - là hiện tượng tiếp nhận có chọn lựa một số yếu tố văn hóa ngoại lai và biến đổi chúng cho phù hợp với điều kiện sử dụng bản địa, tức phù hợp với văn hóa bản địa, và sau một thời gian

sử dụng và biến đổi tiếp thì chúng trở thành những yếu tố văn hóa bản địa

ngoại sinh Tiếp biến văn hóa thể hiện qua hai phương thức: Phương thức

bạo lực (qua chiến tranh, xâm lược, đế quốc chủ nghĩa thực dân): đối đầu (xung đột) văn hóa và phương thức hòa bình (qua buôn bán truyền bá tôn giáo tư tưởng, trao đổi văn hóa nghệ thuật), tức là đối thọai văn hóa (văn minh)

Ở phương Tây, khái niệm giao lưu và tiếp biến văn hóa được hiểu là trao đổi văn hóa (Cultural change) (Anh) hoặc là đan xen văn hóa, giao thoa văn hóa (Acculturation) (Mỹ) Tùy trình độ phát triển và đặc điểm riêng của mỗi dân tộc, giao lưu và tiếp biến văn hóa là sự gặp gỡ, thâm nhập hay học hỏi lẫn nhau giữa các nền văn hóa Là sự vận động thường xuyên của xã hội, gắn bó với tiến hoá xã hội nhưng cũng gắn với sự phát triển văn hoá, là

sự vận động thường xuyên của văn hoá Trong quá trình này, các nền văn hóa bổ sung, tiếp nhận và làm giàu cho nhau, dẫn đến sự biến đổi, phát triển

và tiến bộ văn hóa Từ những năm 1880, thuật ngữ này được các nhà dân

tộc học phương Tây sử dụng Hai nội dung cơ bản của khái niệm này là tiếp xúc và biến đổi về văn hóa, nhưng cách hiểu khác nhau ở chỗ biến đổi như

thế nào và nhất là những đối tượng tiếp xúc văn hóa ở đây là những đối tượng nào (vùng miền, cộng đồng, nhóm người rồi đến cấp độ từng cá

Trang 35

nhân)? Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: giao lưu văn hoá là sự tiếp xúc văn hóa, trao đổi ảnh hưởng và tác động qua lại giữa các nền văn hóa của các dân tộc khác nhau Như vậy, các quan niệm liên quan đến hàm nghĩa giao lưu văn hóa đều chỉ ra ít nhất hai hoặc nhiều hơn văn hóa của các chủ thể khác nhau (nhóm, cộng đồng, dân tộc…) gặp nhau (tiếp xúc với nhau) Trong quá trình đó, hoặc có sự tiếp nhận bổ sung làm phong phú, hoặc có thể dẫn đến sự thay đổi bên trong (về mô hình và phương thức) văn hóa của mỗi bên tham gia (tự nguyện hoặc áp đặt)

Giao lưu - tiếp biến văn hóa là phương pháp định vị văn hóa dựa trên

lý thuyết các trung tâm và sự lan tỏa văn hóa hay còn gọi là thuyết khuếch tán văn hóa với các đại biểu như F.Rasel, L.Frobenius, F.Giabner, W.Schmidt, G.Elliot Smith, W.Riers Thuyết này cho rằng, sự phân bổ văn hóa mang tính không đồng đều; văn hóa tập trung ở một số khu vực sau đó lan tỏa ra các khu vực kế cận Càng xa trung tâm, ảnh hưởng của văn hóa gốc càng giảm - cho tới khi mất hẳn (lan tỏa tiên phát) Cơ chế này tạo ra các vùng giao thoa văn hóa - nơi chịu ảnh hưởng đồng thời nhiều trung tâm văn hóa, và cả vùng tối nơi sức lan tỏa không tới Từ góc độ văn hóa, khái

