1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án Tiến sĩ Nghệ thuật: Kiểu dáng và hoa văn trang trí đồ gốm Phùng Nguyên vùng trung du Bắc Bộ

264 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kiểu Dáng Và Hoa Văn Trang Trí Đồ Gốm Phùng Nguyên Vùng Trung Du Bắc Bộ
Tác giả Nguyễn Quang Hưng
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Quốc Hùng, PGS.TS. Nguyễn Sỹ Toản
Trường học Viện Văn Hóa Nghệ Thuật Quốc Gia Việt Nam
Chuyên ngành Lý luận và lịch sử mỹ thuật
Thể loại luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 264
Dung lượng 12,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận án tìm hiểu những nét đặc sắc về hình thức biểu hiện kiểu dáng và hoa văn trang trí đồ gốm Phùng Nguyên vùng trung du Bắc Bộ, đồng thời góp phần nhận diện các giá trị của kiểu dáng và hoa văn trang trí đồ gốm Phùng Nguyên vùng trung du Bắc Bộ. Từ đó nhận xét về vai trò, vị trí của kiểu dáng và hoa văn trang trí gốm Phùng Nguyên thời tiền sơ - sử ở nước ta trong bức tranh chung của mỹ thuật nước nhà. Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

Nguyễn Quang Hưng

KIỂU DÁNG VÀ HOA VĂN TRANG TRÍ

ĐỒ GỐM PHÙNG NGUYÊN VÙNG TRUNG DU BẮC BỘ

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGHỆ THUẬT

Hà Nội - 2022

Trang 2

Nguyễn Quang Hưng

KIỂU DÁNG VÀ HOA VĂN TRANG TRÍ

ĐỒ GỐM PHÙNG NGUYÊN VÙNG TRUNG DU BẮC BỘ

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGHỆ THUẬT

Ngành: Lý luận và lịch sử mỹ thuật

Mã số: 9210101

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS Nguyễn Quốc Hùng PGS.TS Nguyễn Sỹ Toản

Hà Nội - 2022

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận án tiến sĩ Kiểu dáng và hoa văn trang trí đồ

gốm Phùng Nguyên vùng trung du Bắc Bộ là công trình do tôi nghiên cứu, thực

hiện và chưa công bố Các kết quả nghiên cứu cũng như kết luận trong luận án này là trung thực Những vấn đề nghiên cứu cùng những ý kiến tham khảo, tài liệu đều có chú thích nguồn đầy đủ theo đúng quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về những nội dung trong luận án

Hà Nội, ngày tháng 03 năm 2022

Tác giả luận án

Nguyễn Quang Hưng

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii

DANH MỤC CÁC BẢNG iv

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VĂN HÓA, NGHỆ THUẬT THỜI KỲ PHÙNG NGUYÊN VÙNG TRUNG DU BẮC BỘ 9

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 9

1.1.1 Tình hình nghiên cứu nước ngoài 9

1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 11

1.2 Cơ sở lý luận của đề tài luận án 21

1.2.1 Các khái niệm và thuật ngữ liên quan đến đề tài 21

1.2.2 Cơ sở lý thuyết 26

1.3 Khái quát lịch sử, văn hóa - xã hội và nghệ thuật thời kỳ Phùng Nguyên vùng trung du Bắc Bộ 32

1.3.1 Khái quát về lịch sử, văn hóa - xã hội 32

1.3.2 Khái quát về nghệ thuật thời kỳ Phùng Nguyên 36

Tiểu kết 53

Chương 2: HÌNH THỨC BIỂU HIỆN KIỂU DÁNG VÀ HOA VĂN TRANG TRÍ ĐỒ GỐM PHÙNG NGUYÊN VÙNG TRUNG DU BẮC BỘ 55

2.1 Hình thức biểu hiện kiểu dáng đồ gốm 55

2.1.1 Kiểu dáng kết hợp khối cầu và hình trụ 58

2.1.2 Kiểu dáng kết hợp khối hình trụ và hình thang cân 66

2.1.3 Kiểu dáng phá cách kết hợp khối cầu với khối trụ và khối lục lăng 68

2.2 Hình thức biểu hiện hoa văn trang trí trên đồ gốm Phùng Nguyên vùng trung du Bắc Bộ 74

Trang 5

2.2.1 Bố cục 74

2.2.2 Đồ án hoa văn trang trí 76

Tiểu kết 103

Chương 3: BÀN LUẬN VỀ KIỂU DÁNG VÀ HOA VĂN TRANG TRÍ ĐỒ GỐM PHÙNG NGUYÊN VÙNG TRUNG DU BẮC BỘ TRONG BỐI CẢNH GỐM TIỀN SƠ SỬ VIỆT NAM 105

3.1 So sánh về kiểu dáng và hoa văn trang trí đồ gốm Phùng Nguyên trong mối tương quan với các đồ gốm cổ khác 105

3.1.1 Đồ gốm trong các văn hóa đồng đại khác 105

3.1.2 Đồ gốm trong các văn hóa hậu Phùng Nguyên 112

3.1.3 Đồ gốm thời tiền - sơ sử ở một số nước khu vực Đông Nam Á, Nam Trung Quốc 121

3.2 Đặc trưng, giá trị về kiểu dáng và hoa văn trang trí 125

3.2.1 Đặc trưng về kiểu dáng và hoa văn trang trí 126

3.2.2 Giá trị về kiểu dáng và hoa văn trang trí 139

3.3 Sự ảnh hưởng tạo hình của đồ gốm Phùng Nguyên đối với các dòng gốm khác trong dòng chảy mỹ thuật Việt Nam 145

Tiểu kết 150

KẾT LUẬN 152

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ 156

TÀI LIỆU THAM KHẢO 158

PHỤ LỤC 174

Trang 6

PL: Phụ lục

PN: Phùng Nguyên TH: Tạo hình

Tr: Trang

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

1 Bảng 1: Phân loại hình thức kiểu dáng đồ gốm Phùng Nguyên………… 57

2 Bảng 2: Phân loại đồ án hoa văn trên gốm Phùng Nguyên………….… 78

3 Bảng 3: Phân loại đồ án hoa văn bản in (kỹ thuật)……….81

4 Bảng 4: Phân loại đồ án hoa văn phụ trên gốm Phùng Nguyên……… 101

5 Bảng 5 So sánh vị trí trang trí hoa văn gốm Phùng Nguyên với các dòng gốm lịch đại ở Việt Nam 134

6 Bảng 6: So sánh kiểu dáng và hoa văn trang trí đồ gốm Phùng Nguyên với các dòng gốm đồng đại và lịch đại khác ở Việt Nam…… ………… ……135

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

1.1 Việt Nam là một quốc gia có truyền thống sản xuất đồ gốm gần một vạn năm, đồ gốm từ khi xuất hiện ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần của người Việt Trong những văn hóa có sản xuất, sử dụng gốm, đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên (gọi tắt là gốm Phùng Nguyên) xuất hiện cách ngày nay đã 3500 - 4000 năm, nổi bật bởi khả năng tạo tác đạt trình

độ cao về kiểu dáng và hoa văn trang trí, đáp ứng nhu cầu đời sống vật chất, tinh thần của người dân đương thời Gốm Phùng Nguyên được phân bố tập trung nhiều nhất ở lưu vực sông Đà, sông Hồng

1.2 Văn hóa Phùng Nguyên hình thành và phát triển cách nay gần bốn nghìn năm, ngày nay dấu vết của đồ gốm thời kỳ này còn tương đối ít Những dấu tích khảo cổ hiện nay cho chúng ta hình dung quá trình sản xuất, tồn tại, phát triển của gốm thời kỳ này Hầu hết hiện vật gốm Phùng Nguyên sau khi phát hiện, khai quật đang được lưu giữ ở một số bảo tàng như: Bảo tàng Lịch

sử Quốc gia, Bảo tàng Hùng Vương, Bảo tàng Vĩnh Phúc, Bảo tàng lịch sử Đền Hùng Chúng phần lớn là các mảnh vỡ, rất ít hiện vật ở dạng nguyên vẹn, một

số đã được phục chế

1.3 Các nhà khoa học đã nhận định, một trong những thành tựu quan trọng và giá trị nhất của văn hóa Phùng Nguyên là đồ gốm Chính vì vậy, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước rất quan tâm đến đồ gốm giai đoạn Phùng Nguyên Tuy nhiên, cách tiếp cận phổ biến là xem xét đồ gốm giai đoạn này trong bình diện của các ngành khảo cổ học, văn hóa học, lịch sử Do đó thiếu vắng những công trình khoa học chuyên sâu nghiên cứu về đồ gốm Phùng Nguyên vùng trung du Bắc Bộ dưới góc độ lý luận và lịch sử mỹ thuật thông qua đặc điểm kiểu dáng, hoa văn trang trí của chúng

1.4 Hiện nay, trong bối cảnh hội nhập giao lưu văn hóa, kinh tế toàn thế

Trang 9

giới, việc nghiên cứu, đánh giá, phân tích giá trị thẩm mỹ tạo hình dân tộc và yêu cầu về bảo tồn di sản văn hóa cổ truyền đang trở nên cấp thiết Vì vậy, việc nghiên cứu đồ gốm Phùng Nguyên thông qua kiểu dáng, hoa văn trang trí rất cần những công trình chuyên sâu, kỹ lưỡng và có hệ thống dưới góc nhìn mỹ thuật

Xuất phát từ những lý do trên, cùng với nhu cầu nhận thức hiện nay, NCS

lựa chọn hướng nghiên cứu Kiểu dáng và hoa văn trang trí đồ gốm Phùng

Nguyên vùng trung du Bắc Bộ thông qua các di vật đồ gốm được trưng bày

trong bảo tàng làm đề tài luận án Tiến sĩ Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa những kết quả nghiên cứu về đồ gốm Phùng Nguyên của các nhà khoa học đi trước, thu thập các tư liệu mới, cách diễn giải mới nhằm làm sáng tỏ hơn những giá trị của loại hình nghệ thuật truyền thống này trong nền mỹ thuật dân tộc

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Luận án tìm hiểu những nét đặc sắc về hình thức biểu hiện kiểu dáng và hoa văn trang trí đồ gốm Phùng Nguyên vùng trung du Bắc Bộ, đồng thời góp phần nhận diện các giá trị của kiểu dáng và hoa văn trang trí đồ gốm Phùng Nguyên vùng trung du Bắc Bộ Từ đó nhận xét về vai trò, vị trí của kiểu dáng

và hoa văn trang trí gốm Phùng Nguyên thời tiền sơ - sử ở nước ta trong bức

tranh chung của mỹ thuật nước nhà

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án chủ yếu như sau:

Một là, hệ thống hóa các khái niệm, thuật ngữ liên quan đến đồ gốm Phùng

Nguyên vùng trung du Bắc Bộ

Hai là, vận dụng cơ sở lý luận để nghiên cứu, phân tích hình thức biểu

hiện, hiệu quả thẩm mỹ qua kiểu dáng, hình thức bố cục, đồ án hoa văn trang

Trang 10

trí của đồ gốm Phùng Nguyên vùng trung du Bắc Bộ, thông qua các di vật trong các bảo tàng

Ba là, so sánh, đối chiếu kiểu dáng và hoa văn trang trí đồ gốm Phùng

Nguyên với gốm trong các nền văn hóa khác đồng đại, trước và sau (lịch đại)

để làm nổi bật những điểm tương đồng và khác biệt về kiểu dáng, đồ án hoa văn trang trí

Bốn là, nhận diện các giá trị của kiểu dáng và hoa văn trang trí trên đồ gốm

Phùng Nguyên, những đóng góp của nó trong dòng chảy mỹ thuật Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là kiểu dáng và hoa văn trang trí đồ gốm Phùng Nguyên vùng trung du Bắc Bộ

