Sự nghiệp giáo dục cáchmạng miền Nam không chỉ nâng cao dân trí, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, chiến sĩ mà còn tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân tin theo Đảng, hướngtheo cách mạn
Trang 1MỞ ĐẦU
Trang 21 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam luôn quan tâm đếnxây dựng, phát triển nền giáo dục cách mạng Sự nghiệp giáo dục cách mạngdưới sự lãnh đạo của Đảng gắn liền với sự nghiệp gải phóng dân tộc và xâydựng chủ nghĩa xã hội Cùng với đấu tranh trên lĩnh vực kinh tế, chính trị, vănhóa, ngoại giao, đấu tranh trên lĩnh vực giáo dục là một bộ phận quan trọngcủa cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Trong cuộc cách mạng giải phóngdân tộc, Đảng lãnh đạo sự nghiệp giáo dục cách mạng vừa đấu tranh chốngnền giáo dục nô dịch của đế quốc, thực dân vừa duy trì, phát triển truyềnthống giáo dục Việt Nam để xây dựng nền giáo dục cách mạng mang tính dântộc, tính nhân dân sâu sắc Sự nghiệp giáo dục cách mạng của Đảng là mộtmặt trận trong cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, thống nhất đất nước, giáodục cách mạng từng bước trưởng thành cùng với những thắng lợi của sựnghiệp giải phóng dân tộc
Trang 3Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công,giành được chính quyền về tay nhân dân nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa rađời Những ngày đầu khó khăn, Đảng đã xác định “chống giặc dốt” là mộttrong những nhiệm vụ cấp bách của chính quyền cách mạng lâm thời Trongchín năm kháng chiến gian khổ chống thực dân Pháp (1945 – 1954), Đảngtiến hành lãnh đạo sự nghiệp giáo dục cách mạng trên phạm vi cả nước,phong trào chống nạn mù chữ thu hút hàng triệu người đi học với nhiều hìnhthức tổ chức lớp học sinh động sáng tạo Hệ thống giáo dục phổ thông đượccải tổ và xây dựng bước đầu nhằm thực hiện mục tiêu của nền giáo dục dânchủ nhân dân với phưong châm “tôn trọng nhân phẩm,rèn luyện chí khí, pháttriển tài năng để phụng sự đoàn kết và góp phần vào cuộc tiến hóa chung củanhân loại”[ Phan Ngọc Liên giáo dục và thi cử ,tr.263] đã đào tạo, bồi dưỡngmột lực lượng đông đảo đội ngũ cán bộ trẻ có năng lực chuyên môn; phẩmchất chính trị và đạo đức tốt phục vụ cho nhu cầu công tác trong kháng chiếnchống Pháp Những người được đào tạo đã cống hiến cho cho sự nghiệp giáodục kháng chiến và anh dũng hy sinh trong chiến đấu
Trang 4Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954 – 1975), Đảng tiếp tục giữvững, phát huy sự nghiệp giáo dục cách mạng trong điều kiện chiến tranh,xem đây là bộ phận quan trọng trong toàn bộ quá trình lãnh đạo sự nghiệpchống Mỹ cứu nước Đảng bộ miền Nam lãnh đạo sự nghiệp giáo dục cáchmạng bảo vệ, phát huy những thành quả giáo dục kháng chiến Nam Bộ, nhằmnâng cao trình độ văn hoá cho nhân dân, đào tạo bồi dưỡng cán bộ, chiến sĩ
bổ sung lực lượng cho cách mạng Sự nghiệp giáo dục cách mạng tập hợpđược quần chúng nhân dân để đào tạo nâng cao dân trí, giáo dục lòng yêunước, tinh thần dân tộc hướng về cách mạng, bảo vệ phát huy truyền thốngvăn hoá dân tộc Dù trong điều kiện chiến tranh gian khổ, ác liệt nhưng nhờ
sự ủng hộ tích cực của các tầng lớp nhân dân, Mặt trận và chính quyền cáchmạng các cấp, sự nghiệp giáo dục cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng bộmiền Nam ở vùng giải phóng những năm 1961 – 1975 liên tục được giữ vững,củng cố và phát triển cả về quy mô, chất lượng Sự nghiệp giáo dục cáchmạng miền Nam không chỉ nâng cao dân trí, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, chiến
sĩ mà còn tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân tin theo Đảng, hướngtheo cách mạng; đấu tranh với địch trên mặt trận văn hoá, tư tưởng, góp phầntích cực vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước
Trang 5Sau Hiệp định Giơnevơ (7/1954), Đảng đã bố trí một số cán bộ, giáoviên ở lại miền Nam tiếp tục sự nghiệp giáo dục, đồng thời đội ngũ giáo viên
ở miền Bắc chi viện thường xuyên ngày càng đông đảo cho vùng giải phóngmiền Nam Ngoài ra, Đảng bộ miền Nam còn tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡnggiáo viên tại chỗ ở các địa phương với sự phát triển hệ thống trường sư phạmrộng khắp Thực hiện sự nghiệp giáo dục cách mạng miền Nam trong điềukiện chiến tranh ác liệt, Đảng bộ miền Nam linh họat bố trí địa điểm tổ chứclớp học, tìm tòi hình thức, phương pháp, giáo dục thích hợp, xây dựng nộidung chương trình phù hợp, nhằm từng bước giáo dục nâng cao trình độ chocán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân, góp phần quan trọng vào sự nghiệpchống Mỹ cứu nước
Việc nghiên cứu Đảng bộ miền Nam lãnh đạo sự nghiệp giáo dục cáchmạng ở vùng giải phóng nhằm rút ra những kinh nghiệm lịch sử, khẳng địnhvai trò giáo dục cách mạng trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, là một yêucầu cấp thiết có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn Từ những suy
nghĩ trên, tác giả quyết định chọn đề tài: “Đảng bộ miền Nam lãnh đạo sự nghiệp giáo dục ở vùng giải phóng 1961 – 1975” làm luận văn tốt nghiệp
thạc sĩ, với lòng yêu ngành khoa học Lịch sử Đảng, mong muốn góp phần vàoviệc tổng kết lịch sử kháng chiến chống Mỹ
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Thời gian gần đây có nhiều công trình của cá nhân, tập thể nghiên cứu
sự nghiệp giáo dục cách mạng của Đảng ở miền Nam trong kháng chiếnchống Pháp và chống Mỹ Song những công trình này nghiên cứu sự lãnh đạocủa Đảng nói chung đối với sự nghiệp giáo dục và chỉ đề cập dưới dạng lịch
sử giáo dục, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, cụ thể
Trang 6Đảng bộ miền Nam lãnh đạo sự nghiệp giáo dục ở vùng giải phóng trongkháng chiến chống Mỹ Có thể kể một số công trình sau:
Đề tài trọng điểm cấp Bộ (đã in thành sách 2004 ) “Giáo dục cách mạng ở miền Nam giai đoạn 1954 – 1975 Những kinh nghiệm và bài học lịch sử”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
Nhiều tác giả (2002),“Giáo dục Nam bộ thời kỳ kháng chiến chống Pháp 1945 – 1954”, Nxb Trẻ
Phạm Minh Hạc (1992), “Sơ thảo giáo dục Việt Nam 1945 – 1992),”
Nxb Giáo dục, Hà Nội
Hội khoa học kinh tế Việt Nam – Trung tâm Thông tin và Tư vấn phát
triển (2005), “Giáo dục Việt Nam 1945 – 2000”, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
Có một số luận văn thạc sĩ Lịch sử Đảng, nghiên cứu về giáo dục vàđào tạo nghiên cứu những giai đoạn khác nhau ở các địa phương Trung Bộ vàNam Bộ:
Phạm Kim Dung (1998), “Đảng bộ Sa Đéc (Đồng Tháp) thực hiện chiến lược giáo dục 1975 – 1986”, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Trần Văn Dũng (2001), “Đảng bộ tỉnh Bình Định lãnh đạo sự nghiệp giáo dục đào tạo 1991 – 2000”, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Lê Vũ Hùng (2000), “Đảng bộ Đồng Tháp với chiến lược phát triển giáo dục (1976-1986)”, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Lê Văn Nê (2002) “Đảng bộ tỉnh Bến Tre lãnh đạo sự nghiệp phát triển giáo dục – đào tạo (1986 – 2000)”, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ
Chí Minh
Ngoài ra, Lịch sử Đảng bộ các tỉnh miền Nam ít nhiều có đề cập đến
sự nghiệp giáo dục cách mạng thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Trang 7Những công trình nghiên cứu trên là tài liệu quí giá, bổ ích, có giá trị khoahọc lịch sử mà luận văn đã kế thừa
Nghiên cứu “Đảng bộ miền Nam lãnh đạo sự nghiệp giáo dục ở vùng giải phóng 1961 – 1975” là vấn đề khá mới mẻ, hạn chế về nguồn tư liệu Do
vậy, trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ khó có thể trình bày đầy đủ toàn diện.Thực tế, Đảng bộ miền Nam lãnh đạo sự nghiệp giáo dục giáo dục cách mạng
ở vùng giải phóng những năm 1961 – 1975 chắc chắn phong phú hơn nhiều
so với những kết quả luận văn nghiên cứu được
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu luận văn
Đảng lãnh đạo sự nghiệp giáo dục là nội dung rộng lớn Do vậy, luậnvăn chỉ giới hạn nghiên cứu Đảng bộ miền Nam lãnh đạo sự nghiệp giáo dụcnhững năm 1961 – 1975 ở vùng giải phóng, mà không nghiên cứu toàn bộquá trình lãnh đạo sự nghiệp giáo dục của Đảng trên phạm vi cả nước, cũngnhư cả thời kỳ kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam
4 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
– Mục đích
Thông qua thời gian lịch sử cụ thể 1961 – 1975, luận văn làm rõ nhữngchủ trương, chính sách của Đảng bộ miền Nam trong việc lãnh đạo sự nghiệpgiáo dục cách mạng Đặc biệt là quá trình thực hiện duy trì, phát triển giáodục cách mạng trong điều kiện kèm kẹp, đánh phá ác liệt của Mỹ-ngụy, đưa
sự nghiệp giáo dục cách mạng miền Nam hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang củamình
– Nhiệm vụ
Trình bày sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ miền Nam thực hiện nhiệm
vụ giáo dục cách mạng ở vùng giải phóng trong tổng thể sự lãnh cuộc kháng
Trang 8chiến chống Mỹ cứu nước Trên cơ sở đó, phân tích làm sáng tỏ những sángtạo của Đảng bộ miền Nam trong việc đề ra các chủ trương, giải pháp giáodục cách mạng miền Nam Bước đầu đúc rút những kinh nghiệm của Đảng bộmiền Nam trong quá trình lãnh đạo công tác giáo dục cách mạng ở vùng giảiphóng 1961 – 1975.