niệm giao lưu và tiếp biến văn hóa là một hiện tượng xảy ra giữa các cộng

đồng dân tộc, quốc gia có văn hóa khác nhau, trong quá tình giao lưu tiếp xúc tạo nên sự biến đổi văn hóa của một hoặc cả hai nhóm Giao lưu văn hóa tạo nên sự dung hợp, tổng hợp, ảnh hưởng lẫn nhau, bổ sung cho nhau

và tích hợp văn hóa ở các cộng đồng Ở đó có sự kết hợp giữa các yếu tố nội sinh (bản địa) với ngoại sinh (ngoại lai) tạo nên sự phát triển của văn hóa phong phú, đa dạng và tiến bộ hơn Giao lưu và tiếp biến văn hóa là sự tiếp nhận văn hoá nước ngoài bởi dân tộc chủ thể, quá trình này luôn đặt mỗi dân tộc phải xử lý tốt mối quan hệ biện chứng giữa yếu tố nội sinh và ngoại sinh Giao lưu văn hóa thực chất là sự gặp gỡ, đối thọai giữa các nền

Trang 36

văn hóa, đòi hỏi mỗi nền văn hóa phải biết dựa vào yếu tố nội sinh để lựa chọn tiếp nhận yếu tố ngoại sinh, từng bước bản địa hóa ngoại sinh, biến đổi cho phù hợp với các yếu tố, giá trị, quan niệm văn hóa bản địa, để biểu đạt, phản ánh tâm hồn, tính cách ước muốn và tâm thức dân tộc của chủ thể được tiếp nhận mà vẫn giữ được sắc thái riêng Tiếp biến văn hóa là một quá trình biến đổi về văn hóa và tâm lý xảy ra trong quá trình tiếp xúc giữa hai hoặc nhiều nhóm văn hóa hoặc những cá nhân thành viên trong những nhóm văn hóa đó

Giao lưu văn hóa là nhu cầu cho sự tồn tại và phát triển của mỗi cộng đồng, quốc gia, dân tộc Trong quá trình đó, diễn ra sự giao thoa, pha trộn, khúc xạ khác nhau, làm cho văn hóa của mỗi chủ thể có sự biến đổi hoặc không Giao lưu văn hóa tạo ra hiện tượng tiếp biến (tiếp thụ và cải biến) văn hóa (acculturation) Không có giao lưu, tiếp xúc văn hoá thì không có

tiếp biến văn hóa Lý thuyết giao lưu và tiếp biến văn hóa cũng là sự gặp

gỡ, trao đổi, giao thoa, thâm nhập và học tập giữa các nền văn hóa với nhau, tiếp thu tiếp nhận làm giàu cho nhau dẫn đến sự biến đổi Do vậy, trong nghiên cứu này, trong quá trình giao lưu và tiếp biến với Trung Hoa và Pháp, Việt Nam là một nhân tố chịu tác động nhiều hơn trên cơ sở tiếp nhận

và phát triển nghệ thuật tranh lụa theo một cách riêng

Trong mỗi một công trình nghiên cứu, lý thuyết luôn giữ vai trò là nền tảng, đó không chỉ là kinh nghiệm, kiến thức, tri thức, trí tuệ của các thế hệ tích luỹ lại, cung cấp cho người nghiên cứu cơ sở để lập luận, kiến giải các vấn đề Mỗi lý thuyết đóng góp một cái nhìn và giá trị riêng, do vậy

Lý thuyết giao lưu và tiếp biến văn hóa còn là cơ sở giúp NCS trả lời những câu hỏi liên quan đến đặc điểm của tranh lụa Việt Nam, những giá trị của tranh lụa Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 và những ảnh hưởng từ các nền nghệ thuật tới Việt Nam đặc biệt là nghệ thuật hiện đại Pháp đầu thế kỷ

Trang 37

XX… Trong quá trình tiếp xúc và giao lưu văn hóa như vậy, Việt Nam luôn gìn giữ vẻ đẹp vốn có của văn hóa dân tộc, đồng thời tích cực giao lưu, hỏi hỏi, tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới một cách chọn lọc để làm giàu cho văn hóa nước nhà, giữ gìn văn hóa truyền thống nhưng không phải giữ y nguyên, mà phải tích cực phát triển, học hỏi tạo ra những nét văn hóa mới của dân tộc từ những tinh hoa văn hóa nhân loại