3.2 Phạm vi nghiên cứu

3.2.1 Phạm vi không gian

Được xác định cụ thể là các hiện vật đồ gốm thời kỳ Phùng Nguyên phát hiện, khai quật được ở vùng trung du Bắc Bộ, đang lưu giữ, trưng bày trong các Bảo tàng: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Bảo tàng Hùng Vương, Bảo tàng Vĩnh Phúc, Bảo tàng Lịch sử Đền Hùng

Do hiện vật đồ gốm gần như không còn nguyên vẹn, nên NCS lựa chọn các hiện vật còn khả năng nghiên cứu đang trưng bày trong các bảo tàng và coi

đó là những dẫn chứng cụ thể nhằm minh chứng cho đặc thù đồ gốm thời kỳ Phùng Nguyên

Vấn đề lựa chọn đồ gốm thời kỳ Phùng Nguyên được trưng bày trong các bảo tàng trên làm đối tượng khảo sát chính của luận án vì chúng đa dạng

về số lượng và chủng loại, được bảo quản khá cẩn trọng, đặc biệt là tính nguyên trạng của một số đồ gốm với những biểu hiện rõ nét về kiểu dáng và hoa văn trang trí thời kỳ này Bên cạnh đó có đề cập so sánh với sản phẩm gốm khác

Trang 11

cùng đồng đại và lịch đại

3.2.2 Phạm vi thời gian

Đồ gốm thời kỳ Phùng Nguyên được giới hạn trong giai đoạn tiền - sơ

sử từ khoảng 4.000 đến 3.500 năm cách ngày nay

Tuy nhiên, để làm rõ các vấn đề của đối tượng nghiên cứu, đề tài có mở rộng phạm vi so sánh, đối chiếu với một số đồ gốm tương đồng và khác biệt ở một số loại hình gốm trong các nền văn hóa khác có cùng niên đại (đồng đại: gốm Hà Giang, Mai Pha, Hạ Long, Hoa Lộc), và khác niên đại (lịch đại: gốm Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn), một số loại gốm vùng Đông Nam Á và Nam Trung Quốc Qua đó phần nào nhận diện quá trình hành thành, phát triển của nghệ thuật gốm thời kỳ Phùng Nguyên

4 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học

4.1 Câu hỏi nghiên cứu

Để nghiên cứu về kiểu dáng và hoa văn trang trí đồ gốm Phùng Nguyên vùng trung du Bắc Bộ, luận án xác định tính đặc thù hình thành yếu tố mỹ thuật với những đặc điểm riêng của thể loại gốm thời kỳ này với một số câu hỏi sau:

Câu hỏi 1: Hình thức biểu hiện kiểu dáng và hoa văn trang trí đồ gốm

Phùng Nguyên được bộc lộ như thế nào?

Câu hỏi 2: Kiểu dáng và hoa văn trang trí đồ gốm Phùng Nguyên vùng

trung du Bắc Bộ có gì khác biệt với so với các loại hình đồ gốm cùng niên đại

và khác niên đại trong khu vực?

Câu hỏi 3: Kiểu dáng và hoa văn trang trí đồ gốm Phùng Nguyên vùng

trung du Bắc Bộ có giá trị như thế nào trong dòng chảy của mỹ thuật Việt Nam?

4.2 Giả thuyết khoa học

Giả thuyết 1: Kiểu dáng và hoa văn trang trí đồ gốm Phùng Nguyên vùng

trung du Bắc Bộ có hình thức biểu hiện phong phú về loại hình, sự kết hợp hài hòa giữa khối cơ bản và biến dạng nhằm tạo ra kiểu dáng trọn vẹn, đồ án hoa

Trang 12

văn kỷ hà với dạng bản in, dạng nét khép kín và dạng hình tròn không khép kín đạt đến trình độ thẩm mỹ mà các dòng gốm khác cùng thời kỳ không có được

Giả thuyết 2: Đồ gốm Phùng Nguyên vùng trung du Bắc Bộ không phô

trương cầu kỳ về kiểu dáng, không tinh xảo về hoa văn mà nó là cái đẹp của hình dáng giản dị, khối chắc khỏe, hoa văn sinh động, mặc dù có mối tương đồng, khác biệt về kiểu dáng và hoa văn trang trí so với các loại hình gốm khác trong khu vực, song nó cũng thể hiện sắc thái riêng dễ nhận diện

Giả thuyết 3: Kiểu dáng và hoa văn trang trí đồ gốm Phùng Nguyên vùng

trung du Bắc Bộ mang đậm phong cách tạo hình dân tộc, có những đặc trưng và giá trị riêng biệt, là nền tảng cho gốm các thời kỳ sau tiếp thu, kế thừa và phát huy, có vị trí nhất định trong dòng chảy phát triển của mỹ thuật cổ Việt Nam

5 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cách tiếp cận

Cách tiếp cận theo hướng liên ngành: Đồ gốm Phùng Nguyên vùng trung

du Bắc Bộ ra đời trong bối cảnh xã hội cụ thể với đời sống văn hóa tinh thần

đa dạng Vì thế, việc nghiên cứu kiểu dáng và hoa văn trang trí đồ gốm Phùng Nguyên cần phương pháp nghiên cứu liên ngành như: sử học, khảo cổ học, nghệ thuật học, văn hoá dân gian Nghiên cứu sử học và khảo cổ học để làm rõ một phần lịch sử văn hóa gốm Phùng Nguyên, từ sự hình thành và phát triển của đồ gốm ở thời kỳ này Nghiên cứu văn hóa dân gian, nghệ thuật học để nắm được sự biến đổi và kế thừa của văn hoá, phát huy tính thẩm mỹ giữa các dòng gốm thời tiền - sơ sử, trong đó nghệ thuật học là phương pháp tiếp cận chính

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện nội dung luận án NCS sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu thứ cấp: Phương pháp phân

tích các tài liệu thứ cấp là những tài liệu có nguồn gốc rõ ràng, đáng tin cậy liên

Trang 13

quan đến nội dung đề tài được áp dụng chủ yếu nhằm làm rõ đặc điểm, giá trị kiểu dáng và đồ án hoa văn trang trí đồ gốm Phùng Nguyên, cũng như xác định được sự chuyển biến của nghệ thuật gốm Phùng Nguyên Qua việc tổng hợp, phân tích dựa trên tài liệu sẽ đưa ra được cái nhìn tổng thể về đối tượng nghiên cứu, đồng thời có được cứ liệu xác đáng về đặc điểm kiểu dáng và đồ án hoa văn trang trí đồ gốm Phùng Nguyên vùng trung du Bắc Bộ Bằng phương pháp này, luận án có cơ sở để nhìn nhận, đánh giá các vấn đề một cách hệ thống và logic

- Phương pháp điền dã: Thực hiện việc điền dã, quan sát bằng mắt

thường, chụp ảnh, vẽ lại các di vật đã được khai quật hiện đang trưng bày trong bảo tàng (Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Bảo tàng Hùng Vương, Bảo tàng Lịch sử Đền Hùng, Bảo tàng Vĩnh Phúc) dưới góc độ mỹ thuật với mục đích nhằm giúp NCS làm rõ kiểu dáng và đồ án hoa văn trang trí đồ gốm Phùng Nguyên, chỉ ra

sự giống và khác nhau giữa đồ gốm này với các thể loại gốm thời Tiền sử khác Ngoài ra, phương pháp điền dã, khảo sát được sử dụng với mục đích xây dựng

hệ thống dữ liệu bằng hình ảnh, bản vẽ và những thông tin quan trọng liên quan

đến luận án mà không cần thiết phải dựa vào các nguồn trích dẫn khác

- Phương pháp so sánh: Được áp dụng để so sánh hình thức biểu hiện

kiểu dáng và hoa văn trang trí đồ gốm Phùng Nguyên thông qua ngôn ngữ tạo hình (bố cục, đồ án trang trí, đường nét, khối, kiểu dáng…) nhằm chỉ ra điểm tương đồng, khác biệt với các nền gốm đồng đại và lịch đại, khu vực Đông Nam

Á và Nam Trung Quốc Ngoài ra việc so sánh hình thức biểu hiện đồ gốm cùng thể loại có thể giúp khẳng định sự thống nhất trong kiểu dáng cũng như vẻ đẹp của hoa văn trang trí đồ gốm Phùng Nguyên, giải quyết các câu hỏi nghiên cứu

và nhiệm vụ luận án đề ra

- Phương pháp nghiên cứu Mỹ thuật học: Đối với một đề tài nghiên cứu

nghệ thuật, việc áp dụng phương pháp nghiên cứu Mỹ thuật học là quan trọng

và cần thiết Phương pháp này nhằm đánh giá vẻ đẹp kiểu dáng và hoa văn

Trang 14

trang trí, đồng thời, khẳng định đặc điểm riêng của đồ gốm Phùng Nguyên trong

sự phát triển chung của đồ gốm cổ Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử Bên cạnh đó, luận án đặc biệt chú trọng vận dụng phương pháp tiếp cận ngôn ngữ tạo hình nhằm làm rõ đặc điểm kiểu dáng, các yếu tố bố cục, đường, nét, chấm, điểm, nền, không gian cùng các nguyên tắc của nghệ thuật trang trí: như đối xứng, nhắc lại qua đó có cơ sở để đánh giá được cái đẹp thẩm mỹ trong kiểu dáng và hoa văn trang trí đồ gốm Phùng Nguyên vùng trung du Bắc Bộ dưới góc độ mỹ thuật

6 Ý nghĩa khoa học và và thực tiễn của đề tài

Luận án Kiểu dáng và hoa văn trang trí đồ gốm Phùng Nguyên vùng

trung du Bắc Bộ là công trình nghiên cứu chuyên biệt, sẽ có những đóng góp

bằng các luận cứ và luận chứng hướng tới nội dung cơ bản như sau:

6.1 Ý nghĩa khoa học

Luận án góp thêm một hướng nhận diện và lý giải các hiện tượng mỹ thuật sơ khai thời tiền - sơ sử ở nước ta qua việc sử dụng các lý thuyết và phương pháp nghiên cứu mỹ thuật hiện đại để nhận diện và tìm hiểu giá trị kiểu dáng và hoa văn trang trí gốm Phùng Nguyên

Luận án tập hợp và hệ thống đầy đủ các tư liệu quan trọng nghiên cứu

về gốm Phùng Nguyên từ trước đến nay Nghiên cứu có hệ thống về tính nghệ thuật trong kiểu dáng, hoa văn trang trí đồ gốm Phùng Nguyên Tổng hợp, phân loại các kiểu dáng và hoa văn trang trí gốm Phùng Nguyên Phân tích giá trị của các hoa văn trang trí do kỹ thuật làm gốm tạo thành và những hoa văn trang trí thuần túy của người thời tiền - sơ sử Luận án góp phần khẳng định tính bản địa của kiểu dáng và hoa văn trang trí gốm Phùng Nguyên ở Việt Nam thời tiền

- sơ sử qua so sánh với kiểu dáng và hoa văn trang trí của gốm các nền văn hóa đồng đại ở nước ta, khu vực Đông Nam Á và Nam Trung Quốc

6.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Về lịch sử mỹ thuật:Luận án góp phần khẳng định bề dày của nền mỹ

Trang 15

thuật Việt Nam (mỹ thuật ứng dụng) thông qua các tư liệu và luận điểm trình bày về hình thức biểu hiện, làm rõ những nét riêng (đặc trưng), các giá trị của kiểu dáng và hoa văn trang trí đồ gốm Phùng Nguyên cách ngày nay 4000-

3500 năm Luận án nhận diện rõ hơn những ảnh hưởng của kiểu dáng và hoa văn trang trí gốm Phùng Nguyên đối với các dòng gốm tiền - sơ sử, với nền văn minh Đông Sơn và sau này