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở các quan điểm của chủ nghĩa Mác –Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm đường lối của Đảng vềgiáo dục- đào tạo, đảm bảo tính đảng, tính khoa học trong quá trình nghiêncứu; kết hợp chặt chẽ phương pháp luận macxít và hiện thực lịch sử
Luận văn thuộc khoa học lịch sử chuyên ngành Lịch sử Đảng nên chủyếu sử dụng phương pháp lịch sử – lôgíc, ngoài ra còn kết hợp sử dụngphương pháp phân tích – tổng hợp, so sánh – đối chiếu
6 Đóng góp mới và ý nghĩa luận văn
Luận văn hệ thống lại những đường lối, chủ trương của Đảng bộ miềnNam lãnh đạo sự nghiệp giáo dục cách mạng ở vùng giải phóng; làm rõ nộidung lãnh đạo thông qua tổ chức bộ máy giáo dục, đào tạo đội ngũ giáo viên,chỉ đạo tổ chức thực tiễn, đúc rút kinh nghiệm của Đảng bộ miền Nam; phântích, đúc rút nhũng kinh nghiêm, làm rõ vai trò sự nghiệp giáo dục cách mạngtrong kháng chiến chống Mỹ cứu nước và xây dựng phát triển kinh tế – xã hộihiện nay ở Nam Bộ
Luận văn góp phần tổng kết những kinh nghiệm, phương pháp lãnh đạogiáo dục cách mạng của Đảng bộ miền Nam trong điều kiện chiến tranh cáchmạng giải phóng dân tộc Kết quả nghiên cứu của luận văn chỉ là bước đầuchắc chắn còn nhiều hạn chế thiếu sót, nhưng cũng gợi mở những vấn đề cần
Trang 9tiếp tục bổ sung, nghiên cứu sự nghiệp giáo dục cách mạng trong kháng chiếnchống Mỹ.
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văngồm 2 chương 5 tiết
Chương 1 ĐẢNG BỘ MIỀN NAM LÃNH ĐẠO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC Ở VÙNG
GIẢI PHÓNG 1961 – 1975 1.1 Kiên trì giữ vững và phát triển sự nghiệp giáo dục cách mạng
1.1.1 Thành tựu giáo dục cách mạng ở miền Nam (1945 –1954)
Cách mạng tháng Tám 1945 thành công nước nhà độc lập, tự do, nhân dân ta chưa hưởng trọn niềm vui được bao lâu thì ngày 23/9/1945 thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta
lần thứ hai Dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc Việt Nam phải tiến hành cuộc
kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp Trong bộn bề của cuộc kháng chiến, Trung ương Đảng vẫn quan tâm đến sự nghiệp giáo dục “chú trọng mở mang giáo dục kháng chiến, mở trường chuyên môn về nghiệp vụ, chính trị, quân sự,…xúc tiến bình dân học vụ…[ĐCSVN Văn kiện Đảng toàn tập, t8, tr.182]
Nhân dân miền Nam đi đầu trong cuộc kháng chiến trường kỳ trải quabao gian lao, thử thách, nhưng vẫn đứng vững và giành được nhiều thắng lợi.Đến đầu 1947 phong trào kháng chiến lên cao vùng tự do mở rộng, những căn
cứ địa được củng cố vững chắc, nhiều khu dân cư đông đúc được hình thành ởcác chiến khu như Đồng Tháp, U Minh, chiến khu Đ Chính quyền nhân dân,
Trang 10Ủy ban kháng chiến hành chính và các đoàn thể cứu quốc được thành lập vàcủng cố từ tỉnh đến xã, tạo điều kiện thuận lợi cho giáo dục kháng chiến miềnNam phát triển Trước tình hình chuyển biến thuận lợi, tháng 8/1947 Ủy bankháng chiến hành chính Nam Bộ quyết định thành lập Sở giáo dục Nam Bộ
và Viện văn hóa kháng chiến Nam Bộ Hai cơ quan này làm nhiệm vụ khángchiến trên lĩnh vực giáo dục nhằm xóa bỏ những tàn tích giáo dục ngu dân, nôdịch của thực dân Pháp, xây dựng nền giáo dục cách mạng dựa trên banguyên tắc: “dân tộc, khoa học và đại chúng” Sở Giáo dục Nam Bộ tập hợplực lượng vận động nhà giáo yêu nước góp sức xây dựng nền giáo dục mới.Viện văn hóa kháng chiến nghiên cứu xây dựng chương trình, phương phápgiảng dạy các môn khoa học xã hội như chính trị, văn học, lịch sử, địa lý…phù hợp với trình độ tiếp thu của quần chúng nhân dân trên cơ sở quán triệtnguyên tắc chỉ đạo của Đảng vào việc xây dựng chương trình, thể hiện đượcbản chất và mục đích của nền giáo dục cách mạng trong kháng chiến Nhiệm
vụ chủ yếu của giáo dục kháng chiến miền Nam là chống mù chữ, nâng caotrình độ văn hóa cho nhân dân, đồng thời phát triển giáo dục phổ thông trunghọc đào tạo bồi dưỡng cán bộ có đủ phẩm chất và năng lực phục vụ nhiệm vụkháng chiến, kiến quốc Có thể khái quát những thành tựu cơ bản của giáodục kháng chiến miền Nam trong chống Pháp 1945 – 1954:
– Công tác xây dựng chương trình, sách giáo khoa mới luôn được quan tâm
Sở giáo dục Nam Bộ xây dựng chương trình, sách giáo khoa mới củanước Việt Nam độc lập và biên soạn tài liệu giảng dạy đầu tiên cần thiết cho
sự khởi động bộ máy giáo dục ở các tỉnh miền Nam Trong những ngày đầukhó khăn, tập thể cán bộ Sở giáo dục Nam Bộ trước hết quyết tâm xây dựngchương trình sách giáo khoa cho bậc tiểu học, sau đó đến bậc trung học phổ
Trang 11thông Phương pháp tiến hành việc soạn thảo chương trình, tài liệu, sách giáokhoa là kết hợp những hiểu biết và kinh nghiệm sẵn có với những yêu cầumới của cách mạng, nội dung chương trình với nền giáo dục mới trong điềukiện kháng chiến, kiến quốc; đáp ứng nhu cầu bồi dưỡng thanh thiếu niên tinhthần dân tộc, lòng yêu nước, ý chí căm thù giặc, giáo dục đạo đức mới kiênquyết đấu tranh giành độc lập tự do cho Tổ quốc Do trong điều kiện khángchiến lớp học phải tổ chức ngắn hạn, nên xây dựng chương trình ngắn gọnchủ yếu những nội dung cần thiết phục vụ sự nghiệp kháng chiến, kiến quốcnhư chính trị, văn hóa kháng chiến, lịch sử cách mạng Việt Nam…
– Đội ngũ giáo viên được đào tạo cơ bản
Ngay từ những ngày đầu thành lập, Sở giáo dục Nam Bộ đã tính đếnkhâu quan trọng là đào tạo xây dựng đội ngũ giáo viên, trước mắt đào tạo cấptốc những giáo viên làm cán bộ cho phong trào giáo dục các tỉnh miền Nam.Trong thời gian ba tháng học viên được tập huấn về một số vấn đề cơ bản củanghiệp vụ sư phạm và chính trị Viện khoa học kháng chiến mở lớp sư phạmđặc biệt cho gần 100 giáo sinh đã qua trình độ học vấn bậc tú tài, sau một nămđào tạo trở thành đội ngũ giáo viên trung học trẻ, nhiệt thành với công tácgiảng dạy Trường sư phạm Nam Bộ mở hai khóa đào tạo 25 giáo viên Sốgiáo viên được đào tạo phân bổ về trường trung học kháng chiến, các Ty giáodục tỉnh miền Nam Những khóa sư phạm đã đào tạo được đội ngũ giáo viên,cán bộ giáo dục có tinh thần cách mạng, năng lực chuyên môn cần thiết, tậntụy với công việc, luôn phát huy tính tự lực, sáng tạo để hoàn thành nhiệm vụgiảng dạy, làm lực lượng nồng cốt cho sự hình thành một loạt trường trunghọc kháng chiến ở miền Nam
– Phong trào bình dân học vụ phát triển rộng khắp ở miền Nam
Trang 12Những năm kháng chiến chống Pháp 1945 – 1954, phong trào bình dânhọc vụ chống mù chữ diễn ra rộng khắp ở vùng tự do các địa phương miềnNam Cán bộ Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể cứu quốc các cấp tích cựcvận động mọi người đi học, các xã, ấp ở vùng tự do đều có lớp bình dân học
vụ với khí thế thi đua sôi nổi, lớp bình dân học vụ trang bị cho người học một
số kiến thức như 4 phép tính, vệ sinh ăn ở, chống mê tín dị đoan… Tính đếnnăm 1954 phong trào bình dân học vụ ở miền Nam đã xóa mù chữ cho hơn 3triệu người, 20% trong số này được học qua lớp dự bị bình dân (lớp 3) đểthoát nạn mù chữ một cách chắc chắn, có kiến thức cơ bản cần thiết phục vụkháng chiến, kiến quốc Hằng nghìn cán bộ, đảng viên các cấp các ngànhđược học hết văn hóa bậc tiểu học Mọi nguời đi học bình dân học vụ là hànhđộng yêu nước, biết đọc chữ quốc ngữ là niềm tự hào của người dân
– Trường trung học kháng chiến – giáo dục phổ thông phát triển Công tác giáo dục phổ thông phát triển nhanh chóng hầu khắp các
tỉnh Nam Bộ Từ 1948, dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy Nam Bộ và sự chỉ đạochặt chẽ của Sở giáo dục Nam Bộ nhiều trường trung học kháng chiến mở ra
ở các địa phương miền Nam như trường Thái Văn Lung, Lê Văn Trí, HuỳnhPhan Hộ, Nguyễn Văn Tố, Tiền Phong… Tổng số học sinh các trường trunghọc kháng chiến có khoảng 10 ngàn, nhiều cán bộ chủ chốt, công nhân quân
giới, chiến sĩ thi đua được bồi dưỡng nâng cao trình độ văn hóa, khoa học bậc
trung học phổ thông cơ sở (lớp 7, 8)
Ngành giáo dục miền Nam thời kỳ kháng chiến chống thực dân Phápdưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Xứ ủy Nam Bộ và Ủy ban kháng chiếnhành chính Nam Bộ hoạt động tích cực, chủ động đạt được những thành tựuđáng kể Những người trực tiếp tham gia công tác giáo dục với lòng yêu nướcnồng nàn và tư duy sáng tạo, nhiệt tình cách mạng khắc phục mọi khó khăn,
Trang 13thiếu thốn hoàn thành nhiệm vụ được giao, xây dựng được mô hình khángchiến mở đầu cho nền giáo dục cách mạng ở miền Nam Việt Nam Trong điềukiện khó khăn của cuộc kháng chiến, các thầy cô giáo yêu nước đã đặt nhữngviên gạch đầu tiên cho nền giáo dục mới với phương châm “học đi đôi vớihành”, “nhà trường gắn liền với sản xuất, chiến đấu và dân vận” Nhiều họcsinh được rèn luyện trong kháng chiến về sau trở thành những cán bộ nồngcốt ở các địa phương và Trung ương, những kinh nghiệm dạy – học trongkháng chiến chống Pháp ở miền Nam tiếp tục phát huy trong sự nghiệp giáodục cách mạng thời kháng chiến chống Mỹ cứu nước Nguyên tắc giáo dục
“dân tộc, khoa học và đại chúng” trở thành đường lối cơ bản của giáo dụckháng chiến miền Nam, được quán triệt thể hiện trong mọi hoạt động củangành, từ việc xây dựng chương trình, biên soạn tài liệu, sách giáo khoa, đếnphương pháp dạy – học… Giáo dục kháng chiến miền Nam không ngừng đẩymạnh phong trào bình dân học vụ, xóa mù chữ cho nhân dân vùng tự do, từngbước nâng cao dân trí, bồi dưỡng sức dân xây dựng nền giáo dục mới, gópphần đưa kháng chiến chống Pháp đến thắng lợi Giáo dục phổ thông pháttriển, nhiều trường trung học kháng chiến được thành lập đã đào tạo hàng vạncán bộ, chiến sĩ phục vụ sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc
Những thành tựu giáo dục miền Nam trong kháng chiến chống Pháp
1945 – 1954 gây dựng nên mô hình giáo dục trong chiến tranh cách mạng,mục đích động cơ dạy – học được xác định rõ ràng, quan hệ thầy trò với tìnhthương và trách nhiệm hướng vào mục tiêu chung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,nâng cao dân trí cho nhân dân Trong khó khăn thiếu thốn, ở xa Trung ươngkhông được chi viện và chỉ đạo chặt chẽ về chuyên môn, nhưng giáo dụckháng chiến miền Nam đã vận dụng đường lối giáo dục của Đảng, tranh thủ
sự lãnh đạo, chỉ đạo của Xứ ủy Nam Bộ và Ủy ban kháng chiến hành chínhNam Bộ đưa giáo dục kháng chiến miền Nam ngày càng phát triển Với
Trang 14những thành tựu giáo dục kháng chiến miền Nam đạt được cho thấy nhữngcán bộ tiến hành công tác giáo dục đã vượt qua nhiều khó khăn gian khổ, đătnền móng đầu tiên cho sự nghiệp giáo dục cách mạng miền Nam tiếp tục pháttriển ở giai đoạn sau.