1.3 Khái quát về nghệ thuật tranh lụa

1.3.1 Lịch sử hình thành và phát triển tranh lụa thế giới

Trong nhiều thiên niên kỷ, tranh lụa đã góp phần làm phong phú thêm kho tàng lịch sử tranh lụa phương Đông nói riêng và mỹ thuật thế giới nói chung Từ một nghề thủ công đặc biệt quay tơ, dệt lụa tạo nên những bộ trang phục sang trọng, đẹp mắt Lụa góp phần làm nên một thể loại nghệ thuật mới tao nhã, đậm đà bản sắc và tính thẩm mỹ - đó là nghệ thuật tranh lụa Từ sự khởi đầu khiêm tốn ở nhiều thế kỷ trước ở Trung Hoa, Ấn Độ, Hàn Quốc, Nhật Bản… đến Việt Nam tranh lụa đã tạo nên một lịch sử riêng mang đậm tính triết lý và thẩm mỹ Á Đông

Từ thời Cổ đại cách đây 5.000 năm trước, lụa bắt đầu được sản xuất

và sử dụng Trung Hoa là quốc gia được biết đến sớm nhất về việc sản xuất lụa, những kết quả khảo cổ học cho thấy tranh lụa và thư pháp được viết trên lụa xuất hiện từ thời nhà Chu Hai chất liệu là lụa và thẻ tre đều được dùng để viết thư pháp, vẽ tranh phong cảnh, tranh chân dung hoặc hoa điểu trước khi phát minh ra giấy và đầu công nguyên Chất liệu lụa thể hiện sự

ưu việt hơn thẻ tre, do vậy nền hội họa Trung Hoa được thể hiện chủ yếu trên lụa Sau Trung Hoa, Ấn Độ là quốc gia sản xuất tơ lụa lớn thứ hai, có lịch sử phát triển nghề trồng dâu nuôi tằm và sản xuất tơ lụa lâu đời ở Nam

Á trong thời kỳ văn minh Thung lũng Indus (nay thuộc Pakistan và Ấn Độ) Khoảng 3000 năm trước, Thái Lan được coi là một trong những nền văn

Trang 38

minh lâu đời nhất ở Đông Nam Á tìm thấy dấu tích sản xuất và dệt lụa Ở Việt Nam theo sử liệu dân gian, tổ nghề chăn tằm, ươm tơ, dệt lụa là Mỵ Nương Thiều Hoa con gái vua Hùng Vương thứ 6 (1712-1632 TCN) Đến thời kỳ văn hoá Đông Sơn nghề dệt vải phát triển hưng thịnh với nhiều chất liệu vải khác nhau Trong thư tịch Hán Thư - một tài liệu lịch sử Trung Quốc cổ đại viết về giai đoạn lịch sử thời Tây Hán (206 TCN-25 SCN) cũng ghi chép người Lạc Việt biết trồng dâu nuôi tằm “một năm có hai vụ lúa, tám lứa tằm” Đến năm 200 SCN, nghề trồng dâu nuôi tằm phát triển ở Hàn Quốc thông qua những người nhập cư Trung Quốc Trồng dâu nuôi tằm, sản xuất lụa chất lượng cao là một quá trình lâu dài, phức tạp đòi hỏi sự quan tâm chặt chẽ thường xuyên và người Trung Hoa đã hoàn thiện sản phẩm này qua nhiều thế kỷ Như vậy, từ khi các cư dân Trung Hoa cổ đại bắt đầu dùng vải dệt từ tơ tằm như một loại vật liệu dùng trong hội họa thì

cho đến giờ vẫn chưa có kết luận chính xác Trong sách Luận ngữ, Khổng

Tử từng nói “Hội sự hậu tố” Tố nghĩa là lụa trắng, đại ý rằng, lụa trắng có

trước rồi mới có hội họa Đây có thể xem như câu nói sớm nhất về việc vẽ tranh trên lụa trong thư tịch cổ, điều đó chứng tỏ rằng vẽ tranh trên lụa ra đời trước thời đại của Khổng Tử Ở Việt Nam vải dệt từ tơ tằm được gọi một tên chung là lụa, cũng tùy theo phương thức dệt và đặc điểm mà phân

ra các tên gọi khác nhau như đũi, sồi, nái, the, xuyến, đoạn, lĩnh… Nhưng đến nay chúng ta vẫn chưa tìm thấy ghi chép nào về việc vải tơ tằm chuyên dùng cho thư họa ở Việt Nam

Ở Trung Hoa và sau đó ở những nơi khác, lụa được sử dụng để may quần áo, quạt tay, đồ nội thất, treo tường, bình phong, cảnh trang trí cho và

từ những cuốn sách và bài thơ nổi tiếng, biểu ngữ quân đội, biểu ngữ tang

lễ, Mandala Phật giáo và cho mục đích viết thay vì tre hoặc giấy Những chiếc áo choàng lụa có màu sắc rực rỡ và được thêu tinh xảo đã trở thành

Trang 39

một biểu tượng địa vị và giúp phân biệt các quan chức và triều thần với các tầng lớp thấp hơn mặc bằng vải cotton hoặc lụa trơn Ở các nền văn hóa khác như Hàn Quốc, còn ban hành luật cấm những người dưới một cấp bậc

xã hội nhất định mặc lụa Lụa thêu đã trở nên đa dạng và tinh tế đến mức toàn bộ sự sành sỏi đã phát triển xung quanh chất liệu Là một mặt hàng có giá trị, tơ lụa thường được sử dụng như một hình thức tiền tệ, đặc biệt là trong việc cống nạp như thời Bắc Tống (960-1127 SCN) và Nam Tống (1127-1276 SCN) Lụa cũng là một món quà quý giá được ban tặng cho các nước triều cống để đánh giá cao lòng trung thành của họ, nó là một biểu tượng ấn tượng về sự giàu có và hào phóng của hoàng đế Trung Hoa Trong nghệ thuật, lụa trở thành một bề mặt phổ biến để vẽ phong cảnh, chân dung

và hoa điểu Các nghệ sĩ triều đại nhà Đường (618-907 SCN) đặc biệt nổi tiếng với kỹ năng nhuộm, in và vẽ tranh trên lụa, với nhiều ví dụ về tác phẩm của họ còn tồn tại ở Nhật Bản, nơi chúng được gửi làm quà tặng Sách lụa được làm ra có bản sao của các bức tranh nổi tiếng và do đó trở thành album tham khảo cho những người yêu nghệ thuật

Trong một lăng mộ cổ thời Chiến Quốc (475-221 TCN) ở thành phố Trường Sa, phía Nam sông Dương Tử, tỉnh Hồ Nam các nhà khảo cổ học

đã tìm thấy hai tác phẩm Bạch họa1 vẽ trên lụa trắng Long phượng sỹ nữ

đồ và Ngự long nhân vật đồ Long phượng sỹ nữ đồ được khai quật năm

1949, cao 31.2cm, rộng 23.2cm Tác phẩm này khắc họa hình tượng một người phụ nữ áo rộng váy dài, phía trên đầu là hai linh vật được cho là rồng

và phượng Tác phẩm Ngự long nhân vật đồ khai quật năm 1973, kích thước

28x37.5cm được vẽ trên vải dệt từ tơ tằm Trong tranh khắc họa hình tượng một người đàn ông mặc áo choàng rộng, cổ đeo một chiếc tràng hoa cao,

