Bài viết sau sẽ giới thiệu khái quát về nhân vật Thánh Mẫu Liễu Hạnh trong tác phẩm Truyền kì tân phả của Đoàn Thị Điểm về các đặc điểm nổi bật: Xuất thân, ngoại hình, phẩm chất, tài năng, hành trạng và số phận.
Trang 1Kỷ yếu Hội nghị Khoa học Sinh viên năm học 2014-2015
Trường Đại học Sư phạm Huế, tháng 12/2014: tr 117-123
NHÂN VẬT THÁNH MẪU LIỄU HẠNH TRONG TRUYỀN KÌ TÂN PHẢ
CỦA ĐOÀN THỊ ĐIỂM
NGUYỄN THỊ HƯƠNG GIANG TRẦN THỊ THU HẰNG – HỒ THỊ DIỆU HIỀN
Khoa Ngữ văn
Tóm tắt: Thánh Mẫu Liễu Hạnh có vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa
Việt Nam Hình tượng này không chỉ tồn tại trên khía cạnh văn hóa tâm linh
mà còn hóa thân thành nhân vật trong tác phẩm văn học Một trong những
tác phẩm tiêu biểu, xuất sắc nhất thể hiện thành công hình tượng Thánh Mẫu
Liễu Hạnh là Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm Bài viết sau sẽ giới
thiệu khái quát về nhân vật Thánh Mẫu Liễu Hạnh trong tác phẩm Truyền kì
tân phả của Đoàn Thị Điểm về các đặc điểm nổi bật: xuất thân, ngoại hình,
phẩm chất, tài năng, hành trạng và số phận
1 MỞ ĐẦU
Thánh Mẫu Liễu Hạnh là nhân vật có sức ảnh hưởng lớn đến đời sống văn hóa và văn học Việt Nam Hình tượng Thánh Mẫu Liễu Hạnh xuất hiện trong văn học dân gian với truyện cổ tích: Sự tích công chúa Liễu Hạnh và đi vào văn học viết với sáng tác của nhiều tác giả như Đoàn Thị Điểm (Vân Cát Thần Nữ), Nguyễn Công Trứ (Liễu Hạnh công chúa diễn âm), trong văn chầu (Văn Địa Tiên Thánh Mẫu, Cảnh Thư đường văn…) Trong các sáng tác trên thì hình tượng Thánh Mẫu Liễu Hạnh đẹp nhất và hoàn thiện nhất trong tác phẩm Truyền kì tân phả của Đoàn Thị Điểm
Trong khuôn khổ bài viết này, nhóm chúng tôi sẽ cố gắng khái quát rõ những đặc điểm quan trọng nhất về Thánh Mẫu Liễu Hạnh, để từ đó thấy được vẻ đẹp toàn diện của nhân vật trong tác phẩm Truyền kì Tân Phả của Đoàn Thị Điểm
2 XUẤT THÂN LẠ KỲ
Khi nghiên cứu về Mẫu Liễu Hạnh thì hệ thống các truyền thuyết và thần tích nói về bà rất đa dạng và phức tạp Trãi qua từng thời kì lịch sử thì nhân vật được khái quát hóa lên
một tầm cao mới Sau đây là bản kể xuất thân của Đoàn Thị Điểm kể lại rằng: “Thôn An
Thái xã Vân Cát là một làng nổi tiếng ở huyện Thiên Bản Đất bằng phẳng, nước trong vắt, cây cối tươi tốt, phong tục chất phát Trong làng có gia đình ông Lê Thái Công ăn làm lương thiện, hiền lành chất phát, ngày đêm đốt hương thờ phật, khi bận cũng không quên nhãng việc lễ bái Thái Công hay làm phúc, năm 40 tuổi mới có một con trai Khoảng năm niên hiệu thiên hựu, bà vợ có mang đã quá kì sinh, tự nhiên mắc bệnh nặng cả ngày không ăn uống gì mà chỉ ưa hương hoa thơm Người nhà ngờ là yêu quái, liền mời thầy cúng lễ, nhưng bệnh bà lại tăng thêm Một hôm gặp đêm trung thu, mặt trăng trong sáng như vẽ, ngoài cửa có một vị pháp sư khăn áo chỉnh tề nói có thuật làm cho bà chóng sinh, người coi cửa không cho vị pháp sư nói:“Ta đây có kế lạ phục rồng trị hổ, xuống đất lên trời, làm sao lại khinh miệt ta quá vậy”.Thái Công nghe nói, vội
