Bài viết làm rõ khái niệm và vai trò của nhân văn số trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn cũng như đối với các nhà nghiên cứu. Khái quát vai trò của thư viện trong việc thúc đẩy nhân văn số và cơ hội phát triển nhân văn số tại Việt Nam.
Trang 150
NHÂN VĂN SỐ VÀ VAI TRÒ CỦA THƯ VIỆN TRONG HỖ TRỢ
CỘNG ĐỒNG HỌC THUẬT SỐ
Đỗ Văn Hùng, Email: dvhung@gmail.com Trưởng khoa-Khoa Thông tin thư viện Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn-Đại học quốc gia HN
Ủy viên Ban chấp hành Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam
&Trần Hồng Hạnh, Email:scorpiusviceli@gmail.com
Trường ĐHKXH&NV
Tóm tắt: Nhân văn số (digital humanities) là một lĩnh vực nghiên cứu mới
nổi, có đặc trưng sử dụng công nghệ thông tin để khai phá tri thức của nhân loại, tối đa hóa sự hợp tác giữa các nhà nghiên cứu Bài viết làm rõ khái niệm
và vai trò của nhân văn số trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn cũng như đối với các nhà nghiên cứu Khái quát vai trò của thư viện trong việc thúc đẩy nhân văn số và cơ hội phát triển nhân văn số tại Việt Nam
Từ khóa: Nhân văn số, Học thuật số, Thư viện số, Khoa học xã hội và
nhân văn, Học liệu số
1 Khái niệm và vai trò của nhân văn số
Nhân văn số (digital humanities) là một khoa học mới nổi mang tính liên ngành, tích hợp giữa công nghệ số, khoa học lưu trữ và sức mạnh tính toán của máy tính để phân tích và sử dụng thông tin một cách có hệ thống trong các khoa học xã hội và nhân văn Khởi đầu của thuật ngữ này bắt nguồn từ nhu cầu của cộng đồng học thuật muốn ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động chuyên môn như nghiên cứu, xuất bản, hợp tác, giảng dạy và đào tạo Thuật ngữ Nhân văn số cũng ra đời với thuật ngữ học thuật số (digital scholarship)
Đến nay nhân văn số đã có sự mở rộng ra đối với cộng đồng với phạm vi không giới hạn Thực tế thì nội hàm của Nhân văn số vẫn còn có những tranh cãi trong cách tiếp cận, lý do là đây là một lĩnh vực mới đang có sự thay đổi và phát triển rất nhanh chóng, cũng như việc sử dụng và ứng dụng nhân văn số dưới nhiều góc độ và lĩnh vực khác nhau Tuy nhiên dù tiếp cận dưới khía cạnh nào
thì cũng có một điểm chung đó là: nhân văn số tạo ra cộng đồng hợp tác trên cơ
sở chia sẻ thông tin số với các công cụ của công nghệ thông tin để khai thác thông tin và tạo ra những tri thức mới
Trang 251
Klein và Gold cho rằng, cùng với lưu trữ số, phân tích định lượng và các
dự án xây dựng công cụ xử lý đã làm rõ nét hơn về nhân văn số Lĩnh vực này tích hợp một cách đa dạng các phương pháp và ứng dụng khác nhau như: trực quan hóa dữ liệu, mô hình 3D của các hiện vật lịch sử, các nghiên cứu (ví dụ như luận án) ở định dạng số, gắt thẻ (hashtag) và phân tích chúng, các mô hình trò chơi, …Nhân văn số là một khái niệm rộng, do vậy đôi khi khó khăn để xác định chính xác và cụ thể nó là cái gì, và công việc của nhân văn số là gì (Klein
& Gold, 2016)
Đề cấp đến nhân văn số là nói đến các bộ sưu tập trực tuyến về các nguồn tài liệu gốc, khai phá dữ liệu trên cơ sở các tập dữ liệu lớn về văn hóa, đến mô hình hóa dữ liệu và tri thức Nhân văn số là sự kết hợp giữa các tài liệu số (số hóa và sinh ra đã ở định dạng số) với các phương pháp nghiên cứu từ nhiều lĩnh vực khác nhau của khoa học nhân văn truyền thống (như lịch sử, triết học, ngôn ngữ, văn học, nghệ thuật, khảo cổ, âm nhạc, nhân học, nghiên cứu văn hóa, lưu trữ và khoa học thư viện) với khoa học xã hội được hỗ trợ bởi máy tính với các công cụ chuyên dụng (như siêu văn bản, đa phương tiện, mô hình hóa dữ liệu, thu thập thông tin, khai phá dữ liệu, thống kê, xử lý và trích xuất thông tin trong văn bản, vẽ sơ đồ tri thức số) và kết hợp với xuất bản số Một trong những lĩnh vực có liên kết chặt chẽ với nhân văn số đó là khoa học về thông tin (information science) với việc thu thập, xử lý, tổng chức, lưu trữ và phân phối thông tin Khoa học thông tin sẽ cùng với nhân văn số sẽ được sử dụng một cách đặc thù trong mỗi lĩnh vực khoa học khác nhau
Nhân văn số tạo điều kiện để các học giả ở các lĩnh vực khác nhau có thể tập hợp, tương tác, trao đổi một các hiệu quả và cùng triển khai những dự án nghiên cứu mang tính liên ngành, cùng giải quyết các vấn đề tồn tại trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn Mang lại những công cụ hiện đại để giải quyết các bài toán truyền thống của giới học thuật nhân văn Sử dụng các công cụ tính toán siêu cấp để nghiên cứu văn học, lịch sử, triết học, văn hóa và những vấn để truyền thống
Để làm được điều này, tất cả các tư liệu đều được số hóa Tuy nhiên nếu chỉ dừng ở các bộ sưu tập số (digital collection) thì chưa đây chỉ là một kho lưu trữ dạng số hóa Nhân văn số hướng tới tất cả các tư liệu từ tài liệu toàn văn, âm thanh, hình ảnh, video đều được dữ liệu hóa – mô hình hóa dữ liệu chính là đặc trưng cơ bản của khai thác dữ liệu số trong bối cảnh học thuật số Trong khi số hóa tài liệu tập trung vào việc chuyển tài liệu sang định dạng số, thì nhân văn số nhấn mạnh đến dữ liệu hóa các tài liệu đã được số hóa Ở mức đơn giản là nhận dạng ký tự quang học để có thể tìm kiếm toàn văn tài liệu đó, cao hơn là xử
Trang 352
dụng việc gắn thẻ cho nội dung, sử dụng các siêu dữ liệu mô tả để quản lý tài liệu, coi thông tin trong các tài liệu đó dưới dạng các dữ liệu để có thể sử dụng các phần mềm xử lý dựa trên sức mạnh tính toán của máy tính cho ra những tri thức mới mà thông thường nếu không có công nghệ thì nhà nghiên cứu sẽ mất rất nhiều công sức và thậm chí là không có khả năng để cho ra kết quả được
Có thể nói nhân văn số là sự kết hợp giữa khoa học xã hội và nhân văn với khoa học máy tính để tạo ra các công cụ và tài nguyên số cho phép các nhà nghiên cứu có thể phối hợp cùng nhau triển khai các nghiên cứu sâu hơn và quy
mô hơn mà trước đây họ chưa thể tiếp cận được
Theo Presner (2009) nhân văn số không phải là một lĩnh vực có sự thống nhất trong khái niệm và cách tiếp cận, tuy nhiên về mặt thực tiễn thì có những điểm được công nhận rộng rãi đó là: (1) tài liệu in ấn không còn là độc quyền hoặc là phương tiện chủ yếu để tri thức tạo lập và phổ biến; thay vào đó, tài liệu
in được chuyển hóa sang định dạng đa phương tiện mới; và (2) các công cụ, kỹ thuật và phương tiện số đã làm thay đổi việc sáng tạo và phổ biến tri thức trong nghệ thuật, khoa học xã hội và nhân văn Nhân văn số đóng vai trò khởi xướng cho một thế giới mà không còn sự độc quyền trong sản xuất, quản lý và phổ biến tri thức hay văn hóa, thay vào đó các trường đại học kêu gọi việc hiện thực hóa các mô hình khoa học số cho giới học thuật thông các công cụ như www, blogs, thư viện số để thúc đẩy sự sáng tạo và đổi mới, đồng thời tạo điều kiện cho việc hình thành mạng lưới sản xuất, trao đổi và phổ biến tri thức ở mức độ toàn cầu cũng như ở khu vực hoặc địa phương
Nhân văn số không phải là một lĩnh vực không có tính thống nhất mà là một chuỗi tập hợp các ứng dụng công nghệ và những liên kết nhằm khám phá những giá trị tiềm ẩn của tri thức nhân loại dựa trên những tư liệu tích lũy của còn người từ trước đến nay Các thành phần của nhân văn số có thể chia thành 4 nhóm như sau: các công cụ số để lưu trữ và xử lý dữ liệu; nội dung số bao gồm
bộ sưu tập số, dữ liệu liên kết, và chuẩn dữ liệu; cộng đồng học thuật số kết nối;
và khả năng khai thác với việc xử lý vấn đề bản quyền và truy cập mở (xem Hình 1)
Nhân văn số là một khoa học mang tính đa ngành, kết hợp nhiều lĩnh vực khách nhau để tạo nên một tiếp cận mới và công cụ mới trong nghiên cứu và khai phá tri thức (xem Hình 2) Cụ thể, Theo Underwood (2015) thì nhân văn số
có sự tham gia của các ngành khoa học như: ngôn ngữ học tính toán trong việc
mô hình hóa từ ký tự và đo lường các đặc trưng của văn bản (ví dụ như tiêu đề, chỉ mục, nội dung bản biểu, thuật ngữ, đề mục trang, ảnh, nhãn…); ngôn ngữ học ngữ liệu trong việc nhận dạng được các từ đặc biệt; khoa học thư viện và lịch sử sách trong việc tìm kiếm và tổ chức các tác phẩm; lịch sử văn học với
Trang 453
việc mô hình hóa các thể loại và hình thức văn học để hiểu được sự truyền đạt sắc thái lời nói của con người thông qua văn bản viết; xã hội học và khoa học thống kê để mô hình hóa được các bối cảnh xã hội, bởi vì các văn bản cũng tham gia vào tất cả các giao dịch xã hội và những bối cảnh xã hội đó thường dễ nhận
ra trong chính văn bản; và khoa học máy tính với việc xây dựng các mô hình tự học của máy tính để hiểu được ngôn ngữ tự nhiên trong các văn bản
Hình 1 Các thành phần của nhân văn số
Vậy tại sao nhân văn số lại quan trọng và các nhà nghiên cứu khoa học xã hội
và nhân văn cần có sự quan tâm trong bối cảnh hiện nay? Keating (2012) dựa trên lý thuyết hoạt động (activity thoery) để mô tả vai trò của nhân văn số như sau: một hoạt động được thực hiện bởi một người/nhóm cụ thể, người đó được thúc đẩy để tìm ra giải pháp cho một vấn đề của thể hoặc một mục tiêu định sẵn, bằng việc sử dụng các công cụ để hợp tác với những người khác - tạo ra một cộng đồng Nhân văn số quan trọng bởi nó hỗ trợ cộng đồng học thuật số bằng việc cung cấp các công cụ để khai phá
Bộ sưu tập số
Dữ liệu liên kết
Học thuật số
Các công cụ số Bản quyền
Truy cập mở
Cộng đồng kết nối
Siêu dữ liệu
Nguồn lực Công cụ
Ý tưởng
NHÂN VĂN SỐ
Trang 554
dữ liệu và tạo ra tri thức, đồng thời cung cơ hội và mội trường để các nhà khoa học hợp tác ở các quy mô khác nhau Hiện nay, nghiên cứu trong khoa học xã hội nhân văn
đã mở rộng hơn bất cứ nghiên cứu truyền thống nào trước đây Các nhà sử học đang xây dựng các bản đồ kỹ thuật số tương tác, các học giả văn học đang sử dụng máy tính
để tìm kiếm các mẫu nghiên cứu trên hàng triệu cuốn sách, và các học giả trong tất cả các ngành đang tận dụng Internet để làm cho công việc của họ trở nên năng động, mới
mẻ và trực quan hơn Có thể tóm tắt vai trò quan trọng của nhân văn số như sau:
Hình 2 Bảy cách để các nhà khoa học nhân văn hiểu được dữ liệu văn bản (Underwood, 2015)
• Hỗ trợ nhà khoa học phối hợp giữa nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng - nhà nghiên cứu có thể trình bày và liên kết các văn bản số, hình ảnh và tài liệu đa phương tiện thành bản đồ, tiến trình, dữ liệu, mô hình
• Hỗ trợ quản trị nội dung và phân tích dữ liệu – nhà nghiên cứu có thể khai thác, vẽ bản đồ, tổ chức lại các nguồn thông tin theo cách mình muốn để có thể khám phá ra các xu thế, chủ đề và những tri thức mới có thể học hỏi được
Mô hình hóa các ký tự đơn
lẻ
Đo lường các đặc trưng văn bản
Nhận diện các
từ vựng đặc thù
Tìm kiếm và tổ chức các tác phẩm
Mô hình hóa các thể loại và hình thức văn
học
Mô hình hóa bối cảnh xã hội
Mô hình máy tự học
Ngôn ngữ học tính toán
Ngôn ngữ học ngữ liệu Khoa học thư
viện
Lịch sử sách
Lịch sử
văn học
Xã hội học
Thống
kê
Khoa học máy tính
Trang 655
• Có thể truy cập thông tin một cách nhanh chóng và thuận lợi thông qua truy cập số mở - điều này có nghĩa là càng có nhiều người có thể khai thác và học hỏi được từ các nguồn thông tin, các dự án nghiên cứu trước đó Nhà nghiên cứu có thể dễ dàng tìm kiếm thông tin qua các dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau, từ các siêu liên kết
có liên quan đến tài liệu mà họ quan tâm, qua đó khám phá những tri thức mới
• Tăng cường hợp tác: môi trường số và nguồn thông tin số cố thể cung cấp một nền tảng cộng đồng mở cho phát triển dự án nghiên cứu, tập hợp các nguồn lực tài liệu, hỗ trợ sự hợp tác giữa các đối tác, các nhà nghiên cứu ở cấp độ địa phương, khu mực và thế giới
• Hỗ trợ giảng dạy và học tập - nhân văn số hỗ trợ sinh viên học tập thông qua việc hỗ trợ họ khám phá nhiều hơn, trải nghiệm nhiều hơn và công tác cùng nhau trong học tập và nghiên cứu Giảng viên đóng vai trò là người dẫn dắt và định hướng, gợi mở các vấn đề cần tìm hiểu, cung cấp cho sinh viên nguồn học liệu số và công cụ
để họ tự khai phá tri thức
Vậy đâu là sự khác nhau giữa thư viện số, nhân văn số và học thuật số, có mối liên hệ nào giữa các yếu tố này? Bảng 1 so sách các yếu tố này
Bảng 1 So sánh giữa thư viện số, học thuật số và nhân văn số
Thư viện số bao gồm con
người, cơ sở hạ tầng công
nghệ cần thiết để xây dựng
và duy trì các kho lưu trữ
có cấu trúc của siêu dữ liệu
và các đối tượng kỹ thuật
số, được thiết kế để các
nhà nghiên cứu khai thác
và tái sử dụng không giới
hạn nhằm giải quyết các
vấn đề/câu hỏi mà họ đặt ra
trong dự án nghiên cứu của
mình Thư viện số rất đa
dạng về kích thước, nội
dung và đối tượng
Học thuật số là tập hợp các
kỹ năng, phương pháp và công cụ cần thiết cho các nhà nghiên cứu để làm việc với các tài liệu số và cộng tác trên môi trường số Các
kỹ năng của học thuật số bao gồm như: hệ thống thông tin địa lý; sử dụng đúng cách và áp dụng phân tích thống kê (dữ liệu, văn bản, số hoặc hình ảnh), quản lý trích dẫn, quản lý
dữ liệu, trực quan hóa dữ liệu
Nhân văn số là một lĩnh vực nghiên cứu mới nổi, có đặc trưng sử dụng công nghệ thông tin để làm sáng
tỏ và khám phá tri thức của nhân loại, tối đa hóa sự hợp tác giữa các nhà nghiên cứu Các nhà khoa học nhân văn số sử dụng công cụ và kỹ năng của học thuật số, dựa trên siêu
dữ liệu và đối tượng số của thư viện số để trả lời các câu hỏi nghiên cứu mà họ đặt ra cho nghiên cứu của mình
2 Nhân văn số trên thế giới
Nhân văn số được triển khai trên toàn cầu từ rất sớm và trải rộng từ châu Âu, Bắc Mỹ, đến châu Á với sự tham gia đầu tư phát triển của các chính phủ, tổ chức và
Trang 756
các trường đại học Có thể kể đến tổ chức nhân văn số lớn nhất thế giới đó là Liên minh các tổ chức nhân văn số (ADHO) bao gồm các thành viên là hiệp hội nhân văn
số trên thế giới như: Hiệp hội nhân văn số châu Âu (EADH), Hiệp hội nhân văn số Úc (aaDH), Hiệp hội Khoa học máy tính và Nhân văn (ACH), Hiệp hội nhân văn số Canada (CSDH/SCHN), Hiệp hội nhân văn số Nhật Bản, Mạng lưới quốc tế các trung tâm nhân văn số (centerNet) và Hiệp hội nhân văn số các nước nói tiếng Pháp (Humanistica) Sứ mệnh của ADHO là thúc đẩy và hỗ trợ nghiên cứu và giảng dạy kỹ thuật số trên tất cả các lĩnh vực nghệ thuật và khoa học nhân văn, hoạt động như cộng đồng chuyên gia tư vấn và hỗ trợ một cách tốt nhất cho nghiên cứu, xuất bản, hợp tác
và đào tạo
Một trong những thành viên có bề dày phát triển của Liên minh này là Hiệp hội nhân văn số châu Âu (EADH), được thành lập từ năm 1973 với nhiệm vụ nghiên cứu, phát triển và ứng dụng các phương pháp và công nghệ nhân văn số vào trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn Các lĩnh vực ứng dụng bao gồm lịch sử nghệ thuật, nghiên cứu văn hóa, lịch sử, xử lý hình ảnh, nghiên cứu ngôn ngữ và văn học, nghiên cứu bản thảo và âm nhạc
Tại Phần Lan, Trung tâm nhân văn số của Đại học Helsinki (HHELDIG - https://www.helsinki.fi/en/helsinki-centre-for-digital-humanities) được thành lập với mục tiêu tạo lập một mạng lưới nghiên cứu, tạo lập cơ sở hạ tầng và cung cấp dịch vụ
để giải quyết các vấn đề trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn với các phương pháp tính toán mới và coi nghiên cứu số hóa như một hiện tượng HELDIG xây dựng một hệ sinh thái thúc đẩy sự hợp tác giữa các nhóm nghiên cứu học thuật, tổ chức, công ty và cộng đồng trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn
(https://digitalhumanities.berkeley.edu) nhằm phát triển các công cụ và phương pháp trong triển khai nghiên cứu khao học nhân văn thông qua các dự án, tọa đàm và quý hỗ trợ phát triển Berkeley triển khai các khóa học cấp chứng chỉ về nhân văn số nhằm nghiên cứu nghệ thuật và văn hóa bằng việc sử dụng công cụ số Trung tâm nhân văn
số tại Berkeley được tài trợ bởi Quỹ Andrew W Mellon Foundation và được sự hỗ trợ tích của Phòng nghiên cứu đại học Berkeley và quản lý trực tiếp bởi Khoa Nhân văn
và Nghệ thuật Trung tâm tập hợp được đội ngũ chuyên gia khoa học xã hội và nhân văn, nghệ thuật, âm nhạc, ngôn ngữ, lịch sử, văn học, chính trị, công nghệ, kiến trúc, thiết kế, lịch sử, nhân học, khoa học thông tin và thư viện
Tại đại học Stanford, nhân văn số được coi là một khoa học liên ngành (http://shc.stanford.edu/digital-humanities), là nơi giao thoa giữa khoa học máy tính và khoa học nhân văn Nhân văn số được triển khai bởi Trung tâm Khoa học nhân văn từ đầu những năm 1980, khi đó các công cụ tính toán đã giúp các nhà khoa học về nhân văn triển khai các nghiên cứu ơ quy mô là được cho là không thể thực hiện nếu không
có máy tính hỗ trợ Nhân văn số thúc đẩy sự hợp tác và kết nỗi giữa các ngành học và định hướng phương pháp nghiên cứu mới dựa trên công nghệ Các dự án liên quan đến nhân văn số đó là số hóa tài liệu để lưu giữ cho thế hệ sau, tạo lập bản đồ để trao đổi
và truyền tải ý tưởng trong nghiên cứu lịch sử, và nghiên cứu sự biến đổi của các từ phổ biến trong nhiều thế kỷ qua Tại Stanford, các nhà nghiên cứu thử nghiệm và tương tác với các nguồn tài liệu để khám phá ra những kết quả mới, đồng thời xây
Trang 857
dựng cộng đồng và chia sẻ thông tin Đại học Stanford đã xây các trung tâm nghiên cứu liên quan đến nhân văn số bao gồm: Trung tâm phân tích không gian và văn bản (CESTA), Trung tâm nghiên cứu kỹ thuật số liên ngành (CIDR), Trung tâm nghiên cứu máy tình về âm nhạc và âm học, và Nhóm nghiên cứu trọng điểm về nhân văn số (DHFG) với sự tham gia của các chuyên gia trong lĩnh vực văn học, văn hóa và ngôn ngữ
Hiệp hội nhân văn số nhật bản (JADH) với Tạp chí nhân văn số Nhật Bản được thành lập với mong muốn kết nối các chuyên gia về nhân văn số và thúc đẩy lĩnh vực này phát triển, tạo ra môi trường cộng tác quốc tế về nhân văn số Một trong những khó khăn mà các chuyên gia nhân văn số phải đối mặt đó là số hóa các ký tự và văn bản từ các nguồn tài liệu tiếng Nhật Họ nhận ra rằng những nỗ lực trong số hóa trong các ngành khoa học nhân văn vẫn chưa tương xứng với chi phí khổng lồ đã được đầu
tư Chính vì vậy hiệp hội nhân văn số ra đời nhằm thúc đẩy ứng dụng hiệu quả hơn nữa về công nghệ số trong khoa học nhân văn
Đài Loan đã triển khai một chương trình đầy tham vọng với chương trình lưu trữ số quốc gia (NDAP) trong giai đoạn 2002-2012, tiếp theo đó là dự án quản lý bền vững lưu trữ số quốc gia 2013-2015 Trong đó đã số hóa được 320 ngàn hiện vật, tranh
và mẫu vật; 94 ngàn bộ sưu tập về sách, văn bản và kinh thánh; 156 triệu trang về bản
đồ và hình ảnh; và hơn 9 ngàn giờ dữ liệu video Việc chuyển đổi từ hình ảnh dưới dạng viết tay sang nhận dạng chữ viết đồng thời dữ liệu hóa và dịch sang các ngôn ngữ tương đồng là một việc cần có sự đầu tư lớn Vấn đề đặt ra khi một nhà nghiên về khoa học xã hội và nhân văn tiếp cận đến kho dữ liệu số khổng lồ này, họ bị lạc lối trong kho dữ liệu, làm thế nào để họ tìm thấy dữ liệu mình cần Việc ứng dụng mô tả siêu dữ liệu, gắng thẻ cho từ khóa, phân loại tri thức, xây dựng các công cụ nhân văn số sẽ giúp cho dữ liệu được tổ chức tốt và người khai thác có công cụ để khai thác hiệu quả nguồn trị thức này, đó chính là mục tiêu của nhân văn số Đại học Quốc gia Đài Loan
là một trong nhữn đơn vị đi đầu trong triển khai nhân văn số và đã thành lập Trung tâm nghiên cứu nhân văn số (http://www.digital.ntu.edu.tw/en)
Các trung tâm nhân văn số là nơi ứng dụng các phương tiên và công nghệ mới cho nghiên cứu, giảng dạy và thử nghiệm về khoa học xã hội và nhân văn Mục tiêu của các trung tâm là hỗ trợ nghiên cứu về khao học xã hội và nhân văn, tao ra định dạng tri thức mớ, và khám phá tác động của công nghệ đối với các ngành khoa học xã hội và nhân văn Để thực hiện các mục tiêu này, một trung tâm nhân văn số cam kết thực hiện một số hoặc tất cả các hoạt động sau:
• Xây dựng các bộ sưu tập số dành cho học thuật hoặc dùng là nguồn để giảng dạy
• Tạo ra các công cụ cho nhà nghiên cứu có thể: quản lý (tạo lập các sản phẩm đa phương, các ứng dụng mà không cần hiểu biết nhiều về công nghệ cũng như phải qua đào tạo); xây dựng các bộ sưu tập số; phân tích dữ liệu; xây dựng và quản lý các quy trình nghiên cứu; sử dụng bộ sưu tập số cùng các công cụ phân tích để tạo ra tri thức mới
• Đề xuất và cung cấp các hoạt động đào tạo về nhân văn số (tọa đàm, khóa học ngắn, các chương trình đào tạo cấp bằng, đào tạo giảng viên, trao đổi học giả)
Trang 958
• Cung cấp các bài giảng, chương trình, hội thảo, xemina về chủ đề nhân văn số cho giới học thuật và cộng đồng
• Có cơ sở vật chất và nhân lực riêng để triển khai hoạt động (nhân lực không sử dụng chung với các khoa và đơn vị trong nhà trường)
• Cung cấp hỗ trợ và hợp tác cho các giảng viên/nhà nghiên cứu giữa các khoa trong trường đại học, giữa trường đại học với các tổ chức khác ngoài trường: các dịch vụ miễn phí; tham gia và các dự án liên ngành
• Triển khai các nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn dựa trên công nghệ, tạo lập thế hệ học giả số (digital scholarship)
• Tạo lập không gian cho những thực nghiệm và sáng tạo của nhà khoa học nhân văn
• Phục vụ như là một cổng thông tin cho một lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn cụ thể
• Phục vụ như là một nơi lưu trữ các bộ sựu tập số về khoa học xã hội và nhân văn
• Cung cấp các giải pháp về công nghệ cho các đơn vị nghiên cứu về khoa học xã hội và nhân văn
3 Thư viện đối với nhân văn số
Thư viện không chỉ là nơi được coi là trung tâm của nhân văn số mà đó chính là khởi nguồn của nhân văn số Có thể nói trong bối cảnh công nghệ hiện nay, phát triển nhân văn số được là một công việc đương nhiên của thư viện Posner (2013) cho rằng các thư viện đang từng bước hỗ trợ mạnh mẽ cho nhân văn số như là một dịch vụ cao cấp, và đây được coi là một công việc mới của người làm thư viện Tuy nhiên vấn đề đặt ra là nhân văn số khá phức tạp, có sự tham gia của nhiều bên với sự hợp tác rất chuyên sâu, có sự hợp tác không biên giới giữa các thư viện trong, các công nghệ tổ chức, lưu trữ và khai thác thông tin hiện đại, cùng với sự liên thông giữa các thư viện trong và ngoài nước (Rockenbach, 2013)
Các thư viện đóng góp rất nhiều trong quá trình chuyển đổi số khi nói đến việc
mở rộng các mô hình để hỗ trợ nghiên cứu Mô hình của Sula (2013) cho thấy mối liên
hệ chặt chẽ giữa thư viện với việc cung cấp thông tin trong môi trường số Ở đó các dữ liệu được tổ chức, liên kết và truy cập mở để người dùng có khai thác dễ dàng; thư viện cung cấp công nghệ, hỗ trợ tập huấn để tăng cường năng lực khai thác thông tin của người dùng
Thư viện không chỉ là nơi được coi là trung tâm của nhân văn số mà đó chính là khởi nguồn của nhân văn số Có thể nói trong bối cảnh công nghệ hiện nay, phát triển nhân văn số được là một công việc đương nhiên của thư viện Posner (2013) cho rằng các thư viện đang từng bước hỗ trợ mạnh mẽ cho nhân văn số như là một dịch vụ cao cấp, và đây được coi là một công việc mới của người làm thư viện Tuy nhiên vấn đề đặt ra là nhân văn số khá phức tạp, có sự tham gia của nhiều bên với sự hợp tác rất chuyên sâu, có sự hợp tác không biên giới giữa các thư viện trong, các công nghệ tổ chức, lưu trữ và khai thác thông tin hiện đại, cùng với sự liên thông giữa các thư viện trong và ngoài nước (Rockenbach, 2013)
Trang 1059
Các thư viện đóng góp rất nhiều trong quá trình chuyển đổi số khi nói đến việc
mở rộng các mô hình để hỗ trợ nghiên cứu Mô hình của Sula (2013) cho thấy mối liên
hệ chặt chẽ giữa thư viện với việc cung cấp thông tin trong môi trường số Ở đó các dữ liệu được tổ chức, liên kết và truy cập mở để người dùng có khai thác dễ dàng; thư viện cung cấp công nghệ, hỗ trợ tập huấn để tăng cường năng lực khai thác thông tin của người dùng
Hình 3 Mối liên hệ giữa thư viện và nhân văn số (Sula, 2013)
Cây hỏi đặt ra là nếu chúng ta có thể định nghĩa và thiết kế lại một thư viện trong thế kỷ 21, nó sẽ trông như thế nào? Chức năng cốt lõi hoặc vai trò của nó sẽ là gì? Nhiệm vụ học tập, nghiên cứu hoặc các phần của nhiệm vụ học tập, nghiên cứu mà thư viện sẽ hỗ trợ là gì ? Những vai trò truyền thống của thư viện bao gồm bảo tồn, với trọng tâm là giải quyết các thách thức của bảo tồn và bảo quản số; duy trì các bộ sưu tập và kho lưu trữ đặc biệt; cung cấp các dịch vụ và giảng dạy kỹ năng tìm kiếm thông tin hiệu quả cho người dùng tin Có thể hình dung thư viện trong bối cảnh chuyển đổi
số như sau:
• Thư viện thế kỷ 21 sẽ phản ánh những thay đổi cơ bản trong cách các nhà nghiên cứu làm việc với sự phát triển từng bước các phương pháp nghiên cứu mới
và một môi trường học thuật kết nối Làm việc trong phạm vi của các ngành và vượt qua các ranh giới liên ngành, các thư viện sẽ có sự linh hoạt, chuyên môn và năng lực
Số hóa Bảo quản số Tập dữ liệu
Truyền thông xã hội Học thuật số Phát triển bộ sưu tập số Biên mục
Bảo quản vật lý
Hướng dẫn khai thác các nguồn nhân văn số Truy cập mở
Phổ biến thông tin
Con người
Máy tính
Yêu cầu
nội dung
lần đầu
Yêu cầu nội dung lần hai
Dữ liệu liên kết
Hệ thống thông tin địa
Phân tích ký tự Khai phá dữ liệu Siêu dữ liệu
Khả năng khai thác và sử dụng
Phân loại
Hỗ trợ về công nghệ
Quản lý quyền Đào tạo và tập huấn