1.1.2 Sức sống mạnh mẽ của nền giáo dục cách mạng ở miền Nam (1955 – 1960)
Nối tiếp truyền thống giáo dục cách mạng trong kháng chién chốngPháp, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Xứ ủy Nam Bộ, phong trào bình dân học
vụ, dạy bổ túc văn hóa cho cán bộ, chiến sĩ tiếp tục duy trì, phát triển SauHiệp định Giơnevơ, Xứ ủy Nam Bộ chỉ đạo hình thức đấu tranh chính trị làchủ yếu, tất cả công tác của Đảng đều nhằm động viên tập hợp quần chúng,chủ yếu đấu tranh chính trị Giáo dục được quan tâm hơn lúc nào hết để độngviên nhân dân đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ Các cơ sở giáo dục
ở miền Nam thành lập trong kháng chiến chống Pháp không còn tồn tại mộtcách hợp pháp như trước nữa, nhưng đội ngũ cán bộ, giáo viên và học sinhtrong vùng căn cứ đã thích ứng nhanh chóng với hoàn cảnh mới của cuộc đấutranh cách mạng, tiếp tục duy trì hoạt động giáo dục và có ảnh hưởng tích cựcđến các tầng lớp nhân dân Các cán bộ, giáo viên sống cùng với nhân dân đểbảo toàn lực lượng, vận động nhân dân học tập vào ban đêm hoặc rút vàorừng, các chiến khu để học tập Sự nghiệp giáo dục bấy giờ gắn liền với côngtác tuyên truyền vận động quần chúng chống lại nền giáo dục phản động củaMỹ-ngụy Những giáo viên trong vùng bị chiếm xin chuyển vùng đổi tên họhợp pháp để ra hoạt động dạy học ở các trường tư thục, hoặc trường bán côngtạo điều kiện hoạt động cách mạng Tuy các trường tư này sử dụng chươngtrình, sách giáo khoa của ngụy quyền Sài Gòn, nhưng trong quá trình giảngdạy họ đã lồng nội dung giáo dục cách mạng, đề cao lòng yêu nước tự hàodân tộc Nhờ hoạt động tích cực nên từ đầu năm 1955 ở miền Nam mở được
Trang 15trường tư thục đến bậc trung học Bên cạnh đó, Nghiệp đoàn giáo dục ở cácđịa phương Miền Nam cũng được thành lập vận động những giáo chức ởvùng bị chiếm ủng hộ phong trào truyền bá quốc ngữ, xóa mù chữ, lực lượngtrường phổ thông ở các thành phố, thị trấn tham gia hổ trợ cho phong tràobình dân học vụ khá tích cực Những năm 1955 – 1960 ở vùng nông thônmiền Nam lớp học xóa mù chữ được tổ chức ở các xóm, ấp bằng nhiều hìnhthức hợp pháp hoặc bán hợp pháp, theo phương châm “người biết chữ dạyngười chưa biết chữ” học sinh theo học khá đông được nhân dân ủng hộ vànhiệt tình giúp đỡ Ở ấp chiến lược nơi địch tổ chức kiểm soát gắt gao, nhưngnhững tổ nhóm học văn hóa vẫn được tổ chức nhằm xóa mù chữ cho bà con,nhân dân đấu tranh đòi địch mở các lớp bình dân học vụ cho người lớn
Nhìn chung những năm 1955 – 1960, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Xứ
ủy Nam Bộ, giáo dục cách mạng vẫn được duy trì rộng khắp từ vùng nôngthôn đến thành thị với nhiều hình thức tổ chức dạy học phong phú hợp pháphoặc bán hợp pháp, tổ chức trường tư, vận động nhân dân xây cất trường ởnông thôn, động viên giáo viên vùng bị chiếm về dạy, vừa chống mù chữ vừatừng bước xây dựng lực lượng Về cơ bản đã phát huy được thành quả giáodục các mạng trong kháng chiến chống Pháp, tạo điều kiện thuận lợi cho giáodục cách mạng sau phong trào đồng khởi phát triển mạnh mẽ hơn
1.2 Đảng bộ miền Nam lãnh đạo sự nghiệp giáo dục cách mạng tiến lên một bước phát triển mới (1961 – 1975)
1.2.1 Những đường lối, chủ trương đúng đắn chỉ đạo sự nghiệp giáo dục cách mạng
Trong hoàn cảnh ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước củaĐảng bộ và nhân dân miền Nam, quy mô vùng giải phóng vẫn không ngừngđược mở rộng Đi đôi với các hoạt động xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội ở
Trang 16vùng giải phóng và vùng căn cứ, hoạt động giáo dục cách mạng ngày cànggiữ vị trí quan trọng Để đáp ứng yêu cầu đào tạo cán bộ, chiến sĩ, dạy chữcho con em nhân dân lao động, tháng 5/1964, Trung ương Cục chỉ đạo cáccấp tăng cường công tác giáo dục trong vùng giải phóng, xác định rõ phươnghướng, nhiệm vụ công tác giáo dục cách mạng miền Nam là:
Dựa vào lực lượng nhân dân, cán bộ giáo dục và các nhà giáoyêu nước, kiên quyết đấu tranh phá chính sách ngu dân và các hìnhthức giáo dục nô dịch, phản động ngoại lai, đồi trị của Mỹ-ngụy,tích cực xây dựng một nền giáo dục dân tộc, dân chủ và khoa họctheo chủ nghĩa Mác – Lênin, nhằm bồi dưỡng chính trị văn hoá chonhân dân lao động, trước hết là cán bộ, chiến sĩ, đào tạo thế hệ trẻtoàn diện, biết căm thù giặc sâu sắc, biết yêu nước nồng nàn, cókiến thức đạo đức và sức khoẻ để tiếp tục sự nghiệp chống Mỹ cứunước và kiến thiết xã hội sau này Xây dựng và duy trì phong tràobình dân học vụ, phát triển giáo dục phổ thông cần chú trọng haimặt: phát động phong trào bình dân học vụ, tiến đến thanh toán nạn
mù chữ, bổ túc văn hóa cho cán bộ, chiến sĩ; đào tạo đội ngũ giáoviên đông đảo vừa đào tạo cấp tốc vừa đào tạo lâu dài cả về chínhtrị, văn hóa, chuyên môn Chú ý tận dụng một số giáo viên cũ, tránhhẹp hòi thành kiến; tổ chức bộ máy giáo dục cấp tốc, bố trí cán bộ
đủ năng lực [Lịch sử Biên niên, tr.433]
Về phương châm công tác, Trung ương Cục cũng yêu cầu quán triệt tiếtkiệm, hiệu quả vì đang trong kháng chiến nên việc mở trường, lớp phải thíchứng với điều kiện chiến đấu, chống quy mô, hình thức Trong vùng giải phóngđẩy mạnh phong trào đấu tranh chống văn hoá của địch, tăng cường sự lãnhđạo của Đảng đối với công tác giáo dục coi đó là nhiệm vụ thường xuyên củacác cấp ủy Tháng 6/1967, Trung ương Cục ra Chỉ thị hướng dẫn các khu,
Trang 17tỉnh, huyện về công tác giáo dục, tuyên truyền; công tác giáo dục phải hướngvào việc chuyển biến những tư tưởng, tình cảm cách mạng thành những hànhđộng thiết thực, trở thành yếu tố thúc đẩy cuộc kháng chiến, đánh bại kếhoạch và chiến tranh tâm lý của địch.
Tháng 7/1968 Trung ương Cục ra chỉ thị đặt vấn đề khôi phục lạiphong trào giáo dục cách mạng ở vùng giải phóng và tăng cường sự lãnh đạocủa các cấp uỷ Đảng đối với công tác giáo dục Chỉ thị nhận định: Từ khi tổngcông kích – tổng khởi nghĩa có tình trạng sút kém trong phong trào giáo dục ởvùng giải phóng một số nơi hầu như không còn trường học phổ thông, bìnhdân học vụ nữa, các lớp bổ túc văn hoá cho cán bộ, chiến sĩ phải ngừng dạy,học sinh phải bỏ học Từ đó Trung ương Cục chủ trương:
Mở rộng nâng cao chất lượng các trường, lớp phổ thông trongvùng giải phóng, tích cực xoá mù chữ cho nhân dân, lấy vùng giảiphóng là chổ đứng để phát triển rộng ra Vùng giải phóng được mởrộng đến đâu thì phải nhanh chóng ổn định tình hình và phát triểnphong trào giáo dục phổ thông và bình dân học vụ đến đó Các cấp
uỷ Đảng phải củng cố và từng bước tăng cường bộ máy chỉ đạo củacấp mình, bộ máy chỉ đạo giáo dục ở cấp huyện xã, ấp phải đượccủng cố và bồi dưỡng một cách cơ bản [Lịch sử …tr.672]
Những năm 1969 chiến tranh diễn ra ác liệt vùng giải phóng miền Nam
bị thu hẹp chỉ còn chủ yếu miền núi, ở nông thôn đông dân bị mất nhiều, giáodục cách mạng gặp nhiều khó khăn Vận dụng Chỉ thị của Trung ương Cục vềchống phá kế hoạch bình định của địch, Tiểu ban Giáo dục Miền thuộc Trungương Cục đã đề ra nhiệm vụ: “Giáo dục tham gia đánh phá bình định”, trườnglớp không thể quy mô như trước nữa mà phải thu hẹp lại, mở nhiều lớp họcphân tán
Trang 18Chỉ thị của Trung ương Cục tháng 5/1964 và 7/1968 trở thành đườnglối cơ bản giáo dục cách mạng miền Nam Trên cơ sở đó, các địa phương vậndụng xây dựng phong trào giáo dục sao cho phù hợp với tình hình cụ thể, đảmbảo duy trì, phát triển sự nghiệp giáo dục ở vùng giải phóng và toàn miềnNam
Về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng để đáp ứng yêu cầu chuyểnhướng mạnh mẽ phong trào giáo dục nói chung, giáo dục tư tưởng, chính trịnói riêng nhằm góp phần trong việc thực hiện nhiệm vụ chiến lược của Đảng
bộ miền Nam là đánh bại kế hoạch “bình định phát triển” và chiến lược “Việtnam hóa chiến tranh” Tháng 8/1971, Thường vụ Trung ương Cục ra Chỉ thị
số 10/CT 71 về “Tăng cường công tác chính trị, tư tưởng, bồi dưỡng đào tạocán bộ, đảng viên đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới” Phân tích một số điểm tồntại về nhận thức chính trị của cán bộ, đảng viên Trung ương Cục chỉ rõ:
Nhiều nơi chưa nắm rõ phương châm chiến lược của Đảng,đánh giá tình hình địch, ta không đúng, không thấy hết thuận lợicũng như khó khăn, tư tưởng hoang mang dao động, chưa có lậptrường tư tưởng kiên định, hoài nghi đường lối chủ trương và sựlãnh đạo của Đảng, không nắm vững nhiều mặt công tác cơ bản củacách mạng nhất là công tác tuyên truyền, giáo dục Các cấp cácngành phải ra sức tăng cường công tác chính trị, tư tưởng, chăm lobồi dưỡng đào tạo cán bộ, đảng viên nhất là cán bộ cơ sở, đặc biệt
là ở chi bộ [ Lịch sử…tr.860]
Trung ương Cục cũng yêu cầu thường xuyên kiên trì giáo dục mộtcách sâu sắc, toàn diện cho cán bộ, đảng viên về lý tưởng cộng sản, mục tiêucách mạng và phương châm chiến lược của Đảng, nhằm nâng cao nhận thức
về tình hình địch, ta và các bước đi của cách mạng, xây dựng lý tưởng cách
Trang 19mạng lập trường giai cấp công nhân cho cán bộ, đảng viên tạo niềm tin tưởngphấn khởi lạc quan cách mạng Không ngừng bồi dưỡng và nâng cao đạo đứccách mạng “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, khí tiết đảng viên cộngsản Để đảm bảo thực hiện tốt những yêu cầu trên ngành giáo dục phải nêu rõnội dung chương trình, hình thức và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng Tháng11/1972, Thường vụ Trung ương Cục ra Chỉ thị về nhiệm vụ phương châm,đào tạo bồi dưỡng cán bộ các cấp: “đi đôi với tích cực, thường xuyên, bồidưỡng, đào tạo cán bộ một cách toàn diện và cơ bản, phải cấp tốc bồi dưỡngnâng cao cán bộ các cấp Chú ý cán bộ mới xuất hiện trong phong trào quầnchúng.” [Lịchsử Biên Niên…….,tr.937] Như vậy, cùng với giáo dục phổthông, bình dân học vụ cho quần chúng nhân dân, công tác giáo dục chính trị,
tư tưởng cho cán bộ, đảng viên được Trung ương Cục đặc biệt quan tâm
Những năm 1968 – 1970, chiến trường miền Nam vô cùng ác liệt, địchphản công mở rộng càn quét quy mô lớn vào vùng giải phóng "sớm bom,chiều pháo, tối cán gáo soi" Trong điều kiện khó khăn gian khổ ấy, cán bộ,giáo viên lùi sâu vào vùng nông thôn để khôi phục, củng cố phong trào giáodục cách mạng "đột vùng yếu, níu vùng sâu" Cuộc tiến công chiến lược củaquân dân ta 1972 đã giành được những thắng lợi quan trọng, tiêu diệt một bộphận sinh lực và phương tiện chiến tranh của Mỹ-ngụy Ta chuyển vùng yếu
và tiến lên giải phóng vùng nông thôn rộng lớn, làm chủ nhiều khu trên chiếntrường miền Nam, vùng giải phóng được mở rộng “giải phóng gần 1triệu dânđưa tổng số dân được giải phóng lên 4 triệu người trên 11 triệu dân lúc bấygiờ” [Hội đồng Trung ương …,tr.282] Tuy giành thắng lợi quyết định trênchiến trường, nhưng phong trào giáo dục ở vùng giải phóng chưa đáp ứng đầymột cách cơ bản ở vùng nông thôn, nhất là vùng sâu, nơi tập trung đông dân.Yêu cầu đặt ra cho sự nghiệp giáo dục cách mạng lúc bấy giờ là xây dựngthực lực giáo dục cách mạng, nắm thế chủ động, tích cực vận dộng tuyên
Trang 20truyền giáo dục cách mạng, đưa sự nghiệp giáo dục cách mạng lên bước pháttriển mới Tình hình đó, Thường vụ Trung ương Cục ra Chỉ thị về phươnghướng, nhiệm vụ kinh tế – văn hóa năm 1974: Phải giữ vững kinh tế – vănhóa ở vùng giải phóng hoàn chỉnh dần khu căn cứ lớn tạo bàn đạp và chỗ dựavững chắc cho việc đánh bại kế hoạch bình định lấn chiếm của địch Về giáodục trường học phải xây dựng theo hướng một nền giáo dục cách mạng, kiênquyết xóa bỏ nền giáo dục nô dịch phản động của địch Trước mắt tạm duy trì
hệ thống giáo dục cũ, như chương trình, sách giáo khoa cũ Phát động phongtrào xóa mù chữ càng sớm càng tốt Phải trừng trị ngay những phần tử chínhtrị phản động chống đối đường lối hòa bình, độc lập, dân chủ, bọn phản động
ác ôn, mật vụ Tiếp tục sử dụng đội ngũ giáo viên cũ, từng bước giáo dụcchính trị, tư tưởng cho họ; gấp rút đào tọa cán bộ, để quản lý và sử dụng cơ sởthông tin văn hóa, giáo dục Để xây dựng đội ngũ cán bộ, giáo viên đáp ứngkịp thời yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới, trước mắt phải đàotạo cán bộ cốt cán trong phong trào quần chúng với quy mô lớn mới có khảnăng đáp ứng một số công việc cấp bách Cần trang bị những kiến thức cơbản về phương pháp công tác cách mạng, nghiệp vụ chuyên môn, mục đích lýtưởng, nắm vững tình hình nhiệm vụ trước mắt và nhiệm vụ cụ thể của địaphương mình; có đạo đức của người cán bộ cách mạng và phương pháp côngtác phù hợp trong lãnh đạo, vận động quần chúng Trong quá trình đào tạo cáccấp ủy Đảng phải vừa chỉ đạo vừa huấn luyện và tổ chức cán bộ từ cơ sở Cáccấp ủy cần nhận thức một cách đầy đủ và phải tổ chức tập huấn cho cán bộ,chiến sĩ…
Sau cuộc tiến công chiến lược 1972, quân dân ta giành những thắng lợiquan trọng trên chiến trường, tạo thêm điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp giáodục phát triển, xây dựng phong trào với quy mô rộng lớn ở vùng giải phóng.Các địa phương trong toàn miền Nam căn cứ vào tình hình thực tế đề ra
Trang 21nhiệm vụ, phương hướng công tác giáo dục phù hợp Xây dựng phát triểnmạnh mẽ giáo dục vùng giải phóng, nền giáo dục cách mạng bao gồm các bậchọc phổ thông, bình dân học vụ , bổ túc văn hoá, trường sư phạm, đáp ứngnhu cầu học tập đa dạng của con em nhân dân, cán bộ, chiến sĩ Tuyên truyềnvận động giáo dục cách mạng, hình thành một mặt trận đấu tranh chống nềngiáo dục của địch, góp phần vào cuộc đấu tranh cách mạng chung của dân tộc.Việc xây dựng, phát triển sự nghiệp giáo dục cách mạng vùng giải phóng trêntoàn Miền gắn liền với cuộc đấu tranh cách mạng nhằm không ngừng mởrộng vùng tự do Giải phóng đến đâu trường lớp mở ra đến đó “dân bám đất,giáo dục bám dân, giáo viên bám trường lớp, học sinh”, “một em cũng dạy,hai em cũng dạy”.
Tháng 01/1975, Hội nghị giáo dục toàn miền Nam đã kiểm điểm tìnhhình giáo dục toàn miền Nam, nêu ra những ưu điểm, thiếu sót của sự nghiệpgiáo dục cách mạng; đồng thời đề ra nhiệm vụ đẩy mạnh phát triển giáo dục,đấu tranh chống văn hoá nô dịch của địch
Trước yêu cầu to lớn của sự nghiệp chống Mỹ cứu nước và công cuộcxây dựng chế độ mới ở các vùng giải phóng đòi hỏi sự nghiệp giáo dục phảiphát triển mạnh mẽ Sau Hội nghị giáo dục, ngày 27/01/1975, Thường vụTrung ương Cục ra Chỉ thị xác định phương hướng, nhiệm vụ công tác pháttriển giáo dục ở vùng giải phóng:
Ra sức xây dựng, phát triển mạnh mẽ và vững chắc nền giáodục dân chủ nhân dân ở vùng giải phóng; khẩn trương xóa nạn mùchữ và nâng cao trình độ văn hóa cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân;đào tạo thanh thiếu niên thành những người kế tục sự nghiệp cáchmạng; ra sức tuyên truyền vận động các giới, các tầng lớp nhân dânnhất là học sinh, sinh viên và các bậc cha mẹ, trí thức hình thành
Trang 22một mặt trận chống nền giáo dục phản động của địch, đòi thực hiệnnền giáo dục dân tộc, dân chủ và tiến bộ.
Giáo dục phải phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng, kết hợpvới lao động sản xuất
Phải thực hiện các phương châm giáo dục:
- Kết hợp giáo dục đạo đức và chính trị với giáo dục văn hóakhoa học
- Kết hợp lý luận với thực tiễn
- Kết hợp giáo dục khoa học tiên tiến với trí thức cổ truyềncủa dân tộc và kinh nghiệm thực tiễn quần chúng
- Kết hợp giáo dục nhà trường với giáo dục gia đình và xã hội
- Kết hợp giáo dục của ta với đấu tranh chống giáo dục của địch
- Kết hợp tác dụng chủ đạo của thầy với vai trò hoạt động củahọc sinh
Nhiệm vụ của ngành giáo dục trong hai năm tới ở vùng giảiphóng là: Phát triển mạnh hệ thống các trường phổ thông; tích cựcxóa nạn mù chữ và bổ túc văn hóa nhân dân; xúc tiến việc xây dựngcác trường sơ cấp, trung cấp và đại học, nhất là ngành sư phạm; đẩymạnh công tác đấu tranh chống ảnh hưởng của nền văn hóa nô dịch,phản động của địch
Để thực hiện được các mục tiêu trên cần thực hiện tốt một số biện pháp sau:
- Ra sức đào tạo và xây dựng đội ngũ giáo viên có đạo đức tưtưởng tốt, biết công tác quần chúng, có trình độ văn hóa và khảnăng sư phạm
Trang 23- Phát động phong trào quần chúng nhân dân tham gia xâydựng giáo dục và phong trào giáo viên, học sinh, học viên dạy tốt,học tốt.
- Ban hành chương trình sách giáo khoa hệ 12 năm
- Củng cố ổn định bộ máy chủ đạo giáo dục các cấp [Lịchsử…tr.1057- 1058]
Chỉ thị Trung ương Cục ra đời vào lúc toàn Đảng, toàn quân và dân tachuẩn bị cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, Chỉ thị tăng thêmsinh khí cho phong trào giáo dục cách mạng, các địa phương miền Nam khẩntrương phát triển trường lớp, đào tạo cán bộ, giáo viên chuẩn bị cho thời cơcách mạng Cuộc tiến công nổi dậy toàn miền Nam 4/1975, cán bộ, giáo viên
và học sinh miền Nam đã tham gia trực tiếp vào cuộc chiến đấu, góp phầnđưa chiến dịch Hồ Chí Minh đến kết thúc thắng lợi Miền Nam hoàn toàn giảiphóng đất nước thống nhất mở ra thời kỳ phát triển mới, giáo dục cách mạngmiền Nam hòa chung với sự nghiệp giáo dục cách mạng cả nước Nhờ có sựchuẩn bị chu đáo, giáo dục cách mạng đã tiếp quản thành công các cơ sở cáchmạng của địch, góp phần quan trọng và việc bình ổn đời sống văn hóa tinhthần của nhân dân miền Nam
1.2.2 Kịp thời hình thành hệ thống tổ chức để tiến hành sự nghiệp cách mạng ở miền Nam
Những năm 1961 – 1968, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước củanhân dân ta dưới sự tổ chức lãnh đạo của Đảng ngày càng gây go, ác liệt Duytrì sự nghiệp giáo dục cách mạng ở miền Nam được xem là một bộ phận quantrọng góp phần vào cuộc kháng chiến gian khổ Sau đồng khởi 1960, chínhquyền cách mạng được thành lập ở các địa phương miền Nam tạo thành mộtvùng giải phóng rộng lớn (2/3 đất đai vùng nông thôn) Các Uỷ ban tự quản
Trang 24được thành lập từ khu cho đến huyện, xã làm cơ sở nồng cốt điều hành mọicông việc của cuộc kháng chiến Trong Uỷ ban tự quản có Ban giáo dục đượcthành lập đến tận thôn, ấp nhằm đáp ứng nhu cầu học tập, đào tạo cán bộ thựchiện nhiệm vụ cách mạng Điều đó thể hiện sự năng động sáng tạo của nhữngcán bộ, chiến sĩ và những người tham gia trực tiếp công tác giáo dục trongquá trình thực hiện nhiệm vụ cách mạng Những người làm công tác giáo dục
có lòng nhiệt tình cách mạng, nhưng chưa được đào tạo nghiệp vụ sư phạm,chỉ thực hiện nhiệm vụ theo sự hiểu biết và kinh nghiệm riêng Ban giáo dục
ở một số địa phương đã được thành lập nhưng toàn miền Nam chưa có tổchức lãnh đạo, chỉ đạo sự nghiệp giáo dục một cách thống nhất về đường lối,
tổ chức, chương trình, sách giáo khoa… Trước nhu cầu phát triển của sựnghiệp giáo dục tháng 10/1962, Tiểu ban Giáo dục Trung ương Cục miềnNam, gọi tắt là Tiểu ban Giáo dục Miền được thành lập để thống nhất chỉ đạocông tác giáo dục toàn Miền Tiểu ban Giáo dục Miền thuộc Ban Tuyên huấnTrung ương Cục – lúc đầu có 5 cán bộ, nhân viên làm tham mưu cho Trungương Cục và Uỷ ban Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam
Sự hình thành Tiểu ban Giáo dục Miền trải qua nhiều giai đoạn tuỳtheo tình hình phát triển của phong trào giáo dục và sự chi viện của cán bộ,giáo viên miền Bắc xã hội chủ nghĩa Sau khi Tiểu ban Giáo dục Miền đượcthành lập các Tiểu ban Giáo dục ở các khu, tỉnh, huyện đến cơ sở cũng từngbước ra đời Có thể nói khi Tiểu ban Giáo dục Miền thành lập (10/1962) sựnghiệp giáo dục toàn miền Nam có sự chỉ đạo thống nhất từ Trung ương Cụcđến cơ sở, về mục tiêu giáo dục, đào tạo giáo viên, chương trình, sách giáokhoa…
Nhiệm vu, vai trò của Tiểu ban giáo dục Miền
Trang 25Tiểu ban Giáo dục Miền là một bộ phận của Ban Tuyên huấn giúpTrung ương Cục phụ trách công tác giáo dục, làm nhiệm vụ trực tiếp chỉ đạophong trào giáo dục Công việc đầu tiên của Tiểu ban Giáo dục Miền là làmtham mưu cho Trung ương Cục dự thảo đường lối giáo dục cách mạng miềnNam Trước hết Tiểu ban Giáo dục Miền xây dựng chương trình học của haibậc phổ thông và bình dân học vụ, soạn vần quốc ngữ cho hai bậc học trên;đồng thời soạn hai bộ sách giáo khoa cho cấp I phổ thông và bổ túc văn hoávới 24 đầu sách Được Trung ương Cục quan tâm Tiểu ban Giáo dục đã xâydựng trường đào tạo cán bộ quản lý và giáo viên; xây dựng trường huấn luyệntại các khu, soạn các tài liệu giảng dạy … Tiểu ban Giáo dục đã khắc phụcmọi khó khăn, thiếu thốn để xây dựng trường, lớp và biên soạn sách giáokhoa, tài liệu phục vụ học tập, giảng dạy “Cuối 1962, trường giáo dục ThángTám khai giảng khoá I với hơn 80 học viên đại diện cho các khu, tỉnh trongtoàn miền Nam”.[Xứ uỷ… tr.334] (đến 1963, lực lượng của Tiểu ban Giáodục có gần 30 cán bộ, nhân viên tự túc sản xuất, tổ chức ăn, ở học tập, bảovệ… đều được nêu là điển hình trong Ban Tuyên huấn thuộc Trung ươngCục)
Sau mùa khô 1961 – 1965, Mỹ-nguỵ thua nặng nề buộc thay đổi chiếnlược chiến tranh, (từ chiến lược “chiến tranh đặc biệt” chuyển sang chiến lược
“chiến tranh cục bộ” 1965) giáo dục cách mạng ở vùng giải phóng gặp nhiềukhó khăn, gian khổ, nhiều cán bộ, giáo viên hy sinh trên đường đi làm nhiệm
vụ Để củng cố phong trào 01/10/1967, Tiểu ban Giáo dục xác định: “Giáodục phải phục vụ nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ chủ yếu bấy giờ là bảo vệlực lượng, giữ vững và phát triển trường lớp ở vùng giải phóng Việc xác địnhgiáo dục phải phục vụ cách mạng tức phải gắn liền với đời sống, chiến đấu vàlao động sản xuất của nhân dân, nhằm mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng nhân dân
và cán bộ, chiến sĩ thấm nhuần chân lý của Bác Hồ “Không có gì quí hơn độc
Trang 26lập tự do!”[ Hồ Chí Minh,tt,t12, tr.108-H 2000], sẵn sàng chiến đấu dũng cảm
để giải phóng và bảo vệ đất nước “Quán triệt hơn nữa bình dân học vụ lànhiệm vụ hàng đầu, ra sức duy trì phổ thông và bình dân học vụ có tính chấtquần chúng là thiết thực phục vụ cách mạng nhằm xoá mù chữ và nâng caotrình độ văn hoá cho nhân dân, trước hết là cán bộ, đảng viên [Giáo … 41]Tiểu ban Giáo dục Miền cũng xác định rõ: đẩy mạnh hơn nữa công tác đấutranh chống văn hoá nô dịch thực đân kiểu mới của đế quốc Mỹ và tay sai ởvùng giải phóng và các đô thị
Việc thành lập Tiểu ban Giáo dục Miền giúp cho Trung ương Cục lãnhđạo thống nhất đường lối, phương châm, biện pháp giáo dục cách mạng gópphần củng cố xây dựng vùng giải phóng, đào tạo hàng vạn cán bộ cung cấpcho kháng chiến và xây dựng nông thôn mới Tiểu ban Giáo dục Miền vừalàm chức năng của Đảng vừa đảm nhận nhiệm vụ của chính quyền và côngtác Mặt trận Với Đảng làm tham mưu cho Trung ương Cục lãnh đạo, chỉ đạocông tác giáo dục trong toàn Miền (chức năng như Ban Khoa giáo hiện nay)
Về mặt chính quyền làm nhiệm vụ cơ quan quản lý giáo dục, chỉ đạo chươngtrình học, mở trường đào giáo viên, tạo soạn tài liệu… Công tác Mặt trận,Tiểu ban Giáo dục Miền làm nhiệm vụ của Hội nhà giáo yêu nước (tiền thânCông đoàn giáo dục ngày nay) tập hợp động viên cán bộ, giáo viên tham giavào sự nghiêp chống Mỹ cứu nước
Tháng 3/1973, Tiểu ban Giáo dục Miền tổ chức Hội nghị giáo dục toànMiền để xem xét lại toàn bộ tình hình những khả năng nhân tố mới đề ra nộidung trọng tâm công tác, phương châm, phương thức hoạt động giáo dục ởvùng giải phóng Hội nghị đánh giá vai trò của giáo dục phục vụ nhiệm vụtrọng tâm của cách mạng Hội nghị giáo dục đánh dấu sự chuyển hướng giáodục trước tình hình mới
Trang 271.2.3 Đào tạo, rèn luyện và tăng cường đội ngũ thầy, cô giáo đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp giáo dục cách mạng miền Nam
Đội ngũ giáo viên cách mạng ở miền Nam nói chung vốn có một quátrình tổ chức lâu dài vừa đào tạo tại chỗ vừa được sự chi viện tích cực của cán
bộ giáo dục miền Bắc xã hội chủ nghĩa Ngoài việc phát triển phổ thông, bổtúc văn hoá, Tiểu ban Giáo dục Miền luôn chú trọng công tác đào tạo lựclượng cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên các cấp Sau 1968, địch phản công
ác liệt với chiến lược "bình định cấp tốc", "bình định đặc biệt" phong tràogiáo dục cách mạng giảm sút Trong đội ngũ giáo viên có số đã hy sinh số bịbắt, bị thất lạc, một số giáo viên chuyển vào vùng tạm chiếm Trong giai đoạnnày, Chính phủ Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập, Bộ Giáo dụcthanh niên cách mạng cũng được hình thành Trong cơ quan Bộ ngoài phòngchuyên môn thường lệ (phòng phổ thông, bình dân học vụ, phòng sư phạm đểchăm lo giáo dục vùng giải phóng) còn có phòng tuyên truyền với hai buổiphát thanh "giáo dục giải phóng" và tập san giáo dục giải phóng
Riêng Trung Bộ và Tây Nguyên hệ thống các trường tập trung của khu
và tỉnh vẫn tiếp tục hoạt động đào tạo lực lượng giáo viên tại chỗ Hơn nữavùng này có lực lượng đông đảo giáo viên miền Bắc xã hội chủ nghĩa chiviện, những giáo viên miền Bắc vừa giảng dạy vừa bồi dưỡng nâng cao trình
độ giáo viên địa phương thúc đẩy phong trào giáo dục phát triển Trong giaiđoạn 1961 – 1968, khu V Tây Nguyên thành lập trường sư phạm đáp ứng nhucầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, giáo viên Trường lấy tên là “Trường sư phạm
miền núi khu V” Trong hoàn cảnh khó khăn Khu V vẫn dành cho Trường sự
quan tâm đặc biệt, 12 giáo viên được điều động từ miền Bắc về Trường, đã tốtnghiệp đại học các ngành Toán, Lý, Văn, Sử, Địa… Đối tượng đào tạo củanhà trường là con em dân tộc thiểu số và người Kinh ở vùng Tây Nguyên.Trình độ văn hoá của con em người dân tộc còn thấp, nhưng khoá học không
Trang 28cho phép kéo dài, mỗi khoá chỉ học 6 tháng, thời gian còn lại dành cho xâydựng trường lớp nhà ở, vận chuyển lương thực Các giáo sinh được đào tạonhững kiến thức văn hoá cơ bản, đồng thời trang bị kiến thức tâm lý giáo dục
và chính trị, tài liệu giảng dạy là sách giáo khoa của miền Bắc đưa vào, đượcbiên soạn lại phù hợp với đặc điểm học sinh miền núi Sau khi học giáo sinhtrường sư pham miền núi khu V, được điều động về các trường phổ thông cấp
I miền núi, trường bổ túc văn hoá, trường dân tộc nội trú Cùng thời gian từ
1965 – 1968, miền Tây Phú Yên cũng mở trường Sư phạm miền núi, sau khoáhọc 3 năm giáo sinh có trình độ tiểu học được đưa về các cơ sở làm nhiệm vụxoá mù chữ Đến năm 1968, các trường khu V Tây Nguyên đào tạo được 300giáo viên cấp I, II, 88 giáo viên người dân tộc dạy lớp 3, 4 Như vậy, ở Trung
Bộ và Tây Nguyên từ những năm 1961 – 1968 nhiều trường lớp sư phạm và
bổ túc văn hoá được mở ra nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu học tập đa dạngcủa cán bộ, chiến sĩ và quần chúng nhân dân Cán bộ, giáo viên vừa làm côngtác dạy học, quản lý trường lớp, vừa tham gia các hoạt động kháng chiến nhưthông tin, tuyên truyền…
Sự nghiệp giáo dục ở vùng giải phóng những năm 1967 – 1968 gặpnhiều khó khăn khi địch đánh phá ác liệt đời sống nhân dân xáo trộn, phongtrào giáo dục bị giảm sút nghiêm trọng, nhiều cán bộ, giáo viên bị bắt, mấttích Sau Đại hội công tác giáo miền Nam Tiểu ban Giáo dục đã mở lớp huấnluyện đào tạo cán bộ tỉnh, huyện và mở trường sư phạm cấp tốc đào tạo giáoviên cấp I; đồng thời tổ chức Hội nghị nhà giáo ở Tây Nam Bộ Ngoài ra, TâyNam Bộ còn có trường đào tạo Hoa Kiều Năm 1968, Trường sư phạm cấp IIHoa Kiều đã đào tạo 40 giáo viên trong thời gian 6 tháng Dưới sự chỉ đạo củaTiểu ban Giáo dục Miền, Tây Nam Bộ nhiều tỉnh đã soạn được sách học Tiểuban giáo dục tỉnh Rạch Giá (nay là tỉnh Kiên Giang) đã soạn được quyển vầnKhơme để dạy cho đồng bào Khơme các tỉnh Cần Thơ, Sóc Trăng Bạc Liêu,
Trang 29Cà Mau, tạo nên không khí phấn khởi, niềm tin cho đồng bào Khơme đối vớicách mạng, ngoài ra còn kết hợp với Tiểu ban Giáo dục tỉnh Bến Tre soạn
“Học báo” để giúp giáo viên có tài liệu giảng dạy các môn
Những năm 1972 – 1973 nhiều trường sư phạm đào tạo giáo viên cấp
I, II được mở ở hầu hết các tỉnh miền Nam Ở Tây Nam Bộ, ngoài trường sưphạm Khu đào tạo giáo viên cấp II còn tổ chức một số khoá sư phạm đào tạocấp tốc 1 tháng các giáo viên tại huyện để bổ sung kịp thời nhu cầu đội ngũgiáo viên còn thiếu trong vùng giải phóng Toàn khu Tây Nam Bộ từ 1968 –
1975 đã đào tạo hơn 35 khoá sư phạm, chưa kể các khoá sư phạm cấp tốc đàotạo giáo viên cấp I ở tỉnh và huyện Những giáo viên được đào tạo hầu hết đềuhoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, là những chiến sĩ thật sự trên mặt trận tưtưởng, văn hoá, có lý tưởng cách mạng, ý chí và nghị lực bền bỉ đầy tâmhuyết đối với công tác giáo dục và sự nghiệp cách mạng chung của dân tộc.Lực lượng cán bộ, giáo viên được đào tạo cơ bản theo yêu cầu của Tiểu banGiáo dục Miền, tập trung ở Trường Lê Văn Tám của Khu và trường sư phạmcác tỉnh, được trang bị tư tưởng chính trị, chuyên môn, phương pháp nghiệp
vụ giảng dạy và công tác tuyên truyền vận động quần chúng Các cán bộ, giáoviên ngoài nhiệm vụ giảng dạy, duy trì sự nghiệp giáo dục còn là những ngườilàm công tác dân vận tốt, vận động địa phương xây dựng trường lớp tuyêntruyền bà con không "tản cư" – bỏ vùng giải phóng; vận động học sinh đếnlớp, đồng thời biết bảo vệ học sinh khi có đạn pháo, địch càn quét, cùng sống,lao động sản xuất với nhân dân
Các tỉnh Đông Nam Bộ, những lớp sư phạm ngắn hạn, dài hạn ở tỉnh vàhuyện vẫn thường xuyên được mở, đào tạo nhanh chóng giáo viên cấp I, II; cónhững lớp dành riêng cho cán bộ quản lý, hiệu trưởng và liên hiệu trưởng Ởtỉnh Tây Ninh, năm 1974 đã mở lớp sư phạm dài hạn cho 120 giáo sinh, 6 lớpngắn hạn 43 giáo sinh (Trường Đảng tỉnh thành lập năm 1965 vẫn tiếp tục
Trang 30hoạt động mở rộng quy mô đào tạo cán bộ các cấp phục vụ nhiệm vụ cáchmạng.)
Những năm 1972 – 1973 bộ máy chỉ đạo giáo dục ở các tỉnh, huyệnmiền Nam luôn biến động, thiếu người do thường xuyên điều động, biệt phái
và một số người đã hy sinh Các khu phải đưa người về bổ sung cho tỉnh, tỉnhgiảm bớt cán bộ đưa về củng cố cho cấp huyện, nhiều cán bộ "đi B" (nhữngcán bộ, chiến sĩ miền Nam tập kết ra miền Bắc sau 1954 trở lại miền Nam tiếptục sự nghiệp chống Mỹ cứu nước) về phải bổ sung cho trường sư phạm ở cáctỉnh miền Nam Trước tình hình đó, Tiểu ban Giáo dục Miền đã mở nhiều lớp
"cán bộ phong trào" – cán bộ quản lý giáo dục cho các tỉnh, học viên đượcchọn đào tạo đa số đã qua lớp sư phạm, nhiệt tình cách mạng và có khả năngvận động, tổ chức phong trào để bồi dưỡng về chuyên môn, những kinhnghiệm công tác giáo dục trên địa bàn nông thôn ở vùng giải phóng
Cán bộ, giáo viên tích cực vận động nhân dân xây dựng phát triển thựclực cách mạng, phối hợp chặt chẽ với chính quyền cách mạng ở vùng giảiphóng nông thôn, chống nền giáo dục phản động Mỹ-ngụy ra sức đào tạo, bồidưỡng những người có tinh thần cách mạng phục vụ kháng chiến, nâng cao ýthức giai cấp, dân tộc khơi dậy lòng căm thù giặc cho nhân dân lao động Cáccấp giáo dục đã phân công nhiều cán bộ giáo viên về cơ sở, tùy theo yêu cầutình hình thực tế địa phương tham gia mọi công tác chung dưới sự chỉ đạo củacấp ủy cơ sở, cùng với Ban giáo dục xã vận động nhân dân và giáo viên khôiphục xây dựng trường mới, mở rộng quy mô lớp học Tháng 4/1972 Tiêủ banGiáo dục Miền và Bộ Giáo dục Thanh niên Chính phủ Cách mạng lâm thờimiền Nam Việt Nam đã chủ trương thành lập Trường sư phạm cấp II miềnNam (gọi tắt là Trường sư phạm miền Tây – Trường sư phạm R)
Trang 31Các trường sư phạm được thành lập tạo điều kiện thuận lợi cho việccủng cố xây dựng thực lực giáo dục cách mạng Qua đó, đào tạo bồi dưỡngđội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục, xây dựng phong trào giáo dục ởvùng giải phóng Lực lượng cán bộ giáo viên đã góp phần không nhỏ vàothành công của sự nghiệp giáo dục và cách mạng giải phóng dân tộc ở miềnNam nói chung Chuẩn bị những điều kiện cơ bản sẵn sàng đội ngũ thầy côgiáo và những người tham gia công tác giáo dục có phẩm chất đạo đức, chínhtrị, trình độ chuyên môn để tiếp quản Sài Gòn và các tỉnh lỵ khi cuộc khángchiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi, miền Nam hoàn toàn giải phóng.
1.2.4 Thường xuyên củng cố, tổng kết, đúc rút kinh nghiệm để tạo
đà cho sự nghiệp giáo dục cách mạng ở miền Nam vững bước tiến lên
Trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp giáo dục cách mạng, Trung ươngCục luôn luôn thường xuyên bám sát và ra các chỉ thị kịp thời đời để uốn nắncủng cố phong trào giáo dục cách mạng Tháng 7/1968, Trung ương Cục rachỉ thị củng cố phong trào giáo dục ở vùng giải phóng và tăng cường sự lãnhđạo của các cấp uỷ Đảng với công tác giáo dục
Từ sau đồng khởi, phong trào giáo dục đã phát triển mạnh mẽ đúnghướng ở các vùng giải phóng miền Nam, hàng trăm ngàn thanh niênđược đi học, hàng vạn cán bộ, chiến sĩ thoát nạn mù chữ và đượcnâng cao trình độ cấp I II… Việc giáo dục lòng yêu nước, căm thùgiặc ý chí quyết chiến, quyết thắng gặc Mỹ xâm lược đã nâng cao
khả năng chiến đấu sản xuất của nhân dân, cán bộ, chiến sĩ Yêu cầu
cách mạng đặt ra trước mắt và lâu dài là phải không ngừng pháttriển sự nghiệp giáo dục và đào tạo cán bộ; phải tăng cường sự lãnhđạo của các cấp ủy đối với công tác giáo dục Các cấp ủy và cán bộngành giáo dục cần nhận thức đẩy đủ, sâu sắc hơn nữa vị trí, ý
Trang 32nghĩa cách mạng của công tác giáo dục hiện tại và trong tương lai.”[lịch sử biên liên –tr.672]
Chỉ thị Trung ương Cục cũng yêu cầu trong chỉ đạo giáo dục phải nắmvững khâu củng cố, mở rộng, nâng cao các trường lớp phổ thông trong vùnggiải phóng, tích cực xóa mù chữ cho nhân dân, bổ túc văn hóa cho cán bộ,chiến sĩ và nam nữ thanh niên Lấy vùng giải phóng là chỗ đứng chân vữngchắc để phát triển rộng ra Vùng giải phóng được mở rộng đến đâu thì phảinhanh chóng ổn định tình hình và phát triển giáo dục phổ thông, bình dân học
vụ đến đó Để thực hiện được điều đó, các cấp ủy Đảng phải củng cố từngbước tăng cường bộ máy chỉ đạo giáo dục của cấp mình, chú trọng đến bộmáy giáo dục cấp huyện, xã, ấp một cách cơ bản Tất cả nhằm chuẩn bị mọiđiều kiện để duy trì, phát triển trường lớp ở vùng đã giải phóng và sắp giảiphóng Trong quá trình đó, phải tiến hành cuộc đấu tranh kiên quyết, bền bỉ
để chống lại nền giáo dục nô dịch, lạc hậu, vong bản của Mỹ-ngụy, tiến tớitriệt để xóa bỏ những tàn tích đó trong vùng giải phóng Kiểm điểm về hoạtđộng văn hóa giáo dục, Trung ương Cục biểu dương nhiều địa phương đã giữđược phong trào Ngành giáo dục đã đào tạo được nhiều cán bộ và giáo viên
để cung cấp cho cách mạng Trong phong trào đã xuất hiện nhiều đơn vị cánhân xuất sắc ở các tỉnh Mỹ Tho , Bến Tre, Cà Mau
Trung ương Cục cũng đánh giá phong trào bình dân học vụ thanh toánnạn mù chữ chưa đều khắp, nhiều địa phương còn lúng túng trong công tácđấu tranh với địch kết quả chưa rõ ràng Nguyên nhân của tình trạng trên là
do chưa quan tâm đúng mức cả về chủ chương và biện pháp tổ chức thựchiện, để đáp ứng yêu cầu ngày càng lớn của công tác giáo dục, chống lại nềngiáo dục nô dịch, đồi trụy, ngoại lai, quét sạch tàn dư của nó ở vùng giảiphóng
Trang 33Ngày 20/11/1963, Hội nghị nhà giáo yêu nước miền Nam Việt Namđược thành lập Tháng 4/1964, Đại hội Giáo dục toàn miền Nam lần thứ nhấtđược tiến hành, Hội nghị đã thông qua điều lệ chính thức, bầu Ban chấp hànhTrung ương Hội gồm 31 vị giáo sư, do giáo sư Lê Văn Huấn làm Chủ tịch.
Qua thời gian chuyển hướng hoạt động Tiểu ban Giáo dục Miền đã tổchức Hội nghị giáo dục toàn miền để xem xét lại toàn bộ tình hình, những khảnăng và nhân tố mới nhằm đề ra nội dung trọng tâm, phương châm giáo dục.Hội nghị khẳng định: giáo dục có nhều khả năng phục vụ nhiệm vụ trọng tâmcủa cách mạng, chống phá kế hoạch bình định của địch, thông qua đó xâydựng củng cố phong trào giáo dục Công tác giáo dục không chỉ đóng khungtrong việc giảng dạy như soạn chương trình, sách giáo khoa, đào tạo giáoviên, mở lớp mà còn phải đấu tranh chống văn hoá giáo dục của địch, vậnđộng giáo viên, học sinh đấu tranh và xây dựng thực lực cách mạng củangành
Về công tác giáo dục đào tạo, bồi dưỡng, cán bộ, đảng viên Trungương Cục cũng thường xuyên đánh giá rút kinh nghiệm, Chỉ thị 10/CT năm
1972 đánh giá: “trong những năm qua, công tác giáo dục cán bộ có nhiều cốgắng, đáp ứng được yêu cầu của cách mạng Tuy nhiên, việc bồi dưỡng cán
bộ chưa tổ chức thường xuyên, công tác chuẩn bị tài liệu học tập còn lúngtúng, việc tổ chức học tập Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng chưa nghiêm túc,càng xuống huyện, xã càng teo lại.”[Biên Niên….,tr.937]
Trang 34Chương 2
SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC CÁCH MẠNG VƯƠN LÊN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU TẠI CHỖ CỦA VÙNG GIẢI PHÓNG (1961 – 1975)
2.1 Những đóng góp của sự nghiệp giáo dục cách mạng Nam Bộ
2.1.1 Khu Đông Nam Bộ
Ở Đông Nam Bộ phong trào bổ túc văn hoá và xoá mù chữ trong cơquan vẫn giữ vững Khu giải phóng Củ Chi (Sài Gòn – Gia Định), TrảngBàng, Hậu Nghĩa (Tây Ninh) là những nơi Mỹ-ngụy chủ trương oanh kích ácliệt, nhưng thường ngày vẫn có 6 ngàn học sinh đi học bình dân học vụ vàphổ thông cách mạng, ở Chiến khu Đ bà con chặt gỗ dựng trường lớp và tổchức những lớp học bình dân học vụ Với mục đích đưa nội dung giáo dụcdân tộc, dân chủ, khoa học vào chương trình giảng dạy, các lớp học vùng giảiphóng Đông Nam Bộ được xây dựng theo mô hình trường lớp chặt chẽ, bằngphương thức có lớp trưởng, lớp phó, phân công giáo viên làm cố vấn cho mỗilớp (giống như giáo viên làm chủ nhiệm lớp như ngày nay) hướng dẫn họcsinh tham gia sinh hoạt lành mạnh, tiến bộ thích hợp với tuổi trẻ Các thầygiáo đã tạo không khí học tập sinh hoạt sôi nổi ở vùng giải phóng Củ Chi,Hậu Nghĩa… Những trẻ khó dạy, học sinh bị ở lại lớp, hoặc bị đuổi học phụhuynh xin gửi theo học Với lòng yêu ngành và phương pháp giáo dục đadạng, toàn diện chú trọng đến sự phát triển của thế hệ trẻ, cán bộ, giáo viên đãgắn nhà trường với gia đình và xã hội Vì vậy, giáo dục cách mạng đạt đượckết quả tốt, tác động mạnh mẽ đến đời sống tinh thần của nhân dân tạo nên dưluận tích cực trong vùng giải phóng Đông Nam Bộ Trường phổ thông và bổtúc văn hóa ở Củ Chi trở thành cơ sở giáo dục kiểu mẫu ở vùng giải phóngnhững năm 1961 – 1968
Trang 35Khu Đông Nam Bộ là cửa ngõ phía Đông Bắc của cái gọi là “thủ đô”nước “Việt Nam Cộng hòa”, vùng giải phóng bị thu hẹp, nhất là sau 1968 đến
1972 Đông Nam Bộ là chiến trường ác liệt giằng co giữa quân dân ta và ngụy, công tác giáo dục cách mạng gặp nhiều khó khăn Tuy vậy, đến sautổng tiến công chiến lược 1972 của quân dân ta, vùng giải phóng Đông Nam
Mỹ-Bộ mở rộng đáng kể ở Củ Chi, Tây Ninh, Bình Phước, tạo điều kiện thuận lợicho giáo dục cách mạng phát triển, nhu cầu về giáo viên ngày càng tăng.Cũng như các khu khác, Trung ương Cục tổ chức đoàn cán bộ giáo viên miềnBắc tăng cường cho lực lượng miền Nam, Tiểu ban Giáo dục khu Đông Nam
Bộ phân bổ giáo viên về cho các tỉnh
Tháng 6/1971, Trung ương Cục đã điều động nhiều cán bộ về bổ sungcho Sài Gòn – Gia Định đồng thời lập Tiểu ban Giáo dục I4 làm công tácquản lý, phát triển công tác giáo dục ở vùng giải phóng Củ Chi, vừa làmnhiệm vụ nghiên cứu huấn luyện các hoạt động giáo dục ở vùng bị chiếmtrong nội đô Sự ra đời Tiểu ban Giáo dục I4 đã đánh dấu bước phát triểntrưởng thành của phong trào giáo dục cách mạng, bước ngoặt quan trọng thúcđẩy sự phát triển giáo dục ở vùng giải phóng Củ Chi (vùng giải phóng ngoại
ô Sài Gòn)
Trong hai năm 1973 – 1974, Tiểu ban Giáo dục I4 đã đề ra nhiệm vụgiáo dục cơ bản cho vùng giải phóng Củ Chi Trước hết xây dựng, củng cốhoạt động giáo dục ở các xã giải phóng Bắc Củ Chi bằng nhiều phương thứcthích hợp, duy trì cho được các nhóm học tập và lớp học để dần dần thu húthết số trẻ đến độ tuổi đi học đến lớp Dù công tác vận động giáo dục vùngmới giải phóng còn khó khăn, nhưng những cán bộ, giáo viên Tiểu ban Giáodục I4 vẫn kiên trì, nhẫn nại, linh hoạt, sáng tạo trong công tác Tháng
Trang 364/1974 vùng giải phóng Củ Chi đã xây dựng được hai trường phổ thông cấp I
ở An Phú và Phú Mỹ Hưng – "Tổng số 16 lớp, 284 học sinh, 6 lớp bổ túc vănhoá ban đêm với 60 học viên" [Giáo , tr.131] Những kết quả giáo dục bướcđầu trên vẫn được giữ vững và phát triển cho đến ngày miền Nam hoàn toàngiải phóng
Ở Tây Ninh “sau phong trào đồng khởi 1960 có 24 xã được giảiphóng”, [Hội đồng Trung ương… ,tr.218] Tiểu ban Giáo dục tỉnh đảm đươngtrách nhiệm tổ chức, đẩy mạnh phong trào giáo dục cách mạng Trường nộitrú Hoàng Lệ Kha được thành lập tại xã Tà Băng tiếp nhận thiếu niên về họcvăn hóa, năm 1964 trường có 70 học sinh Khi địch càn vào đánh phá thì họcsinh phân tán, học sinh nhỏ chăn trâu bò, học sinh lớn tham gia cùng du kíchđịa phương chống càn Trường Hoàng Lệ Kha dần dần phát triển lên đến lớp
9 rồi 9 + 1, 9 + 2 Bác Hồ đã gửi thư chúc mừng, nhắc nhở học sinh và thầy
cô giáo của trường dạy tốt – học tốt, góp phần tích cực vào việc đánh thắnggiặc Mỹ xâm lươc Mặc dù địch mở nhiều đợt đánh phá, nhưng năm 1967toàn vùng giải phóng Tây Ninh vẫn duy trì được 7 trường học với 550 họcsinh Kết quả này tuy còn khiêm tốn nhưng đã nói lên sự cố gắng vượt bậccủa cán bộ, giáo viên và nhân dân Tây Ninh trong việc kiên trì xây dựng pháttriển sự nghiệp giáo dục cách mạng phục vụ kháng chiến
Tây Ninh là vùng giải phóng nằm trong kế hoạch xây dựng căn cứ địacủa ta từ miền Đông đến Tây Nguyên nối liền xuống Đồng Tháp Mười khuTây Nam Bộ, là bản lề giữa căn cứ miền Đông và đồng bằng, Tây Ninh, làcăn cứ Trung ương Cục Sau 1973, Tây Ninh có vùng giải phóng rộng lớn,huyện Tân Biên, Dương Minh Châu và Châu Thành Tiểu ban Giáo dục tỉnh
mở liên tiếp 4 khoá sư phạm đào tạo giáo viên tại chỗ kịp thời cung cấp chovùng giải phóng ngày càng được mở rộng Với chủ trương "bám trụ, bám địabàn", Tiểu ban Giáo dục đã bố trí cán bộ, giáo viên đến tận cơ sở vừa tham
Trang 37gia các mặt công tác ở địa phương vừa vận động công tác giáo dục, từng bướcxây dựng trường lớp Tuy vậy, nhà ở nhân dân phân tán, thưa thớt, gặp nhiềukhó khăn trong công tác vận động tập hợp học sinh Với ý thức "khẩn trươnglàm tốt công tác giáo dục, làm cho đời sống tinh thần và kiến thức của nhândân được nâng lên để giác ngộ lý tưởng cách mạng ngày càng cao, các cán bộ,giáo viên đã khắc phục mọi khó khăn, cùng với địa phương vận động đưa trẻ
em đến lớp Kết quả mở trong 6 tháng đầu năm 1973 vùng giải phóng TâyNinh có 8 trường học gồm 26 lớp với 20 giáo viên và 1.183 học sinh.”[LSĐBTN, tr.76]
Song song với việc xây dựng trường lớp các cán bộ, giáo viên tổ chứccủng cố bộ máy giáo dục và đội thiếu niên tiền phong Năm 1973 vùng giảiphóng toàn tỉnh Tây Ninh có 6 Ban giáo dục xã và 15 Đội thiếu niên tiềnphong Tiểu ban Giáo dục tỉnh Tây Ninh xác định rõ xây dựng nền giáo dụccách mạng phải gắn liền với đấu tranh chống nền giáo dục phản động Mỹ-ngụy Các trường học giáo dục lòng yêu nước, thương yêu làng xóm, vun đắptình nghĩa đồng bào, tình quê hương xứ sở, coi trọng hoà hợp gia đình vớixóm ấp; xoá bỏ mọi hận thù, hiềm khích dân tộc do kẻ thù gây ra
Công tác tuyên truyền, giáo dục xây dựng con người mới, củng cố tinhthần nhân dân ở vùng giải phóng được cán bộ giáo dục các cấp quan tâm,tuyên truyền vận động nhân dân trên cơ sở nắm rõ tâm tư nguyện vọng, giáodục thuyết phục định hướng giúp quần chúng tin và đi theo Đảng, một lòngphục vụ cách mạng Các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương tỉnh Tây Ninhquan tâm tập trung xây dựng trường lớp, vận động con em đi học Vì vậy,công tác giáo dục ở vùng giải phóng phát triển mạnh mẽ
Cuối 1974 toàn tỉnh có 23 trường học, 167 lớp, 178 giáo viên, 5.030học sinh, 518 đội viên thiếu niên tiền phong và 17 ban giáo dục xã
Trang 38Trường nội trú Hoàng Lệ Kha: 8 lớp, 10 giáo viên và 146 học sinh.Phong trào bổ túc văn hoá cho cán bộ chiến sĩ và bình dân học vụcũng phát triển mạnh Năm 1974 có 76 lớp bổ túc văn hoá, 68 giáoviên và 855 học viên [G , tr.140].
Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Cục và chỉ đạo chặt chẽ Tiểu banGiáo dục Miền, giáo dục cách mạng ở vùng giải phóng tỉnh Bình Phước cũngphát triển theo phong trào chung Bình Phước có vùng giải phóng ở miền núirộng lớn nhưng trình độ dân trí thấp, thường xuyên nằm dưới sự kìm kẹp đánhphá của địch Những cán bộ, giáo viên đã cố gắng vược qua mọi khó khăngian khổ, coi trọng công tác bổ túc văn hóa cho cán bộ cơ quan, xây dựngtrường phổ thông cấp I, thực hiện công tác xóa mù chữ cho nhân dân, trướchết là cán bộ chủ chốt, đồng bào dân tộc thiểu số Những năm 1961 – 1968,Bình Phước dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng liên tục tiến hành các cuộctiến công và nổi dậy xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân mở rộng vùnggiải phóng Cùng với đấu tranh chính trị, quân sự công tác giáo dục, tư tưởngkhông ngừng được củng cố và phát triển Ở các buôn, sóc bà con dân tộc ítngười, những lớp học bình dân học vụ vẫn được mở đều đặng Cán bộ, giáoviên cùng với cán bộ dân vận địa phương vừa làm tốt công tác tuyên truyền,giáo dục tư tưởng vừa dạy chữ, vận động nhân dân tham gia, phục vụ cáchmạng Phong trào học tập không ngừng phát triển, nội dung giảng dạy theochương trình miền Bắc xã hội chủ nghĩa đưa vào được vận dụng điều chỉnhphù hợp từng đối tượng Để tránh bom đạn của địch các lớp học được phântán nhỏ, sơ tán vào rừng hoặc giảng dạy dưới hầm trú ẩn Riêng huyện PhướcBình có nhiều trường phổ thông như trường tiểu học Phú Nghĩa: 03 lớp, PhúVân: 08 lớp, Đức Hạnh: 05 lớp…
Dù tỉnh Bình Phước vùng dân cư thưa thớt, trình độ dân trí thấp, côngtác vận động giáo dục cách mạng khó khăn, nhưng dưới sự chỉ đạo của Tiểu
Trang 39ban Giáo dục Miền, giáo dục cách mạng tỉnh Bình Phước cũng phát triểnmạnh sau Tổng tiến công Mậu Thân 1968 Những cán bộ, giáo viên làm côngtác giáo dục vẫn linh hoạt, sáng tạo đưa phong trào giáo dục ở vùng giảiphóng ngày càng phát triển, song song với công tác xóa mù chữ cho nhân dâncòn vận động nhân dân xây dựng trường lớp phổ thông cấp I Năm 1969, địchcàn quét liên tục, giáo dục cách mạng ở vùng giải phóng gặp nhiều khó khăn,các lớp học có lúc phải tạm ngưng Tình hình đó, tháng 6/1969, Tiểu banGiáo dục R triệu tập cuộc họp cán bộ giáo dục đề ra nhiệm vụ: tiếp tục pháttriển giáo dục ở vùng giải phóng, chuẩn bị việc tiếp quản những vùng sắp giảiphóng Tiểu ban Giáo dục R tăng cường cán bộ, giáo viên cấp II, III cho cáchuyện, tiếp tục củng cố xây dựng phong trào giáo dục Những năm 1970 –
1975 giáo dục cách mạng tỉnh Bình Phước vẫn tiếp tục duy trì phát triển,chuẩn bị những điều kiện cơ bản để tiếp quản vùng giải phóng Đến 1972,vùng giải phóng đã có hàng chục vạn dân bám trụ ở các làng xã, công tác giáodục từng bước ổn định, phát triển, tạo được thế đứng chân vững chắc Để tạođiều kiện thuận lợi cho giáo dục giải phóng phát triển và xây dựng thực lựccủa ngành, tỉnh tiến hành tuyển chọn thanh niên có trình độ cấp II, III để đàotạo, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm Tiểu ban Giáo dục tỉnh đã mở trườngTrung sơ cấp Sư phạm tại Bù Đốp Năm 1973, ngành giáo dục cách mạng tỉnhBình Phước đã ổn định nề nếp với các phong trào thi đua hai tốt điển hình đãhình thành được Tiểu ban Giáo dục R đánh giá cao Công tác tổ chức củaTiểu ban giáo dục tỉnh được tăng cường cả về số lượng và chất lượng, biênchế thành phòng, ban chặt chẽ, quản lý chỉ đạo ngành theo chức năng chuyênmôn, đủ điều kiện để phát triển ngành giáo dục cách mạng khi vùng giảiphóng ngày càng mở rộng
Tóm lại, phong trào giáo dục Đông Nam Bộ ở vùng giải phóng nhữngnăm 1961 – 1975 được xây dựng và phát triển mạnh mẽ, với nhiều biện pháp,
Trang 40hình thức giảng dạy linh hoạt cho con em người lao động, dân tộc ít ngườibiết chữ, nhận thức được cuộc chiến tranh cách mạng của Đảng và nhân dân
ta Nhiều người sau khi học giác ngộ lý tưởng cách mạng tham gia bộ đội vàtrở thành những cán bộ chủ chốt của tỉnh, huyện sau ngày miền Nam hoàntoàn giải phóng sự nghiệp giáo dục cách mạng thực sự đóng góp quan trọngvào sự nghiệp chung của dân tộc
Khu Đông Nam Bộ là chiến trường diễn ra ác liệt so với các vùng khác
ở miền Nam, gần trung tâm đầu não của Mỹ-ngụy, địch ngày đêm càn quétđánh phá lấn chiếm vùng giải phóng, gây khó khăn, tổn thất cho lực lượngcách mạng nói chung và sự nghiệp giáo dục nói riêng Tuy vậy, nhờ sự lãnhđạo chặt chẽ của Trung ương Cục, Tiểu ban Giáo dục và cấp ủy Đảng địaphương, cán bộ, giáo viên vẫn bám trụ duy trì sự nghiệp giáo dục giải phóng,đưa sự nghiệp ấy ngày càng phát triển đạt được những kết quả quan trọng,được các cấp uỷ Đảng đánh giá cao, nhân dân tin tưởng Những cán bộ, giáoviên không chỉ là người thầy dạy chữ mà còn là những chiến sĩ, góp phầntuyên truyền quan điểm, tư tưởng cách mạng của Đảng Trong quá trình côngtác có những giáo viên bị bắt, hy sinh nhưng hầu hết vẫn kiên cường bất khuấttiếp tục hoạt động, tin tưởng vào sự nghiệp cách mạng của Đảng Được rènluyện trong kháng chiến, đội ngũ giáo viên đã trưởng thành không bở ngỡtrước những nhiệm vụ mới
2.1.2 Khu Tây Nam Bộ
Tây Nam Bộ có địa hình phức tạp, vùng giải phóng chủ yếu là nôngthôn, kênh rạch chằng chịt, nhà cửa thưa thớt Sau phong trào đồng khởi, cácđịa phương Tây Nam Bộ có vùng giải phóng rộng lớn, nhưng địch ra sức tànsát, bắt bớ những người tình nghi cộng sản và người dân vô tội Các cơ sởcách mạng và nhiều đồng bào chuyển vào rừng đước rừng tràm ở U Minh,