Về công tác đào tạo: Luận án góp phần bổ khuyết những khoảng trống

về nguồn sử liệu chuyên biệt về mỹ thuật đồ gốm Phùng Nguyên trong quá trình khảo sát, điền dã và hệ thống hóa tư liệu có liên quan đến đề tài Luận án cung cấp số liệu và phương pháp mang tính chuyên ngành phục vụ giảng dạy

và học tập tại nơi NCS công tác và ở các cơ sở đào tạo mỹ thuật Mặt khác đề tài cũng góp phần nâng cao nhận thức về mỹ thuật đồ gốm truyền thống và bảo tồn, giữ gìn giá trị kiểu dáng, hoa văn trang trí đồ gốm Phùng Nguyên trong

giai đoạn hiện nay

7 Bố cục của đề tài luận án

Luận án ngoài phần Mở đầu (08 trang), Kết luận (04 trang), Tài liệu tham khảo (15 trang), Danh mục công trình của NCS (2 trang) và Phụ lục (80 trang) Nội dung luận án gồm 3 chương:

Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát văn hóa, nghệ thuật thời kỳ Phùng Nguyên vùng trung du Bắc Bộ (45 trang)

Chương 2 Hình thức biểu hiện kiểu dáng và hoa văn trang trí đồ gốm Phùng Nguyên vùng trung du Bắc Bộ (50 trang)

Chương 3 Bàn luận về kiểu dáng và hoa văn trang trí đồ gốm Phùng Nguyên vùng trung du Bắc Bộ trong bối cảnh gốm tiền – sơ sử Việt Nam (46 trang)

Trang 16

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN

VÀ KHÁI QUÁT VĂN HÓA, NGHỆ THUẬT THỜI KỲ

PHÙNG NGUYÊN VÙNG TRUNG DU BẮC BỘ 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Đồ gốm thời kỳ Phùng Nguyên từ trước tới nay luôn là đề tài hấp dẫn các nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu quan tâm Đã có rất nhiều công trình có giá trị về vấn đề trên được công bố, góp phần quan trọng trong việc xác định vị trí, vai trò của đồ gốm trong văn hóa Phùng Nguyên

Có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước

đã đề cập tới đồ gốm Phùng Nguyên vùng trung du Bắc Bộ, cụ thể như sau:

1.1.1 Tình hình nghiên cứu nước ngoài

Các tài liệu nước ngoài nghiên cứu đồ gốm Phùng Nguyên dưới góc độ lịch sử, khảo cổ học, văn hóa học, được thể hiện dưới dạng sách, báo, tham luận hội thảo, có thể khảo lược như sau:

Năm 1979, nhóm tác giả R.B Smith, W Watson cho ra đời cuốn sách

Early South East Asia [179] (Dịch: Khởi đầu Đông Nam Á) Đây là công trình

cung cấp một cách giải thích mới về Đông Nam Á từ 100 – 1500 năm, khi xã hội của các nước này từ thời Tiền sử (Miến Điện, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam) cùng các đảo (Indonesia Malaysia và Philippines) Nhóm tác giả đã phân tích một cách chi tiết sự phát triển của các nền văn hóa đó, các hoạt động từ săn bắn tới hái lượm, trong đó có đề cập đến đồ gốm, một trong những bằng chứng khảo cổ rõ ràng có giá trị về mặt khảo cổ học

Năm 1982, cuốn Song Ceramics [180] (Dịch: Gốm Tống) của tác giả

Themes và Hudson miêu tả chi tiết các loại đồ gốm của Trung Quốc Công trình

có những hình ảnh minh họa cổ vật gốm các nước trên thế giới được liệt kê, giải thích rất chi tiết, cụ thể, trong đó xuất hiện hình ảnh đồ gốm Phùng Nguyên

Trang 17

ở Việt Nam Tuy nhiên các tác giả trên chưa bàn sâu về nghệ thuật trang trí họa tiết hoa văn thể loại gốm này

Năm 1984, tác giả John, Ayers và cộng sự biên soạn cuốn La céramique

d’Extrême - Oriant [176] (Dịch: Gốm sứ từ Viễn Đông), Victoria and Albert

Museum London với 398 trang trong đó 317 trang bản màu, hình ảnh đen trắng

và hình vẽ Đây là công trình tập hợp lịch sử gốm sứ phương Đông, thu thập hình ảnh từ 11 bộ sưu tập nổi tiếng về nghệ thuật phương Đông Tất cả hình ảnh về gốm quan trọng ở các bảo tàng trên thế giới, trong đó tác giả nêu một số

đồ gốm Phùng Nguyên Đây là cứ liệu làm cơ sở giúp NCS phân tích một cách khách quan đồ gốm cổ trong quá trình nghiên cứu

Năm 1997, cuốn Vietnammese Ceramics A Separate Tradition [178]

(Dịch: Gốm Việt Nam, một truyền thống riêng biệt) của John Stevenson và John Guy là công trình được đánh giá là nổi trội nghiên cứu về gốm Việt, ca ngợi thợ gốm Việt Nam có tài kết hợp giữa bản địa và những yếu tố bắt nguồn từ các nền văn hóa lân cận như: Trung Quốc, Campuchia, Ấn Độ Nhóm tác giả đã thu thập hình chụp những món đồ gốm quan trọng trong các viện bảo tàng nổi tiếng cũng như của tư nhân xuất sắc nhất thế giới Trong phần lời giới thiệu của cuốn sách, nhận xét về gốm cổ Việt Nam, nhóm nghiên cứu khẳng định, họa tiết hoa văn trang trí và phương thức sản xuất đồ gốm từ thời Tiền sử ở Việt Nam đã có sự khác biệt rõ rệt với Trung Quốc Mặc dù là nước láng giềng với Trung Quốc và

bị cai trị hơn một ngàn năm, trực tiếp tiếp xúc với nền văn minh và cổ vật văn hóa Trung Quốc, nhưng người thợ gốm Việt Nam không sao chép gốm Trung Quốc Nhóm tác giả đã nhận định gốm Phùng Nguyên đóng vai trò khởi đầu cho

sự phát triển của gốm Việt Nam Đây là công trình quan trọng giúp NCS có sự nhìn nhận đa chiều từ góc tham chiếu của những nhà khoa học nước ngoài với gốm Việt Nam nói chung và gốm Phùng Nguyên nói riêng Tuy nhiên, công trình vẫn chưa đề cập sâu đến kiểu dáng và hoa văn trang trí đồ gốm Phùng Nguyên

Trang 18

Năm 1997, công trình Prehistoric Pottery for the archaeology [171]

(Dịch: Đồ gốm thời tiền sử dành cho khảo cổ học) của nhóm tác giả Alex Gibson và Ann Woods đã phân tích ba chương, trong đó chương 1 đề cập đến nghiên cứu về đồ gốm Chương 2, từ trang 26 đến 59, là chương trọng tâm phân tích công nghệ gốm thời tiền sử, vai trò, cách xử lý bề mặt của gốm thời tiền

sử Nhóm nghiên cứu đã phân tích khá kỹ đồ gốm thời tiền sử dưới góc độ khảo

cổ học Dưới nhãn quan của người phương Tây, công trình nhận định đồ gốm

là một trong những kênh thông tin quan trọng nhất về sự phát triển của gốm sứ theo thời gian từ thời Tiền sử Nhóm tác giả đã khẳng định giá trị kiểu dáng gốm, phác thảo phong cách gốm thời Tiền sử một cách khá chi tiết và khoa học

1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

1.1.2.1 Nhóm tài liệu liên quan đến đồ gốm Phùng Nguyên dưới góc độ lịch sử, khảo cổ học, văn hóa học

Năm 1978, nhóm tác giả Hoàng Xuân Chinh, Nguyễn Ngọc Bích trong

cuốn Di chỉ khảo cổ học Phùng Nguyên [21], phần mở đầu: nghiên cứu di chỉ

Phùng Nguyên, phần thứ hai: cơ cấu của di chỉ Phùng Nguyên, phần thứ ba: di vật tìm thấy ở Phùng Nguyên và phần thứ tư đề cập tới cuộc sống của người Phùng Nguyên Trong đó, phần thứ ba là trọng tâm với tập hợp, hệ thống hóa

về đồ gốm Phùng Nguyên, nghiên cứu đặc trưng đồ gốm thông qua chất liệu, loại hình đến hoa văn, giai đoạn phát triển đồ gốm Phùng Nguyên Cuốn sách dày 172 trang trong đó từ trang 96 đến trang 136 đã nhắc đến đồ gốm Phùng Nguyên, loại hình, công cụ sản xuất, hoa văn, chất liệu, kỹ thuật Đây là công trình khoa học có giá trị giúp NCS tích lũy thêm kiến thức một cách hệ thống

về quá trình hình thành và tuyến phát triển của gốm Phùng Nguyên Tuy nhiên, mặc dù tác giả đã có những phân tích, miêu tả về thể loại, hoa văn trang trí đồ gốm này, nhưng chưa đề cập sâu đến kiểu dáng, lối bố cục tạo hình của gốm Phùng Nguyên một cách rõ nét, vì vậy đây sẽ là phần NCS để tâm nghiên cứu

Trang 19

kỹ lưỡng vấn đề còn bỏ ngỏ trên

Năm 1983, tác giả Nguyễn Văn Y trong bài viết “Những kết quả về sưu tầm, nghiên cứu gốm cổ Việt Nam trong mấy chục năm gần đây” [170] đã nhận xét: “Gốm thời kỳ phong kiến, việc nghiên cứu còn nhiều mò mẫm và lầm lẫn không ít Lầm lẫn lớn nhất và khá phổ biến là coi gốm cổ Việt Nam vốn phỏng theo Trung Quốc qua từng triều vua, tuy có ít nhiều mang sắc thái và vẻ đẹp riêng” [170, tr.93] Nhận định trên giúp NCS có lý do để tìm hiểu, làm rõ vai trò giá trị đồ gốm Phùng Nguyên mang vẻ đẹp thuần Việt Đây chính là khoảng trống cần giải thích rõ hơn trên phương diện kiểu dáng và hoa văn trang trí đồ gốm Phùng Nguyên trong luận án

Năm 1983, nhóm tác giả Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn,

Lương Ninh trong cuốn Lịch sử Việt Nam (tập 1) [79] đã đề cập mô tả chi tiết

đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên:

Cư dân Phùng Nguyên cũng là những người thợ gốm có tài Họ đã dùng bàn xoay để nặn đồ gốm Độ nung chưa cao lắm nhưng đồ gốm

đã khá tốt Kiểu dáng đồ gốm rất đẹp, có nhiều loại như nồi, bình, vò, vại, mâm bồng, cốc chân cao, bát, đĩa Đồ gốm được trang trí nhiều

đồ án đẹp Kiểu hoa văn đặc trưng cho văn hóa Phùng Nguyên là giữa hai đường kẻ vạch chìm, có những đường chấm nhỏ được tạo nên bằng cách lăn một cái trục tròn có khắc ô vuông nhỏ hay là ấn một cái que có nhiều răng [79, tr.60]

Đây là nhận xét giúp NCS có cơ sở để khẳng định cư dân thời kỳ Phùng Nguyên là người thợ gốm giỏi, tạo ra nhiều kiểu dáng và hoa văn trang trí gốm đẹp, ngoài ra cũng đưa ra nhận định giúp NCS kiểm chứng thủ pháp tạo hoa văn trên diện gốm thời kỳ này

Năm 1996, trong công trình nghiên cứu khoa học Đồ gốm Tiền sử và sơ

sử ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Việt Nam: loại hình, hoa văn và kỹ thuật chế tạo

Trang 20

[70], tác giả Hán Văn Khẩn đã tổng hợp nghiên cứu đồ gốm Tiền sơ sử trên các mặt chính: Loại hình, hoa văn trang trí và kỹ thuật chế tạo Tác giả khẳng định đây là những mặt cốt yếu nhất đối với việc nghiên cứu của mọi thời đại, bởi chúng có đầy đủ diện mạo của nghề gốm Từ trang 45 đến trang 56, tác giả đã phân tích một số nét đặc trưng chính về chất liệu, loại hình, hoa văn, kỹ thuật của gốm văn hóa Phùng Nguyên Theo NCS, tuy tác giả đã có những nhận định đáng chú ý về loại hình, hoa văn và kỹ thuật, nhưng chưa đề cập sâu đến đặc điểm, ngôn ngữ tạo hình, đường nét, bố cục và không gian bố trí các mảng diện trên thể loại gốm này Đây chính là vấn đề NCS sẽ phân tích ở chương 2 trong luận án

