Bài viết trình bày hoạt động thông tin KH&CN trong Thời đại thông tin và Cách mạng Công nghiệp 4.0; Hoạt động thông tin KH&CN định hướng người dùng tin; Một số năng lực chính của cán bộ thông tin chuyên nghiệp.
Trang 11
BÀN VỀ NĂNG LỰC CÁN BỘ THÔNG TIN TRONG THỜI ĐẠI
Phạm Văn Vu
Phó Chủ tịch Hội Thông tin KH&CN Việt Nam
1 Ho ạt động thông tin KH&CN trong Thời đại thông tin và Cách mạng Công nghi ệp 4.0
1.1 Th ời đại thông tin
Vào cuối thập niên 70 của thế kỷ 20, Thế giới bắt đầu chứng kiến hiện tượng bùng
nổ thông tin (TT) với các chỉ báo về tốc độ gia tăng theo cấp số nhân của các ấn phẩm,
tạp chí sau 8-10 năm, thì nay, xu hướng phát triển của xã hội thông tin được đặc trưng
bởi sự nở rộ của TT như vũ bão Thực tế là vào năm 2002, nhân loại đã tạo ra 18x1018 byte thông tin (18 Exabyte), rồi sau 5 năm, đã tạo ra nhiều thông tin hơn trong toàn bộ
lịch sử trước đó Lượng thông tin trên thế giới tăng hàng năm 30%, trung bình mỗi người
sản xuất tới 2,5x108byte/năm
Hiện tượng bùng nổ thông tin chính là sự gia tăng liên tục về tốc độ và khối lượng
ấn phẩm trên phạm vi toàn cầu Sự gia tăng giống như tuyết lở, như vũ bão về khối lượng
và dạng thức thông tin trong xã hội hiện đại được gọi là vụ nổ thông tin, mà sau này Stanislav Lem, nhà văn Ba Lan, đã mô tả vấn đề này là lạm phát văn hóa
Những chỉ báo về sự bùng nổ TT còn xuất phát từ cuộc cách mạng công nghệ thông tin và truyền thông hiện đại với các đặc trưng: có tới 6 tỷ điện thoại trên 7 tỷ người (Ericsson, 2012), 6 tỷ cài đặt truyền hình (Guinnes Today, 2012), 2 tỷ máy tính (Gartner, 2012), 2,3 tỷ người dùng Internet (Số liệu thống kê Internet, 2012), bùng nổ các ấn phẩm
tư nhân khác nhau trên World Wide Web, số lượng blog tăng gấp đôi cứ sau 6 tháng Theo thống kê, lượng thông tin kỹ thuật số tăng gấp đôi cứ sau 18 tháng Từ những năm
1980, khả năng lưu trữ thông tin của thế giới đã tăng bình quân gấp đôi sau mỗi 40 tháng Ước tính năng lực lưu giữ thông tin trên thế giới đã đạt đến 5 zettabyte vào năm
2014 Đây là lượng thông tin tương đương 4.500 giá sách in, có chiều dài từ Trái Đất đến Mặt Trời???
Trong báo cáo nghiên cứu năm 2001 của META Group (hiện nay là công ty nghiên cứu Gartner), nhà phân tích Doug Laney, Phó chủ tịch Garner, định nghĩa những
Trang 22
thách thức và cơ hội tăng dữ liệu theo 3 chiều, còn gọi là 3Vs – chữ viết tắt của Volume (Khối lượng), Velocity (Tốc độ), Variety (Đa dạng) Song đến nay, nhiều nhà phân tích
dữ liệu còn bổ sung thêm nhiều V nữa, chẳng hạn Value (Giá trị), Veracity (Xác thực),
Visualisation (Trực quan), … Cụ thể, những đặc trưng của dữ liệu ngày nay tạo nên khái
niệm bùng nổ TT là:
- Kh ối lượng (Volume): Số lượng dữ liệu được tạo ra; Dữ liệu có thể được
truy ền đưa, giao dịch trực tuyến hoặc ngoại tuyến; Dung lượng của dữ liệu không còn tính b ằng kilobyte hoặc terabyte; Dữ liệu được thể hiện trong hồ sơ, sách báo, dưới dạng
b ảng biểu hay tập tin Một câu hỏi đặt ra là liệu ta có thể tìm thấy thông tin mà ta đang
tìm kiếm hay không
- T ốc độ (Velocity): Tốc độ tạo ra dữ liệu; Dữ liệu được tạo ra trong thời
gian th ực; Dữ liệu trực tuyến và ngoại tuyến; Dữ liệu truyền trong luồng, theo lô hoặc
bit Có nghĩa là: Thông tin tăng mạnh và khủng hoảng & cơ hội phát triển trong thời
gian th ực Vậy, triển vọng cho ngày hôm nay như thế nào? tốc độ các dữ liệu được tạo ra
và xử lý để đáp ứng các nhu cầu và thách thức trên con đường tăng trưởng và phát triển
- Đa dạng (Variety): Dữ liệu dưới dạng cấu trúc và phi cấu trúc; Dữ liệu
dưới dạng hình ảnh và video trực tuyến; Dữ liệu do con người tại ra dưới dạng văn bản;
D ữ liệu do máy tao ra – bài đọc Một bức tranh đáng giá một ngàn lời nói bằng 70 ngôn
ng ữ? Liệu thông tin của bạn có sánh bằng không? Dữ liệu được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau và các kiểu dữ liệu cũng có rất nhiều cấu trúc khác nhau
- Giá tr ị (Value): Liệu bạn có thể tìm thấy nó khi bạn cần nó nhất?
- Xác th ực (Veracity): Bạn đang xử lý thông tin hay không phải là thông tin?
Chất lượng của dữ liệu thu được có thể khác nhau rất nhiều, ảnh hưởng đến sự phân tích chính xác
- Tr ực quan (Visualisation): Dữ liệu trực quan chẳng hạn dưới dạng biểu
b ảng, đồ thị và các hiển thị dữ liệu khác mà ta có thể nhận biết trực tiếp, nắm bắt ngay ý nghĩa trong “nháy mắt” và lập tức kích hoạt quyết đinh, giải pháp
Do những đặc tính trên đây, hiện nay hầu hết các dữ liệu thu thập được đều không
có cấu trúc và có yêu cầu lưu trữ và xử lý khác nhau nên không thể tìm thấy trong các cơ
sở dữ liệu truyền thống Dữ liệu ở dạng thô của nó không có giá trị Dữ liệu cần được xử
lý để có giá trị Vì vậy, những dữ liệu được trích xuất từ các nguồn tin khác nhau cần phải được xử lý bằng các công cụ tiên tiến (phân tích và thuật toán) để cho ra các thông
Trang 33
tin có ý nghĩa và có giá trị đối với người dùng tin Các thuật toán tạo thông tin phải phát hiện và giải quyết các vấn đề không nhìn thấy bằng trực quan, nếu không cần phải có cán
bộ xử lý phân tích TT có năng lực
1.2 Cách m ạng công nghiệp 4.0
Ngày nay, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ (KH&CN) đang diễn ra trên toàn thế giới và tiếp tục phát triển với nhịp độ ngày càng nhanh, tạo ra những thành tựu mang tính đột phá, khó dự đoán trước và có ảnh hưởng vô cùng to lớn tới mọi mặt của đời sống xã hội loài người Kinh tế tri thức phát triển mạnh, con người và tri thức càng trở thành nhân tố quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia Nhờ những thành tựu to lớn
đó, đặc biệt là thành tựu của các ngành công nghệ cao: Công nghệ thông tin và viễn thông, Công nghệ sinh học, Công nghệ Nano, Vật liệu mới, Năng lượng phi truyền thống,
Tự động hoá, Vũ trụ, , xã hội loài người đang trong quá trình chuyển từ thời đại văn minh công nghiệp sang thời đại văn minh thông tin, từ nền kinh tế chủ yếu dựa vào tài nguyên thiên nhiên sang nền kinh tế dựa vào tri thức, mở ra cơ hội mới cho các nước đang phát triển có thể rút ngắn quá trình công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH)
Cách mạng khoa học và công nghệ kết hợp trong Cách mạng Công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0) là tiền đề thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội CMCN 4.0 đang diễn ra trên 3 lĩnh vực chính gồm Kỹ thuật số, Công nghệ sinh học và Vật lý Theo đó:
o Những yếu tố cốt lõi của Kỹ thuật số là: Trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT) và Dữ liệu lớn (Big Data)
o Trong lĩnh vực Công nghệ sinh học, CMCN 4.0 tập trung vào nghiên cứu
để tạo ra những bước nhảy vọt trong Nông nghiệp, Thủy sản, Y dược, Chế biến thực phẩm, Bảo vệ môi trường, Năng lượng tái tạo, Hóa học và Vật liệu
o Trong lĩnh vực Vật lý đang phát triển mạnh mẽ Robot thế hệ mới, Máy in 3D, Xe tự lái, Vật liệu mới (graphene, skyrmions…) và Công nghệ nano
Kết quả là, CMCN 4.0 cho ra đời của một loạt các công nghệ mới, kết hợp tất cả các kiến thức trong lĩnh vực vật lý, kỹ thuật số, sinh học, và tác động đến tất cả các lĩnh vực, các ngành kinh tế và ngành công nghiệp Hiện nay CMCN 4.0 đang diễn ra tại các nước phát triển như Mỹ, châu Âu, một phần châu Á Bên cạnh những cơ hội mới, cách mạng công nghiệp 4.0 cũng đặt ra cho nhân loại nhiều thách thức phải đối mặt
Trên nền tảng công nghệ số và tích hợp tất cả các công nghệ thông minh có thể tối ưu hóa mọi quy trình, phương thức sản xuất, cũng như trong các hoạt động xã hội Trên thực tế,
Trang 44
đây là xu thế tự động hóa và trao đổi dữ liệu đang được triển khai mạnh mẽ trong các công nghệ sản xuất tiên tiến hiện nay, bao gồm các hệ thống mạng vật lý, Internet vạn vật và điện toán đám mây Trong cuộc cách mạng lần này, không chỉ các hệ thống máy móc, hệ thống thông minh được kết nối với nhau, mà còn với quy mô và phạm vi bao quát rộng lớn hơn
nhiều trong các hệ thống thực - ảo (cyber – physical systems), vật thể - phi vật thể (material –
immaterial)
Trong nền sản xuất xã hội, cuộc CMCN 4.0 đang làm thay đổi toàn bộ nền kinh tế với nhiều kiểu loại mô hình kinh doanh mới ra đời Điều đó đã làm thay đổi hoàn toàn cách thức quản trị doanh nghiệp và làm việc hằng ngày, phương thức tương tác giữa doanh nghiệp với nhau, cũng như với khách hàng; từ phân tích nhu cầu, tiếp thị, bán hàng, đến chăm sóc khách hàng, chuỗi cung ứng, hệ sinh thái
Ngày nay CMCN 4.0 với công nghệ Big Data sẽ là một phương tiện cứu cánh
khắc phục bùng nôt thông tin Một định nghĩa năm 2016 nói rằng "Big Data thể hiện các tài s ản thông tin được đặc trưng bởi khối lượng, vận tốc và sự đa dạng cao đáp ứng yêu
c ầu công nghệ và phương pháp phân tích cụ thể để chuyển đổi thành giá trị"
Big Data đề cập đến một quá trình được sử dụng khi việc khai thác dữ liệu truyền
thống và vận dụng các kỹ thuật xử lý cũ không thể khám phá những hiểu biết và ý nghĩa của dữ liệu nền tảng cơ bản Dữ liệu không có cấu trúc hoặc dễ biến động theo thời gian hay đơn giản là rất lớn không thể xử lý được bằng các công cụ cơ sở dữ liệu liên quan Loại dữ liệu này yêu cầu một phương pháp xử lý khác được gọi là Big Data, ở đó sẽ sử dụng song song trên quy mô lớn các phần cứng có sẵn
Công nghệ Big Data có thể có nhiều đóng góp quan trọng nhưng cũng là thách thức đối với sự phát triển Những tiến bộ trong phân tích Big Data giúp giảm chi phí cho việc ra quyết định trong các lĩnh vực quan trọng như chăm sóc sức khoẻ, việc làm, năng suất kinh tế, tội phạm, an ninh, thiên tai và quản lý tài nguyên Tuy nhiên, những thách thức đối với các nước đang phát triển như cơ sở hạ tầng công nghệ không đầy đủ và sự khan hiếm về tài chính và nguồn nhân lực sẽ làm nghiêm trọng thêm các mặt trái của Big Data như sự riêng tư hoặc các vấn đề khác Đặc biệt, trong Big Data có nhiều dữ liệu còn
ở dạng thô, không có giá trị nên cần được xử lý phân tích-tổng hợp để có giá trị đối với người dùng Chẳng hạn, đối với một doanh nghiệp, việc tiếp cận được kho dữ liệu khổng
lồ về khách hàng chỉ mới giải quyết được một nửa bài toán kinh doanh, nửa còn lại phụ thuộc vào chiến lược hành động sau khi có được thông tin đó
Trang 55
Big Data và IoT hoạt động cùng nhau Dữ liệu được trích xuất từ các thiết bị IoT cung cấp một bản đồ về khả năng kết nối của thiết bị Hiện nay IoT cũng ngày càng được
sử dụng như một phương tiện thu thập dữ liệu đã được sử dụng trong nhiều lĩnh vực, như
y tế, sản xuất, vận chuyển,…
Cuộc CMCN 4.0 đang diễn ra hiện nay mang lại nhiều cơ hội phát triển đối với Việt Nam Việc nắm bắt các lĩnh vực công nghệ mới và hòa nhập kịp thời vào làn sóng
công nghiệp 4.0 lần này sẽ góp phần nhanh chóng chuyển đổi cơ cấu kinh tế và mô hình kinh tế nước ta theo hướng từ phát triển theo chiều rộng, thâm dụng cao về lao động và
tài nguyên, sang mô hình kinh tế mới, có hàm lượng khoa học và tri thức cao
CMCN 4.0 trong thời đại bùng nổ thông tin tạo ra cơ hội và một số thách thức cho ngành thông tin KHCN, đó là:
- V ề cơ hội: Nhu cầu thông tin được xác định rõ ràng hơn; Có đối tượng dùng
tin (Khách hàng-Người dùng tin) xác định và rộng mở, nhất là đôi với các lĩnh vực công nghệ mới như AI, Big Data, IoT, CN sinh học, Công nghệ Vật lý; Công nghệ của CMCN 4.0 giúp lưu trữ TT mật độ cao, kết nối hệ thống thông tin online và offline, tao ra nhiều
sản phẩm và dịch vụ TT thích hợp người dùng tin,…Tận dụng Big Data để dễ dàng tìm
kiếm tối đa dữ liệu và thông tin để cung cấp thắng tới Khách hàng – Người dùng tin hoặc
để xử lý, chế biến lại cho thích hợp Khách hàng – Người dùng tin, Sử dụng công nghệ Big Data và IoT để xây dựng các hệ thống TT chuyên biệt theo nhóm người dùng tin, theo chuyên ngành ứng với từng ngóm đối tượng dùng tin
- V ề thách thức: Người dùng tin tự mình trực tiếp sử dùng Big Data để tìm
kiếm thông tin; Ngành thong tin chậm tạo ra những hệ thống (đảm bảo) thông tin phù hợp trên cơ sở tận đụng các công nghệ của CMCN 4.0, chậm nắm bắt các công nghệ mới và đặt hàng các chuyên gia của CMCN 4.0 sáng tạo những công nghệ giúp xây dựng,tạo lập các sản phẩm và dịch vụ thích hợp với người dùng tin-khách hàng TT,…
2 Ho ạt động thông tin KH&CN định hướng người dùng tin
Ngày nay, hoạt động kinh tế trong phạm vi cả nước, cũng như ở từng ngành, từng địa phương, từng doanh nghiệp đều chứa đựng những yếu tố mới và mang tính cạnh tranh quyết liệt, đòi hỏi phải nắm bắt thời cơ và tận dụng lợi thế từ trong nước và quốc tế, phải
biết cách đương đầu với nhiều khó khăn và thử thách to lớn để tồn tại và phát triển CMCN 4.0 có thể tạo ra nhiều cơ hội to lớn cho phát triển miễn là biết tận dụng Như
vậy, hoạt động kinh tế đòi hỏi phải nhanh hơn, toàn diện hơn, khôn ngoan hơn, chính xác
Trang 66
hơn Điều đó có nghĩa là hoạt động kinh tế cần được đảm bảo thông tin dưới các định
dạng phù hợp một cách kịp thời, chính xác và đầy đủ
Theo Luật Khoa học và Công nghệ 2013, hoạt động thông tin KHCN là một dạng
dịch vụ KHCN Do vậy, hoạt động thông tin KHCN phải định hướng người dùng tin (NDT), phải xây dựng và hình thành các hệ thống đảm bảo TT, cung ứng các sản phẩm
và dịch vụ TT thích hợp với NDT – khách hàng thông tin
Công cuộc phát triển kinh tế trong điều kiện CMCN 4.0 đang đặt ra những yêu cầu mới và cấp bách đối với việc đảm bảo thông tin, vừa phải đáp ứng các yêu cầu thông tin trong quản lý và vận hành nền kinh tế, vừa phải đáp ứng các yêu cầu thông tin của các hoạt động sự nghiệp, NCPT và sản xuất kinh doanh Hoạt động thông tin (bao hàm cả công tác tư vấn và phản biên) phải trở thành một bộ phận của hoạt động kinh tế, của sản
xuất kinh doanh, của nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (NCPT) trong hoạch định chiến lược và chính sách, lập quy hoạch và kế hoạch, thúc đẩy phát triển và duy trì các hoạt động hàng ngày Ở đây, việc hình thành các hệ thống thông tin (cung cấp/đảm
b ảo thông tin) thích hợp và mạng lưới thông tin ở quy mô quốc gia có ý nghĩa đột phá và rất cấp thiết
Để đảm bảo thông tin một cách đầy đủ, chính xác và kịp thời cho phát triển kinh tế (PTKT) đòi hỏi xây dựng được những hệ thống thông tin thích hợp và năng động, trong
đó việc nắm bắt được thực chất nhu cầu thông tin của các chủ thể thực hiện quá trình PTKT có tính quyết định Trong khi đó, nhu cầu thông tin của các chủ thể này chỉ xuất
hiện khi họ thực hiện những chức năng và nhiệm vụ cụ thể trong tiến trình PTKT, nghĩa
là nhu cầu thông tin luôn luôn gắn liền với việc thực hiện các chức năng và nhiệm vụ cụ thể của từng chủ thể (cá nhân và tập thể) PTKT
Theo ISO/IEC 2382:2015, hệ thống (đảm bảo/cung ứng) thông tin là hệ thống được tạo ra để bảo quản/lưu giữ, tìm kiếm và xử lý thông tin trên cơ sở các nguồn lực tổ chức tương ứng (con người/ nhân lực, tài chính/tài lực, công cụ kỹ thuật/vật lực, ) để đảm bảo và phổ biến thông tin Hệ thống phải tạo ra được sản phẩm thông tin cung cấp cho đúng người đúng lúc đúng những thông tin họ cần Một hệ thống thông tin như vậy bao
gồm các thành tố chủ yếu: Nguồn tin + Con người (Cán bộ TT) + Cơ sở vật chất – kỹ thuật (thiết bị, công nghệ, phần mềm,…) + Người dùng tin - Khách hàng của SP&DV
thông tin do hệ thống tạo ra
- Về nguồn tin: Trong hệ thống đó, do tính tính đa dạng của nguồn tin cùng
với tính đa dạng của dữ liệu và tốc độ tạo ra dữ liệu, kết hợp với mức độ xác thực, mức
Trang 77
độ giá trị khác nhau của dữ liệu đòi hỏi công tác xử lý thông tin cần có những công cụ và
kỹ thuật mới kết hợp với năng lực cao của người cán bộ thông tin
Ngày nay, nguồn tin của hệ thống thông tin có thể trích xuất từ Big Data, tuy nhiên Big Data còn đang xử lý dữ liệu từ định dạng đối tượng gốc, chưa thể cung cấp TT phân tích thích hợp đáp ứng nhu cầu Mặt khác, dù Internet đã giúp dễ dàng truy cập tới các nguồn dữ liệu, tăng dần dữ liệu có sẵn, song cũng sản xuất ngày càng nhiều dữ liệu thô
Dữ liệu ở dạng thô thường ít giá trị do đó cần được xử lý để có giá trị gia tăng Tuy nhiên, đây là vấn đề vốn có của Big Data Với các công nghệ của CMCN 4.0, khả năng tính toán khả dụng tăng vọt, có nhiều cơ hội hơn để xử lý dữ liệu lớn, song vẫn cần cán
bộ thông tin chuyên nghiệp biết lựa chọn, sàng lọc thông tin loại bỏ các dữ liệu “rác”
Thực tiễn hiện nay trên thế giới, Big Data được coi như một hệ thống thông tin toàn diện, tập hợp dữ liệu với kích thước vượt xa khả năng của các công cụ phần mềm thông thường để thu thập, hiển thị, quản lý và xử lý dữ liệu trong một thời gian có thể chấp nhận được, và sử dụng phân tích dự đoán, phân tích hành vi người dùng hoặc một số
phương pháp phân tích dữ liệu nâng cao Thực tế ứng dụng Big Data cho thấy, những tiến
bộ trong phân tích dữ liệu lớn giúp giảm chi phí cho việc ra quyết định trong các lĩnh vực quan trọng như chăm sóc sức khoẻ, việc làm, năng suất kinh tế, tội phạm, an ninh, thiên tai và quản lý tài nguyên Phân tích dữ liệu lớn đã đóng một vai trò lớn trong chiến dịch bầu cử lại thành công của Barack Obama năm 2012, cũng như việc phân tích số liệu lớn
đã được thử nghiệm cho Đảng BJP để giành chiến thắng trong Tổng tuyển cử Ấn Độ năm
2014
Mặt khác, hiện nay cũng có nhiều quan niệm khác nhau về Big Data, phụ thuộc vào khả năng của người dùng và công cụ họ dùng, cũng như khả năng mở rộng làm cho Big Data luôn thay đổi Vì vây, ngành thông tin KHCN cũng cần xem xét việc xây dựng
“Big Data chuyên ngành”, phải có “Data Scientist” kết hợp với cán bộ thông tin chuyên
nghiệp Cán bộ xử lý thông minh giúp phân tích và tổng hợp thông tin thành thông tin mới, giúp người sử dụng chuẩn bị và ra quyết định, hoặc sử dụng để làm luận cứ cho các báo cáo, thiết lập các bảng biểu báo cáo, hoặc giả cung cấp kiến thức mới, nhận thức mới
- V ề Người dùng tin: Người dùng tin (NDT) là thành phần chủ đông của bất
cứ hệ thống thông tin nào Trong kinh tế, các chủ thể của phát triển kinh tế là NDT, là tất
cả những ai có sử dụng thông tin và cần thiết phải sử dụng thông tin (NDT tiềm năng)
trong hoạt động thực tiễn của mình, hoặc cùng một lúc hay vào những thời điểm khác
Trang 88
nhau, đều là người dùng tin Người dùng tin là mắt xích quan trọng trong các hệ thống thông tin Còn các hệ thống thông tin tồn tại là để thoả mãn nhu cầu thông tin của người dùng tin, tùy thuộc vào mức độ sử dụng thông tin của họ Họ chính là những nhân sự chủ
chốt làm việc sáng tạo trong các tổ chức nghiên cứu phát triển, trong các doanh nghiệp và
các cơ quan/tổ chức lãnh đạo và quản lý nhà nước các cấp và ở các ngành
Trong CMCN 4.0, NDT nói chung là những nhà NCPT và đổi mới sáng tạo các công nghệ tương ứng, là những nhà ứng dụng các công nghệ của CMCN 4.0 vào phát triển sản xuất trong doanh nghiệp và những nhà quản lý/lãnh đạo chịu trách nhiệm xây
dựng và thực hiện các chiến lược phát triển và ứng dụng các công nghệ của CMCN 4.0 trong phát triển kinh tế- xã hội
M ột hệ thống thông tin hoạt động có hiệu quả phải năm bắt được nhu cầu thông tin c ủa NDT Nhu cầu thông tin chủ yếu của NDT thường được biểu đạt theo 3 khía cạnh
sau:
o Về Nội dung thông tin: Họ quan tâm và mong muốn nhận thông tin (dữ
liệu, dữ kiện, tri thức), chẳng hạn đối với NDT trong hoạt động kinh tế, họ cần thông tin không chỉ về tất cả các lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế, mà cả về tình hình và các diễn
biến bên ngoài nền kinh tế
o Về Hình thức biẻu đạt/thể hiện thông tin: NDT mong muốn nhận được thông tin dưới hình thức biểu đạt khá đa dạng và phong phú, từ nguyên bản hoặc bản sao, b ản dịch, thư mục, bài chú thích, bài tóm tắt tư liệu gốc đến những thông tin đã được xử lý phân tích-tổng hợp dưới dạng dữ liệu, dữ kiện, thông tin phân tích, tổng quan
và t ổng luận phân tích phù hợp với nhu cầu TT ở thời điểm cụ thể
o Về Phương thức tiếp nhận thông tin: Do đặc thù chuyên môn nghề nghiệp
mà phương thức tiếp nhận thông tin của họ phần lớn phụ thuộc vào sở thích (thói quen)
cá nhân và năng lực tự xử lý thông tin Nói chung, họ có thể tự tìm kiếm thông tin và tư
liệu tại các cơ quan thông tin hay thư viện, tự tra cứu và truy cập từ xa qua mạng tới các
CSDL/NHDL (Ngân hàng dữ liệu) và nhiều khi tự xử lý thông tin cho mình CMCN 4.0
với các công nghệ BigData, IoTgiúp cung cấp quyền truy cập để tìm kiếm dữ liệu/thông tin mọi lúc mọi nơi
Như vậy, hoạt động thông tin phải nắm bắt được nhu cầu thông tin và hiểu rõ NDT
cần gì (SP TT), vào lúc nào, ở đâu và thông tin dưới hình thức biểu đạt nào cũng như cách thức đưa tin đến cho họ (DV TT)
Trang 99
3 M ột số năng lực chính của cán bộ thông tin chuyên nghiệp
Như đã trình bày ở trên, chúng ta sống trong một thế giới, nơi dữ liệu có số lượng
rất lớn và với tốc độ tăng chóng mặt - từ mạng xã hội và cửa hàng trực tuyến đến các bộ thu biến trong phòng thí nghiệm và máy đo đếm thông minh Để hệ thống hóa các dữ liệu này và rút ra lợi ích tối đa từ chúng, cần phải có các cán bộ thông tin chuyên nghiệp
Như vậy, trong hoạt động thông tin KHCN ở thời đại bùng nổ thông tin và CMCN 4.0, người cán bộ thông tin chuyên nghiệp phải là chuyên gia trong việc thu thập, lưu trữ,
tổ chức xử lý và xử lý, truy xuất và phổ biến thông tin in hoặc thông tin số Họ cũng là chuyên gia trong tìm kiếm chiến lược, định vị và tìm ra những câu trả lời cho các vấn đề thông tin chung và riêng của NDT, đồng thời hỗ trợ người khác, nhất là NDT-khách hàng trong việc tìm kiếm và truy xuất các đối tượng thông tin
Vào cuối Thế kỷ 20, dưới tác động và ảnh hưởng của những thay đổi xã hội, công nghệ và môi trường làm việc, các thành viên của Hội Thư viện chuyên ngành (Special Libraries Association-SLA) đã tiến hành các nghiên cứu về năng lực và những kỹ năng
cần thiết trong việc quản trị các nguồn tài nguyên và dịch vụ thông tin chuyên môn hóa
Một Ủy ban chuyên môn được thành lập đã biên soạn tài liệu mang tựa đề
“The Competencies for Information Professionals of the 21st Century” (Các năng lực của cán bộ thông tin chuyên nghiệp Thế kỷ 21) Những cán bộ thông tin chuyên nghiệp của
Thế kỷ 21 này thật thích hợp với nhiệm vụ sẽ phải thực hiện trong CMCN 4.0 và sau nữa
Theo định nghĩa nêu trong “The Competencies for Information Professionals of
the 21st Century”, Cán bộ thông tin chuyên nghiệp (CTC) được hiểu là chuyên gia có chiến lược sử dụng thông tin trong công việc của mình để thúc đẩy các nhiệm vụ của tổ
chức, thông qua việc phát triển, triển khai và quản trị tài nguyên và dịch vụ thông tin Các CTC luôn coi việc sử dụng công nghệ như là những công cụ quan trọng để thực hiện mục tiêu đặt ra CTC còn phải là cán bộ quản trị tri thức, cán bộ lãnh đạo thông tin, cán bộ phát triển web, các cán bộ môi giới và tư vấn thông tin
CTC làm việc trong các tổ chức thông tin, những thực thể chuyên cung cấp các giải pháp dựa trên thông tin cho một thị trường nhất định nhóm hoặc/và cá nhân NDT
CTC có thể đảm nhiệm nhiều chức trách khác nhau, như:
Trang 1010
• Xây dựng và duy trì một danh mục các dịch vụ thông tin có hiệu quả về mặt chi phí, có giá trị đối với khách hàng, phù hợp với định hướng chiến lược của tổ chức và các nhóm khách hàng nhất định
• Xây dựng một bộ sưu tập “ động” các nguồn tài nguyên thông tin dựa trên một sự hiểu biết sâu sắc về nhu cầu thông tin của khách hàng
• Thu thập chứng cứ để hỗ trợ ra quyết định về phát triển các dịch vụ và sản phẩm mới của cơ quan/tổ chức cấp trên
• Duy trì và nắm bắt kiến thức về những công nghệ mới, nổi trội
• Biết đánh giá và truyền đạt các giá trị của tổ chức thông tin, bao gồm cả các dịch vụ, sản phẩm và chính sách thông tin, tới cơ quan quản lý cấp trên, cho các bên liên quan và các nhóm khách hàng
• Đóng góp có hiệu quả vào các chiến lược và các quyết định của cơ quan quản lý cấp trên liên quan đến các ứng dụng thông tin, các công cụ và công nghệ thông tin, và các chính sách của tổ chức
Trong thời đại thông tin và tri thức ngày nay, cụ thể trong CMCN 4.0 rất cần các
chuyên gia quản trị thông tin Họ làm nhiệm vụ cung cấp các lợi thế cạnh tranh cho
những tổ chức lấy tri thức làm nền tảng bằng cách đáp ứng nhu cầu thông tin cấp thiết và quan trọng với một ý thức khẩn cấp, kịp thời CTC đóng vai trò duy nhất trong việc thu thập, tổ chức và điều phối quyền truy cập vào các nguồn thông tin có sẵn tốt nhất, đồng thời cũng là người chỉ đạo việc xây dựng và thực hiện các tiêu chuẩn về sử dụng thông tin một cách thích hợp và có đạo đức
Ngày nay, nói chung các tổ chức (cơ quan, doanh nghiệp) phải đấu tranh giành quyền kiểm soát một lượng rất lớn thông tin dưới nhiều định dạng lưu trữ và ngày càng gia tăng Sự tăng trưởng đáng kinh ngạc của dịch vụ Internet và sự gia tăng của truyền thông điện tử và các phương tiện lưu trữ nói chung đã làm thay đổi công việc của chúng
ta và cuộc sống của mỗi cá nhân Quá tải thông tin như đã nêu khái quát ở trên là vấn đề ngày càng gay cấn, do đó, hơn bao giờ hết, cần có CTC để chắt lọc chất lượng và cung cấp thông tin cần thiết dưới một hình thức có thể sử dụng, hành động ngay (chẳng hạn đưa vào báo cáo, chuẩn bị và lựa chọn giải pháp, ra quyết định, bổ sung luận cứ cho các công trình nghiên cứu phát triển,…)
Để thực hiện được mục tiêu này, các CTC cần phải có năng lực cốt lõi, bao hàm
năng lực chuyên môn và năng lực cá nhân: