1. Trang chủ
  2. » Ngoại Ngữ

Giảng dạy kỹ năng viết học thuật trong tiếng Anh thông qua tăng cường sự tự chủ của người học

20 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 5,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong khuôn khổ bài nghiên cứu này, tác giả mong muốn chia sẻ một số biện pháp, thông qua đó giảng viên tăng cường tính tự chủ của người học, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy kỹ năng viết luận Tiếng Anh tại Cơ sở II trường Đại học Ngoại thương.

Trang 1

GIẢNG DẠY KỸ NĂNG VIẾT HỌC THUẬT TRONG TIẾNG ANH THÔNG QUA TĂNG CƯỜNG SỰ TỰ CHỦ CỦA NGƯỜI HỌC TEACHING ACADEMIC WRITING SKILL IN ENGLISH THROUGH THE

PROMOTION OF STUDENT AUTONOMY

ThS Nguyễn Thị Hải Thúy – Bộ môn Tiếng Anh

TÓM TẮT BÀI VIẾT

Tính tự chủ của người học và sự cần thiết của việc nâng cao tính tự chủ của người học không phải là một vấn đề mới lạ trong giáo dục Hiện nay, ngành giáo dục Việt Nam nói chung, các trường đại học nói riêng đang tích cực triển khai các mô hình và phương pháp giảng dạy, qua đó giúp cho người học phát triển thói quen tự chủ của bản thân trong học tập Tuy nhiên, khi bàn về phương pháp và kinh nghiệm trong việc xây dựng tính tự chủ cho người học trong những môn học hoặc kỹ năng

cụ thể, vẫn chưa có nhiều nghiên cứu đề cập vấn đề này một cách toàn diện Trong khuôn khổ bài nghiên cứu này, tác giả mong muốn chia sẻ một số biện pháp, thông qua đó giảng viên tăng cường tính tự chủ của người học, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy kỹ năng viết luận Tiếng Anh tại Cơ sở II trường Đại học Ngoại thương

Abstract

Student Autonomy and the necessity in promoting Student Autonomy is one of the familiar discussion topics in education Nowadays, the education in general and universities in Vietnam in particular, are integrating different teaching and learning methodologies and models that facilitate learners in developing their autonomy for studying However, there has been little comprehensive research published regarding the enhancement of Student Autonomy in specific subjects, modules or skills This research is targeted at analyzing the multiple factors that contribute to the enhancement of Student Autonomy laying ground for the improved teaching quality

in Academic Writing at Foreign Trade University, Ho Chi Minh City Campus

Key words: Writing skills, Academic Writing, Student Autonomy

Trang 2

1 Giới thiệu

1.1 Đặt vấn đề

Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đặt ra yêu cầu và thử thách cao hơn cho thị trường lao động Việc cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng cao cho thị trường lao động Việt Nam là một yêu cầu quan trọng đặt ra cho công tác giáo dục và đào tạo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã xác

định “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện

đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản

lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng lập nghiệp” Nghị quyết nhấn mạnh

yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục và đào tạo, nhưng trước hết:

“Chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn

diện năng lực và phẩm chất người học; học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn” Đồng thời, đòi hỏi: “Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội…”

Để đẩy mạnh việc giảng dạy định hướng theo triết lý giáo dục Life-long learning (Học cả đời), một trong những nhân tố then chốt giảng viên cần phát huy ở người học chính là tính tự chủ trong học tập Người học tự chủ có thể tự lập ra mục tiêu, lựa chọn nội dung và phương pháp học tập, chủ động giám sát và đánh giá quá trình học tập; từ đó, người học tự chủ có tiềm năng học hỏi nhiều hơn so với người học sử dụng phương pháp tiếp cận thụ động Nhân tố tự chủ được phát huy có vai trò rất lớn, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và phát triển, hoàn thiện nhân cách của người học

vì sự tác động bắt đầu từ những biến đổi nội tại bên trong người học (năng lực tư duy, động cơ, thái độ, trách nhiệm, phương pháp học tập) dẫn đến khai thác hiệu quả những phẩm chất tâm lý, nâng cao tính tích cực, chủ động và sáng tạo Việc giảng dạy trên

cơ sở nâng cao tính tự chủ của người học, giúp người học chủ động xây dựng các

Trang 3

mục tiêu đào tạo, hoàn thành được nhiệm vụ học tập rèn luyện trong thời gian học tập ở trường cao đẳng, đại học

Ở bậc đại học, yêu cầu về kỹ năng Viết học thuật khá cao Phát huy tính tích cực và chủ động của người học trong luyện tập kỹ năng này là một nội dung rất quan trọng trong giảng dạy Tiếng Anh hiện nay nói chung và giảng dạy Tiếng Anh bậc đại học nói riêng, là một bước tạo đà quan trọng để người học hoàn thiện các kỹ năng Tiếng Anh, không đơn thuần là kỹ năng Viết học thuật Làm thể nào để đạt được hiệu quả và chất lượng cao nhất trong giảng dạy kỹ năng này là một câu hỏi nhiều giảng viên Tiếng Anh thường trăn trở Đâu là các yếu tố chính tác động đến chất lượng giảng dạy kỹ năng này? Cần có những công trình nghiên cứu thực sự về vấn đề này được công bố một cách chính thức và rộng rãi

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhằm phân tích một cách căn bản và toàn diện vai trò của giảng viên, những hạn chế và tồn tại trong giảng dạy kỹ năng Viết học thuật trong Tiếng Anh, các phẩm chất và kỹ năng cần có của người học, đặc biệt là vai trò tự chủ của người học trong học tập, trên cơ sở đó, đề tài đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy kỹ năng Viết học thuật trong Tiếng Anh thông qua tăng cường tính tự chủ của người học

1.3 Phạm vi và phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá để từ đó có kết luận tổng quan về vai trò tự chủ của người học trong nâng cao chất lượng giảng dạy kỹ năng Viết luận học thuật trong Tiếng Anh Nghiên cứu được thực hiện tại trường Đại học Ngoại thương Cơ sở II tại tp Hồ Chí Minh về thực tế giảng dạy kỹ năng Viết học thuật trong Tiếng Anh

2 Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu

2.1 Tính tự chủ của người học

2.1.1 Khái niệm tính tự chủ của người học

Harmer (2007) khẳng định rằng một môi trường học tập lý tưởng là khi người học ‘tự quản lý việc học của mình mà không cần sự dẫn dắt trực tiếp của giáo viên’ Khái niệm tính tự chủ xuất hiện vào năm 1971 trong Dự án của Hội đồng Châu Ân

về giảng dạy ngoại ngữ hiện đại Năm 1981, nhằm khẳng định về tính hiệu quả của

Trang 4

dự án, Holec đã nêu khái niệm về tính tự chủ và các đặc điểm, khía cạnh khác nhau

của tính tự chủ trong học tập Holec (1981) định nghĩa “Tính tự chủ trong học tập là

khả năng tự quản lý việc học của người học, có nghĩa là tự ra quyết định, tự chịu trách nhiệm với các quyết định trong quá trình học tập, thay vì dựa dẫm vào sự dẫn dắt của giáo viên.” Theo Holec, các quyết định trong tự chủ học tập gồm: quyết định

mục tiêu học tập, xác định nội dung và tiến độ học tập, lựa chọn kỹ thuật và phương pháp phù hợp, luyện tập, đánh giá kết quả

Bàn về đặc điểm của tính tự chủ, các nhà nghiên cứu khác cũng có những kết

luận tương tự Little (1995) cho rằng “cơ sở của tính tự chủ của người học là cách

người học chấp nhận thực hiện trách nhiệm của mình đối với việc học.” Benson

(2001) khẳng định tính tự chủ không phải là một phương pháp học mà là “một thuộc

tính của cách người học tiếp cận quá trình học” Vào năm 1996, Littlewood định

nghĩa người học tự chủ là một người có năng lực tạo lập và lựa chọn cách thức học tập cho mình

2.1.2 Đặc điểm của tính tự chủ của người học

Tính tự chủ là trạng thái tâm lí thể hiện thái độ tích cực đối với một công việc nào đó Có tính tự chủ sẽ giúp cá nhân chủ động và có những hoạt động nhằm tạo ra

sự biến đổi, hăng hái, nhiệt tình đối với nhiệm vụ, công việc Trong cuộc sống, tính

tự chủ thường sử dụng là chỉ thái độ của chủ thể trong hoạt động của mình Tính tự chủ được nghiên cứu trong mối quan hệ với hoạt động, nó làm xuất hiện động lực thúc đẩy con người hoạt động có hiệu quả Tính tự chủ cá nhân không chỉ đơn giản

là một trạng thái tâm lí được huy động vào một thời điểm hoặc một tình huống mà là một thuộc tính chung cho tất cả các chức năng, khả năng và sức mạnh của cá nhân

Do đó, nguồn gốc của tính tự chủ chính là nhân tố bên trong của sự phát triển nhân cách Vậy, nguồn gốc của tính tự chủ là hứng thú, nhu cầu và động cơ nằm trong hoạt động chủ đạo của cá nhân, nhờ chúng mà cá nhân có thể đạt được kết quả cao trong hoạt động

Tự chủ trong học tập được hiểu theo nhiều cách khác nhau Theo quan điểm tâm

lý học, tự chủ là năng lực cho phép người học chịu trách nhiệm về việc học của mình Quan điểm xã hội cho rằng tự chủ là năng lực tương tác và hợp tác với người khác

Trang 5

trong việc học Quan điểm chính trị xem tự chủ là điều kiện cho phép người học kiểm soát quá trình và nội dung học tập cũng như bối cảnh trường lớp mà trong đó việc học diễn ra

Tự chủ trong học tập bao gồm 3 yếu tố cơ bản:

Thứ nhất, tự chủ có thuộc tính năng lực, bao gồm các kỹ năng có thể học tập

được hoặc bẩm sinh (Holec, 1979; Little, 1990) Các kỹ năng này bao gồm kỹ năng

tự học một mình, kỹ năng tư duy phê phán, ra quyết định, và các kỹ năng làm việc hợp tác (Benson và Voller, 1997) Năng lực này theo tác giả Dam (1995) đó là sự sẵn sàng tự chịu trách nhiệm của người học

Thứ hai, tự chủ là hoàn cảnh hay tình trạng mà trong đó người học hoàn toàn

tự kiểm soát, tự chịu trách nhiệm và thực hiện các hoạt động học tập, và có thể các hoạt động này hoàn toàn không phụ thuộc vào giáo viên, hay chương trình học (Dickinson, 1993) Thông qua những điều kiện hoàn cảnh mà người học có thể hoặc không thể phát triển được khả năng tự chủ

Thứ ba là yếu tố quyền làm chủ việc học, tức là người học được quyền tham

gia quyết định các khía cạnh liên quan đến việc học của bản thân như: mục tiêu, phương pháp dạy và học, tài liệu, cách đánh giá

Như vậy, từ các yếu tố cơ bản, có thể kết luận tính tự chủ của người học có những đặc điểm cơ bản sau:

+ Tính tự chủ có thể được phát triển nếu được tạo các điều kiện và có sự chuẩn

bị phù hợp

+ Tính tự chủ có các cấp độ khác nhau tùy thuộc đặc điểm của người học và tình huống học tập

+ Người học có tính tự chủ sẽ học tập hiệu quả hơn những người học không có tính tự chủ (là người học dựa hoàn toàn vào sự hướng dẫn của giáo viên)