Năm 2001, bài viết “Đôi điều về trung tâm gốm Phùng Nguyên” của tác

giả Phạm Lý Hương in trong Kỷ yếu Hội thảo 40 năm phát hiện và nghiên cứu

văn hóa Phùng Nguyên [59], đã có những phân tích, so sánh, khu biệt về đồ

gốm Phùng Nguyên, Đông Sơn vùng châu thổ sông Hồng, nhận định văn hoá Phùng Nguyên là giai đoạn bắt đầu hình thành một truyền thống văn hoá riêng

và ổn định, dựa trên họa tiết hoa văn Phùng Nguyên Từ trang 82 đến trang 87

đã khẳng định đa số đồ gốm Phùng Nguyên được trang trí hoa văn Thông qua bài viết, NCS nhận thấy hướng nghiên cứu mới về hoa văn trang trí trên đồ gốm Phùng Nguyên dưới góc độ mỹ thuật một cách rõ nét hơn

Năm 2005, trong bài viết “Vài nét về hoa văn và kỹ thuật tạo hoa văn đồ gốm di chỉ Xóm Rền” [97] của tác giả Bùi Thị Thu Phương đã có nhận định bóc tách hai vấn đề: một là phân tích đồ gốm văn hoá Phùng Nguyên trong mối quan hệ đồng đại, hai là phân tích kỹ thuật tạo dáng trên đồ gốm Phùng Nguyên,

đồ án trang trí, họa tiết hoa văn trên đồ gốm Phùng Nguyên với mối quan hệ đồ gốm văn hoá Hà Giang, Mai Pha, Hạ Long… đây là bài viết gợi ý cho NCS xác định rõ thêm đồ gốm Phùng Nguyên không chỉ có giá trị kiểu dáng và hoa văn trang trí mà còn có vai trò quan trọng tác động, ảnh hưởng đến các nền gốm

Trang 21

khác cùng đồng đại và lịch đại

Năm 2005, hai tác giả Nguyễn Anh Tuấn và Trịnh Sinh đã xuất bản cuốn

Cổ vật Phú Thọ [126], đây là cuốn tài liệu quan trọng tổng hợp toàn bộ những

hình ảnh chụp các cổ vật của Phú Thọ đang được trưng bày và lưu trong kho của Bảo tàng Hùng Vương, Bảo tàng Đền Hùng, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam

và Viện khảo cổ học Ngoài ra nhóm tác giả còn tập hợp được sưu tập cổ vật tư nhân ở thành phố Việt Trì Trong cuốn tài liệu này, nhóm tác giả đã xác định niên đại cổ vật bằng phương pháp khảo cổ học so sánh, chủ yếu là các cổ vật nằm trong các mộ táng có niên đại rõ ràng, từ trang 64 đến trang 74, nhóm tác giả đã chọn lọc những hình ảnh cổ vật gốm điển hình thời kỳ Phùng Nguyên, phân loại niên đại, mô tả tóm tắt hoa văn, kích thước, chiều cao và địa điểm phát hiện cũng như là nơi hiện đang lưu giữ Đây là những thông tin quan trọng giúp NCS xác định các đồ án hoa văn, kiểu dáng cũng như tìm hiểu nơi đang lưu giữ những cổ vật trên Điều này đem lại tính chính xác cho từng loại hình gốm và tránh được sự nhầm lẫn không đáng có trong quá trình phân tích di vật

Năm 2008, tác giả Nguyễn Sỹ Toản, với bài viết “Hoa văn đồ gốm Phùng Nguyên - nguồn sử liệu độc đáo” [130], đã đề cập:

Hoa văn trang trí đồ gốm Phùng Nguyên không chỉ chứa đựng nội dung về khoa học và nghệ thuật, mà đó còn là nguồn sử liệu đặc biệt quan trọng khi chúng ta chưa tìm thấy chữ viết thời kỳ Hùng Vương

và tiền Hùng Vương Qua diễn biến hoa văn đồ gốm Phùng Nguyên, các nhà nghiên cứu đã sử dụng như một nguồn tài liệu chính để nghiên cứu phân loại các giai đoạn văn hóa [130, tr.55]

Thông qua nhận định trên, NCS có cơ sở để xác nhận gốm Phùng Nguyên

là một nguồn sử liệu đại diện cho thời kỳ Tiền sơ sử

Năm 2009, cuốn sách Xóm Rền, một di chỉ khảo cổ đặc biệt quan trọng

của thời đại đồ đồng Việt Nam [74] tác giả Hán Văn Khẩn đã tập hợp, sắp xếp,

Trang 22

hệ thống và phân tích đời sống vật chất tinh thần, nguồn gốc, diện mạo, niên đại di tích khảo cổ xóm Rền trong văn hóa Phùng Nguyên Đây là tài liệu có những thông tin hữu ích giúp NCS phân loại được nhóm hoa văn gốm Phùng Nguyên một cách rõ nét Có thể nói, những công trình nêu trên phần nào giới thiệu khái quát về đồ gốm Phùng Nguyên, trong đó có đề cập đến kiểu dáng và hoa văn trang trí Việc tổng hợp một cách bài bản có hệ thống sẽ giúp cho NCS nghiên cứu đồ gốm thời Tiền sử nói chung và kiểu dáng, hoa văn trang trí đồ gốm Phùng Nguyên nói riêng có được hướng tiếp cận tổng thể mạch lạc, rõ nét

Năm 2012, dưới góc nhìn văn hóa học, trong cuốn Văn hóa gốm của

người Việt vùng đồng bằng sông Hồng [45] tác giả Trương Minh Hằng đã phân

tích lịch sử hình thành, không gian phân bố, quy trình sáng tạo, đặc trưng cơ bản của văn hóa gốm đồng bằng sông Hồng Tài liệu đã cung cấp cho NCS những thông tin hữu ích về văn hóa gốm Phùng Nguyên cũng như vai trò của

nó trong nền văn hóa gốm cổ vùng đồng bằng sông Hồng

Năm 2015, với công trình mới công bố đáng chú ý Đồ gốm văn hóa

Phùng Nguyên [100], tác giả Bùi Thị Thu Phương đã nhận xét về đặc trưng đồ

gốm văn hóa Phùng Nguyên, giá trị biểu hiện và tính giai đoạn trong hệ thống gốm tiền sử miền Bắc Việt Nam, bước đầu lý giải nguồn gốc bản địa và con đường phát triển từ hoa văn gốm văn hóa tiền Đông Sơn đến hoa văn đồ đồng Đông Sơn Trong mục IV của chương 2 [100, tr.122-151], tác giả đề cập đến

“Đặc trưng về hoa văn” và đây cũng là đối tượng nghiên cứu trong luận án của NCS Tuy nhiên, tác giả chưa đi sâu nghiên cứu đặc điểm, hình thức bố cục, đường nét hoa văn trang trí của đồ gốm Phùng Nguyên dưới góc độ mỹ thuật

Có thể coi đây là một trong những cuốn sách thiết yếu bổ trợ thêm nguồn tư liệu cho NCS trong quá trình nghiên cứu kỹ thuật kiểu dáng và hoa văn trang trí đồ gốm thời kỳ Phùng Nguyên trong bình tuyến gốm tiền sử Việt Nam

Năm 2020, cuốn Theo dấu các văn hóa cổ [119] của tác giả Hà Văn Tấn

Trang 23

đã tổng hợp toàn bộ các bài viết tiêu biểu cho việc nghiên cứu từng thời kỳ khảo

cổ học: thời đại đồ đá, thời đại kim khí và thời đại lịch sử của văn hóa Phùng Nguyên Trong đó, bài viết “Một số vấn đề về văn hóa Phùng Nguyên” tác giả

đã khẳng định văn hóa Phùng Nguyên có vai trò không nhỏ đối với việc phát triển của các văn hóa sau này như văn hóa Đông Sơn rực rỡ Văn hóa Phùng Nguyên cũng đã tỏa những ánh sáng của nó ở khu vực Đông Nam Á [119, tr.353] Đây là nhận định quan trọng giúp ích cho những kiến giải về vấn đề văn hóa thời

kỳ Phùng Nguyên của luận án Với bài viết “Văn hóa Phùng Nguyên và nguồn gốc dân tộc Việt” [119] tác giả Hà Văn Tấn có những nhận định rằng “Các văn hóa từ Phùng Nguyên đến Gò Mun phân bố chủ yếu trong lưu vực sông Hồng,

ở vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ Có thể nhìn ra sự khác biệt giữa các văn hóa này qua nhiều đặc điểm văn hóa Đặc biệt, chúng ta có thể phân biệt dễ dàng những văn hóa này qua đồ gốm [119, tr.357] Có thể coi đây là nhận định khá toàn diện đề cập đến nguồn gốc, lịch sử phát triển của văn hóa Phùng Nguyên và các nền văn hóa khác thời Tiền sơ sử thông qua đồ gốm

Tất cả những phát hiện và công trình nghiên cứu trên đã cung cấp cơ sở

tư liệu phong phú, hình thành những nhận định khoa học vững chắc, tạo điều kiện thuận lợi cho NCS trong việc đi sâu tìm hiểu, xác định đồ gốm đóng vai trò quan trọng trong văn hóa Phùng Nguyên vùng trung du Bắc Bộ

1.1.2.2 Nhóm tài liệu liên quan đến kiểu dáng và hoa văn trang trí đồ gốm Phùng Nguyên dưới góc độ mỹ thuật

Năm 1970, tác giả Nguyễn Phi Hoanh trong cuốn Lược sử mỹ thuật Việt

Nam [50] đã đề cập đồ gốm thời nguyên thủy Việt Nam ở trang 20 và 21, trong

đó tác giả nhấn mạnh “Trong buổi đầu của nghề làm đồ gốm, người nguyên thủy Việt Nam đã tìm ra được hình dáng vò, vại, chum, nồi hợp lý Hình dáng các vật ấy người thợ gốm này nay không làm khác mấy” [50, tr.20] Đồng quan điểm trên, tác giả Nguyễn Anh Tuấn trong bài viết “Sự thay đổ về địa bàn và

Trang 24

kỹ thuật từ Phùng Nguyên đến Đông Sơn ở Phú Thọ” cho rằng: “Công bằng

mà nói, đồ gốm Phùng Nguyên thuộc vào loại có dáng hình đẹp, thanh thoát nhất so với các giai đoạn văn hoá thời Hùng Vương Cùng với dáng, kỹ thuật tạo hoa văn cũng hết sức đa dạng và phong phú ” [125, tr.189] Cùng nhận xét

trên, bài viết “Một số vấn đề về văn hóa Phùng Nguyên” trong tuyển tập Theo

dấu các hoa văn cổ (2020) tác giả Hà Văn Tấn khẳng định: “Do đó, điều khiến

cho chúng tôi xác định có một nền văn hóa Phùng Nguyên chủ yếu là đồ gốm Theo chúng tôi, hình dạng, nhất là hoa văn đồ gốm là một đặc trưng tương đối

ổn định, có tính chất truyền thống, có thể dùng tài liệu đồ gốm để phân chia văn hóa khảo cổ” [119, tr.340] Đây là những quan điểm giúp NCS có được cái nhìn

rõ nét về đặc điểm kiểu dáng gốm Phùng Nguyên, qua đó nhận thấy rõ quá trình tồn tại và phát triển các kiểu dáng đồ gốm thời kỳ này cho tới ngày nay

Năm 1983, tác giả Nguyễn Văn Huyên trong bài viết “20 năm nghiên cứu nghệ thuật tạo hình thời đại kim khí ở nước ta” đã nhấn mạnh: “Nhiều nhà nghiên cứu chúng ta đã dẫn ra nhiều tư liệu chắc chắn khẳng định nguồn gốc tạo dáng và hoa văn trang trí đồ đồng Đông Sơn bắt nguồn từ đồ gốm Phùng Nguyên và Gò Mun” [55, tr.85] Ngoài ra, tác giả Trịnh Sinh (1983) cũng nhận định: “Sẽ không có gì ngạc nhiên nếu như những hoa văn cơ bản của gốm giai đoạn Phùng Nguyên cách đây 4.000 năm lại được tái tạo gần như toàn bộ trên trống đồng Đông Sơn 2.000 năm sau đó” [106, tr.80] Đây là những quan điểm giúp NCS lý giải vì sao kiểu dáng và hoa văn trang trí đồ gốm Phùng Nguyên lại có đặc điểm tạo hình công phu và đẹp đẽ, có sự ảnh hưởng không nhỏ tới

đồ gốm các văn hóa đồng đại và lịch đại

Năm 1989, nhóm tác giả Nguyễn Quân, Phan Cẩm Thượng trong cuốn

Mỹ thuật của người Việt [104] đã đề cập và phân tích lịch sử mỹ thuật Việt

Nam từ thời khởi thủy đến giai đoạn quân chủ Việt Nam thế kỷ X đến thế kỷ XIX Trong cuốn sách này nhóm tác giả đã đề cập đến sự sáng tạo của người

Trang 25

Phùng Nguyên thông qua họa tiết hoa văn trên gốm Ở trang 24, nhóm tác giả

đã nhận xét “Giai đoạn đồ đá kết thúc, toàn bộ kỹ thuật của hàng vạn năm làm

đá, tựu chung cho mỹ thuật Phùng Nguyên” [104, tr.24] Những nhận định này giúp NCS lấy đó làm cứ liệu để xem xét đánh giá về tính mỹ thuật của kiểu dáng và hoa văn trang trí đồ gốm Phùng Nguyên

Năm 2002, cuốn Hoa văn Việt Nam từ thời tiền sử đến nửa đầu thời kỳ

phong kiến [16] của tác giả Nguyễn Du Chi chính là tư liệu quan trọng khi

nghiên cứu nghệ thuật trang trí hoa văn cổ Việt Nam dưới góc độ mỹ thuật Cuốn sách được chia làm 3 phần: Hoa văn thời tiền sử/ Hoa văn thời sơ sử/ Hoa văn nửa đầu phong kiến Từ trang 9 đến 102, tác giả đã đưa ra những nhận định tổng quát về bố cục hoa văn, họa tiết thời tiền sử Trong phần viết này, từ trang

28 đến trang 50, tác giả tập trung miêu tả họa tiết hoa văn trên gốm Phùng Nguyên với những khảo cứu công phu, khẳng định gốm Phùng Nguyên có nhiều kiểu bố cục khác nhau của hoa văn hình chữ S, với bố cục đứng tách rời, lúc thì nghiêng đổ về bên phải và cũng không ít trường hợp lại đổ về bên trái Chúng được sắp hàng đều đặn và nghiêm chỉnh, chữ nào cũng y hệt chữ nào Nhưng đẹp hơn cả là những đồ án chữ S được bố cục theo lối đứng hơi nghiêng Tác giả đã thống kê, tổng hợp, miêu tả, phân tích kỹ lưỡng những hoa văn truyền thống với ý nghĩa của nó trong quá trình người Việt cổ áp dụng trong

trang trí các vật dụng đồ dùng bằng gốm Ngoài ra, tác giả cho rằng hoa văn

phục vụ cho việc trang trí, đáp ứng nhu cầu lớn trong đời sống tinh thần của người Việt Nam, thông qua đó có thể dễ dàng so sánh với các thể loại trang trí

trên gốm của các thời kỳ để tìm ra sự tương đồng và khác biệt trong sáng tạo của người xưa Tuy công trình có những bước nghiên cứu tổng hợp khá kỹ lưỡng về hoa văn mỹ thuật người Việt từ thời Tiền sử đến nửa đầu phong kiến nhưng dường như với hoa văn thời kỳ Phùng Nguyên, đáng tiếc là tác giả chỉ dừng lại ở mức độ phân loại đặc điểm mà chưa có những phân tích cụ thể ngôn

Trang 26

ngữ, ý nghĩa, vẻ đẹp về mặt tạo hình của các thể loại đó

Năm 2009, với bài viết “Bình tuyến Phùng Nguyên, bước nhảy vọt có tính cách mạng trong nghệ thuật nguyên thủy Việt Nam” [154], tác giả Nguyễn Việt đã khái quát một cách sinh động diễn trình sáng tạo hoa văn họa tiết của người Phùng Nguyên Bài viết này giúp NCS nhận định quá trình phát triển tư duy sáng tạo của người Phùng Nguyên một cách khoa học, tránh được những cảm nhận, suy đoán mơ hồ

Năm 2013, tác giả Trần Khánh Chương đề cập tới nghệ thuật gốm đất

nung thời Tiền sử trong cuốn Gốm Việt Nam kỹ thuật và nghệ thuật [28], đã

giới thiệu một cách toàn diện, có hệ thống những vấn đề về gốm Việt Nam từ thời Tiền sử đến thời hiện đại trong đó phân tích kỹ thuật tạo dáng, tạo hoa văn Phùng Nguyên dưới góc nhìn nghệ thuật, đó là: “Bên cạnh các sản phẩm gốm được phủ một lớp áo bằng nước đất mỏng màu xám còn có gốm màu đỏ nhưng rất ít Hoa văn trên gốm là hoa văn được thể hiện bằng nét chìm với các họa tiết

ô vuông, ô lưới, tam giác, xương cá, hoa văn chữ S biến hóa tạo thành nhiều đồ

án phong phú ” [28, tr.29] Tuy nhiên tác giả mới chỉ liệt kê mà chưa phân loại hoa văn tiêu biểu gốm thời kỳ này Vậy nên, đây là khoảng trống giúp NCS tiếp tục khai thác, hoàn thiện, bổ sung trong luận án

Năm 2016, trong bài nghiên cứu “Văn hóa Phùng Nguyên - tầm tỏa rộng” của tác giả Hoàng Xuân Chinh [20], đã phân loại đồ án trang trí trên gốm Phùng Nguyên Tác giả phân tích, cung cấp cái nhìn đa chiều về sự phát triển của hoa văn, trong đó tác giả đã khẳng định hoa văn phục vụ cho việc trang trí, đáp ứng nhu cầu lớn về đời sống tinh thần của người dân Phùng Nguyên và lan tỏa ra các vùng văn hóa khác đồng đại và lịch đại Bài viết này gợi ý cho NCS trong quá trình nhận định, đánh giá vai trò tầm ảnh hưởng gốm Phùng Nguyên với các nền văn hóa gốm khác

Năm 2017, nhóm tác giả Trần Lâm Biền - Trịnh Sinh bàn về biểu tượng

Trang 27

văn hóa nghệ thuật thời Tiền sử và Sơ sử trong cuốn Thế giới biểu tượng trong

di sản văn hoá [8], đã phân tích và có hình ảnh minh hoạ các biểu tượng hoa

văn đồ gốm văn hoá Phùng Nguyên như chữ S, khắc vạch chấm dải Những

lý giải, cắt nghĩa giá trị đặc sắc của một số hoa văn trang trí trên gốm Phùng Nguyên trên giúp NCS nắm được rõ nét về đặc điểm hoa văn và nhận thức chính xác về giá trị của nghệ thuật trang trí cổ của người Việt

Năm 2018, trong cuốn Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người

Việt [8], tác giả Trần Lâm Biền đã đề cập “Cách trang trí giải gồm những hình

đóng kín và rời là một đặc trưng riêng biệt của nghệ thuật trang trí Phùng Nguyên Đối xứng là một yếu tố của cái đẹp” [8, tr.17] Mặc dù có bản vẽ mô

tả các loại hoa văn truyền thống, tuy nhiên những hoa văn trên gốm thời kỳ Phùng Nguyên còn khá hạn chế, vì thế NCS tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện

bổ sung những hình vẽ đồ án hoa văn cho phong phú và đầy đủ trong luận án

Ngoài ra, tác giả Hà Văn Tấn với bài nghiên cứu “Phùng Nguyên và đối

xứng” trong tuyển tập Theo dấu các hoa văn cổ (2020) đã đề cập: “Việc nghiên

cứu ý niệm đối xứng ở người Phùng Nguyên càng khẳng định thêm sự phát triển nhận thức hình học và tư duy chính xác của họ” [119, tr.430] Đây là nhận định gợi mở giúp NCS khai thác tìm hiểu một số nguyên tắc đối xứng trang trí hoa văn trên đồ gốm Phùng Nguyên một cách rõ ràng, tường minh hơn

Đánh giá khoảng trống các công trình nghiên cứu

Các công trình nghiên cứu về đồ gốm Phùng Nguyên dưới những góc nhìn khác nhau ở các lĩnh vực văn hóa, khảo cổ, lịch sử, nghệ thuật nêu trên sẽ

là bệ đỡ, là những tài liệu quan trọng bổ trợ cho luận án, cung cấp nhiều thông tin có giá trị về gốm và niên đại của nó ở Việt Nam trong quá trình tìm tòi, phát hiện giá trị kiểu dáng và hoa văn trang trí đồ gốm Phùng Nguyên NCS có thể học tập, tiếp thu từ các công trình nghiên cứu về gốm Phùng Nguyên trên

NCS nhận thấy, các tác giả trên mới chỉ đề cập, liệt kê một số đặc điểm

Trang 28

mô típ hoa văn trang trí đồ gốm Phùng Nguyên gắn liền với di chỉ, diện mạo của văn hóa gốm Phùng Nguyên theo hướng khảo cổ học, văn hóa học, lịch sử

mà chưa đề cập tới vẻ đẹp thẩm mỹ, ngôn ngữ của mỹ thuật trong kiểu dáng và hoa văn trang trí đồ gốm thời kỳ Phùng Nguyên vùng trung du Bắc Bộ Một số tài liệu vẫn mang tính chất miêu tả sơ bộ về di vật mà có ít phân tích liên hệ tới

mỹ thuật Có thể thấy hướng nghiên cứu đồ gốm thời kỳ Phùng Nguyên dưới góc độ mỹ thuật vẫn chưa thực sự đầy đủ, thiếu các phân tích bình luận chuyên sâu về hình thức biểu hiện, đặc trưng, giá trị kiểu dáng và hoa văn trang trí đồ gốm Phùng Nguyên vùng trung du Bắc Bộ

Đây là những lý do để NCS nghiên cứu đề tài Kiểu dáng và hoa văn

trang trí đồ gốm Phùng Nguyên vùng trung du Bắc Bộ Luận án sẽ góp phần

giải quyết những vấn đề chưa được đề cập và giải quyết trong các công trình nghiên cứu đã nêu trên

1.2 Cơ sở lý luận của đề tài luận án

1.2.1 Các khái niệm và thuật ngữ liên quan đến đề tài

Để thực hiện nội dung luận án một cách khoa học, NCS làm rõ một số khái niệm và thuật ngữ sau:

1.2.1.1 Nhóm khái niệm “Kiểu dáng, hình dáng”

Căn cứ vào hệ thống các Từ điển, công trình nghiên cứu đi trước, khái

niệm “Kiểu dáng” được hiểu là hình dáng bên ngoài vật thể Trong Từ điển

Tiếng Việt, hình dáng là: “Hình của một vật làm thành vẻ riêng bên ngoài của

nó” [93, tr.441] và “Hình dáng bên ngoài được làm theo một mẫu, một kiểu, phân biệt với các kiểu khác” [93, tr.526]

Còn theo Từ điển Bách khoa Việt Nam 2 thì “Hình dáng” được xác định:

“là đường viền tưởng tượng bao quanh một vật thể hữu hình cho cảm nhận chung về sự hiện diện trước mắt (cũng gọi là hình dạng)” và “tư thế bao quanh chi phối một vật thể, tổng hoà dáng dấp, tỉ lệ tương quan ngoại hình và mảng