Trang 2vàng mời vào, xem trong tay áo ông khách chỉ thấy có một cái búa ngọc Vị đạo nhân
ấy bỏ xõa tóc lên đàn, trong miệng đọc thần chú, lấy tay ném búa ngọc xuống đất Thái Công liền bất tỉnh ngã ra thiếp đi Trong mộng Thái Công được dẫn lên trời, thành vàng đứng sững, cửa ngọc mở toan, người lực sĩ cùng với Ông đi qua chín lần cửa rồi đứng đợi dưới thềm, lúc liếc trông lên đám hồng vân thấy một vị vương giã đội mũ miệng, hai bên có sáu người thị nữ mặc áo màu tía đỏ đứng hầu, lại có hàng trăm người cầm hốt cầm phách, tấu nhạc “quân thiều” và múa điệu “nghê thường” Trên bàn lưu ly, để quả đào Vương Mẫu, trong bầu mã não đựng thuốc tiên…” Sau đó thì Thái Công dần dần hồi tỉnh thì thấy vợ đã sinh một con gái rồi Đêm ấy có hương lạ thơm phức ở trong nhà, điềm lành sa vào cửa sổ Thái Công nghĩ rằng thần báo mộng
là vị tiên nhân giáng sinh, bèn đặt tên con là Giáng Tiên” [2, tr 445] Nhân vật ra đời
quả là khác lạ, mẹ nàng có mang nhưng quá kì sinh, tự nhiên mắc bệnh nặng, không ăn uống và có một điều đặc biệt là chỉ ưa hương hoa thơm mà thôi Tiếp đó lại giấc mơ của Thái Công, giấc mơ Ông được tới cõi thần tiên, chốn bồng lai tiên cảnh, sau khi tỉnh giấc mộng thì con gái Giáng Tiên đã ra đời Và cái tên Giáng Tiên cũng bắt nguồn từ giấc mơ kì lạ đó Nàng không phải là một người bình thường mà chính là tiên giáng
trần“Kiếp sinh vào nhà Lê thị/Cải họ Trần dấu khí thiêng lương/Vốn sinh vẻ có phi
phương/Ngụ thai quê Phủ Gìay, Thiên Bản” (Văn Địa Tiên Thánh Mẫu)
Đấy được xem như là một hiện thân của Thánh Mẫu tối cao Liễu Hạnh Thánh Mẫu (Tiên Thiên Thánh Mẫu), là con người tuy gốc từ cõi tiên trên thiên đình, nhưng đã đầu thai thành người trần Khi xuống trần gian, nàng là một phụ nữ có nhan sắc, có hôn
nhân gia thất, có sống gửi thác về “Phủ Giầy - Vân Cát là quê/Nghĩa Hưng – Thiên Bản,
họ Lê cải Trần/Hình dung cốt cách thanh tân/Mười năm định giá hôn nhân xướng tùy/Thiên đình định nhất chí hỳ/Tuổi đôi mươi mốt chầu về Thiên Thai”(Cảnh thư
đường văn)
Nhận xét