2.1.3 Vai trò của giảng viên và người học trong xây dựng tính tự chủ của người học

Theo Scharle và Szabo (2000:5-10), tính tự chủ của người học được xây dựng

Trang 6

thông qua hai nhân tố: vai trò của giáo viên và sự cần có của một số phẩm chất và kỹ năng của người học

2.1.3.1 Vai trò của giảng viên

Hầu hết các giảng viên tiếng Anh đều có nhận thức cao về phát triển khả năng

tự chủ cho sinh viên tiếng Anh Tuy nhiên, việc thực hiện vai trò của người giáo viên với tư cách là người cố vấn, hỗ trợ và tạo điều kiện trong quá trình xây dựng tính tự chủ ở người học không phải là điều dễ dàng đặc biệt là khi các giảng viên mong muốn thiết kế những bài giảng có tính hiệu quả và tương tác cao Hơn nữa, việc thích nghi với ý tưởng “cần mở rộng việc tự kiểm soát việc học cho sinh viên” là một thách thức rất lớn đối với không chỉ người giáo viên mà cả sinh viên Đây là quá trình cần được thực hiện có giai đoạn, có tiến độ, cần đảm bảo có sự đánh giá và khảo sát chặt chẽ bắt đầu từ việc thay đổi một cách căn bản nhận thức của người học về vấn đề này cho đến việc người học thực hiện việc tự chủ và giáo viên triển khai tự đánh giá và đưa

ra giải pháp cải tiến cho các bài giảng về sau

2.1.3.2 Các phẩm chất và kỹ năng cần có của người học

Để phát triển năng lực tự học ở người học, theo Scharlo, A và Szabo, A, người dạy cần phát triển ở người học 4 nhóm kỹ năng sau:

+ Động lực và sự tự tin

+ Khả năng giám sát và đánh giá

+ Chiến lược học tập

+ Sự hợp tác và gắn kết trong các nhóm

- Người học cần có động lực và sự tự tin

Động lực và sự tự tin của người học được xem là điều kiện cần cho sự thành công của quá trình xây dựng tính tự chủ ở người học Có hai loại động lực gồm động lực bên ngoài và động lực bên trong Động lực bên ngoài là những tác động từ bên ngoài làm thay đổi tính tích cực chủ động của người học như điểm cộng, điểm thưởng, quà Động lực bên trong xuất phát từ bản thân người học muốn đạt kết quả học tập tốt, muốn chinh phục, khẳng định bản thân Do vậy, người học có động lực bên trong

Trang 7

tốt có trách nhiệm hơn và nỗ lực hơn cho việc học Từ đó, sự tự chủ trong học tập lại tiếp tục nuôi dưỡng động lực bên trong Không chỉ có động lực học, người dạy còn cần nuôi dưỡng niềm tin ở người học rằng họ có thể quản lý việc học của mình và thành công trong học tập phụ thuộc vào bản thân chứ không hoàn toàn phụ thuộc vào giáo viên Tương tự như động lực học tập, tính tự chủ, trách nhiệm, sự độc lập sẽ mang lại cho người học sự hài lòng và cảm giác tự tin

- Người học cần có kỹ năng giám sát và đánh giá

Kỹ năng giám sát của người học bắt đầu từ việc người học cần nhận thức đầy

đủ rằng họ cần tập trung vào quá trình học tập, chứ không phải là kết quả Việc tự giám sát quá trình học tập của bản thân nghĩa là người học luôn có ý thức về vai trò của mình trong việc kiểm soát quá trình học tập Khả năng tự đánh giá là năng lực của người học trong việc tự nhìn nhận ưu điểm, khuyết điểm, tính cách, phẩm chất

và kết quả học tập của bản thân; để trên cơ sở đó, có sự hoạch định phù hợp phương pháp và lộ trình học tập Với khả năng này, người học ở một cấp độ cao hơn so với

kỹ năng giám sát khi người học không chỉ tự giám sát việc học của mình mà còn phải đặt mình trong sự tự phân tích và đánh giá bản thân để từ đó tự xây dựng cho bản thân lộ trình học tập phù hợp để đạt kết quả mà mình đề ra

