Việc điều tra thành phần loài ở rừng cát phòng hộ ven biển là việc làm cấp thiết và hết sức quan trọng. Đó là lý do chúng tôi chọn đề tài “Nghiên cứu sự đa dạng thành phần loài thực vật ở rừng cát phòng hộ ven biển xã Điền Môn - Phong Điền - Thừa Thiên Huế”. Qua đó làm cơ sở để chăm sóc, bảo vệ, phục hồi rừng phòng hộ bền vững, tận dụng tối đa nguồn thực vật bản địa.
Trang 1Kỷ yếu Hội nghị Khoa học Sinh viên năm học 2014-2015
Trường Đại học Sư phạm Huế, tháng 12/2014: tr 95-103
NGHIÊN CỨU SỰ ĐA DẠNG VỀ THÀNH PHẦN LOÀI THỰC VẬT
Ở RỪNG CÁT PHÒNG HỘ VEN BIỂN XÃ ĐIỀN MÔN - PHONG ĐIỀN
THỪA THIÊN HUẾ
TRẦN HẢI THÚY
NGUYỄN QUANG HOÀNG VŨ - NGÔ THỊ NHUNG
Khoa Sinh học
Tóm tắt: Qua điều tra về thành phần loài thực vật ở rừng cát phòng hộ ven
biển xã Điền Môn - Phong Điền - Thừa Thiên Huế bước đầu đã xác định
được 106 loài, thuộc 86 chi và 40 họ của 2 ngành là ngành Dương xỉ và
ngành Ngọc lan Trong đó Ngành Ngọc lan là đa dạng nhất chiếm 95,28%
tổng số loài khu vực nghiên cứu Phổ dạng sống của các loài được thiết lập
như sau: SB = 73,08Ph + 7,69Ch + 7,69Hm + 6,73Cr + 4,81Th
Từ khóa: Đa dạng thực vật, dạng sống, rừng cát phòng hộ ven biển, thành
phần loài
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Xã Điền Môn - huyện Phong Điền là một xã ven biển phía Bắc tỉnh Thừa Thiên Huế Dải đất cát ven biển này thường xuyên phải gánh chịu những hậu quả của thiên tai, gió bão nên rừng cát phòng hộ ven biển ở đây đóng vai trò rất quan trọng trong việc ngăn chặn gió bão, sự xâm thực, sạc lỡ bờ biển, tránh hiện tượng hoang mạc hóa hay nạn cát bay, cát nhảy Đồng thời rừng ở đây còn tạo cho vùng cát ven biển này một môi trường sinh thái trong lành, cải thiện được các điều kiện khắc nghiệt của môi trường vùng đất cát như nhiệt độ ở lớp cát mặt tăng cao trong mùa hè và sự thiếu hụt nước ngầm nghiêm trọng trong mùa khô Tuy nhiên hiện trạng rừng ở đây đang đến mức báo động do việc khai thác và sủ dụng không hợp lý Vì vậy, việc điều tra thành phần loài ở rừng cát phòng hộ ven biển là việc làm cấp thiết và hết sức quan trọng Đó là lý do chúng tôi
chọn đề tài “Nghiên cứu sự đa dạng thành phần loài thực vật ở rừng cát phòng hộ ven biển xã Điền Môn - Phong Điền - Thừa Thiên Huế” Qua đó làm cơ sở để chăm sóc,
bảo vệ, phục hồi rừng phòng hộ bền vững, tận dụng tối đa nguồn thực vật bản địa
2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nội dung
Nghiên cứu đa dạng về thành phần loài, phổ dạng sống, phân bố của các loài và giá trị
sử dụng rừng cát ven biển phòng hộ xã Điền Môn, Phong Điền, Thừa Thiên Huế
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng các phương pháp
- Phương pháp kế thừa có chọn lựa những tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu
- Phương pháp thực địa thu mẫu: [7]
Trang 2+ Xác định vị trí và lập ô tiêu chuẩn
+ Trong mỗi ô tiêu chuẩn: Thu đầy đủ mẫu (rễ, thân, lá ) để định danh tên khoa học, chụp ảnh thực vật; Quan sát, đánh giá, xác định sự phân bố, dạng sống của các loài thực vật
- Phương pháp phân tích mẫu ở phòng thí nghiệm
Xác định tên loài bằng phương pháp so sánh hình thái Các tài liệu sử dụng để định dạng là: Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam [1], Cây cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng Hộ [5], Từ điển cây thuốc của Võ Văn Chi [4], Danh lục các loài thực vật Việt Nam [2]
- Phương pháp xây dựng bảng danh lục thực vật họ, chi, loài theo Brummit (1992) [3]
- Phương pháp xác định dạng sống theo Raunkiaer (1934) [6]
3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Thành phần loài thực vật
Trong quá trình điều tra về thành phần loài ở xã Điền Môn, Phong Điền, Thừa Thiên Huế bước đầu đã xác định được 106 loài, 86 chi, 40 họ của 2 ngành thực vật là: ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) và ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta) (Bảng 1)
3.1.1 Sự phân bố các taxon thực vật ở bậc ngành
Bảng 1 Sự phân bố các loài, các chi, các họ trong các ngành
Polypodiophyta 3 7,5 4 4,65 5 4,72
Magnoliophyta 37 92,50 82 95,35 101 95,28
Biểu đồ 1 Sự phân bố họ, chi, loài giữa 2 ngành Magnoliophyta và Polypodiophyta
Trang 3Kết quả cho thấy rằng, phần lớn các taxon tập trung trong ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) chiếm ưu thế với 37 họ (chiếm 92,50%), 82 chi (chiếm 95,35%), 101 loài (chiếm 95,28%) so với tổng số họ, chi, loài của khu hệ nghiên cứu Trong đó, ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) bước đầu xác định được 3 họ (chiếm 7,50%), 4 chi (chiếm 4,65%) và 5 loài (chiếm 4,72%), điều này được thể hiện rõ ở Bảng 1 và Biểu đồ 1
3.1.2 Sự phân bố các taxon thực vật ở bậc lớp
Sự phân bố không đều nhau của các taxon không chỉ được thể hiện giữa các ngành với nhau mà còn được thể hiện giữa các lớp trong ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) Điều này còn thể hiện khi chỉ tính riêng trong ngành Ngọc lan, lớp Ngọc Lan (Magnoliopsida) chiếm ưu thế với 32 họ (chiếm 86,49%), 71 chi (chiếm 84,52%), 86 loài (chiếm 85,15%) so với 5 họ (chiếm 13,51%), 13 chi (chiếm 15,48%), 15 loài (chiếm 14,85%) của lớp Loa kèn (Bảng 2)
Bảng 2 Sự phân bố các taxon về lớp trong ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta)
Magnoliopsida 32 86,49 71 84,52 86 85,15
Liliopsida 5 13,51 13 15,48 15 14,85
Biểu đồ 2 Sự phân bố họ, chi, loài giữa 2 lớp Magnoliopsida - Liliopsida
trong ngành Ngọc Lan
Tỉ lệ lớp Ngọc Lan so với lớp Loa kèn được sử dụng để đánh giá thành phần loài của khu hệ thực vật Tỉ lệ số loài giữa lớp Ngọc lan và lớp Loa kèn ở rừng cát phòng hộ ven biển Điền Môn – Phong Điền – Thừa Thiên Huế là 5.73/1 nghĩa là cứ khoảng gần 6 loài của lớp Ngọc Lan mới có 1 loài của lớp Loa kèn Chính điều này đã chứng minh rằng khu hệ thực vật ở rừng cát phòng hộ ven biển ở đây mang tính chất nhiệt đới
Trang 4Qua đó, có thể thấy lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) chiếm ưu thế về tổng số họ, chi, loài trong ngành thực vật hạt kín và trong cả toàn hệ thực vật vùng nghiên cứu
3.1.3 Sự đa dạng của thực vật trong taxon bậc họ và bậc chi
Trong 40 họ đã xác định, có 5 họ đa dạng nhất (từ 6 loài trở lên) chỉ chiếm 12,50% tổng
số họ nhưng chiếm tới 35,85% tổng số loài Các họ đa dạng bao gồm: Myrtaceae (họ Sim) - 8 loài, Poaceae (họ Lúa) - 8 loài, Asteraceae (họ Cúc) - 7 loài, Euphorbiaceae (họ Thầu dầu) - 7 loài và Fabaceae (họ Đậu) - 7 loài Điều này được thể hiện ở bảng 3
Bảng 3 Những họ đa dạng nhất ở vùng rừng cát phòng hộ ven biển xã Điền Môn
Số lượng Tỉ lệ % Số lượng Tỉ lệ %
1 Họ Sim (Myrtaceae) 7 8,14 9 8,49
2 Họ Lúa (Poaceae) 7 8,14 8 7,54
3 Họ Cúc (Asteraceae) 7 8,14 7 6,60
4 Họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) 6 6,98 7 6,60
5 Họ Đậu (Fabaceae) 4 4,65 7 6,60
Trong tổng số 60 chi thì chi Ficus đa dạng nhất với 4 loài, các chi Syzygium (chi Trâm), Acacia (chi Keo), Litsea (chi Bời lời) mỗi chi mang 3 loài - là những chi đa dạng nhất
của khu hệ nghiên cứu 4 chi này chỉ chiếm 4,65% tổng số chi nhưng chiếm đến 12,26% tổng số loài
Bảng 4 Các chi đa dạng nhất ở vùng rừng cát phòng hộ ven biển xã Điền Môn
Qua việc đánh giá mức độ đa dạng của các taxon từ bậc ngành đến bậc chi chúng tôi nhận thấy:
- Về bậc ngành: Ngành Ngọc lan (Magnolyophyta) chiếm ưu thế nhất trong vùng nghiên cứu so với ngành Dương xỉ (Polypodiophyta)
- Về bậc lớp: Lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) chiếm ưu thế so với lớp Loa kèn (Liliopsida) và tỉ lệ giữa 2 lớp là 5,73/1, chứng tỏ hệ thực vật vùng này mang tính chất nhiệt đới rõ rệt
Trang 5- Về bậc họ: Có 5 họ đa dạng nhất là họ Sim (Myrtaceae), họ Lúa (Poaceae), họ Cúc (Asteraceae), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), họ Đậu (Fabaceae) và trong đó họ Sim (Myrtaceae) có số lượng loài nhiều nhất – 9 loài
- Về bậc chi: Có 4 chi đa dạng nhất (3-4 loài) đó là: Ficus, Syzygium, Acacia, Litsea
Ngoài ra, trong 106 loài đã xác định chúng tôi cũng ghi nhận được những cây bản địa đặc trưng chiếm phần lớn với 97 loài chiếm 91,5% đã thích nghi lâu đời với điều kiện tự
nhiên của vùng cát, có 9 loài cây được trồng và phát triển tốt như Phi lao Casuarina equisetifolia, các loài Keo chịu hạn như Keo lưỡi liềm Acacia crassicarpa, Keo tai tượng Acacia mangium, Keo lá tràm Acacia auriculiformis, Sứ Plumeria alba, Lạc tiên Passiflora foetida, Tre Bambusa sp., Xương rồng Cereus peruvianus chiếm 8,5% tổng
số loài
3.2 Sự phân bố thảm thực vật
Sự phân bố của thảm thực vật ở rừng cát phòng hộ ven biển được thể hiện ở mô hình sau (Mô hình 1)
Hình 1 Mô hình phân bố của các loài ở vùng rừng cát phòng hộ ven biển xã Điền Môn
Chú thích: CAVB : Cát ẩm ven bờ CCDĐ: Cồn cát di động VCT: Vùng chuyển tiếp
Theo chiều từ biển vào đất liền
- Vùng cát ẩm ven bờ : Đây là vùng chịu ảnh hưởng lớn của biển Sóng biển và triều
cường tác động liên tục phá vỡ cấu trúc của đất dẫn đến tình trạng sạt lở, đồng thời đây cũng là vùng đất cát nhiễm mặn Thành phần loài ở khu vực này đơn giản và phân tán
chủ yếu là Rau muống biển Ipomoea pes- caprae , Cỏ lông chông Spinifex littoreus
- Cồn cát, đụn cát trắng vàng: Vùng tiếp giáp của vùng cát ẩm ven bờ là những đụn cát mới hình thành và dễ di động Thành phần loài ở vùng này vẫn là Rau muống biển Ipomea pes - caprae và một số loài trảng cây bụi tiên phong như Dứa dại Pandanus odorifer, Mua thường Melastoma normale, Thanh hao Baeckea frutescens
- Vùng cát cố định: Đi sâu vào là những cồn cát cố định cao với những dãy rừng Phi lao Casuarina equisetifolia phòng hộ, chắn cát Tiếp theo là những rừng trồng Keo lưỡi liềm Acacia crassicarpa, Keo tai tượng Acacia mangium, Keo lá tràm Acacia
Trang 6auriculiformis xen kẽ cùng với đó là những trảng cây bụi gỗ nhỏ như Mà ca Rapanea linearis, Xương rồng trụ Cereus peruvianus, Cách hoa Cleistanthus sumatranus, Gai xanh Severinia monophylla, Dứa dại Pandanus odorifer, Dứa gỗ Pandanus odoratissimus, Sim Rhodomyrtus tomentosa, Tràm Melaleuca cajuputi, Thanh hao Baeckea frutescens, Chạc chìu Tetracera spp., Mua Melastoma spp Cùng với các cỏ khô như Cỏ gà Cynodon dactylon, Cỏ quăn xanh Fimbristylis sericea
- Rừng tự nhiên vùng cát: Tồn tại trên rú cát cộng với những dạng địa mạo đa dạng như suối, rạch, mạch nước ngầm tương ứng với đó là sự đa dạng thành phần như: Quần xã
thực vật với cây ưu thế Trâm mốc Syzygium cumini- xen kẽ là các loài như Chạc chìu Tetracera sp., Xương rồng trụ Cereus peruvianus, Mù u Calophyllum inophyllum, Vối Cleistocalyx operculatus, Sứ Plumeria alba, Thanh hao Baeckea frutescens Quần xã thực vật với cây ưu thế là Mà ca Rapanea linearis - kiểu quần xã này thường gặp ở khu
vực rú khô hạn, đồi cát cao, quanh năm khô với một số loài mọc xen với Mà ca là Màng
tang Litsea cubeba, Bời lời nhớt Litsea glutinosa, Gai xanh Severinia monophylla, Cách hoa Cleistanthus sumatranus, Cỏ gừng Panicum repens Quần xã thực vật với cây ưu thế là cây Bá bệnh Eurycoma longifolia - xen kẽ là các loài như Sầm Memecylon edule, Sầm tán Memecylon umbellatum, Nhàu tán Morinda umbellata, Xương rồng Cereus peruvianus, Gai xanh Severinia monophylla Quần xã thực vật với cây ưu thế là cây Dẻ Desmos dinhensis thường gặp kiểu quần xã này ở bìa rú với một số loài mọc xen
là, Bù dẻ trườn Uvaria microcarpa, Sim Rhodomyrtus tomentosa, Ba chạc Eudolia lepta, Sống rắn sừng nhỏ Albzia corniculata, Ngái khỉ Ficus hirta var roxburgii Quần
xã thực vật với cây ưu thế là Dây choại Stenochlaena palustris - kiểu quần xã này
thường gặp quanh các mương rạch, mạch nước ngầm với các loài mọc xen kẽ với Dây
choại như Trà cọc rào Acalypha siamensis, Bứa Garcinia conchinchinensis, Chạc chìu Tetracera sp., Cỏ xước Achyranthes aspera
- Xen kẽ giữa rừng trồng Keo và rừng tự nhiên là một vùng chuyển tiếp với những cây
bụi nhỏ, cây gỗ nhỏ như Bù dẻ trườn Uvaria microcarpa, Mua Melastoma sp,
3.3 Phổ dạng sống của các loài:
Áp dụng có biến đổi hệ thống phân loại dạng sống của Raunkiaer (1934), thu được kết quả sau (Bảng 5)
Bảng 5 Phân bố loài theo nhóm dạng sống ở khu hệ nghiên cứu
Ghi chú: Ph - Phanerophytes (Nhóm cây chồi trên), Ch - Chamaephytes (Nhóm cây chồi sát đất), Hm - Hemicryptophytes (Nhóm chồi nửa ẩn), Cr - Cryptophytes (Nhóm chồi ẩn), Th - Therophytes (Nhóm cây một năm)
Trang 7Biểu đồ 4 Sự phân bố phổ dạng sống của các loài thực vật ở vùng nghiên cứu
Dạng sống nói lên bản chất sinh thái của hệ thực vật cũng như các hệ sinh thái Theo Raunkiaer (1934), 106 loài được xác định khu hệ thực vật nghiên cứu được chia thành
12 kiểu dạng sống thuộc 5 nhóm (Bảng 3, bảng 4) Như vậy, trong 106 loài xác định, nhóm cây chồi trên (Ph) chiếm ưu thế với tỷ lệ 73,08%, tiếp đến là nhóm cây chồi sát đất (Ch) và chồi nửa ẩn (Hm) với cùng 8 loài tương ứng 7,69%, nhóm chồi ẩn (Cr) chiếm 6,73% và thấp nhất là nhóm cây một năm (Th) với tỷ lệ 4,81% Nhóm cây chồi trên chiếm tỷ lệ cao nhất, ưu thế hẳn với nhóm còn lại, điều này hoàn toàn hợp lý theo nhận định của Raunkiaer về phổ dạng sống ở vùng nhiệt đới là nhóm cây chồi trên luôn chiếm ưu thế
Từ kết quả nghiên cứu ở bảng 3, lập được phổ dạng sống (Spectrum of Biology) SB như sau:
SB = 73,08Ph + 7,69Ch + 7,69Hm + 6,73Cr + 4,81Th Phân tích kỹ hơn về nhóm cây chồi trên (Ph), chúng tôi thu được kết quả như sau:
Bảng 6 Thống kê các kiểu dạng sống của nhóm cây chồi trên (Ph)
Dạng sống của nhóm cây chồi trên (Phanerophytes) Ký hiệu Ph Số loài Tỷ lệ%
Cây chồi trên to (Megaphanerophytes) Mg 2 2,56
Cây chồi trên vừa (Mesophanerophytes) Me 10 12,83
Cây chồi trên lùn (Microphanerophytes) Mi 27 34,62
Cây chồi trên nhỏ (Nanophanrophytes) Na 24 30,77
Cây sống bám (Epiphytes) Ep 1 1,28
Cây dây leo sống lâu năm (Lianophanerophytes) Lp 10 12,83 Cây kí sinh, bán kí sinh trên cây gỗ
(Parasit-hemiparasit phanerophytes) Pp 2 2,56 Cây mọng nước (Succulentes) Suc 2 2,56
Trang 8Biểu đồ 5 Sự phân bố dạng sống của nhóm cây chồi trên (Ph)
Trong nhóm cây chồi trên (Ph) kiểu dạng sống cây chồi trên lùn (Mi - chiều cao từ 2-8m) chiếm tỷ lệ cao nhất với 34,62% Ph - chủ yếu là các loài thuộc các họ Lauraceae, Moraceae Kiểu dạng sống cây chồi trên nhỏ (Na - chiều cao dưới 2m) chiếm 30,77% - các loài này chủ yếu thuộc các họ Rubiaceae, Myrtaceae, Melastomaceae Kiểu dạng sống cây chồi trên vừa (Me - chiều cao từ 8-25m) chiếm 12,83% - phân bố ở các họ Casuarinaceae, Dilleniaceae hay chi Acacia Kiểu dạng sống cây leo (Lp) cũng chiếm 12,83% Kiểu dạng sống cây chồi trên lớn (Mg - chiều cao trên 25m) chiếm 2,56% Các kiểu dạng sống còn lại như cây mọng nước (Suc), cây kí sinh hay bán kí sinh (Pp), cây sống bám (Ep) chiếm tỉ lệ rất nhỏ lần lượt là 2,56%, 2,56% và 1,28% trong tổng số loài thuộc nhóm chồi trên (Ph)
4 KẾT LUẬN
Qua bước đầu điều tra hệ thực vật vùng cát ven biển Điền Môn - Phong Điền đã xác định được 106 loài, thuộc 86 chi và 40 họ thuộc 2 ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta) và Dương xỉ (Polypodiophyta), trong đó Ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta) chiếm ưu thế 95,28% tổng số loài, ngành Dương xỉ (Polypodyophyta) chiếm 4,72% Tỉ lệ thành phần loài giữa hai lớp: Ngọc lan (Magnoliopsida) và Loa kèn (Liliopsida) là 5,73/1, nên khu
hệ thực vật ở đây mang tính chất nhiệt đới rõ rệt Đồng thời cũng xác định được sự phân
bố của các loài thực vật theo chiều từ biển vào đất liền
Các họ đa dạng nhất là Myrtaceae, Poaceae, Asteraceae, Euphorbiaceae, Fabaceae Các chi đa dạng nhất là Ficus, Syzygium, Acacia, Litsea
Xác đinh được phổ dạng sống của các loài thực vật theo Raunkiaer của rừng cát phòng
hộ ven biển xã Điền Môn -Phong Điền như sau
SB = 73,08Ph + 7,69Ch + 7,69Hm + 6,73Cr + 4,81Th
Như vậy có thể đúc kết lại rằng, hệ thực vật ở rừng cát phòng hộ ven biển ở đây là khá
đa dạng về thành phần loài và dạng sống
Trang 9TÀI LIỆU THAM KHẢO
kín ở Việt Nam, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội
Nam, Tập I-III, NXB Nông nghiệp, Hà Nội
Gardens, Kew
Nội
Chí Minh
Nông nghiệp, Hà Nội
TRẦN HẢI THÚY
SV lớp Sinh 3, khoa Sinh học, trường Đại học Sư phạm – Đại học Huế
NGUYỄN QUANG HOÀNG VŨ
SV lớp Sinh 3, khoa Sinh học, trường Đại học Sư phạm – Đại học Huế
NGÔ THỊ NHUNG
SV lớp Sinh 3, khoa Sinh học, trường Đại học Sư phạm – Đại học Huế