Trong văn học dân gian nhân vật có xuất thân lạ kỳ, dị thường bao giờ cũng có một đặc điểm khác thường nổi trội hơn so với người khác Đoàn Thị Điểm đã kế thừa mô típ mang thai kỳ lạ (sự sinh nở thần kỳ) của truyện dân gian trong xây dựng hình tượng nhân vật Thánh Mẫu Liêu Hạnh Đi cùng với sinh nở thần kỳ là các dấu hiệu đặc biệt đi kèm như: Vùng đất nơi cha mẹ nàng sinh sống là nơi phong thủy cát vượng; cha mẹ đều chăm làm việc thiện; khi người mẹ mang thai chỉ thích hương thơm; sinh nở khó phải nhờ đạo sĩ giúp; người cha nằm mơ lên thiên đình biết xuất thân tiền kiếp của con là người cõi tiên Tất cả những chi tiết này đều hướng tới tính dự báo về sự xuất hiện của nhân vật xuất chúng, phi phàm Việc xuất thân kỳ lạ của Thánh Mẫu Liễu Hạnh đã báo trước vẻ đẹp tài năng, phẩm chất, ngoại hình, hành trạng và số phận hơn người của nhân
vật, và đây cũng như một “phục bút” mà Đoàn Thị Điểm tô đậm vẻ đẹp cho nhân vật
mình Mẫu Liễu Hạnh toát lên một vẻ đẹp phi phàm, dự báo sự hiên thánh sau này
Trang 33 ĐẶC ĐIỂM VỀ DUNG NHAN VÀ PHẨM CHẤT, TÀI NĂNG
Dung nhan tuyệt mĩ
Vốn xuất thân là tiên nữ trên thiên đình Liễu Hạnh có dung nhan khác hẳn với người trần gian Vẻ đẹp của Liễu Hạnh ai nhìn vào cũng bị cuốn hút, qua những hình ảnh miêu
tả: “Trạc độ mười bảy, mười tám tuổi, mày lá liễu, má hoa đào, ăn mặc gọn gàng, cốt
cách như ngọc, da dẻ trắng ngần, vẻ đẹp nghiêng nước nghiêng thành Hay “Đến khi lớn, da trắng như sáp đọng, tóc sáng như gương soi, mi cong như mặt trăng mới mọc, mắt long lanh như sóng mùa thu” Cổ nhân có câu rằng: “Ví với hoa là hoa biết nó, ví với ngọc là ngọc có hương”, câu ấy có thể hình dung được sắc đẹp hơn người của Mẫu
[2,tr 68] Hay trong bài văn chầu Cảnh thư đường văn có đoạn: “Xe phượng từ vâng
sắc ngọc hoàng/ Giáng sinh Lê thị dấu thiêng hương/Hây hây mặt ngọc phô nền trắng/
Rỡ rỡ môi son ánh nhị vàng"
Đó là vẻ đẹp rạng rỡ, tràn đầy sức sống, kiều diễm làm rung động lòng người Nguyễn
Công Trứ trong “Liễu Hạnh công chúa diễn âm” cũng đã viết về vẻ đẹp của bà Liễu:
“Vóc ngọc mình ngà nhan sắc phương viên/Chẳng ngờ là thần tiên xuất thế” Và “Mi cung nguyệt miệng cười hoa nở/Nhị thùy châu mặt tựa Hằng Nga/Áo hồng khuyết ngọc trâm ngà/Lưng ong tóc phượng nõ nà thêm ưa” [2, tr 471] Dung nhan ấy được miêu tả
bằng thủ pháp ước lệ tượng trưng, chỉ vài nét chấm phá “vóc ngọc mình ngà, mi cung
nguyệt miệng, lưng ong tóc phượng…” Đoàn Thị Điểm đã làm hiện lên một chân dung
mỹ nhân với mười phân vẹn mười, một vẻ đẹp mang dáng dấp người thần tiên
Công, dung, ngôn, hạnh vẹn toàn
Không chỉ có vẻ đẹp bên ngoài, Liễu Hạnh còn có vẻ đẹp về tâm hồn, phẩm chất Về tư
dung: “Thánh Mẫu Liễu Hạnh càng lớn càng xinh đẹp”, công việc thì:“Mọi việc nữ
công nữ xảo đều thành thạo, mà về tài văn thơ đàn nhạc lại cũng hơn người” [3,tr 537]
Mẫu Liễu là một người phụ nữ thảo hiền, đó là phẩm hạnh đẹp: “Về nhà chồng, nàng ăn
ở xứng đáng là một người vợ hiền dâu thảo” tuân thủ tam tòng tứ đức Từ khi lấy Đào
Lang làm một người vợ hiền, sinh con thì làm người mẹ chuẩn mực, hiếu thảo với cha
mẹ chồng Hiếu thảo là đức tính đầu tiên đòi hỏi người phụ nữ phải có Điều đó rõ nhất trong khi bà được trở lại cõi trần lần thứ hai để thăm gia đình vì nỗi nhớ khôn nguôi,
Liễu Hạnh “ôm lấy mẹ mà khóc, nói con là người bất hiếu, làm lụy đến cha mẹ; không
phải là con không muốn ở lại hầu hạ cha mẹ, nhưng vì cơ trời khôn biết, số mệnh đã định, xin cha mẹ nén lòng thương xót” Sự vương vấn trần gian của bà cho ta thấy được
sự chu đáo, tận tình đối với gia đình Hành động “ôm lấy mẹ khóc” thật cảm động, như tình cảm thiêng liêng, tình mẫu tử, sự biết ơn đối với người mẹ đã nuôi dưỡng, chăm sóc Liễu Hạnh lúc bà ở trần gian Mỗi lời nói đều thể hiện người con hiếu nghĩa Thánh Mẫu Liễu Hạnh chính là vẻ đẹp vừa khuôn phép đoan trang, vừa đằm thắm tình cảm Ngoài ra, Liễu Hạnh là người có nhân cách cao đẹp, một người có cốt cách không hề bình thường, lời lẻ mà Liễu Hạnh nói ra chứa đựng sự hiểu biết đạo lý làm người Lúc sống cũng như lúc chết, Liễu Hạnh luôn hiếu thảo nghĩ đến gia đình, luôn hiếu thảo với cha mẹ hết mực Không chỉ đối xử tốt với gia đình, Liễu Hạnh còn đồng cảm với những
Trang 4cảnh ngộ khó khăn trong xã hội và luôn giúp đỡ họ Thánh Mẫu Liễu Hạnh chính là một người phụ nữ có vẻ đẹp toàn diện
Lúc ở với Đào Lang, Liễu Hạnh là người vợ hiền “khuyên chồng tu thân tề gia, trung
thần hiếu tử, không nên say đắm hồng phấn mà quên chí thanh vân Vả lại trên có mẹ cha, dưới có con thơ sẽ trông cậy vào đâu” [2,tr 75] Liễu Hạnh không ngừng nhắc nhở
khuyên chồng: “Văn chương gắng sức đường tham cứu/Đạo học chuyên tâm lối neo
chung/Nhả ngọc phun châu tanh chiếm bảng/Vũ môn vượt ải ắt nên công” Đó chẳng
phải là cái “Chí” mà Đoàn Thị Điểm hướng tới Liễu Hạnh không chỉ là người có nghĩa
vụ “phu xướng phụ tùy” mà phải còn là một người bạn tâm giao, người tri kỷ, điểm tựa vững chắc nâng đỡ bước chân cho chồng Đào Lang
Phải chăng sự giáng trần lần hai của Liễu Hạnh là niềm an ủi, động viên các thành viên
trong gia đình Đặc biệt mối duyên tình “tái sinh” với Đào Lang tuy bịn rịn, quyến
luyến tình nghĩa vợ chồng bao năm qua Kể từ khi Liễu Hạnh không bệnh ma mất, Đào Lang vô cùng đâu khổ, không làm được một cái gì cả, không màng tới công danh học hành, ở một mình trong phòng, bỏ cả việc học hành, lúc đứng lúc ngồi, không lúc nào là không đeo nỗi u sầu Qua đó ta thấy được người phụ nữ có vai trò rất quan trọng trong gia đình, là người ảnh hưởng tới nam giới rất nhiều Thế nhưng Liễu Hạnh thuyết phục
với Đào Lang rằng: “Thiếp là tiên nữ trên thiên cung, chàng là ngôi sao ở tòa thượng đế,
duyên đôi lứa của chúng ta đều do tiền định, nhưng ân tình chưa tròn, ân ái chưa đầy, vài chục năm sau lại sẽ nối duyên cũ, chàng đừng nên quá thương tâm” Cũng như
Olga viết: “Liễu Hạnh xuất hiện như một người đàn bà hoàn toàn tự do, tự do trong mọi
khía cạnh, không vướng bận bất kì thân nhân nào” Liễu Hạnh đề nghị cuộc hôn phối
với Đào Lang sau này, những lời nói ấy chính miệng Liễu Hạnh nói ra chứ không phải
là Đào Lang Nếu nói hôn nhân giữa người và thần trong Truyền kì tân phả chủ yếu thể hiện sự phụ thuộc của nam giới vào nữ giới thì lần kết duyên của Liễu Hạnh với Đào Lang lại phản ánh sự độc lập của nữ giới đối với nam giới và vai trò chủ động đều ở Liễu Hạnh Qua đó ta thấy được Đoàn Thị Điểm phản ánh một điều ngược lại về thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến Điều này thể hiện việc đề cao nữ quyền, phụ nữ cũng có quyền lên tiếng, chủ động trước nam giới trong xã hội bấy giờ
Tài năng vượt trội
Mẫu Liễu Hạnh rất hay đọc sách, rất tinh thông về âm luật, thổi ống tiêu, gãy đàn không khác gì Tương Phi và Lộng Ngọc, nàng làm thơ rất giỏi Liễu Hạnh mang vẻ đẹp toàn năng cầm, kỳ, thi, họa Đặc biệt là lĩnh vực thi ca, là một lĩnh vực nam giới chiếm ưu thế, thiếu bóng nữ nhân, thế mà Liễu Hạnh lại có tài năng vượt trội Phải chăng đây là
sự phân thân vai trò chính hay là nguyên mẫu Đoàn Thị Điểm vào nhân vật Thánh Mẫu Liễu Hạnh, một tài nữ đương thời Thể hiện trong Truyền kì tân phả có chi tiết thách đố với Trạng Bùng Liễu Hạnh đối thơ với Phùng Khắc Khoan Nàng có đề mấy câu
thơ:“Vân tác y thường phong tác xa/Tiên du đâu xuất mộ yên hạ/Thế nhân dục thức ngô
danh tính/Nhất đại sơn nhân ngọc quỳnh hoa”
Trang 5Dịch: “Lấy mây là xiêm áo, lấy gió làm xe/Buổi sáng đi chơi vùng trời đâu xuất/Buổi chiều nga du nơi mây khói/Người đời muốn biết họ tên của ta/Ta đây là người tiên trên trời tên là Quỳnh Hoa” Đọc bài thơ này nên thì Lý Sinh nói: Xem bài thơ này khí cách không phải là người bình thường Nguyễn Công Trứ cũng ca ngợi tài văn thơ của Liễu
Hạnh như sau:“Kể từ niên đến ngoại tuần/Thi ca ngâm đọc mười phân hơn mười”
Tài năng nổi trội hơn cả là Thánh Mâu Liễu Hạnh là nhân vật nữ đầu tiên đi vào địa hạt tâm linh, đó vốn là nơi vắng bóng sự xuất hiện của nữ giới Và ở thế giới đó Liễu Hạnh
nổi bật lên tài năng sử dụng phép thuật, biến hóa khôn lường “Có khi giả làm gái đẹp
thổi ống tiêu ở dưới trăng, có khi giả làm bà già tựa gậy trúc ở bên đường; người nào dùng lời bỡn cợt tất bị tai vạ, người nào mang lễ cầu đảo tất được phúc lành” Đúng là
vẻ đẹp toàn diện, đó là chuẩn mực của một người phụ nữ theo quan điểm Nho Giáo là công, dung, ngôn, hạnh Ngoài ra bà còn có tài năng biến hóa linh hoạt thể hiện Liễu Hạnh còn đi mây về gió, hóa phép để đùa cợt với người đời, người nào mà trêu đùa tất
bị tai họa Bà rất hiển linh người nào có tâm thờ phụng thì được ban sức khỏe tài lộc, còn kẻ nào độc ác thì bị trừng phạt
Tài biến hóa còn thể hiện, Liễu Hạnh biến thành con khỉ nhe răng để trừng trị hoàng tử con vua Lê Thái Tổ; rồi hóa thành con trăn hoa lớn vắt ngang xà nhà để dọa nạt hoàng
tử và trừng trị những kẻ xấu trong thiên hạ Khi quan quân triều đình đến Liễu Hạnh dùng phép thuật đánh nhau, hạ gục tất cả, Vua và quân lính đều đấu không lại cho là yêu quái nên lập tức phá đền miếu của Liễu Hạnh, sau đó vua mời Phật Bà xuống thu phục Liễu Hạnh Tuy thất bại nhưng sức ảnh hưởng của Liễu Hạnh rất lớn Từ đó trong
dân gian bệnh dịch khắp nơi, Liễu Hạnh hiển linh ra uy: “Ta là Tiên nữ trên trời, hiển
thánh xuống trần, lũ chúng ngươi phải xin phép triều đình làm lại đền mới, ta sẽ trừ tai, cho phúc, chuyển vạ làm lành” [2,tr 87] Đến khi dân chúng lập lại đền trong núi Phố
Cát còn được vua phong là “Mã Hoàng công chúa” thì đều được báo ứng ngay khi dân
chúng đến cầu phúc, dân chúng trong dân gian tôn thờ và kính trọng bà Liễu Hạnh còn
góp sức trong việc đánh tan quân, trừ giặc cho vua và được gia phong “Chế thắng hòa
thượng đại vương” Cũng từ đó Thánh Mẫu Liễu Hạnh được tôn vinh, có sức ảnh
hưởng lớn trong dân gian
4 HÀNH TRẠNG VÀ SỐ PHẬN
Nhân vật Thánh Mẫu Liễu Hạnh ở trong “Vân Cát thần nữ” có hành trạng sinh động như hiện thực cuộc sống trần gian Bà được sinh ra đã là một quá trình rất li kỳ, mẹ của nàng có mang nàng nhưng đã quá kì sinh, tự dưng mắc bệnh nặng không ăn uống gì mà chỉ ưa hương hoa thơm Và cuối cùng nàng sinh ra cùng giấc mộng của cha là Thái Công, Ông cho rằng thần báo mộng là vị tiên nhân giáng sinh nên đặt tên con là Gíang Tiên, cái tên này bắt nguồn từ hành trạng ra đời của nàng Liễu Hạnh khi lớn lên da trắng như sáp đọng, tóc sáng như gương soi, mắt long lanh như sóng nước mùa thu, hay đọc sách, về âm luật lại càng tinh thông, thổi ống tiêu, gẩy đàn đều rất giỏi
Cuộc đời của nàng vẫn lấy chồng, sinh con, sống hạnh phúc nhưng bỗng đến tuổi 21 nàng không bệnh tật gì mà mất, làm người thân vô cùng đau buồn Là tiên nên nàng
Trang 6phải về chầu trời, nhưng tơ tình còn vướng víu với cõi trần nên ở trên Thiên Đình hay châu mày rõ lệ, các nàng tiên động lòng ái ngại nên Thượng Đế cho xuống trần một thời gian Ở đây chính là mô típ giáng trần.Về lại trần gian nàng biến hóa khôn lường, tác oai tác phúc, biến gái biến trai, nay đây mai đó, lúc bán hàng, lúc ngâm vịnh, lúc ra oai
với người này, lúc trần phạt người kia: “Mẫu từ đó linh thông biến hóa/Thường đi mây
về gió luôn luôn/Có phen biến gái hiện trai/Ai thắm thắm ít, ai phai phai nhiều”(Thánh
Mẫu ca đàn văn)
Không chỉ dừng lại ở đó, nhiều bản thần tích ghi chép còn mô tả tính cách quyết liệt của Liễu Hạnh Người nào biết đường thờ phụng thì được hưởng, vô lễ bất kính thì liệu chừng Liễu Hạnh đi qua nơi nào mà dân chúng không biết thì dịch bệnh sẽ giáng xuống,
bà tác oai tác phúc khiến triều đình không thể đứng nhìn, vua ra lệnh phá đền miếu của Mẫu Sau đó các vị thần báo mộng cho dân chúng đến xin làm bề tôi của Mẫu, khi đó
mọi sự mới an lành: “Giữa đường chính sứ người qua/Biến lên chân tính hiện ra bán
hàng/Khi buồn nương câu lan tựa ngoc/Ngụ tính tình đàn đọc say sưa/Ngụ ca vịnh phú ngâm thơ/Tập tành tiếng trúc tiếng tơ âm thầm” (Cảnh thư đường văn)
Vẻ đẹp của nàng là vẻ đẹp của một người phụ nữ mẫu mực “thiên hạ đệ nhất mẫu nghi”
Sau khi nàng làm tròn nghĩa vụ làm con, làm vợ, làm mẹ: “Dốc một lòng nữ công nữ
tắc/Việc tề gia cơ mực đảm đang/Trong ngoài cắt đặt sẵn sàng/Đạo lòng đã tỏ nhường gương lầu lầu/Trước chí sau thủy thủy chung như nhất/Vẹn mười nguyền chẳng nhặt
mổ phân/Hôm mai chuyên việc tảo tần/Tấc lòng thành kính mười phần thao ngay”
(Cảnh thư đường văn)
Mẫu Liễu Hạnh trong Truyền kì tân phả của Đoàn Thị Điểm có điểm khác với người thường là trải qua ba lần xuống trần gian Nếu trong lần giáng sinh đầu tiên, Liễu Hạnh
là một người con gái nết na hiền thục, kết hôn theo đúng mọi lễ nghi, thờ chồng nuôi con vô cùng chuẩn mực thì lần giáng trần thứ hai lại mang đầy màu sắc phóng khoáng, bất chấp lễ giáo Mẫu có tính cách tinh nghịch, pha chút lả lơi ong bướm với các văn nhân tài tử và cuối cùng gặp chàng thư sinh trong rừng, chẳng cần mai mối gì mà nên duyên Tần Tấn Đến lần giáng trần thứ ba thì càng lại ghê gớm vô pháp vô thiên, hiển linh ban phúc giáng họa bắt nhân dân thờ phụng Bà trừng trị kẻ xấu kẻ ác, giúp đỡ những người tốt, người gặp hoạn nạn Triều đình đến đốt sạch đền miếu thì phép tiên càng thêm thần diệu, gây hại dịch bệnh cho nhân dân cả vùng Cuối cùng, triều đình phải lập đền thờ, ban sắc phong tước mới yên
Ba lần xuống trần của Thánh Mẫu Liễu Hạnh có đặc điểm hoàn toàn khác nhau Lần thứ nhất hiện thân của một con người hiền lành, hiếu thảo, công dung ngôn hạnh, mang vẻ đẹp của một người phụ nữ bình thường Lần thứ hai mang Thánh Mẫu mang dáng dấp của con người phóng khoáng, bất chấp lễ giáo, tự do đi du ngoạn giúp đỡ dân lành, thách đố với các Trạng Khác với hai lần trước, lần này Thánh Mẫu xuống trần bà
“thường hiển linh ở nhiều nơi, người lành được phúc, kẻ ác thì bị tai vạ” Trải qua ba
lần xuống trần, hình ảnh Mẫu Liễu Hạnh thật sự đa diện: Lúc uy nghi dẹp giặc, lúc hiền thục văn chương, lúc nhân từ cứu người, lúc quyền phép giáng họa, lúc tinh nghịch ranh
ma, lúc đằng đằng sát khí… Chính vì thế hình ảnh của Mẫu không hề xa xôi như các vị
Trang 7thần khác mà gần gũi, đời thường hơn, con người luôn tìm đến Mẫu Liễu Hạnh đều thấy thân thuộc, cảm thấy được che chở bao dung Từ đó truyền thuyết về Mẫu Liễu Hạnh trong Truyền kì tân phả của Đoàn Thị Điểm được định hình, được lan truyền rộng rãi Quyền phép linh thiêng ấy khiến dân chúng kính ngưỡng, hành trạng của Liễu Hạnh đến đâu dân chúng cũng thờ phụng kính cẩn
5 KẾT LUẬN
Việc đi sâu phân tích vẻ đẹp của Mẫu Liễu Hạnh thì chúng tôi thấy rằng: Đây là nhân vật mang tính lịch sử, và kết thúc của nhân vật được phong thánh và trở thành đấng phù trợ có ý nghĩa đối với con người Bà mang vẻ đẹp toàn diện giúp con người ta đến với cái Chân, Thiện, Mỹ, mang lại cuộc sống bình yên mà ai cũng mong ước Qua ngòi bút tài hoa của Đoàn Thị Điểm chúng ta càng thấy được vì sao Thánh Mẫu Liễu Hạnh có ý nghĩa rất quan trọng trong tâm linh của người Việt Bà vừa xinh đẹp, tài hoa, hiếu hạnh
mà còn là người mẹ chở che, bảo vệ, mang lại sự công bằng đến với con người Ngoài ban phúc, ơn lành cho người có tâm cầu khẩn, tôn thờ thì bà còn trần phạt những kẻ xấu Điều này khẳng định lại sự trường tồn của Thánh Mẫu trong tâm thức và đời sống tâm linh của con người Việt Nam
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Lê Thị Dung (2012) Khóa Luận Tốt Nghiệp Dấu Ấn Tín Ngưỡng Trong Văn Học
Trung Đại Việt Nam Từ TK XVIII Đến Nửa Đầu Thế Kỉ XIX, ĐHSP Huế
[2] Đoàn Thị Điểm (1962) Truyền kỳ Tân Phả Ngô Lập Chi - Trần Văn Giáp dịch và
chú thích Hoàng Hữu Yên hiệu đính và giới thiệu NXB Giáo dục
[3] Nguyễn Thị Huế - Trần Thị An (1999) Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam, Tập 1
NXB Giáo dục
[4] Nguyễn Thị Hạnh (2009) Hình tượng Mẫu chúa Liễu Hạnh với đền sòng trong văn
học và đời sống tinh thần người Việt, ĐHSP Hà Nội
[5] Đặng Văn Lung (1999) Mẫu Liễu đời và đạo NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội
[6] Bùi Thị Thiên Thai (2011).“Đoàn Thị Điểm Và Truyền kỳ Tân Phả”.Tạp chí Nghiên
cứu văn học, số 1(tháng 1, 2011), Viên Văn học – Viện Khoa học Xã hội Việt Nam
[7] Bùi Đình Thảo - Nguyễn Quang Hải (1996) Hát Chầu Văn, NXB Hội Nhà văn, Hội
Văn nghệ Dân gian Việt Nam
NGUYỄN THỊ HƯƠNG GIANG
TRẦN THỊ THU HẰNG
SV lớp Văn 3C, khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm – Đại học Huế
HỒ THỊ DIỆU HIỀN
SV lớp Văn 3D, khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm – Đại học Huế