- Người học cần có chiến lược học tập tốt

Xây dựng chiến lược học tập tốt là một bước cao hơn giai đoạn tự đánh giá ở người học Có thể nói, chiến lược học tập tốt là công cụ để người học nâng cao kiến thức của bản thân Tuy nhiên, không phải người học nào cũng có khả năng tự xây dựng cho mình một chiến lược học tập phù hợp; do vậy, đây chính là lúc người dạy thể hiện vai trò cố vấn, dẫn dắt và tạo điều kiện cho người học tìm ra chiến lược học tập hiệu quả trên cơ sở tự đánh giá bản thân Chiến lược học tập là khác nhau ở những người học khác nhau và chiến lược học tập cần được điều chỉnh, thay đổi cho phù hợp trong quá trình học tập và tự đánh giá

- Người học cần có kỹ năng hợp tác và gắn kết nhóm

Đây là một trong những kỹ năng cơ bản trong làm việc nhóm Người học chỉ

có thể hoàn thiện bản thân trong sự tương tác, hợp tác làm việc trong các nhóm vì

Trang 8

không một ai là hoàn hảo trên mọi phương diện Mỗi người học luôn có những ưu điểm và khuyết điểm nhất định Ưu điểm của người học này là điều mà người học khác cần học hỏi và khuyết điểm của người này sẽ được khắc phục thông qua việc tương tác, học tập ở người kia Một nhóm hiệu quả là nhóm có sự phối hợp chặt chẽ, tăng cường được sự tham gia của các thành viên trong nhóm Nhóm phối hợp tốt là nhóm phát huy được tối đa khả năng của các thành viên vì mục tiêu chung của nhóm Giữa các thành viên có sự ăn ý, nhịp nhàng, hỗ trợ cùng giải quyết vấn đề Như vậy, trong mối quan hệ tác động qua lại, người học có kỹ năng gắn kết và hợp tác sẽ tăng cường tính chủ động của bản thân, giúp nhóm làm việc hiệu quả, và ngược lại, nhóm làm việc hiệu quả sẽ tác động trở lại làm cho người học gắn kết và hợp tác nhiều hơn,

từ đó tăng cường tính tự chủ của người học

2.2 Giảng dạy kỹ năng Viết học thuật trong Tiếng Anh

2.2.1 Những hạn chế và tồn tại trong dạy và học kỹ năng Viết học thuật

2.2.1.1 Về phía sinh viên

- Lỗi Ngữ pháp

Mặc dù đại đa số sinh viên trường Đại học Ngoại thương có nền tảng văn phạm Tiếng Anh khá tốt nhưng sinh viên vẫn thường mắc nhiều lỗi trong trong văn viết luận

Các lỗi thường gặp nhất của sinh viên khi viết luận trong Tiếng Anh là lỗi sai

về sentence fragments, run-on sentences, comma splices, mixced construction, faulty parallelism, lack of subject/ verb agreement Sinh viên cần nhận biết và khắc phục bởi lẽ đây là nền tảng để sinh viên thể hiện quan điểm của mình một cách rõ ràng, hiệu quả và thuyết phục nhất Có ý tưởng hay là một lẽ, để người đọc hiểu được quan điểm của mình lại là một vấn đề khác và điều này tùy thuộc phần nhiều vào vốn ngữ pháp của người viết Đây là những lỗi rất cơ bản trong văn viết Tiếng Anh, đặc biệt đối với sinh viên năm 1 và 2, đầu vào Khối A trường Đại học Ngoại thương Thậm chí, sinh viên với đầu vào Khối D vẫn mắc các lỗi sai trên

+ Lỗi về trật tự từ (Word order)

Lỗi thường gặp nhất trong các bài viết của sinh viên là lỗi sai về trật tự tính từ

Trang 9

Sinh viên thường không phân biệt “predicative adjectives” và “attributive adjectives”; cũng như chưa nắm được những trường hợp ngoại lệ ở đó một số tính từ chỉ có thể ở

vị trí “attributive” và một số tính từ chỉ có thể ở vị trí “predicative”

Ví dụ: The reason is main (sai)

Lỗi sai ở đây là tính từ ‘main’ chỉ đứng trước danh từ

Một lỗi sai thường gặp nữa là một số tính từ có nhiều nghĩa khác nhau và tương ứng với mỗi nghĩa, vị trí của tính từ đó trong câu cũng thay đổi theo

Ví dụ: Từ present có nghĩa là ‘hiện tại, hiện thời (current)’, phải được đặt trước danh từ (the present exchange rate) những nếu người viết dùng từ present với nghĩa

là ‘có mặt, hiện diện (being in a specified place)’ thì ‘present’ phải được đặt sau danh

từ (The share-holders present voted against the chairman.)

+ Lỗi về sử dụng động từ (Verb use)

Trong Tiếng Anh, động từ được chia ra làm sáu loại cơ bản gồm: monotransitive, intransitive, ditransitive, intensive, complex transitive, và prepositional Mỗi loại động từ tương ứng với một loại bổ ngữ Ví dụ: bổ ngữ của prepositional verb là direct object và prespositional phrase, bổ ngữ của intensitive verb là subject complement Đại đa số sinh viên vẫn có khái niệm đơn thuần là trong Tiếng Anh chỉ có 2 loại động từ là transitive verb và intransitive verb; do vậy, sinh viên mắc những lỗi sai trong đặt câu và lỗi sai về cấu trúc là lỗi sai thường gặp nhất

Ví dụ:

- The shop assistant charged too much to me for the toothpaste

- The bank has refused a loan to me

- A ten-minute break will be allowed to everybody

- The manager blamed his assistant the mistake unfairly

- The manager blamed his assistant unfairly

Muốn viết câu đúng, sinh viên cần hiểu động từ và các thành phần bổ ngữ của

nó Động từ là một trong những loại từ (parts of speech) cơ bản nhất trong ngữ pháp Tiếng Anh Hiểu và sử dụng đúng động từ sẽ là cơ sở để sinh viên viết câu đúng ngữ

Trang 10

pháp Để viết tốt, người viết cần nắm vững các điểm ngữ pháp quan trọng, nguồn từ vựng dồi dào, và vốn kiến thức cũng như kinh nghiệm sống nhất định

- Lỗi sai về lối hành văn

Trang trọng và thân mật (Formality or Informality)

Đại bộ phận các sinh viên vẫn chưa phân biệt được sự khác nhau giữa văn viết

và văn nói, dẫn đến hiện tượng nhiều từ ngữ thông tục, thân mật, thích hợp trong giao tiếp hằng ngày được các em sử dụng thường xuyên trong bài viết của mình Đây là điều giảng viên cần lưu ý vì các em sẽ tiếp tục kỹ năng Viết với Ngôn ngữ thư tín và Ngôn ngữ Hợp đồng Kinh doanh quốc tế với mức độ ngôn ngữ trịnh trọng hơn rất nhiều ở các năm học sau

Ví dụ 1:

Do you mention the guy with the blonde hair and glasses? (informal)

Steve can solve anything – the man is a genius (formal)

What percentage of the adult male is unemployed? (formal)

Ví dụ 2:

Quick, run – There’s cops coming! (informal)

I think you should call the police (formal)

Ví dụ 3:

These criminals are just a bunch of crooks (informal)

Many of the countries’s toughest criminals are held in this position (formal) She is an offender and has been arrested five times this year for shop-lifting

(formal)

Ví dụ 4:

I felt terrible last night but I feel fine this morning (informal)

Her peroformance was acceptable, but not stunning (formal)

The teacher seems to think his work is satisfactory (formal)

Ngày đăng: 24/04/2022, 10:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w