1 Thời cổ đại, vải dệt từ tơ tằm còn có tên gọi chung là Bạch 帛, và tranh vẽ trên Bạch được gọi là Bạch họa 帛畫.

Trang 40

thắt lưng mang kiếm, với dây cương trên tay người đàn ông đang cưỡi trên một con rồng Rồng có thân hình giống như một chiếc thuyền, đầu và đuôi nhô cao và luôn cố gắng vượt qua gió Trên đỉnh đuôi của nó là một con sếu

cổ dài mang điềm lành, bên dưới thân là những con cá đang bơi, tất cả đều được cho là có sức mạnh để hướng dẫn người quá cố đến sự bất tử Những dải ruy băng trên vòm cây và thắt lưng người đàn ông bay trong gió Trang phục và phụ kiện trang nhã cho thấy người đàn ông là một quý tộc cao cấp

Cả hai bức tranh này là hai tấm phướn (trướng) được dùng làm biểu ngữ tang lễ dẫn đường cho linh hồn người quá cố “Trong lễ rước tang, [mỗi] bức tranh được treo trước quan tài, được cho là sẽ mang lại sự thoải mái và bình tĩnh cho linh hồn của người đã khuất” Những vật phẩm này đã phần nào thể hiện sự quan trọng và giá trị tinh thần khi đồng hành cùng con người

đi sang thế giới bên kia

Một bức tranh lụa khác được tìm thấy năm 1972 trong lăng mộ Hán gần Trường Sa, tỉnh Hồ Nam có niên đại khoảng năm 165-168 TCN thời kỳ Mawangdui Bức tranh có hình chữ T dài 205cm, rộng 92cm (phía trên), 47.7cm (phía dưới) mô tả thiên đàng (phần trên), cõi người (phần giữa) và cõi trần (phần dưới) phủ trên quan tài trong mộ của phu nhân Trên thiên đường, là các vị thần Trung Hoa như Nữ Oa, Trường An và các biểu tượng Đạo giáo như hạc (tượng trưng cho sự bất tử) Giữa là trời, đất và những sứ giả đưa người quá cố về trời Bên dưới là gia đình đang cúng tế để giúp người quá cố lên thiên đường Bên dưới là thế giới ngầm với hai con rắn biển khổng lồ đan xen vào nhau Đây là biểu ngữ đám tang ghi tên người quá cố (tương tự như bảng tên thay cho bức chân dung) Trong triều đại nhà Hán, mọi người tin rằng linh hồn sẽ rời khỏi cơ thể khi chết, trở thành một linh hồn lang thang Linh hồn được gọi trở lại cơ thể trước khi chôn cất bằng một biểu ngữ, trong khi linh hồn được phục hồi bằng cách để cơ thể trong

Ngày đăng: 24/04/2022, 10:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2000), Việt Nam văn hoá sử cương, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hoá sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Văn hoá dân tộc
Năm: 2000
2. Lê Trần Hậu Anh (2007), “Cuộc gặp gỡ giữa hội họa phương Đông và hội họa phương Tây thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX”, Tạp chí Nghiên cứu Mỹ thuật, số 22, tr.40-46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc gặp gỡ giữa hội họa phương Đông và hội họa phương Tây thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX”, Tạp chí" Nghiên cứu Mỹ thuật
Tác giả: Lê Trần Hậu Anh
Năm: 2007
3. Hoàng Anh (2015), “Bán tranh Việt Nam ra nước ngoài”, Tạp chí Mỹ thuật, số 275-276, tr.10-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bán tranh Việt Nam ra nước ngoài”, Tạp chí" Mỹ thuật
Tác giả: Hoàng Anh
Năm: 2015
4. Jeannine Auboyer (1995), Mỹ thuật châu Á quy pháp tạo hình, phong cách, Huỳnh Ngọc Trảng, Phạm Thiếu Hương dịch, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ thuật châu Á quy pháp tạo hình, phong cách
Tác giả: Jeannine Auboyer
Nhà XB: Nxb Mỹ thuật
Năm: 1995
5. Nguyễn Lương Tiểu Bạch (Chủ biên) (2005), Mỹ thuật Việt Nam hiện đại, Nxb Mỹ thuật - Viện Mỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ thuật Việt Nam hiện đại
Tác giả: Nguyễn Lương Tiểu Bạch (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Mỹ thuật - Viện Mỹ thuật
Năm: 2005
6. Louis Bezacier (1996), Nghệ thuật Việt Nam, Tư liệu Viện Mỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật Việt Nam
Tác giả: Louis Bezacier
Năm: 1996
7. Trần Lâm Biền (2000), Trang trí mỹ thuật truyền thống của người Việt, Nxb Văn hoá Dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang trí mỹ thuật truyền thống của người Việt
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Nxb Văn hoá Dân tộc
Năm: 2000
8. Trương Quốc Bình (2015), Các tác phẩm hội họa Việt Nam lưu giữ và bảo tồn, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tác phẩm hội họa Việt Nam lưu giữ và bảo tồn
Tác giả: Trương Quốc Bình
Nhà XB: Nxb Văn hóa Dân tộc
Năm: 2015
9. Bộ Văn hóa Thông tin (2001), Triển lãm mỹ thuật toàn quốc 1996 - 2000, Hội Mỹ thuật Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triển lãm mỹ thuật toàn quốc 1996 - 2000
Tác giả: Bộ Văn hóa Thông tin
Năm: 2001
10. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2005), Triển lãm mỹ thuật toàn quốc 2001-2005, Hội Mỹ thuật Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triển lãm mỹ thuật toàn quốc 2001-2005
Tác giả: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Năm: 2005
11. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2010), Triển lãm mỹ thuật toàn quốc 2006-2010, Hội Mỹ thuật Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triển lãm mỹ thuật toàn quốc 2006-2010
Tác giả: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Năm: 2010
15. M. Cagan (2004), Hình thái học của nghệ thuật, Phan Ngọc dịch, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình thái học của nghệ thuật
Tác giả: M. Cagan
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2004
16. Nguyễn Văn Chung (1992), Tranh lụa Nguyễn Phan Chánh, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tranh lụa Nguyễn Phan Chánh
Tác giả: Nguyễn Văn Chung
Nhà XB: Nxb Mỹ thuật
Năm: 1992
17. Trần Khánh Chương (2012), Mỹ thuật Hà Nội thế kỷ XX, Nxb Mỹ thuật, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ thuật Hà Nội thế kỷ XX
Tác giả: Trần Khánh Chương
Nhà XB: Nxb Mỹ thuật
Năm: 2012
18. Claude Mahoudot (1943), “Nền hội họa Pháp ảnh hưởng ở Đông Dương”, Tạp chí L’Indochine, No 171 ngày 9/12/1943 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nền hội họa Pháp ảnh hưởng ở Đông Dương”, Tạp chí" L’Indochine
Tác giả: Claude Mahoudot
Năm: 1943
19. Corinne de Ménonville (1998), “Hội họa Việt Nam, cuộc phiêu lưu giữa truyền thống và hiện đại”, Tạp chí Mỹ thuật thời nay, tr.39 - 41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội họa Việt Nam, cuộc phiêu lưu giữa truyền thống và hiện đại”, Tạp chí" Mỹ thuật thời nay
Tác giả: Corinne de Ménonville
Năm: 1998
20. Nguyễn Đỗ Cung (1993), Bàn về mỹ thuật Việt Nam, Viện Mỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về mỹ thuật Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đỗ Cung
Năm: 1993
21. Nguyễn Văn Cường (2011), “Tính dân tộc trong hội họa Việt Nam giai đoạn 1925- 1945”, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 326, tr.22-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính dân tộc trong hội họa Việt Nam giai đoạn 1925- 1945”, Tạp chí "Văn hóa nghệ thuật
Tác giả: Nguyễn Văn Cường
Năm: 2011
22. Lê Bá Dũng (Chủ biên) (2012), Đại cương Mỹ thuật, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương Mỹ thuật
Tác giả: Lê Bá Dũng (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2012
23. Lê Văn Đệ, Mỹ thuật tại Việt Nam, Luận đàm, Bộ 1, số 5-1961 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ thuật tại Việt Nam

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm