Bài viết trình bày tính chất, nguyên tắc vận hành, quản lý và quan điểm lấy người học làm trung tâm của các trường cao đẳng Canada; Chương trình đào tạo và phương thức dạy - học và chính sách phát triển hệ thống giáo dục nghề nghiệp giữa Việt Nam và Canada là những nhóm yếu tố so sánh.
Trang 1TÓM TẮT:
Phương pháp nghiên cứu so sánh được dùng trong tham luận này với mục đích rút ra các bài học cho cả hai hệ thống giáo dục nghề nghiệp của Việt Nam và Canada Định nghĩa giáo dục nghề nghiệp theo quan điểm hiện đại được dùng trong các phân tích Sự khác biệt giữa 2 hệ thống có nhiều nguyên nhân xuất phát từ sự hiểu khác nhau về thuật ngữ giáo dục nghề nghiệp và bối cảnh xã hội cũng như xuất phát điểm của 2 hệ thống Ba nhóm yếu tố được dùng để so sánh là: (1) tính chất, nguyên tắc vận hành, quản lý và quan điểm lấy người học làm trung tâm của các trường cao đẳng Canada, (2) chương trình đào tạo và phương thức dạy - học và (3) chính sách phát triển hệ thống giáo dục nghề nghiệp giữa Việt Nam và Canada là những nhóm yếu tố so sánh trong tham luận này
Từ khóa: giáo dục nghề nghiệp, chương trình đào tạo, chính sách phát triển hệ thống
giáo dục nghề nghiệp
1 Mở đầu
Chúng tôi dùng phương pháp nghiên cứu so sánh (comparative study) để tìm hiểu những điểm tương đồng và khác biệt giữa giáo dục nghề nghiệp (GDNN) Việt Nam và Canada Thuật ngữ "khác biệt” ở đây không có bất cứ hàm ý nào liên quan đến: đúng/sai, tốt/xấu, hay/dở, chất lượng cao/thấp,… Quan điểm của chúng tôi về chất lượng là: (1) sự phù hợp và (2) giá trị gia tăng hay sự chuyển trạng thái (Harvey và Green 2006) Như vậy, chất lượng phụ thuộc rất nhiều vào bối cảnh của từng quốc gia hay từng địa phương, mục tiêu phát triển và tính chất đặc trưng của nền kinh tế và các yếu tố văn hóa, xã hội Sự chuyển trạng thái cũng phụ thuộc rất nhiều vào trạng thái ban đầu của một hệ thống Với một lịch sử phát triển lâu đời, hệ thống GDNN của Canada có nhiều thuận lợi hơn Việt Nam, nơi mà
hệ thống GDNN có nhiều thay đổi nhanh chóng về nhiều mặt, nhiều khái niệm mới liên quan đến GDNN vừa mới bắt đầu được áp dụng, mức độ phù hợp của các cách làm mới, khái niệm mới vẫn chưa được đánh giá đầy đủ Ở Việt Nam, xã hội còn phần nào chưa đánh giá cao hoặc đánh giá đúng mức vị trí của hệ thống GDNN, vẫn còn hiện tượng trọng bằng cấp, thích học ở các trường đại học hơn vào cá cơ sở GDNN Hiện nay, ở Canada hiện tượng này gần như không còn nữa, tuy nhiên 40-50 trước vào các trường cao đảng (CĐ) vẫn là sự lựa chọn ưu tiên hai, sau đại học (Peterson 2017)
SO SÁNH MỘT SỐ TÍNH CHẤT QUAN TRỌNG GIỮA
HAI HỆ THỐNG GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP
VIỆT NAM VÀ CANADA
Michael Emblem và Lê Quang Minh*
* Dự án GDNN Việt Nam, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Trang 2Cần lưu ý:
(1) Đôi khi những sự khác biệt này rất khó thấy khi chỉ tham khảo tài liệu, các văn kiện, văn bản,… và thiếu những cuộc trao đổi trực tiếp, học tập, tìm hiểu lẫn nhau và những quá trình hợp tác lâu dài Các thuật ngữ trong các văn bản có thể giống nhau, nhưng nội hàm của các thuật ngữ này khi đặt vào bối cảnh khác nhau lại rất khác nhau
(2) Mức độ của các khái niệm khác nhau có thể dẫn đến bản chất vấn đề khác nhau Ví dụ: khái niệm tự chủ là khái niệm khó đo lường và có thể có nhiều mức
độ cũng như cách hiểu khác nhau
Do đó, khi so sánh về tính chất của các trường CĐ Việt Nam và Canada, chúng tôi cố gắng tránh những so sánh hình thức Nếu thấy cần thiết, chúng tôi đưa ra một số khái niệm để sự so sánh có đầy đủ ý nghĩa của nó
Mục đích của tham luận này để rút ra các bài học, kinh nghiệm để các hệ thống GDNN của 2 nước có thể học tập lẫn nhau
2 Giáo dục nghề nghiệp theo quan điểm hiện đại
Giáo dục nghề nghiệp18 (Technical Vocational Education and Training-TVET) được UNESCO (2015) định nghĩa như sau: “Phát triển giáo dục, đào tạo
và kỹ năng liên quan đến nhiều yếu tố thuộc lãnh vực nghề nghiệp, sản xuất, dịch vụ và đời sống; đây là một phần của học tập suốt đời, có thể được triển khai
ở bậc trung học và sau trung học và bao gồm học tập tại nơi làm việc, học tập thường xuyên và phát triển nghề nghiệp dẫn đến nhiều trình độ GDNN còn bao gồm một phổ rộng các cơ hội phát triển nghề nghiệp quốc gia và cộng đồng Học cách học (learn to learn), phát triển các kỹ năng về ngôn ngữ và tính toán, các kỹ năng chuyển đổi19 và kỹ năng công dân là những thành tố cần được tích hợp vào GDNN”
Định nghĩa của UNESCO cho thấy những thành tố quan trọng của giáo dục như học cách học, học tập suốt đời, các kỹ năng chuyển đổi (quan trọng nhất là kỹ năng mềm), … là những thành tố không thể thiếu khi đánh giá chất lượng GDNN Phần năng lực tư duy, kỹ năng mềm, các tố chất công dân là những phần ít được chú ý ở Việt Nam Các chương trình GDNN ở Việt Nam thường thiên về dạy nghề (Đinh Thị Nga 2017) và thiếu nhiều kỹ năng quan trọng nêu trên Cunningham và Pimhidzai 2018)
3 Giáo dục nghề nghiệp tại Canada
18 TVET (Technical Vocational Education and Training)
19 Transferable skills: là những kỹ năng cần thiết cho mọi ngành nghề (khác với kỹ năng nghề nghiệp) như: kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm, lãnh đạo, khởi nghiệp, tư duy phản biện,…
Trang 3Chú thích: Primary Education: GD tiểu học, Secondary Education: GD trung học, Apperenceship: học nghề, Post-secondary Diplomas and Certificates: GD Sau trung học có cấp bằng 21 hoặc chứng chỉ Tertiary Education: GD ĐH và CĐ 22
Hệ thống GDNN Canada được phát triển mạnh và có một lịch sử tương đối dài với hơn 100 năm phát triển (Lyons at el 1991) Với nhiều kinh nghiệm được tích lủy trong một thời gian dài, hệ thống GDNN Canada được Economic
Hình 1: Hệ thống GD Canada (Nguồn: UNESCO-UNEVOC 2013)
20 Canada sử dụng thuật ngữ Ministry cho cấp tỉnh (province) Từ province trong nhiều tài liệu dịch là Bang
21 Thuật ngữ Diploma sử dụng trong TVET ở một số quốc gia có thể được dịch là văn bằng
22 2 thuật ngữ Tertiary và Post-Secondary là 2 thuật ngữ không có khái niệm hoàn toàn tương thích với hệ thống GD Việt Nam
Hình 1 cung cấp một cái nhìn tổng quát về hệ thống giáo dục và GDNN ở Canada Theo Alvarez-Galván et al (2015), Canada có 131 trường cao đẳng (CĐ) công lập và 25 trường CĐ tư, cùng với 25 cơ sở GDNN tư khác Hệ thống này tiếp nhận khoảng 800.000 SV hàng năm (trong đó có 115.000 SV học ở các trường CĐ
tư thục) Canada không có một Bộ cấp liên bang chủ quản hệ thống GD nói chung
và GDNN nói riêng, trách nhiệm này do các Bộ20 cấp tỉnh đảm trách (UNESCO-UNEVOC 2013)
Trang 4Committee (2014) dùng để đối sánh với các hệ thống GDNN các nước ASEAN
từ đó rút ra nhiều bài học kinh nghiệm có thể áp dụng cho các nước trong khu vực này
Brennan (2015) đã tổng kết các kinh nghiệm của mô hình cao đẳng cộng đồng (CĐCĐ) Canada và đề xuất áp dụng kinh nghiệm này cho các nước đang phát triển Các đặc tính chung của các trường CĐ công trên toàn Canada như sau:
1 Dễ tiếp cận, cho mọi người, mọi thành phần, lứa tuổi
2 Chi phí thấp
3 Hướng về cộng đồng
4 Phục vụ yêu cầu của doanh nghiệp và nhà tuyển dụng
5 Lấy người học làm trung tâm
6 Chương trình đào tạo theo hướng ứng dụng, thực hành và nghiên cứu ứng dụng
7 Mềm dẻo, linh hoạt để có thể thích nghi nhanh với những thay đổi
8 Mở tầm nhìn ra thế giới, tìm những cơ hội học tập mới và quốc tế hóa
23 Canada không có Bộ Giáo dục ở cấp quốc gia (Brennan 2015)
24 Álvarez-Galván et al (2015)
25 Nguồn: Nguyễn Thị Minh Hạnh (2018)
Bảng 1: GDNN Canada và Việt Nam: những điểm khác biệt chính
- Cấp tỉnh quản lý23 - Bộ chủ quản
- Kiểm tra KPI và các kết quả đầu ra - Kiểm tra việc tuân thủ các hướng dẫn
(nghị định, thông tư)
- Hợp tác chặt chẽ giữa các tỉnh và các hội
đoàn nghề nghiệp để định tiêu chuẩn mục
tiêu và năng lực nghề nghiệp cần được
đào tạo
- Bộ Lao động TBXH hợp tác chặt chẽ với các trường để xác dịnh mục tiêu và năng lực nghề nghiệp Vai trò của hiệp hội nghề nghiệp và Hiệp hội Cao đẳng cộng đồng (VACC) cần được nâng cao
- Các trường đa ngành, đa cấp chiếm hầu
hết - Các trường chuyên ngành và chuyên ngành hẹp chiếm đa số
- 80% ngân sách các cơ sở GDNN công
lập do chính quyền địa phương cung
cấp24
- Nhà nước cung cấp khoảng 60% cho ngân sách hoạt động của các trường25
Trang 5Alvarez-Galván et al (2015) cũng nhấn mạnh đến các tính chất sau của hệ thống GDNN Bắc Mỹ:
- Mối quan hệ chặt chẽ với doanh nghiệp của các trường CĐ;
- Hệ thống dạy nghề với mục tiêu và các chuẩn nghề nghiệp do doanh nghiệp quyết định đóng vai trò quan trọng trong hệ thống GDNN ở Canada và các chuẩn mực này ảnh hưởng tích cực đến CTĐT của các trường;
- Các cơ quan chức năng cấp tỉnh hợp tác với nhau trong việc xác định chuẩn chất lượng để người học có đủ năng lực nghề nghiệp làm việc ở các tỉnh khác (Red Seal Program);
- Nghiên cứu ứng dụng cho doanh nghiệp và hợp tác với doanh nghiệp đang được phát triển mạnh mẽ;
- Các trường có các cơ sở dữ liệu rất tốt, được cập nhật thường xuyên và được
sử dụng trong các phân tích, ra quyết định,…
Ở Việt Nam, một trong những điểm yếu của các trường CĐ và hệ thống các
cơ sở GDNN là hệ thống thông tin (Cunningham và Pimhidzai 2018)
a) Một số tính chất quan trọng của các trường Cao đẳng ở Canada
Hiệp hội các trường Đại học, Cao đẳng Bắc Mỹ trong một nghiên cứu công
bố năm 2016 cho thấy 5 nhóm vấn đề quan trọng nhất, chiêm nhiều thời gian nhất của các hiệu trưởng các trường CĐ Bắc Mỹ26 là:
1 Quản lý tài chính có 65% số hiệu trưởng trả lời là quan trọng nhất
2 Tạo nguồn thu (fund raising): 58%
3 Quản lý nhóm lãnh đạo cốt cán: 46%
4 Quan hệ với HĐT: 42%
5 Chiến lược tuyển sinh: 32%
Về sự tham gia tích cực của đại điện doanh nghiệp vào hội đồng trường và nhiều hoạt động khác của nhà trường trên quan điểm các bên cùng có lợi và quan trọng hơn là những vinh dự do sự hợp tác này mang lại cho doanh nghiệp, cũng như những tính chất quan trọng khác được Kennedy (2017) trình bày như sau:
- Giảm chi phí đào tạo lại và đào tạo thêm cho doanh nghiệp;
- Doanh nghiệp có nguồn lao động với chi phí thấp khi tiếp nhận SV thực tập;
26 Nguồn: ACE (2017) Overview
Trang 6Bảng 2: Đặc tính các trường CĐ Việt Nam và Canada:
những điểm khác biệt chính
27 Công cụ phân tích để định hướng chiến lược cho các trường CĐ ở Canada thường là SOAR (Strength, Opportunity, Aspiration< Result) là một công cụ dùng phổ biến cho các trường đã “cất cánh” Trong khi đó, các trường CĐ Việt Nam còn đang ở giai đoạn đi đến đường băng hoặc tăng tốc trên đường băng nên tính chất đặc trưng chưa rõ Công cụ phân tích để hình thành chiến lược các trường CĐ Việt Nam thường là SWOT (Strength, Weakness, Opportunity, Thread) và tập trung nhiều chiến lược để khắc phục hoặc hạn chế điểm yếu và hạn chế thách thức
28 Bộ Lao động TBXH (2016)
29 Kết quả khảo sát của TCAM, thuộc dự án VSEP: phỏng vấn 30 hiệu trưởng các trường CĐ ở Việt Nam, năm 2018.
- Hội đồng trường (HĐT) quyết định
chiến lược phát triển, cơ cấu tổ chức, nhân
sự chủ chốt, phân bổ ngân sách và các vấn
đề lớn Chủ tịch HĐT báo cáo trực tiếp và
chịu trách với Bộ
- Các định chế về HĐT28 đã được ban hành nhưng chưa được áp dụng rộng rãi
- Tầm nhìn, sứ mạng các trường khác
nhau, từ đó tạo được các “sản phẩm” đặc
trưng27
- Tầm nhìn, sứ mạng các trường rất giống nhau, thường rất chung chung, không rõ đặc trưng của trường
- Các giá trị cốt lõi được xác định rõ ràng,
được đồng thuận và có nhưng biên pháp
cụ thể giúp hình thành các giá trị này
- Các giá tri cốt lõi thường dừng ở khẩu hiệu, không có các giải pháp và hoạt động
để các giá trị này hình thành và trở thành đặc trưng của trường
- Hiệu trưởng tập trung vào: quan hệ
với HĐT, quan hệ công chúng và doanh
nghiệp; triển khai tầm nhìn, sứ mạng của
nhà trường, phát triển và hình thành nhóm
quản lý cao cấp, quản lý dựa vào kết quả
(result-based management); tìm nguồn tài
trợ; tìm các biên pháp tăng sự hài lòng của
các bên liên quan, hình thành nhà trường
học tập liên tục
- Hiệu trưởng dành nhiều thời gian cho công tác hành chính, sự vụ29
- Tăng cường danh tiếng của doanh nghiệp (khi “thương hiệu” của các trường
đã đủ lớn);
- Giúp doanh nghiệp (thường là doanh nghiệp vừa và nhỏ) giải quyết các vấn
đề thực tế mà doanh nghiệp gặp phải
Đây là các yếu tố quan trọng và có thể là khởi điểm của hợp tác trường- doanh nghiệp mà các trường CĐ ở Việt Nam cần quan tâm hơn
Sự khác biệt lớn nhất trong phương thức tổ chức, vận hành giữa các trường
CĐ Việt Nam và Canada được tóm tắt trong Bảng 2
Trang 7Về tính chất đặc trưng của một trường CĐ lấy người học làm trung tâm, Ogryzlo và Lê Quang Minh (2018), dựa vào mô hình của trường CĐ Niagara, Canada, đã đề xuất 14 tính chất có thể được áp dụng cho các trường CĐ Việt
Nam Các tiêu chí này được trình bày trong bảng 3 Lưu ý khái niệm lấy người học
làm trung tâm ở Việt Nam thường được hiểu trong bối cảnh Dạy và Học và trong
lớp học Khái niệm nhà trường lấy người học làm trung tâm được hiểu rộng hơn:
toàn trường lấy người học làm trung tâm Hiểu theo quan điểm này: hệ thống các phòng/ban không phải là một cấp hành chính trên khoa (quan điểm Việt Nam: phòng ban là cấp trường, như vậy phải trên cấp khoa) mà là những đơn vị hỗ trợ
và phục vụ để tăng hiệu quả Dạy và Học
Tính chất của một trường cao đẳng lấy người học làm trung tâm
1 Đặt sinh viên ở vị trí trung tâm trong tất các các hoạt động của nhà trường, thể hiện qua sứ mệnh, tầm nhìn và giá trị
2 Cung cấp các chương trình đào tạo theo nhu cầu, chương trình đào tạo dựa trên hiệu quả, và kinh nghiệm học tập tích cực và chủ động
3 Điều chỉnh sự tập trung vào các chính sách hành chính, dịch vụ hỗ trợ và quản lý mối quan hệ, giảm sự phiền lòng và các rào cản và tạo ra một môi trường hỗ trợ
4 Tối đa việc học tập ứng dụng và tại nơi làm việc
5 Sử dụng các phân tích để thiết kế các chiến lược dựa trên dữ liệu
6 Cung cấp các định hướng rõ ràng và các chính sách nhất quán
7 Tự đánh giá hiệu quả của nhà trường một cách thường xuyên
8 Đơn giản hóa tăng hiệu quả việc phát triển chương trình đào tạo, đổi mới, phê duyệt
và quy trình triển khai để đảm bảo tính cập nhật
Bảng 3: Tính chất của một trường cao đẳng lấy người học làm trung tâm ở Canada.
- Người học làm trung tâm trong mọi hoạt
động của nhà trường - Ở rất nhiều trường công, hệ thống hành chính chưa lấy người học làm trung tâm
- Hợp tác chặt chẽ với doanh nghiệp, xem
đây là một trong những yếu tố sống còn
của nhà trường
- Hệ thống luật pháp và nhiều chính sách khuyến khích, bắt đầu có những hợp tác trường - doanh nghiệp, nhưng chưa nhiều
- Nhà trường tham gia các Cộng đồng
Thực hiện (community of practice) để chia
sẻ kinh nghiệm, bài học hay,…
- Cộng đồng thực hiện vừa được triển khai
và đã bắt đầu phát huy tác dụng
Trang 8Tính chất của một trường cao đẳng lấy người học làm trung tâm
9 Cung cấp các lớp có thể dễ dàng sắp xếp lại cho phù hợp với các phương pháp giảng dạy tăng tương tác giữa giảng viên và sinh viên
10 Ghi nhận việc học có thể diễn ra bên ngoài lớp học
11 Xem sinh viên như những người học riêng biệt nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của
họ (cá thể hóa người học)
12 Cung cấp công nghệ hiện đại và cơ sở hạ tầng để hỗ trợ học tập
13 Sử dụng trao đổi thông tin nội bộ để thông báo đầy đủ cho giảng viên và nhân viên các thay đổi bên ngoài có thể ảnh hưởng đến việc học và và kết quả học tập của sinh viên
14 Dự đoán thị trường việc làm trong tương lai và phát triển chương trình đào tạo đáp ứng các nhu cầu mới
Một yếu tố quan trọng để các trường CĐ ở Canada phát triển nhanh là:
- Vai trò tích cực của Hiệp hội Cao đẳng Cộng đồng Canada (ACCC-Association of Canadian Community College, nay là CICan - College Institutes Canada);
- Các Cộng đồng chia sẻ kinh nghiệm (community of practice) là những diễn đàn do các trường chủ động thành lập để chia sẻ kinh nghiệm, học tập lẫn nhau về lãnh đạo, quản lý, các vấn đề về GD hiện đại, các bài học kinh nghiệm, cách làm hay,…
b) Chương trình đào tạo và phương pháp dạy - học
Bảng 4: Những điểm khác biệt chính của CTĐT giữa Canada và Việt Nam
- Đào tạo hướng năng lực
(competen-cy-based) - Đào tạo còn thiên nhiều về nội dung
31
(content-based)
- Rất chú trọng và thường lồng ghép các
kỹ năng mềm, kỹ năng chuyển đổi vào tất
cả các môn học
- Chưa chú trọng đến các kỹ năng mềm,
kỹ năng chuyển đổi
30 Ananiadou, và Claro (2009) và Pavlova (2018)
31 Phát biểu của Bộ Trưởng Bộ Lao động TBXH [https://btec.fpt.edu.vn/bo-truong-dao-ngoc-dung-nhieu-doanh-nghiep-lon-da-tham-gia-giao-duc-nghe-nghiep/]
Trang 9Bảng 4 cho thấy vai trò của các kỹ năng mềm và kỹ năng chuyển đổi được các trường CĐ ở Canada rất quan tâm và điều này góp phần quan trọng vào sự thành công của SV tốt nghiệp, cũng như tăng mức độ hài lòng của các nhà tuyển dụng
Ở Việt Nam, Cunningham và Pimhidzai (2018) đã chỉ ra những thiếu sót về các kỹ năng mềm của các CTĐT GDNN và cũng cho thấy tầm quan trọng của các
kỹ năng này dựa vào yêu cầu của các nhà tuyển dụng (hình 2)
Hình 2: Các kỹ năng mềm và kỹ năng chuyển đổi do các nhà tuyển dụng
Việt Nam yêu cầu
- Các kỹ năng của thế kỷ 2130 đã được đưa
vào CTĐT từ những năm cuối của thế kỷ
20
- Khuyến khích lấy người học làm trung tâm trong hoạt động dạy và học
- Tính linh hoạt, mềm dẻo và liên thông
rất cao - Chưa quan tâm đến những kỹ năng cần thiết của thế kỷ 21
- Chú trọng đến yếu tố học tập suốt đời - Có tính liên thông, mặc dù tinh linh
hoạt, mềm dẻo còn thấp
- Doanh nghiệp và nhà tuyển dụng tham
gia vào hội đồng trường, ban cố vấn
chương trình đào tạo
- Chưa chú trong đến các kỹ năng cần thiết cho học tập suốt đời
- Công nghệ thông tin và truyền thông
ITC được áp dụng rộng rải (hệ thông
E-Learning và E-portfolio rất phất triển),
các phần mềm giả lập (simulation) được
sử dụng nhiều
- Doanh nghiệp tham gia vào các hoạt động của trường còn hạn chế Rất ít trường có ban cố vấn chương trình đào tạo (Program Advisory Committee)
- Công nghệ thông tin áp dung trong giảng dạy chưa được phổ biến rộng rải
Trang 10Trong những năm gần đây, ở một số tỉnh của Canada, số lượng người đã tốt nghiệp đại học đến học lại các chương trình bậc cao đẳng (vì lý do dễ tìm được việc làm hơn) chiếm một tỷ lệ đáng kể (18% ở tỉnh British Columbia, năm 2016)
Để khắc phục điểm yếu nêu trên, có thể tham khảo quy trình phê duyệt CTĐT của trường CĐ Niagara32 được tiến hành theo các bước sau:
1 Khảo sát thị phần;
2 Lấy ý kiến nhà tuyển dụng về năng lực và tố chất cần thiết của sinh viên; (SV) tốt nghiệp (phương pháp DACUM33: thiết kế mục tiêu đào tạo, chuẩn năng lực, kết quả học tập mong đợi của CTĐT;
3 Phân tích nguồn lực triển khai CTĐT: nguồn lực giảng viên, cơ sở vật chất trong và ngoài trường có thể được dùng cho đào tạo;
4 Phân tích vị trí của CTĐT trong tỉnh và khu vực: phân tích điểm mạnh/ yếu, tính đặc trưng của CTĐT, năng lực cạnh tranh, thu hút SV,…;
32 Ananiadou, và Claro (2009) và Pavlova (2018)
33 Design A CurriculuM: là phương pháp lấy ý kiến nhà tuyển dụng và người lành nghề một cacsch hiệu quả và chi phí thấp.
Nguồn: Cunningham và Pimhidzai (2018)