Trang 29

khối” [48, tr.298] Theo Từ điển Mĩ thuật phổ thông thì “Thuật ngữ “Hình

dáng”, “hình thể” được dùng để chỉ một vật, đường nét hay mảng màu tương

đương với dáng vẻ cấu trúc của vật đó trên tranh hoặc tượng Thuật ngữ “hình

dáng” còn được dùng để chỉ hình thức của vật thể, đường nét hay mảng màu,

khối hình trong không gian hoặc trong tranh” [86, tr.83]

Đồ gốm có thể xếp vào thể loại mỹ thuật, là sản phẩm lâu đời được thực hiện nhờ vào sự tài khéo, kinh nghiệm của người thợ gốm nhằm tạo ra sản phẩm Mỗi sản phẩm đều được thực hiện trên bàn xoay, kiểu dáng được căn chỉnh, tăng giảm kích thước theo độ cao thấp của các thể chính, phụ (miệng, cổ, thân, đế) để có được kiểu dáng ưng ý Đó chính là hoạt động tạo kiểu dáng tổng thể sản phẩm nhằm đáp ứng công năng sử dụng, nó chiếm một thể tích và trọng lượng trong không gian hoặc trên mặt phẳng Kiểu dáng là hình thù chung nhất của vật thể Kiểu dáng đồ gốm được người thợ tạo ra trước bằng những khối hình cơ bản hoặc biến dạng, tiếp sau đó mới là quá trình trang trí nhằm tạo nên tính thẩm mỹ cho sản phẩm đó Theo NCS, dựa trên những luận điểm đã tiếp

cận, luận án đưa ra khái niệm về kiểu dáng như sau: Kiểu dáng đồ gốm là quá

trình thực hiện thao tác tạo dáng, điều chỉnh dáng hình vật thể trên bàn xoay để

ra được sản phẩm phù hợp đạt yêu cầu theo con mắt thẩm mỹ chủ quan của người thợ

1.2.1.2 Nhóm khái niệm về “Hoa văn, họa tiết”

Hoa văn: Theo Từ điển Tiếng Việt thì hoa văn khái quát là: “Hình vẽ

trang trí được thể hiện trên các đồ vật” [93, tr.445] Ngoài ra, hoa văn có thể

hiểu: “là hình vẽ trang trí được biểu hiện trên các đồ vật, hoa: các vật có vẽ vời, thêu thùa cho rực rỡ; văn: những vật có rằn, có ngấn, có vân cũng gọi là văn, chẳng hạn như ba văn là vằn sóng, vân văn là lằn mây” [140, tr.46] Còn theo

Từ điển Bách khoa Việt Nam 2 thì hoa văn được tóm tắt: “mô típ trang trí rất phong

phú đa dạng, có thể hình hoa lá được cách điệu, hoặc hình chữ triện” [48, tr.318]

Trang 30

Như vậy, theo NCS hoa văn là những hình vẽ được thể hiện trên đồ vật

thông qua ngôn ngữ trang trí, nó là sản phẩm được sáng tạo trong quá trình lao động, sinh hoạt của con người

Họa tiết

Theo Từ điển Tiếng Việt thì họa tiết là: Hình vẽ đã được cách điệu hóa, dùng để trang trí [93, tr.448] Theo Từ điển thuật ngữ Mĩ thuật phổ thông thì

họa tiết trang trí là:

Hình vẽ trong trang trí Mỗi tác phẩm trang trí là một bố cục phong phú kết hợp rất nhiều lớp họa tiết to - nhỏ, đơn giản - phức tạp, có nội dung, vị trí khác nhau làm nên vẻ đẹp riêng cho tổng thể… Họa tiết trang trí phải có hình thể rõ (đường nét cụ thể, dứt khoát, có hình thể độc đáo) được sáng tạo theo lối vẽ đặc trưng của trang trí: vẽ đơn giản hóa, vẽ cách điệu hóa, được lặp lại theo phương pháp vẽ đối xứng qua đường trục, xen kẽ nhắc lại theo phương pháp vẽ trang trí đường diềm [86, tr.87]

Như vậy, có thể hiểu họa tiết trang trí là những hình vẽ được cách điệu hóa nhằm áp dụng vào trong trang trí

1.2.1.3 Nhóm khái niệm, thuật ngữ về “Trang trí”

Đối tượng nghiên cứu của luận án hướng tới nội dung nghiên cứu nghệ thuật trang trí trên đồ gốm Phùng Nguyên, vì vậy khái niệm trang trí được coi

là nền tảng cho phần lý thuyết để lý giải thủ pháp thể hiện trên gốm

Nghệ thuật trang trí trong tiếng Anh được gọi là Decorative Arts, trong

tiếng Pháp là Décoratifs Theo Những nền tảng của Mỹ thuật, lý thuyết và thực

hành, trang trí được hiểu: “Là có tính điểm xuyến hoặc mang lại sự trù phú,

nhưng quan trọng hơn trong nghệ thuật, nó nhấn mạnh tính hai chiều của một tác phẩm nghệ thuật hoặc bất kỳ yếu tố nào của tác phẩm Nghệ thuật trang trí

nhấn mạnh đến sự phẳng dẹt chủ yếu của bề mặt” [160, tr.8] Ngoài ra, trang

Trang 31

trí được đề cập là: “Trang trí hay nghệ thuật trang trí là việc sắp xếp bày biện,

với mục đích tạo ra sự cân đối, hài hòa bằng các mô típ, hoa văn trang trí” [86,

tr.134] Theo Từ điển Bách khoa thư Nghệ thuật phổ thông, nghệ thuật trang

trí: “Là một lĩnh vực của nghệ thuật tạo hình, mà những tác phẩm của nghệ thuật nay, cùng với kiến trúc tạo ra một cách nghệ thuật, một môi trường vật chất bao quanh con người, đem vào môi trường đó tính thẩm mỹ, tư tưởng và tính hình tượng” [141, tr.212]

Cuốn Từ điển Tiếng Việt định nghĩa ngắn gọn về trang trí: “Bố trí các

vật thể có hình khối, đường nét, màu sắc khác nhau sao cho tạo ra một sự hài hòa, làm đẹp mắt một khoảng không gian nào đó” [93, tr.1023] Trong cuốn

Những nền tảng của Mỹ thuật- Lý thuyết và thực hành có viết: “Nghệ thuật

trang trí nhấn mạnh đến sự phẳng dẹt chủ yếu của bề mặt” [160, tr.169]

Còn theo The Oxford Dictionnary of Art (Dịch: Từ điển Oxford về Nghệ thuật) cắt nghĩa: “Nghệ thuật trang trí được sử dụng nhiều, ít nhiều đồng nghĩa

với nghệ thuật ứng dụng nhưng cũng có thể chấp nhận đối tượng được thực hiện hoàn toàn trang trí mà không có bất kỳ mục đích thực tế nào” [175, tr.256] Dựa vào các định nghĩa trên, cho ta có cái nhìn khá cụ thể về trang trí Có ba dạng trang trí chính: một là dạng trang trí gắn với kiến trúc Hai là dạng trang trí ứng dụng để tạo ra các sản phẩm đơn lẻ hoặc hàng loạt Ba là dạng trang trí trưng bày để trang hoàng, sử dụng trong các hoạt động văn hóa, xã hội

Như vậy khi đối chiếu với các dạng trang trí này, nghệ thuật trang trí trên gốm Phùng Nguyên có thể được xếp vào dạng thứ hai Bởi trong nghệ thuật trang trí trên gốm Phùng Nguyên, đó là sự biểu hiện của các yếu tố đặc trưng ngôn ngữ mỹ thuật và sự sắp xếp bố cục đồ án hoa văn tạo thành một sản phẩm

1.2.1.4 Nhóm khái niệm, thuật ngữ về “Đồ gốm”

Đồ gốm

Theo Từ điển Tiếng Việt đã viết gốm: “Tên gọi chung sản phẩm chế từ

Trang 32

đất sét và hỗn hợp đất sét nung, như đồ đất nung, sành, sứ” [93, tr.411] Còn

theo Từ điển Bách khoa Việt Nam 2 thì gốm: “Là những sản phẩm làm từ đất

sét và những hỗn hợp của nó với các phụ gia vô cơ hoặc hữu cơ, được nung qua lửa Nguyên liệu, cách nung khác nhau tạo ra những loại gốm khác nhau, phổ biến nhất là các loại: gốm đất nung, gốm sành nâu, gốm sành xốp, gốm sành trắng, đồ sứ” [48, tr.158]

Từ trước tới nay, các nhà khoa học đều có quan điểm cho rằng đồ gốm được hiểu đơn giản là các sản phẩm được chế tác từ đất sét, trải qua các khâu

kỹ thuật nhằm tạo ra dáng hình sau đó được nung qua lửa

Đồ gốm có lịch sử phát triển lâu đời, là một loại hình nghệ thuật đa dạng, phong phú và phức tạp Vì vậy, cho tới nay cách phân loại và gọi tên các loại hình gốm vẫn chưa thực sự thống nhất Theo tác giả Hán Văn Khẩn thì “Đồ gốm” là “Toàn bộ sản phẩm do con người tạo ra từ đất sét (hoặc caolin) và được nung qua lửa” [70, tr.3] Đồng quan điểm trên, tác giả Trương Minh Hằng nhận định “Gốm” hay “Đồ gốm” là tên gọi chung các sản phẩm được làm từ đất sét, sau được nung qua lửa

Như vậy, Gốm là một loại hình được làm từ đất sét thông qua kỹ thuật

tạo dáng rồi nung qua lửa tạo ra đồ dùng vật dụng phục vụ nhu cầu đời sống con người

Đồ gốm thời Tiền sử

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam 2 thì: “đồ gốm ra đời từ thời đại đá

mới, trước sau thiên niên kỷ thứ 10 trCN, đồ gốm đất nung thống trị trong thời tiền sử và được chế tạo độc lập ở hầu khắp mọi nơi trên thế giới” [48, tr.158]

Và tiếp tục nhận định: “Gốm thô sơ xuất hiện đầu tiên cách đây 10 nghìn năm tại di chỉ Bắc Sơn Tiếp đó các loại gốm đất nung, có loại nung già (gốm sành)

có trang trí khắc vạch hình làn sóng, hình kỷ hà, từ đơn giản đến phức tạp, thuộc các di chỉ Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, Dốc Chùa, Sa Huỳnh, Óc Eo

Trang 33

cách đây từ 4500 năm, chứng minh đồ gốm cổ đại Việt Nam rất phong phú và

có mối quan hệ gắn bó với gốm cổ đại vùng Đông Nam Á” [48, tr.160] Theo

ý kiến của nhiều nhà khoa học thì đồ gốm có khả năng xuất hiện vào thời kỳ phát triển của văn hóa Hòa Bình và Bắc Sơn, cách ngày nay khoảng từ 8 đến

1.2.1.5 Nhóm thuật ngữ liên quan về “Hoa văn đồ gốm”

Theo tác giả Trần Lâm Biền, “Hoa văn đồ gốm” được hiểu là: “là một loại sử liệu vật chất quan trọng trong việc nghiên cứu quá khứ xa xưa của các cộng đồng tộc người Đặc biệt đối với nghiên cứu lịch sử văn hóa nghệ thuật thời quá khứ Hoa văn gốm là một loại hình nghệ thuật trang trí, mang tính nhịp điệu, là tiếng nói của nghệ thuật trang trí ” [8, tr.11] Còn theo tác giả Hà Văn Tấn thì: “hình dáng, và nhất là hoa văn đồ gốm là một đặc trưng tương đối ổn định, có tính chất truyền thống, có thể dùng tài liệu đồ gốm để phân chia văn hoá khảo cổ” [119, tr.340]

Căn cứ vào những khái niệm trên, NCS xác định thuật ngữ “hoa văn đồ gốm” được hiểu chính là một loại hình của nghệ thuật trang trí, được thể hiện trên chất liệu đồ gốm, nó luôn có tính ổn định, nghiên cứu hoa văn gốm là nghiên cứu diện mạo và khía cạnh của ngôn ngữ trang trí (đường nét, mảng, hình ) được thể hiện trên sản phẩm đồ gốm

1.2.2 Cơ sở lý thuyết

Luận án Kiểu dáng và trang trí hoa văn đồ gốm Phùng Nguyên vùng

trung du Bắc Bộ với mục đích nghiên cứu một hiện tượng mỹ thuật có tác dụng

về mặt lý luận đối với ngành lý luận và lịch sử mỹ thuật Vấn đề vận dụng lý

Trang 34

thuyết vào luận án được coi là sợi dây liên kết biện chứng giữa lý thuyết và quá trình nghiên cứu Chính vì lý do đó, NCS quan tâm đến một số lý thuyết như:

Lý thuyết kí hiệu học, lý thuyết hình thái học nghệ thuật, lý thuyết vùng văn hóa

qua các công trình nghiên cứu của một số tác giả cùng một số công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài Đây chính là những lý thuyết, luận điểm sẽ

giúp luận án định hướng đúng đắn trong quá trình nghiên cứu

1.2.2.1 Lý thuyết Kí hiệu học

Kí hiệu học (semiotics) là khoa học nghiên cứu về bản chất, chức năng,

cơ chế hoạt động của kí hiệu và hệ thống kí hiệu Trong lĩnh vực kí hiệu học xuất hiện hai hướng nghiên cứu: một là coi kí hiệu học là khái niệm trung tâm

do Charles Sander Pierce (người Mỹ) khởi xướng Hướng thứ hai khởi đầu từ công trình về ngôn ngữ học đại cương của nhà ngôn ngữ học Ferdinad de Saussure (Thuỵ Sĩ) Học giả Ch Pierce thì nhìn nhận kí hiệu là khởi điểm, các đơn vị cơ sở, còn F de Saussure lại coi hệ thống kí hiệu trong tính thống nhất

và tính toàn vẹn của nó Tựu chung lại các nhà kí hiệu học đều coi các kí hiệu được hình thành và hoạt động trong một cộng đồng, nó dần hình thành những

tổ hợp kí hiệu chứa đựng các thông tin xã hội của con người

Theo Trịnh Bá Đĩnh nhận định về kí hiệu: “Con người thể hiện những quan niệm, tư tưởng, kinh nghiệm sống của mình qua các kí hiệu và hệ thống

kí hiệu, những “vật bên ngoài” do mình tạo ra” [37; tr.15] và “Các kí hiệu, đầu tiên có khi chỉ là sự sáng tạo chủ quan của một cá nhân, sau đó lặp đi lặp lại rồi thành quy ước tập thể Từ các kí hiệu cử chỉ, các thông báo có tính thị giác, thính giác, con người dần tạo ra các hình hiệu (icon)” [37; tr.16] Như vậy, theo quan điểm trên, hoa văn trên đồ gốm Phùng Nguyên trước hết là hệ thống ký hiệu đặc biệt thuộc loại biểu hình do cư dân Việt tạo ra

Nhà kí hiệu học I.U.M Lotman đã nêu: “Kí hiệu học không nghiên cứu toàn bộ sự đa dạng của hiện thực, mà chỉ nghiên cứu các mô hình kí hiệu mang

Trang 35

tính ước lệ cao độ và được đơn giản hóa mạnh mẽ của nó Chính ở đó, sự đơn giản hóa cao độ của kí hiệu học là tiền đề tạo nên tính hiệu quả của nó, bởi vì,

nó cho phép miêu tả các hệ thống và các quá trình phức tạp một cách rõ ràng

và đơn giản” [77, tr.44] Việc nghiên cứu nghệ thuật như một hệ thống kí hiệu

là lĩnh vực đặc biệt Ai cũng biết về tính tích cực xã hội của nghệ thuật Các kí hiệu được nghệ sĩ và nhà văn sử dụng có đặc điểm xã hội vô giá… “Sáng tạo nghệ thuật hấp dẫn chúng ta bởi sức mạnh tác động thẩm mỹ của nó Nhưng có thể nghiên cứu sáng tạo nghệ thuật từ một phương diện khác, ít quen thuộc hơn, tác phẩm nghệ thuật là phương thức tổ chức cực kì tiết kiệm, hàm súc, thuận tiện cho việc lưu trữ và truyền đạt thông tin” [77, tr.70] Ngoài ra, I.U.M Lotman nhận định:

Nghệ thuật có thể sử dụng các kí hiệu dưới dạng hoàn bị đã được sáng tạo ra trong một xã hội nào đó (các biểu tượng huyền thoại, các hình văn học có sẵn…), nhưng nó cũng có thể sáng tạo ra các kí hiệu theo cách đặc biệt Có thể nhập các yếu tố nguyên khởi của kí hiệu vào kí hiệu… Nghệ thuật tạo hình (thị giác) thiên về sử dụng hình hiệu [77, tr.353]

Như vậy, theo luận điểm trên, ở đồ gốm Phùng Nguyên xuất hiện các kí hiệu hình học dưới dạng đồ án, hoa văn trang trí

Lý thuyết này được áp dụng vào luận án để làm rõ tính chất hoa văn gốm Phùng Nguyên xuất phát từ yêu cầu tạo tác, song tựu chung chúng đều thuần chất trang trí, một mặt tạo nên cái đẹp, mặt khác đó là những kí hiệu Đặc trưng của những kí hiệu này là không đề cập đến một vấn đề cụ thể nào đó, mà chủ yếu là khắc họa các biểu tượng phái sinh Mỗi kí hiệu này kéo theo vô số các biểu tượng phái sinh khác tạo thành tổ hợp hoa văn đẹp đẽ trên gốm Phùng

Nguyên Việc áp dụng Lý thuyết kí hiệu học sẽ giúp NCS có thể nhận định quan

điểm coi mô típ hoa văn trang trí trên gốm Phùng Nguyên là một dạng kí hiệu

Trang 36

tạo hình, là cơ sở khoa học để có thể tìm hiểu ý nghĩa ngôn ngữ các kí hiệu, các hoa văn trang trí trên gốm Phùng Nguyên

1.2.2.2 Lý thuyết Hình thái học nghệ thuật

Được luận án lựa chọn để vận dụng nghiên cứu trường hợp cụ thể nhằm

lý giải hoạt động sáng tạo nghệ thuật M.Cagan đã chia nghệ thuật thành nghệ

thuật một chức năng (nghệ thuật thuần túy) và nghệ thuật hai chức năng (nghệ

thuật và vụ lợi) M.Cagan bàn về quan hệ của tạo hình: “Mặc dù trong nghệ thuật, hình thức vật chất hóa sự thể hiện, kỹ thuật có tính chất phụ thuộc và lệ thuộc vào nội dung, vào hư cấu tinh thần của tác phẩm được sáng tạo” [12, tr.185]

Theo tác giả, sự phát triển nghệ thuật của loài người đã dẫn tới là kiến trúc, nghệ thuật ứng dụng, hội họa, đồ họa, điêu khắc và tự khẳng định mình thành những loại hình nghệ thuật riêng [12, tr.313] và cho rằng, trong các loại hình nghệ thuật không gian, hội họa, đồ họa, điêu khắc, nhiếp ảnh nghệ thuật

là những nghệ thuật miêu tả (tạo hình), khẳng định nghệ thuật miêu tả có xu hướng tự tiến tới xu hướng trang trí Từ quan điểm đó, xét thấy, nghệ thuật tạo hình người Việt cổ lấy hình thức bên ngoài để mô tả tinh thần, ý thức bên trong,

từ đó cho thấy kiểu dáng và hoa văn trang trí trên gốm Phùng Nguyên với tinh thần nhất quán từ cấu trúc tạo hình cho tới bố cục đồ án hoa văn mang tính kí hiệu có ngôn ngữ của nghệ thuật trang trí

Ngoài ra, M Cagan đã đưa ra nhận xét về nghệ thuật trang trí hoa văn như sau:

Chỉ có bằng cách kiên quyết từ bỏ việc diễn tả tính cụ thể riêng biệt của đối tượng mới cho phép trang trí lặp lại cái motip không biết bao nhiêu lần, tạo nên một dải hoa văn nhịp nhàng hay làm cho toàn bộ

bề mặt đầy những vật trang trí một cách nhịp nhàng Chính vì lý do

ấy mà trang trí có cái quyền nghệ thuật, xét cho cùng, từ bỏ mọi tính miêu tả, những cách sử dụng những hình họa trừu tượng, những

Trang 37

đường thẳng và cong, những hình bầu dục và tam giác làm mô típ… [12, tr.315]

Và nhận định “Tính trang trí lại là một sức mạnh hướng tâm của nghệ thuật, nghệ thuật hướng vào bản thân mình, nhằm sáng tạo ra những hình thức mới của cái đẹp không có trong thế giới hiện thực” [12, tr.411] Đây là lý thuyết quan trọng giúp NCS áp dụng vào luận án để phân tích làm rõ đặc trưng họa tiết hoa văn đồ gốm Phùng Nguyên, qua đó chứng minh được vẻ đẹp của nó dưới góc độ mỹ thuật

M Cagan khẳng định rằng: “Nghệ thuật tĩnh trong đó có bao gồm các vật thể có thể tích như kiến trúc và đồ vật ứng dụng tạo nên nghệ thuật biểu cảm [12, tr.209] Như vậy, với nhận định này thì kiểu dáng và hoa văn trang trí

đồ gốm là một dạng nghệ thuật tĩnh, là sản phẩm của mỹ thuật, mang đặc trưng loại hình, loại thể, mang ngôn ngữ trang trí của bố cục và đường nét tạo nên những biểu cảm rõ nét

Dựa vào lý thuyết này, luận án tiếp cận kiểu dáng và hoa văn trang trí đồ gốm Phùng Nguyên là một đối tượng của mỹ thuật Luận án phân tích đặc điểm kiểu dáng, hoa văn trang trí, đường, nét, mảng, hình dựa trên các yếu tố mỹ thuật và công năng sản phẩm nhằm làm nổi bật đặc trưng của đồ gốm Phùng Nguyên Qua đó, khẳng định giá trị kiểu dáng và hoa văn trang trí đồ gốm Phùng Nguyên dưới góc độ mỹ thuật

1.2.2.3 Lý thuyết vùng văn hóa

Thuyết “vùng văn hoá” trong nhân loại học Mỹ xuất hiện vào nửa đầu thế kỷ XX với các đại diện là Franz Boas, LC Wissler, O.T Mason, A.L Kroeber Vùng văn hoá hay còn gọi là Văn hoá khuyên là chỉ một không gian được giới hạn bởi một hình thức văn hoá nhất định, trong đó hình thái văn hoá được quy định bởi những mối quan hệ về nguồn gốc và lịch sử Ngoài ra, các học giả người Mỹ đã đưa ra khái niệm “vùng văn hóa” và “loại hình văn hóa”

Trang 38

để đi đến nhận định: “Văn hóa của mỗi dân tộc được hình thành trong quá trình lịch sử gắn liền với môi trường xã hội nhất định và trong điều kiện địa lý cụ thể” [137, tr.28] Lý thuyết “vùng văn hóa” được nhiều nhà khoa học cụ thể hóa trên bình diện nghiên cứu chuyên biệt như: văn học, ngôn ngữ, nghệ thuật, phong tục… Đồng thời cũng nhận định về văn hóa trong một quốc gia, vùng miền đặc trưng riêng về văn hóa từ sự đa dạng về kinh tế xã hội và sắc tộc

Luận án áp dụng lý thuyết này nhằm giải thích quá trình hình thành của

đồ gốm Phùng Nguyên chịu tác động bởi đời sống, xã hội và quan niệm của người đương thời Do đó, các vùng có mật độ dầy và nhiều về di chỉ và di vật văn hóa Phùng Nguyên như Phú Thọ, Vĩnh Phúc được coi như là trung tâm của

đồ gốm thời kỳ này Đồng thời việc áp dụng lý thuyết này nhằm soi chiếu về văn hóa gốm, nơi tồn tại của kiểu dáng và hoa văn trang trí đồ gốm Phùng Nguyên để thấy rằng: đồ gốm này được hình thành từ nhu cầu tự nhiên của người Việt cổ Qua đó, những sản phẩm đồ gốm chứa đựng đời sống vật chất

và tinh thần sâu sắc, phù hợp với xu hướng phát triển xã hội, đáp ứng nhu cầu của con người trong chính xã hội ấy

Từ việc tìm hiểu lý thuyết này, NCS áp dụng vào đối tượng nghiên cứu

để nhận thấy: nền văn hóa riêng của mỗi dân tộc được hình thành và phát triển trải dài trong một thời kỳ lịch sử Bản sắc của văn hóa dân tộc Việt cổ là một hình thái văn hóa lúa nước do những cư dân làm nông nghiệp của vùng đất này tạo nên, chính vì vậy, trong cơ tầng văn hóa ấy đã hình thành các yếu tố bản địa và hội nhập

Đặc biệt trong những giai đoạn đầu tiền - sơ sử, văn hóa Việt có một quá trình hình thành và mang yếu tố phi Ấn, phi Hoa của vùng Đông Nam Á cổ, trong đó giai đoạn khởi đầu của văn minh đất Việt đó là văn hóa Phùng Nguyên Các nhà khoa học hiện nay đều thống nhất quan điểm có 4 giai đoạn phát triển

từ Phùng Nguyên đến Đồng Đậu, Gò Mun và Đông Sơn, dù mỗi giai đoạn có

Trang 39

những sự khác nhau, song vấn đề chung nối chúng lại với nhau tạo thành mạch truyền thống rõ nét đó chính là họa tiết hoa văn trên đồ gốm

Do đó, đồ gốm cổ thời tiền - sơ sử nói chung, đồ gốm thời kỳ Phùng Nguyên nói riêng được diễn trình trong chính bối cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội

và quan niệm của người đương thời Xuất phát từ đời sống vật chất và tinh thần như vậy đã quyết định sự hình thành nên đồ gốm Phùng Nguyên

Ngoài ra, NCS nhận thấy, việc áp dụng các lý thuyết tiếp biến văn hóa, khoa học xã hội, lịch sử… để làm sáng tỏ đặc trưng kiểu dáng và hoa văn trang trí trên đồ gốm Phùng Nguyên là điều rất cần thiết

Dựa vào những lý thuyết trên, luận án tiếp cận kiểu dáng và hoa văn trang trí trên phương diện tạo hình các di vật đồ gốm Phùng Nguyên Luận án phân tích đồ gốm Phùng Nguyên dưới góc độ mỹ thuật ứng dụng, dựa trên các yếu tố mỹ thuật và công năng của sản phẩm để làm nổi bật được đặc trưng, giá trị thẩm mỹ của đồ gốm thời kỳ này

1.3 Khái quát lịch sử, văn hóa - xã hội và nghệ thuật thời kỳ Phùng

Nguyên vùng trung du Bắc Bộ

1.3.1 Khái quát về lịch sử, văn hóa - xã hội

Vấn đề nguồn gốc văn hóa Phùng Nguyên được tác giả Hà Văn Tấn lý giải và đưa ra giả thiết cho rằng văn hóa Phùng Nguyên hình thành từ một số

bộ lạc ở phía nam, có thể là từ vùng Khu Bốn cũ và nhiều khả năng là miền tây của khu vực này đã di chuyển lên phía Bắc, qua đất Hà Sơn Bình, hoặc cũng

có thể vòng quanh qua khu vực Tây Bắc xuống, định cư ở vùng Trung du Bắc

Bộ, khi đồng bằng còn ngập nước, có thể chịu một số ảnh hưởng văn hóa của các bộ lạc vùng ven biển, từ đó hình thành văn hóa Phùng Nguyên [119, tr.394] Đồng tình với quan điểm trên, GS Trần Quốc Vượng cho rằng: “Phùng Nguyên thuộc sơ kỳ thời đại kim khí và cũng chỉ có niên đại hơn 3.000 năm cách ngày nay, ngang với Hạ Long và Thạch Lạc - Bàu Tró” [169, tr.21] Còn theo tác giả

Trang 40

Hoàng Xuân Chinh, Nguyễn Ngọc Bích khẳng định có sự phát triển văn hóa liên tục từ văn hóa Phùng Nguyên đến văn hóa Đông Sơn, trong đó xác nhận

di chỉ tiêu biểu cho các mốc chính trong quá trình phát triển đó là Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun và Đông Sơn Quá trình phát triển văn hóa liên tục Phùng Nguyên - Đông Sơn phản ánh quá trình hình thành nhà nước đầu tiên của đất nước ta [21, tr.11]

Như vậy, các nhà khoa học đều thống nhất cho rằng văn hóa Phùng Nguyên là một nền văn hóa khảo cổ học có tầm quan trọng to lớn đối với lịch

sử và văn hóa của người Việt, là nền móng khởi đầu cho các nền văn hóa Đồng Đậu, Gò Mun và Đông Sơn phát triển, để dần hình thành nhà nước đầu tiên trong tiến trình lịch sử Việt Nam

1.3.1.1 Về bối cảnh lịch sử

Phùng Nguyên là địa điểm có nhiều dấu tích văn hóa vật chất của người tiền- sơ sử cách đây gần 4000 năm, phát triển thành một mạch liên tục trải qua văn hóa Đồng Đậu, Gò Mun và Đông Sơn Đây là nơi hội tụ, tiếp xúc và giao lưu văn hóa với các vùng ven biển Đông Bắc Việt Nam, chính vì vậy nó là khu vực tập trung tinh hoa văn hóa của các vùng (trong đó có giao thương vận chuyển các sản vật, dụng cụ, đồ dùng, kể cả vật liệu đất sét và chuyển giao các

kỹ thuật làm gốm thủ công) Các di chỉ thuộc văn hóa Phùng Nguyên phân bố dọc hai bờ sông Lô, từ huyện Phù Ninh đến ngã ba thành phố Việt Trì, từ Lập Thạch (Vĩnh Phúc) đến Bạch Hạc với các di tích chính như Xóm Rền, Gò Diễn,

An Đạo (huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ), di chỉ đồi Giàm (xã Quất Thượng, Việt Trì, tỉnh Phú Thọ), di chỉ Gò Hội (xã Hải Lựu, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc), di chỉ Lũng Hòa (xã Lũng Hòa, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc) di chỉ Đôn Nhân và Gò Sỏi (xã Đôn Nhân, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc) Tác giả Hà Văn Tấn cho rằng: “Việc phát hiện và khai quật, các di chỉ nhiều tầng văn hóa đã cho phép chúng ta xây dựng một phổ hệ khá chắc chắn về các

Ngày đăng: 24/04/2022, 10:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Dana Arnold (2016), Dẫn luận về lịch sử nghệ thuật, Nguyễn Tiến Văn dịch, Nxb Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận về lịch sử nghệ thuật
Tác giả: Dana Arnold
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2016
2. Đinh Ngọc Bảo (chủ biên) (2011), Giáo trình khảo cổ học, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình khảo cổ học
Tác giả: Đinh Ngọc Bảo (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2011
3. Trần Quốc Bảo (2018), “Ngôn ngữ của đường nét trong nghệ thuật tạo hình”, Kỷ yếu Hội nghị NCKH của NCS năm 2016, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ của đường nét trong nghệ thuật tạo hình”, Kỷ yếu "Hội nghị NCKH của NCS năm 2016
Tác giả: Trần Quốc Bảo
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2018
4. Vũ Kim Biên (2001),“Bàn về ruộng Lạc thời Hùng Vương”, trong Tìm hiểu văn hóa Phùng Nguyên, Viện khảo cổ học, Sở Văn hoá thông tin- Thể thao tỉnh Phú Thọ, tr.161-179 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Bàn về ruộng Lạc thời Hùng Vương”, trong "Tìm hiểu văn hóa Phùng Nguyên
Tác giả: Vũ Kim Biên
Năm: 2001
5. Trần Lâm Biền (1983), “Mỹ thuật cổ Việt Nam, vài vấn đề”, Kỷ yếu Hội nghị 20 năm công tác nghiên cứu Mỹ thuật, Viện nghiên cứu mỹ thuật, Viện Bảo tàng Mỹ thuật, tr.107-140 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ thuật cổ Việt Nam, vài vấn đề”, Kỷ yếu "Hội nghị 20 năm công tác nghiên cứu Mỹ thuật
Tác giả: Trần Lâm Biền
Năm: 1983
6. Trần Lâm Biền (2000), Một con đường tiếp cận lịch sử, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một con đường tiếp cận lịch sử
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Nxb Văn hóa Dân tộc
Năm: 2000
7. Trần Lâm Biền (2007), Mỹ thuật cổ truyền Việt Nam, Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ thuật cổ truyền Việt Nam
Tác giả: Trần Lâm Biền
Năm: 2007
8. Trần Lâm Biền (chủ biên) (2018), Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt, Nxb Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt
Tác giả: Trần Lâm Biền (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2018
9. Trần Lâm Biền (2018), Đồ thờ trong di tích người Việt, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồ thờ trong di tích người Việt
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2018
10. Trần Lâm Biền, Chu Quang Trứ (1975), Nghệ thuật chạm khắc cổ Việt Nam (qua các bản rập), Viện Nghệ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật chạm khắc cổ Việt Nam (qua các bản rập)
Tác giả: Trần Lâm Biền, Chu Quang Trứ
Năm: 1975
11. Trần Lâm Biền, Trịnh Sinh (2017), Thế giới biểu tượng trong di sản văn hoá, Nxb Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới biểu tượng trong di sản văn hoá
Tác giả: Trần Lâm Biền, Trịnh Sinh
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2017
12. M.Cagan (2004), Hình thái học nghệ thuật, Phan Ngọc dịch, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình thái học nghệ thuật
Tác giả: M.Cagan
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2004
13. Graham Collier (2017), Hình, không gian và cách nhìn, Vương Tử Lâm, Phạm Long dịch, Phạm Văn Thiều hiệu đính, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình, không gian và cách nhìn
Tác giả: Graham Collier
Nhà XB: Nxb Mỹ thuật
Năm: 2017
14. Graham Collier (2019), Nghệ thuật và tâm thức sáng tạo, Trịnh Lữ dịch, Nxb Dân trí, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật và tâm thức sáng tạo
Tác giả: Graham Collier
Nhà XB: Nxb Dân trí
Năm: 2019
15. Jean Chevalier, Alain Gheerbrant (2016), Từ điển Biểu tượng văn hóa thế giới, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Biểu tượng văn hóa thế giới
Tác giả: Jean Chevalier, Alain Gheerbrant
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2016
16. Nguyễn Du Chi (2002), Hoa văn Việt Nam từ thời tiền sử đến nửa đầu thời kỳ phong kiến, Viện Mỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoa văn Việt Nam từ thời tiền sử đến nửa đầu thời kỳ phong kiến
Tác giả: Nguyễn Du Chi
Năm: 2002
17. Hoàng Xuân Chinh (1970), Về thời gian tồn tại của thời đại Hùng Vương, Hùng Vương dựng nước, tập1, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về thời gian tồn tại của thời đại Hùng Vương
Tác giả: Hoàng Xuân Chinh
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1970
18. Hoàng Xuân Chinh (2010), “Hà Nội thời tiền Thăng Long”, Tạp chí Di sản văn hoá, số 2(31), tr.36-43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Nội thời tiền Thăng Long”, Tạp chí "Di sản văn hoá
Tác giả: Hoàng Xuân Chinh
Năm: 2010
19. Hoàng Xuân Chinh (2012), Đồ đồng văn hoá Đông Sơn, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồ đồng văn hoá Đông Sơn
Tác giả: Hoàng Xuân Chinh
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin
Năm: 2012
20. Hoàng Xuân Chinh, (2016), “Văn hóa Phùng Nguyên - tầm tỏa rộng”, Tạp chí Khảo cổ học, số 4, tr.17-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Phùng Nguyên - tầm tỏa rộng”, Tạp chí "Khảo cổ học
Tác giả: Hoàng Xuân Chinh
Năm: 2016

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm