Hàu cửa sông (Crassostrea rivularis Gould, 1861) là loài động vật nhuyễn thể thuộc nhóm thân mềm hai mảnh vỏ trong họ hàng nghêu, sò sống ở các ghềnh đá ven bờ biển hay cửa các sông, chúng thường ăn sinh vật phù du và các sinh vật trong bùn, cát, nước biển… Bài viết này trình bày về một số đặc điểm hình thái của hàu cửa sông (Crassostrea rivularis Gould, 1861) dựa theo phương pháp nghiên cứu của Wang và cộng sự (2004).
Trang 1Kỷ yếu Hội nghị Khoa học Sinh viên năm học 2016-2017
Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế, tháng 12/2016: tr 390-395
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI
CỦA HÀU CỬA SÔNG (Crassostrea rivularis Gould, 1861)
NGUYỄN THỊ TRƯỜNG VY NGUYỄN THỊ HÒA - NGUYỄN THỊ LY NA
Khoa Sinh học
Tóm tắt: Bài báo này chúng tôi trình bày về một số đặc điểm hình thái của
hàu cửa sông (Crassostrea rivularis Gould, 1861) dựa theo phương pháp
nghiên cứu của Wang và cộng sự (2004) [4]
Từ khóa: hàu cửa sông, hình thái
1 MỞ ĐẦU
Hàu cửa sông (Crassostrea rivularis Gould, 1861) là loài động vật nhuyễn thể thuộc
nhóm thân mềm hai mảnh vỏ trong họ hàng nghêu, sò sống ở các ghềnh đá ven bờ biển
hay cửa các sông, chúng thường ăn sinh vật phù du và các sinh vật trong bùn, cát, nước
biển… Hàu cửa sông là một trong những loại hải sản có giá trị dinh dưỡng cao Ngoài
ra hàu còn là đối tượng thủy sản có khả năng lọc nước, làm sạch môi trường đầm phá,
mang lại hiệu quả kinh tế cao cho ngư dân [1] Cho đến nay, ở Việt Nam các nghiên cứu
về loài này tập trung chủ yếu về đặc điểm sinh trưởng, thành phần sinh hóa [1], xác định
nguyên tố vi lượng [3]… nhưng chưa có công bố nào về đặc điểm hình thái của chúng
Bài báo này trình bày một số đặc điểm hình thái của hàu cửa sông C rivularis Gould,
1861 ở miền Trung, Việt Nam
2 NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nguyên liệu
Hàu cửa sông
Giới (Kingdom): Animalia
Ngành (Phylum): Mollusca
Lớp (Class): Bivalvia
Bộ (Order): Ostreoida
Họ (Family): Ostreidae
Chi (Genus): Crassostrea
Loài (Species): Crassostrea rivularis Gould, 1861
2.1 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thu thập mẫu
Hàu cửa sông C rivularis được thu thập ở một số địa điểm thuộc miền Trung, Việt Nam
(Bảng 1)
Trang 2Bảng 1 Số lượng mẫu hàu cửa sông C rivularis thu thập ở các địa điểm
Địa điểm thu mẫu Số lượng
(con)
Địa điểm thu mẫu Số lượng
(con)
2.2.2 Phương pháp định loại
Hàu sau khi thu thập được định loại theo Nayar và cộng sự (1987) [4], Wang và cộng sự (2004) [5] và Lăng Văn Kẻn và cộng sự (2005) [2]
2.2.3 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình thái
Phân tích các đặc điểm hình thái của hàu được tiến hành theo Wang (2004) và cộng sự [5]
- Đo các đặc điểm hình thái vỏ bằng thước kẹp: chiều cao (SH), chiều dài (SL), chiều rộng (SW), chiều dài và chiều cao dây chằng (LCL và LCH), chiều sâu khoang mấu lồi (UCD)
- Cân trọng lượng khô của vỏ (DSWT)
- Thể tích vỏ (SV) được tính bằng lượng nước thay thế
- Thể tích khoang vỏ (SCV) được tính bằng cách đo thể tích cát lấp đầy khoang vỏ
- Hình dạng vỏ được mô tả bằng tỷ lệ chiều cao/chiều dài (SH/SL)
- Tỷ trọng vỏ (SD) là tỷ lệ trọng lượng vỏ khô/thể tích vỏ (DSWT/SV)
2.2.4 Phương pháp xử lý số liệu
Xử lí số liệu bằng phần mềm MS Excel
3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Trong nghiên cứu của Wang (2004), hàu cửa sông C rivularis được chia thành hai loại:
hàu thịt đỏ và hàu thịt trắng Tất cả các mẫu thu thập được trong nghiên cứu này đều là hàu thịt trắng
3.1 Hình dạng vỏ
Vỏ hàu cửa sông C rivularis có dạng thuôn dài, vỏ trái hình chén sâu và vỏ phải hơi lồi
Vỏ trái là lớn hơn và dày hơn so với vỏ phải Vỏ phải tương đối bằng phẳng, nhẵn với các lớp phức tạp bao gồm các lớp mỏng trùm lắp lên nhau, dễ vỡ và đồng tâm Không
có các gân phóng xạ lồi ra từ bề mặt của mỗi mảnh vỏ (Hình 2)
Kết quả đo và tính toán tỷ lệ chiều cao vỏ/chiều dài vỏ hàu (SH/SL) được trình bày ở Bảng 2 Bảng 2 cho thấy tỷ lệ SH/SL trung bình của vỏ hàu là 1,68±0,05; biến thiên từ 1,52±0,17 (Núi Thành, Quảng Nam) đến 1,78±0,11 (Quảng Ninh, Quảng Bình) Kết quả này thấp hơn so với kết quả nghiên cứu của Wang và cộng sự (2004) là 1,98 [5]
Trang 3Hình 1 Đặc điểm cấu tạo trong của C rivularis
3.2 Màu sắc vỏ
Màu sắc của vỏ thay đổi từ trắng, xám nhạt, xám, vàng hoặc vàng nhạt đến tía Các lớp mỏng gần mép hơn thường có màu tối hơn và các lớp mỏng gần mấu lồi đã bị bào mòn
và có màu trắng Mấu và dây chằng là thấy rõ ràng, có màu vàng nâu Mặt trong của vỏ màu trắng với sẹo cơ khép hình chữ D hoặc hình quả thận, có màu cũng thay đổi từ vàng, nâu đến đen (Hình 2)
Hình 2 Đặc điểm hình thái ngoài của hàu cửa sông C.rivularis A: Vỏ trái, B: Vỏ phải
Trang 43.3 Kích thước vỏ
Kết quả đo các chỉ số về kích thước vỏ hàu cửa sông C rivularis được trình bày ở Bảng 2
Bảng 2 Kích thước vỏ hàu cửa sông C rivularis (mm)
Mẫu
Chiều cao
vỏ (SH)
Chiều dài vỏ (SL)
Chiều rộng
vỏ (SW)
SH/SL
Chiều sâu khoang mấu lồi (UCD)
Quảng Ninh, Quảng Bình 59,40±2,48 33,80±1,28 22,00±2,70 1,78±0,11 8,40±2,54 Gio Linh, Quảng Trị 72,33±6,60 41,17±2,37 26,00±2,18 1,75±0,09 7,00±1,34 Phú Lộc, Thừa Thiên Huế 83,35±2,34 51,12±1,26 33,65±1,39 1,64±0,04 11,94 ±0,74 Thành phố Đà Nẵng 57,33±4,49 35,83±3,40 28,00±1,69 1,65±0,15 9,32±1,02 Duy Xuyên, Quảng Nam 70,31±28,20 41,74±2.03 27,32±1,22 1,71±0,05 8,37±0,85 Núi Thành, Quảng Nam 83,00±9,83 55,56±1,89 39,33±2,47 1,52±0,17 20,55±1,30
Trung bình 70,95±4,55 43,20 ± 3,48 29,38± 2,51 1,68±0,04 10,93±2,04 Kết quả ở Bảng 2 cho thấy chiều cao, chiều dài, chiều rộng và chiều sâu khoang mấu lồi
của vỏ hàu cửa sông C rivularis ở các địa điểm nghiên cứu khác nhau là khác nhau,
trung bình lần lượt là 70,95±4,55 mm; 43,20±3,48 mm; 29,39±2,51 mm và 10,93±2,04
mm Kết quả nghiên cứu của Wang và cộng sự (2004) tương ứng lần lượt là 150,8 mm; 79,3 mm; 49,5 mm và 13,6 mm Như vậy, kết quả này thấp hơn nhiều so với kết quả nghiên cứu của Wang và cộng sự (2004) [5]
3.4 Thể tích vỏ và thể tích khoang vỏ
Kết quả nghiên cứu về thể tích vỏ và thể tích khoang vỏ của hàu cửa sông C rivularis
được trình bày ở Bảng 3
Bảng 3 Thể tích vỏ và thể tích khoang vỏ của hàu cửa sông C rivularis (ml)
Mẫu Thể tích vỏ (SV) Thể tích khoang vỏ (SCV)
Kết quả ở Bảng 3 cho thấy thể tích vỏ và thể tích khoang vỏ của hàu cửa sông C rivularis
ở các địa điểm nghiên cứu khác nhau là khác nhau; trung bình lần lượt là 18,67±3,90 ml
và 16,71±3,75 ml; trong khi kết quả nghiên cứu của Wang và cộng sự (2004) lần lượt tương ứng là 137,9 ml và 97,6 ml Như vậy kết quả thu được nhỏ hơn rất nhiều
3.5 Trọng lượng vỏ khô và tỷ trọng vỏ
Trọng lượng vỏ khô và tỷ trọng vỏ hàu cửa sông C rivularis được trình bày ở Bảng 4
Trang 5Bảng 4 Trọng lượng vỏ khô và tỷ trọng vỏ hàu cửa sông C rivularis (g)
Mẫu Trọng lượng vỏ khô (DSWT) Tỉ trọng vỏ (SD) DSWT/SV
Bảng 4 cho thấy trọng lượng vỏ khô và tỷ trọng vỏ hàu cửa sông C rivularis ở các địa
điểm nghiên cứu khác nhau là khác nhau; trung bình lần lượt là 33,45±7,93 g và 1,71±0,10 g Kết quả này cũng thấp hơn nhiều so với kết quả của Wang (2004) và cộng
sự (tương ứng lần lượt là 242,2 g và 2,0 g)
3.6 Chiều dài và chiều cao dây chằng
Kết quả đo chiều dài dây chằng và chiều cao dây chằng được trình bày ở Bảng 5
Bảng 5 Chiều cao dây chằng và chiều dài dây chằng của hàu cửa sông C rivularis (mm)
Mẫu Chiều cao dây chằng
(LCH)
Chiều dài dây chằng (LCL)
LCH/LCL
Bảng 5 cho thấy chiều cao dây chằng, chiều dài dây chằng và tỷ lệ LCH/LCL của hàu
cửa sông C rivularis lần lượt là 6,86 ±0,50 mm; 5,82±0,49 mm và 1,21±0,03 Kết quả
nghiên cứu của Wang và cộng sự (2004) tương ứng lần lượt là 33,4 mm; 27,5 mm và 1,23 [5] Như vậy chiều cao dây chằng, chiều dài dây chằng nhỏ hơn nhiều nhưng tỷ lệ LCH/LCL thì tương đương
4 KẾT LUẬN
Hàu cửa sông C rivularis Gould, 1861 ở những địa điểm khác nhau thuộc miền Trung,
Việt Nam là hàu thịt trắng, màu sắc vỏ giống nhau, có các chỉ số hình thái: chiều cao vỏ (SH), chiều dài vỏ (SL), chiều rộng vỏ (SW), chiều cao dây chằng (LCH), chiều dài dây chằng (LCL), thể tích vỏ (SV), trọng lượng vỏ khô (DSWT) khác nhau nhưng các tỷ số SH/SL, LCH/LCL và DSWT/SV là tương đương
Trang 6TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Hoàng Ngọc Ánh, Nguyễn Hạnh Trinh, Nguyễn Minh Trí, Nguyễn Đắc Tạo (2013)
Nghiên đặc đểm sinh trưởng và thành phần sinh hóa của Hàu (Crassostrea rivularis Gould 1861) nuôi ở đầm Lăng Cô, Thừa Thiên Huế, Tuyển tập Hội nghị Khoa học trẻ ngành thủy sản Toàn quốc lần thứ IV, tr 593-597
[2] Lăng Văn Kẻn, Bùi Mạnh Tường (2005) Quy hoạch và nuôi thử nghiệm Otreiea
bằng công nghệ nuôi nhanh Malaysia, Dự án hợp tác theo nghị định thư, Bộ Khoa
học, Công nghệ và Môi trường Malaysia, Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam [3] Nguyễn Mậu Thành, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Đình Luyện (2015) Xác định
nguyên tố vi lượng kẽm trong con hàu ở khu vực sông Nhật Lệ thị trấn Quán Hàu,
huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, Tạp chí Thông tin Khoa học và Công nghệ Quảng Bình, 2, tr 44-46
[4] Nayar NK and Mahadevan S (1987) Oyster culture-status and prospects, Central
Marine Fiesheries Research Institute, Bulletin 38, pp 1-6
[5] Wang H, Guo X, Zhang G, Zhang F (2004) Classifinication of jinjiang oyster
Crassostrea rivularis ( Gould, 1861) frome China based morphology and phylogenetic analysis , Aquaculture 224, pp 137-155
NGUYỄN THỊ TRƯỜNG VY
NGUYỄN THỊ HÒA
NGUYỄN THỊ LY NA
SV lớp Sinh 4B, khoa Sinh học, trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế