Đề tài tìm hiểu các đặc điểm sinh trưởng của dế mèn (Gryllus assimilis B.) trong điều kiện nuôi nhốt tại hộ gia đình. Để làm rõ vấn đề, chúng tôi tiến hành nghiên cứu về các đặc điểm hình thái và tập tính của dế mèn.
Trang 1Kỷ yếu Hội nghị Khoa học Sinh viên năm học 2014-2015
Trường Đại học Sư phạm Huế, tháng 12/2014: tr 76-82
LÊ PHƯƠNG NHẬT - PHẠM THỊ LÀNH
Khoa Sinh học
Tóm tắt: Đề tài tìm hiểu các đặc điểm sinh trưởng của dế mèn (Gryllus
assimilis B.) trong điều kiện nuôi nhốt tại hộ gia đình Để làm rõ vấn đề,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu về các đặc điểm hình thái và tập tính của dế
mèn Sau khi khảo sát và tiến hành nuôi, chúng tôi đã thu được những kết
quả sau: từ lúc dế mới nở đến lúc trưởng thành, ấu trùng dế trải qua 7 lần lột
xác và 1 một lần vũ hóa để trở thành thành trùng trong khoảng 72,59 ngày
(dế đực) và 65,72 ngày (dế cái), trọng lượng trung bình tăng khoảng 10,0246
lần, kích thước trung bình tăng khoảng 9,77 lần chiều dài và 11,15 lần chiều
rộng Tỉ lệ sống sót của dế khá cao, chiếm khoảng 30 – 37% số cá thể đem
nuôi ban đầu
1 MỞ ĐẦU
Từ lâu, ở nhiều nước trên thế giới đã sử dụng nhiều loài côn trùng làm thức ăn Đây là nguồn thực phẩm có triển vọng và có ý nghĩa trong tương lai
Hiện nay ở Việt Nam, nghề nuôi côn trùng nói chung và nghề nuôi dế nói riêng rất phổ biến, đem lại thu nhập khá cao cho người dân Trong cuốn “Nghề nuôi dế”, Nguyễn Lân Hùng nhận định nuôi dế là một trong 100 nghề chăn nuôi đem lại hiệu quả kinh tế cao cho bà con nông dân
Tuy nhiên, thực trạng nuôi dế hiện nay chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, ít dựa trên cơ sở khoa học nên khó có thể thành công Người dân còn có quá ít tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về dế để tham khảo
Nhằm góp phần giúp bổ sung thêm kiến thức khoa học về con dế để việc nuôi dế có hiệu quả hơn, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu các đặc điểm sinh
trưởng dế mèn (Gryllus assimilis B.) trong điều kiện nuôi nhốt tại quy mô hộ gia đình”
2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Ðối tượng nghiên cứu
Ðối tượng nghiên cứu là dế mèn đen thông thường hay dế than (Gryllus assimilis B hay Gryllus bimaculatus De Geer)
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu
Thu thập tài liệu liên quan từ những bài báo khoa học, các trang web sinh học và 1 số ebook liên quan đề tài nghiên cứu
Trang 22.2.2 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Từ những tài liệu đã thu thập, tiến hành tìm hiểu, phân tích và tổng hợp nội dung liên quan đến đề tài
2.2.3 Phương pháp chuyên gia
Trong quá trình nghiên cứu có sự góp ý, điều chỉnh từ thầy giáo hướng dẫn, các thầy cô trong khoa Sinh học, trường Đại học Sư phạm Huế và các anh, chị ở các Trang trại dế
2.2.4 Phương pháp khảo sát đại trà
Tiến hành khảo sát các mô hình nuôi dế ở các tỉnh, Quảng Nam, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế, Nghệ An, Hà Tĩnh và thành phố Đà Nẵng…
Sử dụng các phương pháp thường dùng trong nghiên cứu chăn nuôi
2.2.5 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
Nghiên cứu tiến hành trên dế mèn Gryllus assimilis B hay Gryllus bimaculatus De
Geer) giai đoạn ấu trùng và thành trùng
2.2.6 Phương pháp xử lí số liệu Sau khi thực hành, tiến hành xử lí số liệu thu được
trên Excel 2007
3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Khảo sát đặc điểm hình thái của dế mèn qua các giai đoạn phát triển trong điều kiện nuôi nhốt
Dế mèn giống mua từ Trại dế về, đem nuôi trong các thùng, chậu nhựa Hàng ngày kiểm tra, quan sát, mô tả hình dạng, màu sắc, đo kích thước chiều dài, chiều rộng, cân trọng lượng của 30 cá thể dế (n=30) ngẫu nhiên qua từng tuổi của giai đoạn ấu trùng, thành trùng
Từ số liệu thu được của từng lứa tuổi, ta xử lí kết quả trên Excel 2007
Bảng 1 Kết quả khảo sát đặc điểm hình thái của dế mèn qua các giai đoạn phát triển
trong điều kiện nuôi nhốt
Giai đoạn phát triển Trọng lượng (mg) Kích thước thân (mm)
Chiều dài Chiều rộng
Ấu trùng
(Dế non)
Trang 3Theo như kết quả nghiên cứu thì vòng đời dế mèn phải trải qua tổng cộng 8 lần lột xác [ấu trùng (dế non) 7 lần lột xác và 1 một lần vũ hóa để trở thành thành trùng (dế trưởng thành)]
Từ lúc mới nở đến lúc trưởng thành, có sự sai khác rất lớn về kích thước và trọng lượng
cơ thể dế: trọng lượng cơ thể trung bình tăng khoảng 10.246 lần, kích thước cơ thể trung bình tăng khoảng 9,77 lần chiều dài và 11,15 lần chiều rộng
3.1.1 Giai đoạn ấu trùng
a Về hình thái
Ấu trùng tuổi 1 cơ bản cũng giống như giai đoạn thành trùng song chưa xuất hiện cánh, đến tuổi 7 – 8 mới xuất hiện mầm cánh Ở giai đoạn này màu sắc cơ thể càng đậm sau mỗi lần lột xác
b Về kích thước
Ở giai đoạn này, từ ấu trùng tuổi 1 đến ấu trùng tuổi 8, kích thước cơ thể trung bình tăng khoảng 9,77 lần chiều dài và 13,79 lần chiều rộng; đặc biệt có sự sai khác ở 2 giai đoạn, tuổi 1 – 4 và tuổi 5 – 8, cụ thể như sau:
- Ấu trùng các tuổi 1, 2, 3, 4 có kích thước cơ thể bé: 2,853 mm x 0,833 mm ở tuổi 1; 3,680 mm x 1,263 mm ở tuổi 2; 8,227 mm x 2,877 mm ở tuổi 3; 14,670 mm x 4,073 mm
ở tuổi 4 Sự khác biệt về kích thước cơ thể giữa các độ tuổi này khá lớn, tuổi 4 gấp tuổi 3: 1,78 x 1,42 lần; tuổi 3 gấp tuổi 2: 2,24 x 2,28 lần; tuổi 2 gấp tuổi 1: 1.29 x 1,52 lần
- Ấu trùng tuổi 5, 6, 7, 8 kích thước cơ thể tăng nhanh sau mỗi lần lột xác: 17,763 mm x 5,900 mm ở tuổi 5; 21,090 mm x 6,777 mm ở tuổi 6; 22,777 mm x 7,780 mm ở tuổi 7; 27,893 mm x 9,290 mm ở tuổi 8 Kích thước cơ thể dế có sự sai khác không quá lớn ở các lứa tuổi, tuổi 8 gấp tuổi 7: 1,23 x 1,19 lần ; tuổi 7 gấp tuổi 6: 1,08 x 1,15 lần ; tuổi 6 gấp tuổi 5: 1,19 x 1,15 lần, tuổi 5 gấp tuổi 4: 1,21 x 1,44 lần
c Về trọng lượng
Trọng lượng cơ thể dế có sự khác biệt ở 2 giai đoạn: trọng lượng cơ thể tăng nhanh tuổi
1 - 4, tăng chậm ở tuổi 5 -8
Từ ấu trùng tuổi 1 đến tuổi 2 trọng lượng cơ thể trung bình tăng khoảng 3,04 lần; từ tuổi
2 đến tuổi 3 tăng khoảng 10,62 lần; từ tuổi 3 đến tuổi 4 tăng khoảng 6,63 lần; từ tuổi 4 đến tuổi 5 tăng khoảng 4,87 lần; từ tuổi 5 đến tuổi 6 tăng khoảng 3,23 lần; từ tuổi 6 đến tuổi 7 tăng khoảng 1,45 lần; từ tuổi 7 đến tuổi 8 tăng 1,41 lần
Tuổi dế càng cao, thì sự sai khác trọng lượng sau mỗi lần lột xác càng giảm, và sự sai khác này giảm dần đều
Sở dĩ có sự sai khác về trọng lượng và kích thước ở 2 giai đoạn là vì ở giai đoạn đầu, dế cần tích lũy nhiều dinh dưỡng để hoàn thiện các hệ cơ quan sau mỗi lần lột xác nên trọng lượng, kích thước tăng nhanh Càng về sau, các cơ quan của dế dần hoàn thiện, không có sự sai khác nhiều về hình thái nên trọng lượng sau mỗi lần lột xác không có sự sai khác lớn
Trang 43.1.2 Giai đoạn thành trùng
Về hình thái, giai đoạn này dế đã hoàn thiện các cơ quan, sau vũ hóa 3-5 ngày dế đã có khả năng sinh sản
Thành trùng có kích thước trung bình 29,353 mm x 11,487 mm, trọng lượng trung bình 799,237 mg
Sự sai khác của thành trùng và ấu trùng tuổi 8 là không đáng kể: trọng lượng trung bình tăng khoảng 1,61 lần; kích thước cơ thể tăng khoảng 1,05 lần chiều dài và 1,23 chiều rộng
Sự tăng trưởng kích thước thân chỉ diễn ra ở giai đoạn ấu trùng, sau khi vũ hóa, cá thể đạt được kích thước tối đa Còn trọng lượng cơ thể thì tăng nhẹ trước giao phối, giảm khá đáng kể sau khi giao phối, đặc biệt con cái giảm nhanh khi đẻ trứng
3.2 Khảo sát thời gian sinh trưởng của dế mèn qua các giai đoạn phát triển trong điều kiện nuôi nhốt
Dế mèn giống mua từ Trại dế về, đem nuôi trong các thùng, chậu nhựa Hàng ngày kiểm tra, quan sát, theo dõi, ghi nhận lại thởi điểm các lần lột xác, số lần lột xác, thời gian phát triển từng tuổi ấu trùng của 15 cá thể dế (n=15) ngẫu nhiên qua từng tuổi của giai đoạn ấu trùng, thành trùng
Kết quả sau khi đã được xử lí, được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 2 Kết quả khảo sát thời gian sinh trưởng của dế mèn qua các giai đoạn phát triển
trong điều kiện nuôi nhốt
Giai đoạn phát triển Thời gian sinh trưởng (ngày)
Ấu trùng
(Dế non)
Thành trùng
(Dế trưởng thành)
Thời gian sinh trưởng của các giai đoạn ấu trùng là 40,39 ngày, cụ thể như sau: 3,73 ngày đối với ấu trùng tuổi 1; 4,4 ngày ở tuổi 2; 4,67 ngày ở tuổi 3; 4,8 ngày ở tuổi 4; 5,07 ngày ở tuổi 5; 5,46 ngày ở tuổi 6; 6,4 ngày ở tuổi 7; 6,4 ngày ở tuổi 8
Ở giai đoạn thành trùng, thời gian sinh trưởng của dế cái là 25,33 ngày; của dế đực là 32,2 ngày Thời gian sinh trưởng ở giai đoạn sau khi nở của dế là 72,59 ngày đối với dế đực và 65,72 đối với dế cái Sở dĩ có sự sai khác này là do sau khi đẻ trứng, trọng lượng
cơ thể dế giảm nhanh chóng, không thể bù đắp được (trong thời gian đẻ dế rất ít ăn) dẫn đến kiệt sức mà chết
Trang 5Thời gian sinh trưởng của dế tăng dần qua các lứa tuổi, điều này là do ở tuổi càng cao,
cơ thể dế càng hoàn thiện thì thời gian hồi phục và tích lũy năng lượng cho lần lột xác
kế tiếp càng dài
3.3 Khảo sát tỷ lệ sống sót của dế mèn qua các giai đoạn phát triển trong điều kiện nuôi nhốt
Ghi chép số liệu ban đầu về số lượng dế nuôi qua các đợt mua giống (N=50, 100, 150) trong quá trình thí nghiệm Sau khi dế mèn thành trùng, kiểm tra, ghi chép kết quả và xử
lý thống kê các dữ liệu thu nhận được rồi rút ra nhận xét
Bảng 3 Kết quả khảo sát số cá thể sống sót của dế mèn qua các giai đoạn phát triển
trong điều kiện nuôi nhốt
Tuổi 1 Tuổi 2 Tuổi 3 Tuổi 4 Tuổi 5 Tuổi 6 Tuổi 7 Dế đực Dế cái
Bảng 4 Kết quả khảo sát tỷ lệ sống sót (%) của dế mèn qua các giai đoạn phát triển
trong điều kiện nuôi nhốt
Tuổi 1 Tuổi 2 Tuổi 3 Tuổi 4 Tuổi 5 Tuổi 6 Tuổi 7 Dế đực Dế cái
Trong 3 đợt nuôi tỉ lệ sống sót của dế khá cao, chiếm khoảng 30 – 37% số cá thể đem nuôi ban đầu Số lượng cá thể đực sống sót ở mỗi đợt khoảng 37,5 – 42,5% thấp hơn rất nhiều so với cá thể cái khoảng 57,8 – 62,5% (37,5% so với 62,5%; 40,5% so với 59,5%; 42,2% so với 57,8%) Điều này có thể giải thích là do dế đực rất hung hăng, hay xảy ra
“đánh nhau” gây gãy, rụng càng, râu, thậm chí là chết Con cái “hiền” hơn, ít xảy ra
“đánh nhau” nên ít bị tổn thương
Kết quả cũng cho thấy tỉ lệ sống sót giảm nhanh từ tuổi 1 đến tuổi 5, lần lượt là 46 – 41 – 45,3% cá thể đem nuôi ban đầu Từ tuổi 5 đến khi thành trùng, tỉ lệ này giảm xuống còn
22 – 22 – 24,7% Có thể giải thích kết quả này là do ở giai đoạn ấu trùng dế từ tuổi 1 đến tuổi 5, cá thể dế còn yếu, chậm chạp, khả năng thích nghi và chống chọi lại điều kiện bất lợi kém nên dế dễ chết Ở các tuổi sau, khả năng này tăng lên, dế ít chết hơn
3.4 Khảo sát ảnh hưởng của mật độ nuôi đến tỷ lệ sống sót của dế mèn qua các giai đoạn phát triển trong điều kiện nuôi nhốt
Mua ấu trùng dế tuổi 1 ở các trang trại dế, nuôi trong thùng nhựa 45cm x 35cm x 35cm với số lượng khác nhau: N=20, N=40, N=60, N=80 Nuôi trong điều kiện thích hợp đến khi thành trùng, ghi nhận số lượng dế vũ hoá thành trùng
Trang 6Ghi nhận kết quả và xử lý thống kê các dữ liệu thu nhận được để kết luận mật độ nuôi hợp lý cho quy trình
Bảng 5 Kết quả khảo sát ảnh hưởng của mật độ nuôi đến tỷ lệ sống sót của dế mèn qua các giai
đoạn phát triển trong điều kiện nuôi nhốt
Tuổi 1 Tuổi 2 Tuổi 3 Tuổi 4 Tuổi 5 Tuổi 6 Tuổi 7 Dế đực Dế cái
Tỉ lệ sống sót của dế mèn trong các mật độ nuôi khác nhau vào khoảng 25 – 36,7%, trong đó ở 2 mật độ 60 và 80 cá thể tỉ lệ sống sót khá cao, lần lượt là 36,7% và 35% Ở mật độ 20 và 100 cá thể dế, tỉ lệ sống sót rất thấp, lần lượt là 25% và 30% Ở mật độ 40
cá thể trong thùng nhựa 45cm x 35cm x 35cm, tỉ lệ sống sót khá thấp, chiếm 32,5% Như vậy, có thể khẳng định mật độ thích hợp để nuôi dế trong thùng nhựa 45cm x 35cm
x 35cm là 60 – 80 cá thể dế Không nên nuôi ở mật độ quá thấp (20 cá thể) hay quá cao (100 cá thể) vì có tỉ lệ sống sót rất thấp (25% và 30%)
Kết quả cũng cho thấy rằng, tỉ lệ sống sót đến giai đoạn thành trùng của cá thể đực (38,5 – 43,3%) thấp hơn tỉ lệ sống sót đến giai đoạn thành trùng của cá thể cái (56,7 – 61,5%), phù hợp với kết quả của thí nghiệm khảo sát tỷ lệ sống sót của dế mèn qua các giai đoạn
phát triển trong điều kiện nuôi nhốt
4 KẾT LUẬN
Từ lúc dế mới nở đến lúc trưởng thành, có sự sai khác rất lớn về kích thước và trọng lượng cơ thể: trọng lượng cơ thể trung bình tăng khoảng 10.246 lần, kích thước cơ thể
trung bình tăng khoảng 9,77 lần chiều dài và 11,15 lần chiều rộng
Từ ấu trùng tuổi 1 đến ấu trùng tuổi 8, kích thước cơ thể trung bình tăng khoảng 9,77 lần chiều dài và 13,79 lần chiều rộng; trọng lượng cơ thể dế tăng đột biến tuổi 1 - 4, tăng chậm ở tuổi 5 -8 Từ ấu trùng tuổi 8 đến thành trùng: trọng lượng trung bình tăng khoảng 1,61 lần; kích thước cơ thể tăng khoảng 1,05 lần chiều dài và 1,23 chiều rộng Vòng đời dế mèn Gryllus phải trải qua tổng cộng 8 lần lột xác, ấu trùng (dế non) 7 lần lột xác và 1 một lần vũ hóa để trở thành thành trùng (dế trưởng thành) Thời gian sinh trưởng ở giai đoạn sau khi nở của dế có sự sai khác giữa dế đực và dế cái, đó là 72,59 ngày đối với dế đực và 65,72 đối với dế cái Thời gian sinh trưởng của các giai đoạn ấu trùng là 40,39 ngày, thời gian sinh trưởng ở giai đoạn thành trùng của dế cái là 25,33 ngày; của dế đực là 32,2 ngày
Tỉ lệ sống sót của dế khá cao, chiếm khoảng 30 – 37% số cá thể đem nuôi ban đầu Số lượng cá thể đực và cái sống sót ở mỗi đợt khác nhau, chiếm khoảng 37,5 – 42,5% và
Trang 757,8 – 62,5% số cá thể thành trùng Tỉ lệ sống sót giảm mạnh từ tuổi 1 đến tuổi 5, ít biến đổi ở tuổi 5 đến khi thành trùng
Mật độ thích hợp để nuôi ấu trùng dế tuổi 1 trong thùng nhựa 45cm x 35cm x 35cm là 60 – 80 cá thể dế Không nên nuôi ở mật độ quá thấp (20 cá thể) hay quá cao (100 cá thể)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Nguyễn Lân Hùng, Vũ Bá Sơn, Lê Thanh Tùng, Nguyễn Văn Khang (2009) Nghề
nuôi dế, NXB Nông Nghiệp
[2] Nguyễn Văn Thuận, Lê Trọng Sơn (2006) Giáo trình Động vật học không xương
sống, NXB Đại học Huế
[3] Phạm Bình Quyền (2007) Sinh thái học côn trùng, NXB Giáo dục
[4] Từ Văn Dững, Nguyễn Văn Huỳnh (2009) Khảo sát một số đặc điểm về tập tính sinh
sống, khả năng sinh sản, phát triển và chu kỳ sinh trưởng của dế than Gryllus bimaculatus De Geer, Trường Đại học Cần Thơ
[5] Việt Chương, Phúc Quyên (2010) Phương pháp nuôi dế, NXB Mỹ thuật
[6] Trương Văn Trí (2011) Nghiên cứu đặc điểm sinh học của Dế than (Gryllus
bimaculatus De Geer) trong điều kiện nuôi, Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học
Quốc gia TP Hồ Chí Minh
[7] http://thegioicontrung.info/?thamso=chitiet_tintuc&id=230#ixzz3HLZFMlio
(21/10/2014)
[8]
http://www.agritrade.com.vn/(S(wi3rm5mmgnf52f55fyviahzw))/UploadFiles/Nghe-nuoi-de.pdf (22/10/2014)
[9] http://tailieuso.udn.vn/bitstream/TTHL_125/4988/2/Tomtat.pdf (25/10/2014)
[10]
http://translate.google.com.vn/translate?hl=vi- VN&langpair=en%7Cvi&u=http://insects.about.com/od/insectfolklore/a/crickets-temperature.htm (29/10/2014)
LÊ PHƯƠNG NHẬT
PHẠM THỊ LÀNH
SV lớp Sinh 3, khoa Sinh học, trường Đại học Sư phạm – Đại học Huế