1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THU HOẠCH những vấn đề có tính quy luật của sự hình thành và phát triển tư tưởng triết học ý nghĩa trong nghiên cứu lịch sử triết học hiện nay

49 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 208,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vai trß THU HOẠCH Những vấn đề có tính quy luật của sự hình thành và phát triển tư tưởng triết học ý nghĩa trong nghiên cứu lịch sử triết học hiện nay 1 Mở đầu Những học thuyết triết học đầu tiên trong lịch sử xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ thứ VI tr CN ở ấn Độ, Trung Quốc, Hy Lạp, La Mã và ở một số nước khác thời kỳ cổ đại từ khi chế độ cộng sản nguyên thuỷ được thay thế bằng chế độ chiếm hữu nô lệ Triết học là hình thái ý thức xã hội ra đời, tồn tại, phát triển cùng với lịch s.

Trang 1

THU HOẠCH-Những vấn đề có tính quy luật của sự hình thành và phát triển tư tưởng triết học- ý nghĩa trong nghiên cứu

lịch sử triết học hiện nay

1 Mở đầu

Những học thuyết triết học đầu tiên trong lịch sử xuất hiện vào

khoảng thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ thứ VI tr.CN ở ấn Độ, Trung

Quốc, Hy Lạp, La Mã và ở một số nước khác thời kỳ cổ đại từ khichế độ cộng sản nguyên thuỷ được thay thế bằng chế độ chiếm hữu

nô lệ Triết học là hình thái ý thức xã hội ra đời, tồn tại, phát triểncùng với lịch sử xã hội loài người đến nay Lịch sử triết học là lịch

sử phát triển của tư tưởng triết học qua các giai đoạn khác nhau của

xã hội Như vậy, yếu tố nào mang tính quy luật đã tác động, chiphối đến sự hình thành, phát triển những tư tưởng triết học đó?

Với tính cách là một hình thái ý thức xã hội, lịch sử triết học cóhai nhóm tính quy luật: nhóm tính quy luật phản ánh và nhóm tínhquy luật giao lưu Nhóm tính quy luật phản ánh bao gồm phản ánhđiều kiện kinh tế, xã hội và sự phát triển khoa học nhất là khoa học

tự nhiên Nhóm tính quy luật giao lưu bao gồm giao lưu đồng loại

và giao lưu khác loại Giao lưu đồng loại bao gồm giao lưu theo lịchđại và giao lưu theo đồng đại Giao lưu khác loại bao gồm giao lưugiữa triết học với các hình thái ý thức xã hội khác và giao lưu giữacác hệ thống triết học khác nhau

2 Nội dung

Trang 2

Theo quan điểm mácxít, lịch sử tư tưởng triết học được phátsinh, phát triển tuân theo những tính quy luật sau đây:

Một là, sự hình thành, phát triển của các tư tưởng triết học phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội và nhu cầu phát triển của thực tiễn xã hội

Sự phát triển của tư tưởng triết học- một hình thái ý thức xã hội,phụ thuộc vào tồn tại xã hội, mà trước hết là phụ thuộc vào sự pháttriển của nền sản xuất vật chất Mác khẳng định: “Tiền đề đầu tiêncủa mọi sự tồn tại của con người, và do đó là tiền đề của mọi lịch

sử, đó là: người ta phải có khả năng sống đã rồi mới có thể “làm ralịch sử” Nhưng muốn sống được thì trước hết cần phải có thức ăn,thức uống, nhà ở, quần áo và một vài thứ khác nữa Như vậy, hành

vi lịch sử đầu tiên là việc sản xuất trong những tư liệu để thoả mãnnhững nhu cầu ấy, việc sản xuất ra bản thân đời sống vật chất Hơnnữa, đó là một hành vi lịch sử, một điều kiện cơ bản của mọi lịch sử

mà hiện nay cũng như hàng nghìn năm về trước, người ta phải thực

Trong lịch sử Phương Đông cổ, trung đại là một vùng đất rộng

lớn trải dài từ Ai Cập, Babilon, ấn Độ tới Trung Quốc, điều kiện địa

lý khá thuận lợi cho con người cổ đại tồn tại và phát triển Nơi đây

đã có các trung tâm văn minh lớn xuất hiện như: nền văn minh sôngNin (Ai Cập), nền văn minh sông Tigơrơ và Ơphơrát (Irắc), nền văn

minh sông Hằng (ấn Độ) và nền văn minh sông Hoàng (Trung

Quốc) đã tạo nên các trung tâm kinh tế lớn, do đó có điều kiện đểphát triển kinh tế; cư dân ở đây chủ yếu sống bằng nghề trồng trọt,

1 C.Mác-Ph ngghen: To n t p, Nxb Chính tr qu c gia, S Th t, H N i, 1995, T p 3, tr 39- tr 40.ị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 1995, Tập 3, tr 39- tr 40 ốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 1995, Tập 3, tr 39- tr 40 ự Thật, Hà Nội, 1995, Tập 3, tr 39- tr 40 ội, 1995, Tập 3, tr 39- tr 40.

Trang 3

chăn nuôi, phát triển thủ công nghiệp và thương nghiệp cùng vớinhững nền văn minh trên, những tư tưởng triết học, văn hoá đượchình thành, phát triển hết sức đa dạng và phong phú ở thời kỳ đó.

Nổi bật nhất là hai trung tâm lớn đó là Trung Quốc và ấn Độ

Thời kỳ ấn Độ cổ đại (khoảng từ thiên niên kỷ thứ II tr.CN đến thế kỷ thứ I tr.CN) Đất nước ấn Độ là một nước lớn ở miền Nam châu á, hai mặt Đông Nam và Tây Nam giáp ấn Độ Dương, phía Bắc là dãy núi Hymalaya, phía Nam là vùng đồng bằng ấn- Hằng do sông ấn, sông Hằng và sông Bramapoutra chở phù sa bồi đắp nên.

Do đó nền sản xuất vật chất phát triển mạnh như: thuỷ lợi, nghề thủcông nghiệp, buôn bán từ nhu cầu đó của xã hội đã tạo ra động lựcmạnh mẽ cho khoa học phát triển, đây là thời kỳ phát triển tư duy

trừu tượng của người ấn Độ cổ đại.

Về chế độ chính trị- xã hội: chế độ thị tộc tan rã, xã hội phânchia thành các giai cấp khác nhau; các quốc gia chiếm hữu nô lệphát triển và thường gây chiến tranh thôn tính lẫn nhau, dẫn tới hình

thành các quốc gia lớn, các vương triều thống nhất ở ấn Độ; làm

cho xã hội luôn diễn ra các cuộc đấu tranh hết sức quyết liệt giữacác lực lượng đối lập Thời kỳ này cũng hình thành hệ thống các tôn

giáo lớn ở ấn Độ cổ đại Những đặc điểm lịch sử, kinh tế, chính

trị-xã hội đó là tiền đề về lý luận và thực tiễn làm nảy sinh và phát triển

những tư tưởng triết học ấn Độ cổ, trung đại Triết học ra đời lý giải

về nguồn gốc, nguyên lý của vũ trụ, giải thích đời sống tâm linh vànỗi khổ của con người v.v

Trang 4

Một số đặc điểm về tư tưởng triết học ấn Độ cổ, trung đại: bước

đầu đặt ra và giải quyết nhiều vấn đề của triết học như về bản thểluận, nhận thức luận, nhân sinh quan, đạo đức Triết học ở thời kỳnày đã thể hiện tính biện chứng và tầm khái quát khá sâu sắc, đãđem lại nhiều đóng góp quý báu vào kho tàng di sản triết học của

nhân loại Triết học ấn Độ cổ, trung đại đã quan tâm giải quyết vấn

đề đời sống tâm linh, gắn với đời thực, việc thực Triết học ấn Độ

cổ, trung đại trong mấy nghìn năm phát triển không diễn ra cuộccách mạng tư tưởng, nó chỉ phát triển dưới hình thức chú thích, diễngiải, chỉ có sự phát triển kế thừa, không có sự phủ định các họcthuyết trước đó Hầu hết các trường phái đều biến đổi theo xuhướng từ vô thần đến hữu thần, từ ít hay nhiều duy vật sang duy tâm

hoặc nhị nguyên Điều đó phản ánh sức ỳ của xã hội ấn Độ cổ, trung đại- một xã hội dựa trên cơ sở của “phương thức sản xuất châu á”

trong suốt mấy nghìn năm lịch sử

Thời kỳ Trung Quốc cổ, trung đại (khoảng thiên niên kỷ thứ Vtr.CN đến cách mạng Tân hợi 1911), nền sản xuất vật chất phát triểnmạnh chủ yếu là trồng lúa nước, sử dụng công cụ bằng đá, gỗ, đồđồng, đồ sắt để thâm canh, thủ công nghiệp và thương nghiệp pháttriển Về chính trị xã hội, từ chế độ thị tộc “thiên nhượng” pháttriển đến chế độ “thế tập vương vị”- chế độ phong kiến hình thành

và phát triển, duy trì , kéo dài suốt mấy chục thế kỷ (đến khi cáchmạng tân hợi 1911 mới kết thúc) Duy trì chế độ phong kiến trungương tập quyền, nhà nước cho phép mua bán đất tự do, phát canhthu tô cho nên đã xuất hiện chế độ tư hữu về tài sản Trong xã hội

Trang 5

xuất hiện một tầng lớp mới- tầng lớp những người có của, các thếlực có kinh tế nó chi phối xã hội, do đó, làm cho quyền lực củachính quyền trung ương bị suy giảm đất nước Trung Hoa cổ đại bịchia cắt, các nước chư hầu đua nhau động binh, gây chiến tranhthôn tính lẫn nhau hết sức tàn khốc, đời sống nhân dân vô cùng cựckhổ, lòng dân ly tán, trật tự lễ nghĩa, cương thường xã hội đảo lộn,đạo đức con người, xã hội suy đồi “vương đạo suy vi, bá đạo trịvì” Chính điều kiện lịch sử đó đã đặt ra nhiều vấn đề buộc các nhà

tư tưởng phải lý giải Do nhu cầu của thực tiễn lúc đó triết học ởTrung Quốc được hình thành và phát triển rực rỡ, nhất là thời kỳXuân thu- Chiến quốc; thời kỳ này được gọi là “bách gia tranhminh” nhằm giải quyết các vấn đề thực tiễn chính trị, đạo đức của

xã hội đang đặt ra Kết quả là hàng loạt hệ thống các quan điểm vềchính trị- xã hội, triết học, đạo đức đã xuất hiện

Một số đặc điểm về tư tưởng triết học Trung Quốc cổ, trungđại: hầu hết triết học đều hình thành ở thời kỳ cổ đại với nhiều trungtâm, tính độc lập giữa các trung tâm lớn; các nhà triết học khôngphải là các nhà khoa học tự nhiên, mà là các nhà hoạt động chính trị,đạo đức, tôn giáo, không có mục đích biên soạn thành các tác phẩmchuyên về triết học- không tự nhận là nhà triết học Vì vậy, đốitượng phản ánh của triết học thời kỳ này là phản ánh đời sống chínhtrị- xã hội, đạo đức tâm linh con người đặc biệt là sự phản ánh thốngnhất trời, đất và người; triết học Trung Quốc cổ, trung đại phân kỳtheo thời đại, không phân kỳ theo lịch sử phát triển của các hình tháikinh tế- xã hội

Trang 6

Thời kỳ Hy Lạp cổ đại (khoảng thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ thứIII tr.CN): về điều kiện kinh tế xã hội, lực lượng sản xuất phát triểnmạnh, xã hội phân chia thành các giai cấp, phân công lao động xãhội phát triển mạnh mẽ, có lực lượng lao động trí óc và lao độngchân tay, nhờ đó mà khoa học cũng phát triển mạnh, nó đem lại cho

xã hội nhiều thành tựu vĩ đại: toán học (Talét, Pitago, Ơclít ), vật lýhọc (Acsimét, Arixtốt, Đêmmôcít ), thiên văn học (Talét tìm ra lịch

1 năm có 360 ngày và đêm ) Nhờ có sự phát triển mạnh mẽ củakhoa học do đó, ở thời kỳ này các nhà khoa học đã khám phá ranhững luận điểm sai lầm của chủ nghĩa duy tâm tôn giáo về vũ trụ,

về con người Vì vậy, cuộc đấu tranh giữa giai cấp chủ nô và giaicấp nô lệ trên lĩnh vực tư tưởng đặc biệt là trên lĩnh vực triết họcdiễn ra hết sức gay gắt

Một số đặc điểm về tư tưởng triết học Hy Lạp cổ, trung đại:phát triển phong phú về trường phái, sự phân chia và đối lập giữacác trường phái triết học duy vật và duy tâm, biện chứng và siêuhình vô thần và hữu thần Trong đó, điển hình là cuộc đấu tranhcủa hai đường lối triết học duy vật của Đêmôcrít và triết học duytâm của Platôn Các hệ thống triết học ra đời cơ bản đi sâu vào giảiquyết các vấn đề về bản thể luận và nhận thức luận triết học: đó làmối quan hệ giữa vật chất và ý thức Tuy nhiên chủ nghĩa duy vậtcòn thô sơ mộc mạc và phép biện chứng còn ở trình độ tự phát.Ăngghen viết: “Hình thức thứ nhất là triết học Hy Lạp Tư duy biệnchứng xuất hiện với tính chất thuần phác tự nhiên do đó mà saunày, nó buộc phải nhường chỗ cho những cách nhìn khác Nếu về

Trang 7

chi tiết, chủ nghĩa siêu hình là đúng hơn so với những người HyLạp, thì về toàn thể những người Hy Lạp lại đúng hơn so với chủ

Điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị- xã hội hình thành triết học

cổ điển Đức: nước Đức còn điển hình về chế độ phong kiến với 360quốc gia tự lập trong một liên bang Đức hình thức và lạc hậu Giaicấp phong kiến thống trị hầu hết các quốc gia đó, giai cấp tư sảnsống rải rác ở những vương quốc nhỏ, tách rời nhau, ít về số lượng,nhỏ bé về chính trị, yếu kém về kinh tế, vừa muốn làm cách mạngvừa sợ cách mạng, nên đã thoả hiệp với giai cấp phong kiến- tầnglớp quý tộc Phổ đang thống trị lúc bấy giờ; giữ lập trường cải lươngtrong việc giải quyết những vấn đề phát triển đất nước Về khoa học

tự nhiên phát triển rất mạnh Nước Đức đầu thế kỷ XVIII chịu ảnhhưởng của triết học khai sáng Pháp, do đó, xuất hiện trào lưu ánhsáng Đức Từ những tiền đề đó đã đặt nền tảng cho quan niệm mới

về triết học Đặc điểm nổi bật của triết học cổ điển Đức thời kỳ nàylà: đã xây dựng được phép biện chứng mới, đề cao con người, đềcao tri thức lý tính và xu hướng tích hợp tri thức của nhân loại Điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị- xã hội hình thành triết họcMác: Thứ nhất về điều kiện kinh tế xã hội: vào những năm 40 củathế kỷ XIX chủ nghĩa tư bản đã phát triển sang một giai đoạn mới-giai đoạn đại công nghiệp Mác viết: “Giai cấp tư sản, trong quátrình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lựclượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả

2 C.Mác-Ph ngghen: To n t p, Nxb Chính tr qu c gia, S Th t, H N i, 1994, T p 20, tr 491.ị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 1995, Tập 3, tr 39- tr 40 ốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 1995, Tập 3, tr 39- tr 40 ự Thật, Hà Nội, 1995, Tập 3, tr 39- tr 40 ội, 1995, Tập 3, tr 39- tr 40.

Trang 8

các thế hệ trước kia gộp lại”3 Mâu thuẫn vốn có trong lòng chủnghĩa tư bản ngày càng phát triển Vì vậy, cuộc đấu tranh của giaicấp công nhân chống lại giai cấp tư sản ngày càng phát triển cả vềquy mô và tính chất- giai cấp vô sản đã bước lên vũ đài chính trị củamình Từ điều kiện kinh tế xã hội như vậy đòi hỏi phải có một lýluận mới dẫn đường- khác về nguyên tắc so với lý luận trước đótrong lịch sử, triết học Mác ra đời đã đáp ứng yêu cầu đó.

Có thể nói rằng điều kiện kinh tế xã hội mà trực tiếp là nền sảnxuất vật chất xã hội và đấu tranh giai cấp là yếu tố chi phối đến sựhình thành và phát triển của các tư tưởng triết học ở mỗi thời kỳ.Triết học ra đời khi lực lượng sản xuất phát triển mạnh có sự phâncông lao động xã hội, có người lao động chân tay, có người laođộng trí óc Những người lao động trí óc chuyên nghiên cứu trênlĩnh vực khoa học, qua đó các ngành khoa học phát triển trong đó cótriết học Mác viết: “Trước hết con người cần phải ăn, uống, ở vàmặc, nghĩa là phải lao động, trước khi có thể đấu tranh để giànhquyền thống trị, trước khi có thể hoạt động chính trị, tôn giáo, triết

triển của thực tiễn xã hội; nó trực tiếp phụ thuộc vào thực tiễn đấutranh giai cấp, đấu tranh chính trị xã hội Do yêu cầu ấy đòi hỏi phải

có một lý luận, khái quát về sự phát triển của xã hội và dẫn đườngcác cuộc đấu tranh lúc bấy giờ, (triết học Trung Hoa cổ đại là một điểnhình)

3 C.Mác-Ph ngghen: To n t p, Nxb Chính tr qu c gia, S Th t, H N i, 1995, T p 4, tr 603.ị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 1995, Tập 3, tr 39- tr 40 ốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 1995, Tập 3, tr 39- tr 40 ự Thật, Hà Nội, 1995, Tập 3, tr 39- tr 40 ội, 1995, Tập 3, tr 39- tr 40.

4 C.Mác-Ph ngghen: To n t p, Nxb Chính tr qu c gia, S Th t, H N i, 1995, T p 19, tr 166.ị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 1995, Tập 3, tr 39- tr 40 ốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 1995, Tập 3, tr 39- tr 40 ự Thật, Hà Nội, 1995, Tập 3, tr 39- tr 40 ội, 1995, Tập 3, tr 39- tr 40.

Trang 9

Ăngghen đã khái quát và đưa ra một nguyên tắc phương phápluận cơ bản định hướng cho việc nghiên cứu giới tự nhiên và lịchsử: “Bằng chứng phải được rút ra từ bản thân lịch sử Bây giờ thìbất cứ ở đâu, vấn đề không còn là tưởng tượng ra những mối liên hệ

Hai là, sự hình thành, phát triển của các tư tưởng triết học phụ thuộc vào sự phát triển của khoa học xã hội và khoa học tự nhiên

Trong lịch sử triết học, khoa học không phát triển thì triết họckhông có khái quát mới Trình độ phát triển của tư duy triết họcnhân loại phụ thuộc vào trình độ nhận thức chung của nhân loại, tức

là phụ thuộc vào sự phát triển của khoa học tự nhiên và khoa học xãhội Khoa học phát triển, vừa là cơ sở, điều kiện cho triết học pháttriển Ngược lại triết học phát triển, vừa là kết quả, vừa là cơ sở cho

sự phát triển của các khoa học Triết học với tính cách là một khoahọc phụ thuộc vào sự phát triển của khoa học và văn hoá của nhânloại Ăngghen viết: “Chủ nghĩa duy vật đã trải qua một loạt các giaiđoạn phát triển Mỗi lần có một phát minh mang ý nghĩa thời đạingay cả trong lĩnh vực khoa học lịch sử- tự nhiên thì chủ nghĩa duyvật lại không tránh khỏi thay đổi hình thức của nó; và từ khi bảnthân lịch sử cũng được giải thích theo quan điểm duy vật chủ nghĩa

kinh tế xã hội và trình độ phát triển khoa học, xét đến cùng quyết

5 C Mác v Ph nghen, To n t p, Nxb Chính tr qu c gia, H.1995, t 21, tr 449.ị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 1995, Tập 3, tr 39- tr 40 ốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 1995, Tập 3, tr 39- tr 40.

6 C.Mác-Ph ngghen: To n t p, Nxb Chính tr qu c gia, S Th t, H N i, 1995, T p 21, tr 409.ị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 1995, Tập 3, tr 39- tr 40 ốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 1995, Tập 3, tr 39- tr 40 ự Thật, Hà Nội, 1995, Tập 3, tr 39- tr 40 ội, 1995, Tập 3, tr 39- tr 40.

Trang 10

định nội dung các luận thuyết triết học và trong chừng mực, quyếtđịnh cả hình thức thể hiện tư tưởng triết học.

Thời kỳ cổ đại, triết học hoà tan với khoa học: các nhà khoa học

đồng thời là nhà triết học Mác, Ăngghen đánh giá Đêmôcrít là: ông

có bộ óc bách khoa đầu tiên của Hy Lạp cổ đại, bởi vì ông vừa lànhà triết học, đạo đức học, tâm lý học, toán học, sinh vật học, vật lýhọc, mỹ học, ngôn ngữ học, âm nhạc do vậy ông đã có nhiều cốnghiến cho kho tàng tri thức nhân loại trong đó có triết học

Thời kỳ trung đại, triết học đứng trên khoa học; triết học làkhoa học của mọi khoa học (khoa học mà đặc biệt là khoa học tựnhên không phát triển), triết học thời kỳ này mang tính chất kinhviện phục vụ cho tôn giáo và thần học- nó chỉ bàn về mối quan hệgiữa các chung và cái riêng, giải thích cho sự tồn tại của chúa

Thời kỳ hiện đại (từ khi xuất hiện triết học Mác), khoa học vàtriết học có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong đó triết học là hạtnhân, là phương pháp luận, còn khoa học là các ngành nghiên cứu

cụ thể ở từng lĩnh vực khác nhau, cung cấp thông tin, dữ liệu làm cơ

sở để triết học có những khái quát mới Ăngghen nhắc lại cơ sởkhoa học tự nhiên dẫn đến sự cáo chung của phép siêu hình và sựhình thành phép biện chứng duy vật Chính việc phát triển của khoahọc từ khoa học sưu tập “về những vật chất bất biến” sang khoa học

hệ thống hoá, khoa học về quá trình dẫn đến làm sụp đổ phươngpháp tư duy siêu hình và khẳng định phương pháp tư duy biệnchứng Ăngghen đánh giá ba phát minh vĩ đại của thời đó là phátminh ra tế bào, phát minh ra định luật bảo toàn và chuyển hoá năng

Trang 11

lượng và học thuyết tế bào của Đácuyn, nhờ ba phát minh vĩ đại đó

mà khoa học tự nhiên “có thể chứng minh những nét lớn của mốiliên hệ giữa các quá trình của tự nhiên không những trong các lĩnhvực riêng biệt, mà cả mối liên hệ giữa các lĩnh vực riêng biệt ấy nóichung và có thể trình bày một bức tranh bao quát về mối liên hệ

thuyết triết học trước đó, Mác và Ăngghen đã chỉ ra cơ sở duy tâmcủa triết học Hêghen, vạch ra mâu thuẫn chủ yếu giữa hệ thống triếthọc bảo thủ, giáo điều với phương pháp biện chứng cách mạng Hệthống triết học của Hêghen đã coi thường nội dung đời sống thực tế

và xuyên tạc bức tranh khoa học hiện thực Chính phép biện chứngduy tâm của Hêghen đã bất lực trước sự phân tích thực tiễn, phântích sự phát triển của nền sản xuất vật chất và đặc biệt là bất lựctrước sự phân tích các sự kiện chính trị do không bám sát thực tiễn,không bám vào sự phát triển của khoa học Trong lĩnh vực xã hộiPhoiơbắc không bám sát thực tiễn, ông đưa ra đạo đức, tình yêu vàtôn giáo; đạo đức của con người là tình yêu người với người, hạnchế hợp lý của bản thân mình để đạt đến hạnh phúc; hạnh phúc làbẩm sinh, hạnh phúc là cơ sở của đạo đức Mặt khác Phoiơbắcmong muốn xoá bỏ tôn giáo nhưng lại muốn xây dựng một thứ tôngiáo mới- thứ tôn giáo tình yêu: tình yêu nam nữ là thiêng liêngnhất Ăngghen viết: “Với tư cách là nhà triết học, ông còn dừng lại

Mác và Ăngghen đã xây dựng chủ nghĩa duy vật triết học chânchính khoa học bằng cách: bám sát thực tiễn, bám sát sự phát triển

7 Giáo trình tri t h c, Nxb CTQG, H N i, 1997, tr 182.ết học, Nxb CTQG, Hà Nội, 1997, tr 182 ọc, Nxb CTQG, Hà Nội, 1997, tr 182 ội, 1995, Tập 3, tr 39- tr 40.

8 C Mác v Ph nghen, To n t p, Nxb Chính tr qu c gia, H.1995, t p 21, tr 427.ị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 1995, Tập 3, tr 39- tr 40 ốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 1995, Tập 3, tr 39- tr 40.

Trang 12

của khoa học và xuất phát từ con người hiện thực, con người hoạtđộng thực tiễn mà trước hết là thực tiễn sản xuất vật chất và thựctiễn đấu tranh chính trị để xây dựng nên học thuyết của mình- mộtchủ nghĩa duy vật triết học hoàn bị, ở đó chủ nghĩa duy vật thì biệnchứng, còn phép biện chứng thì duy vật; lý luận triết học gắn bó chặtchẽ với thực tiễn- đó là chủ nghĩa duy vật biện chứng cả trong tựnhiên và trong xã hội.

Như vậy, triết học Mác ra đời đã chấm dứt tham vọng của nhiềunhà triết học muốn biến triết học thành khoa học của mọi khoa học,đứng trên khoa học Mác và Ăngghen đã thực hiện được sự liênminh chặt chẽ giữa triết học với khoa học cụ thể, giải quyết mốiquan hệ đúng đắn giữa triết học với khoa học cụ thể Ăngghen viết:

“Chỉ có trong giai cấp công nhân thì cái khiếu lý luận của ngườiĐức mới tiếp tục tồn tại không tàn lụi đi khoa học càng hành độngmột cách dũng cảm và vô tư thì nó càng phù hợp với lợi ích và

dựng lý luận triết học của mình trên cơ sở khái quát các thành tựucủa khoa học xã hội và khoa học tự nhiên Rõ ràng qua phân tíchcủa Ăngghen chúng ta thấy mọi tham vọng của các nhà triết họctrước đó mong muốn triết học là khoa học của mọi khoa học đã bịông phê phán và đánh đổ hoàn toàn Ăngghen viết: “Mọi mưu toankhôi phục lại triết học về tự nhiên không những là một việc thừa mà

triết học, đã bị đuổi ra khỏi tự nhiên và lịch sử, có lĩnh vực tư tưởngthuần tuý, chừng nào mà lĩnh vực đó còn tồn tại, đó là học thuyết về

9 C Mác v Ph nghen, To n t p, Nxb Chính tr qu c gia, H.1995, t p 21, tr 450- tr 451.ị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 1995, Tập 3, tr 39- tr 40 ốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 1995, Tập 3, tr 39- tr 40.

10 C Mác v Ph nghen, To n t p, Nxb Chính tr qu c gia, H.1995, t p 21, tr 434.ị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 1995, Tập 3, tr 39- tr 40 ốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 1995, Tập 3, tr 39- tr 40.

Trang 13

các quy luật của bản thân quá trình tư duy tức là phép lôgic học và

khoa học và phương pháp luận chung cần thiết cho sự phát triển củamọi khoa học cụ thể Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học ngày naycàng chứng tỏ sự cần thiết phải có tư duy biện chứng duy vật vàngược lại, chỉ có dựa trên những thành tựu của khoa học hiện đại đểphát triển thì triết học Mác mới không ngừng nâng cao được sứcmạnh cải tạo thế giới của mình Như vậy, mỗi lần có phát minh vạchthời đại, ngay cả trong lĩnh vực tự nhiên, thì chủ nghĩa duy vậtkhông tránh khỏi phải thay đổi hình thức của nó, như Ăngghen đãtừng chỉ ra

Ba là, sự hình thành, phát triển của các tư tưởng triết học phụ thuộc vào cuộc đấu tranh giữa hai khuynh hướng triết học

cơ bản- chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm.

Đây là một hình thức giao lưu đặc biệt giữa các hệ tư tưởng triếthọc trong toàn bộ lịch sử của nó

Lịch sử triết học có nhiều trường phái triết học khác nhau,nhưng chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm là hai trường pháilớn nhất trong lịch sử, nó hình thành từ khi triết học mới phát triển

và tồn tại đến ngày nay

Lịch sử triết học từ cổ đại đến nay là lịch sử đấu tranh giữa chủnghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, vì vậy trong nghiên cứu lịch sửtriết học tất cả các trường phái triết học đều quan tâm giải quyết vấn

đề cơ bản của triết học Đó là quan hệ giữa vật chất và ý thức, giữa

11 C Mác v Ph nghen, To n t p, Nxb Chính tr qu c gia, H.1995, t p 21, tr 449 ị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 1995, Tập 3, tr 39- tr 40 ốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 1995, Tập 3, tr 39- tr 40.

Trang 14

tồn tại và tư duy hay giữa tự nhiên và tinh thần; vai trò của conngười trong nhận thức thế giới Tất cả những hiện tượng mà chúng

ta gặp hàng ngày chỉ có thể là hiện tượng vật chất tồn tại bên ngoài

ý thức của con người, hoặc là hiện tượng tinh thần tồn tại trong ýthức của con người Không có bất kỳ hiện tượng nào nằm ngoài hailĩnh vực đó Như vậy, bất kỳ trường phái triết học nào cũng quantâm nghiên cứu giải quyết vấn đề cơ bản đó Vấn đề cơ bản của triếthọc có hai mặt: mặt thứ nhất trả lời cho câu hỏi vật chất hay ý thứccái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào? Mặtthứ hai trả lời cho câu hỏi con người có khả năng nhận thức đượcthế giớ hay không?

Tuỳ vào cách trả lời đó mà các học thuyết triết học khác nhauchia thành hai trào lưu cơ bản là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duytâm

Chủ nghĩa duy vật khẳng định vật chất có trước, ý thức có sau;thế giới vật chất tồn tại một cách khách quan, độc lập với ý thức conngười, không do ai sáng tạo ra; còn ý thức là phản ánh thế giớikhách quan vào bộ óc con người; không thể có tinh thần, ý thức nếukhông có vật chất Con người có thể nhận thức được thế giới và cácquy luật của thế giới

Đối lập với chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa duy tâm cho rằng: tinhthần, ý thức có trước và là cơ sở tồn tại của giới tự nhiên, của vậtchất Đa số các nhà triết học duy tâm cũng thừa nhận thế giới là cóthể nhận thức được, nhưng chỉ là tự nhận thức, tự ý thức về bản thân

ý thức Họ phủ nhận thế giới khách quan là nguồn gốc của ý thức,

Trang 15

phủ nhận cảm giác, khái niệm, ý niệm của con người là cái phản ánhcác sự vật và hiện tượng của thế giới khách quan Những nhà triếthọc theo thuyết không thể biết đã bác bỏ khả năng nhận thức về thếgiới của con người, như vậy họ cũng rơi vào chủ nghĩa duy tâm.Ngay từ thời Trung Quốc cổ đại các nhà triết học đã đi tìm bảnnguyên của thế giới từ các yếu tố vật chất; họ đề cập chủ yếu vềchính trị xã hội; họ đã thấy được vai trò của nhận thức cảm tính vàthực tiễn Tuy nhiên, tư tưởng duy tâm nổi trội hơn bởi vì, họ tuyệtđối hoá kiến trúc thượng tầng không thấy vai trò của kinh tế; tưtưởng duy vật còn thô sơ, mộc mạc, tự phát.

Thuyết “âm dương, ngũ hành” đã đưa ra quan điểm: nguyên lývận hành đầu tiên và phổ biến của vạn vật là do sự tương tác của haithế lực đối lập nhau đó là âm (-) và dương (+); âm và dương thốngnhất trong thái cực và đổi đảo cho nhau theo quy luật nhất định Thuyết ngũ hành thì cho rằng: vạn vật đều do “kim, mộc, thuỷ, hoả,thổ” sinh ra, các yếu tố đó luôn vận động chuyển hoá cho nhau theoquy luật tương sinh, tương khắc Nho gia thì cho rằng: vạn vậttrong vũ trụ luôn sinh thành, biến hoá không ngừng theo đạo củanó Đạo gia đi giải thích thế giới bằng “đạo và đức”: đạo có trướctrời đất, sinh ra vạn vật, có danh tính, có hình thể; đạo sinh ra một,một sinh ra hai, hai sinh ra ba, ba sinh ra vạn vật đức là biểu hiệncủa đạo trong hiện thực “đạo làm cho vạn vật sinh trưởng, đức làmcho vạn vật tươi tốt”

Các trường phái triết học ở ấn Độ cổ đại: nhìn chung lúc đầu

các học thuyết ra đời mang ít nhiều yếu tố duy vật, họ thừa nhận thế

Trang 16

giới là do 4 yếu tố vật chất (đất, nước, lửa, gió) và yếu tố tinh thầntạo nên thế giới- “danh và sắc” Các trường phái sau thường biếnđổi theo xu hướng duy tâm hoặc nhị nguyên luận.

Thời kỳ Hy Lạp cổ đại, đường lối Platôn đấu tranh với đườnglối Đêmôcrít đã trở thành cuộc đấu tranh giữa hai đường lối triết họcđiển hình trong lịch sử triết học Đó là cuộc đấu tranh giữa chủnghĩa duy tâm và thần học của Platôn với hệ thống quan niệm duyvật của Đêmôcrít Vì thế, hệ thống quan niệm duy vật của Đêmôcrítđược coi là giá trị tinh thần kết tinh của thời đại đó và được gọi là

“đường lối Đêmôcrít” Đường lối này hoàn toàn đối lập với “đườnglối Platôn”- dòng hệ thống triết học duy tâm Vì vậy, học thuyết củaĐêmôcrít là một bước tiến khổng lồ lên phía trước trong phát triểntriết học duy vật ở Hy Lạp cổ đại

Thời kỳ trung đại triết học chịu ảnh hưởng nặng nề của tôn giáo

và thần học, nó diễn ra cuộc đấu tranh giữa phái duy danh và pháiduy thực: đấu tranh giải quyết mối quan hệ giữa khái niệm chung và

sự vật cá biệt, nó không có đóng góp lớn cho lịch sử triết học

Lịch sử phát triển của triết học từ khi xuất hiện triết học đến nay

cả trường phái duy vật và duy tâm trải qua các giai đoạn phát triểnkhác nhau, nhưng mỗi giai đoạn khác nhau về nội dung, hình thức,trình độ, phương pháp và các vấn đề đặt ra đó là nguồn gốc, độnglực phát triển của lịch sử tư tưởng triết học Có thể nói cuộc đấutranh giữa hai đường lối triết học Đêmôcrít và đường lối Platôn mởđầu cho cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duytâm trong lịch sử tư tưởng triết học Đỉnh cao của cuộc đấu tranh

Trang 17

này phải kể tới cuộc đấu tranh giữa triết học của Hêghen vớiPhoiơbắc, hạt nhân hợp lý trong triết học của các ông là tiền đề trựctiếp hình thành triết học Mác sau này Quá trình phát triển của lịch

sử triết học là quá trình chủ nghĩa duy vật từng bước chiến thắngchủ nghĩa duy tâm Chủ nghĩa duy vật của Đêmôcrít chiến thắngchủ nghĩa duy tâm của Platôn; chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc đãchiến thắng chủ nghĩa duy tâm của Hêghen- cuộc đấu tranh đó đãđạt đến đỉnh cao lúc bấy giờ Lênin viết: “Hai nghìn năm phát triểncủa triết học cũng chỉ xoay quanh trục Đêmôcrít- Platôn; Hê ghenđối xử với Đêmôcrít hoàn toàn như một người mẹ ghẻ, nhà duy tâmkhông chịu đựng nổi tinh thần duy vật; các nhà duy tâm tư sản hiệnđại đối với Đêmôcrít như một kẻ thù còn sống, điều đó minh hoạ

Quá trình đấu tranh giữa triết học duy vật và triết học duy tâm,cũng đồng thời là một quá trình giao lưu đặc biệt, bao gồm hấp thụnhững gì tích cực, tiến bộ, hợp lý, đồng thời lọc bỏ những gì lỗithời, lạc hậu, tiêu cực, bất hợp lý trong nội dung tư tưởng triết học.Đấu tranh giữa duy vật và duy tâm là đấu tranh giữa hai mặt đối lập

cơ bản nhất trong nội dung tư tưởng triết học nhân loại Thông quacuộc đấu tranh nói trên mà triết học của mỗi thời đại có sự phát triểnmang tính độc lập tương đối so với sự phát triển của điều kiện kinh

tế xã hội, văn hoá và khoa học, làm cho mỗi hệ thống triết học cóthể “vượt trước” hoặc “thụt lùi” so với điều kiện vật chất của thờiđại đó Đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm làsợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử tư tưởng triết học, tạo thành

12 Lênin: To n t p, Nxb Ti n b , Mátxc va 1981, T.29, tr 282- tr 285.ết học, Nxb CTQG, Hà Nội, 1997, tr 182 ội, 1995, Tập 3, tr 39- tr 40 ơva 1981, T.29, tr 282- tr 285.

Trang 18

động lực bên trong lớn nhất của sự phát triển tư tưởng triết học nhânloại, là bản chất của toàn bộ lịch sử tư tưởng triết học.

Trong quá trình đấu tranh với các học thuyết đối lập, mỗi họcthuyết triết học cũng tự đấu tranh với bản thân mình để vươn lênmột trình độ mới Ăngghen viết: “Lý luận của chúng tôi không phải

là một giáo điều, mà là sự giải thích quá trình phát triển, quá trìnhnày bao hàm trong bản thân nó một loạt những giai đoạn kế tiếp

Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; tráilại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học

mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về

Triết học chỉ xuất hiện khi xã hội xuất hiện giai cấp và có đấutranh giai cấp Đấu tranh giai cấp diễn ra trên nhiều lĩnh vực; đấutranh trên lĩnh vực tư tưởng lý luận, trong đó có triết học Cáctrường phái triết học đấu tranh với nhau hoặc đứng về chủ nghĩaduy vật, hoặc đứng về chủ nghĩa duy tâm Điều đó đã chứng minh ởtrên

Bốn là, sự hình thành, phát triển của tư tưởng triết học phụ thuộc vào cuộc đấu tranh giữa hai phương pháp nhận thức trong lịch sử là phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình

Lịch sử có nhiều cách trả lời khác nhau đối với vấn đề các sựvật, hiện tượng của thế giới xung quanh ta tồn tại như thế nào,nhưng đều quy về hai điểm chính đối lập nhau là biện chứng và siêu

13 C Mác v Ph nghen, To n t p, Nxb Chính tr qu c gia, H.1999, t p 36, tr 785.ị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 1995, Tập 3, tr 39- tr 40 ốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 1995, Tập 3, tr 39- tr 40.

14 V.I.Lênin, To n t p, Nxb Ti n b , M.1978, t p 4, tr 232.ết học, Nxb CTQG, Hà Nội, 1997, tr 182 ội, 1995, Tập 3, tr 39- tr 40.

Trang 19

hình Phép biện chứng và siêu hình dùng để chỉ hai phương pháp tưduy đối lập nhau, đó là phương pháp tư duy biện chứng và phươngpháp tư duy siêu hình Sự phát triển của lịch sử triết học cũng chính

là sự phát triển của trình độ nhận thức, của phương pháp tư duynhân loại, thông qua cuộc đấu tranh giữa biện chứng và siêu hình.Đây cũng là sự đấu tranh giữa hai mặt đối lập, tạo nên động lực bêntrong của sự phát triển tư tưởng triết học nhân loại

Sự đối lập hai phương pháp biện chứng và siêu hình biểu hiện:quan điểm siêu hình chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt, khôngliên hệ, không vận động, phát triển- tính chất tư duy cứng nhắc,nhìn sự vật đứng im, không có sự phát sinh, phát triển Mác viết:

“Nó chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt mà không nhìn thấy mốiliên hệ qua lại giữa những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại củanhững sự vật ấy mà không nhìn thấy sự phát sinh và tiêu vong củanhững sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của những sự vật ấy

mà quyên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy cây

vật cá biệt mà còn thấy mối liên hệ phổ biến; không chỉ thấy sự tồntại mà cả sự sinh thành và tiêu vong của sự vật; không chỉ thấy trạngthái tĩnh mà còn thấy cả trạng thái động của sự vật- tính chất tư duymềm dẻo, linh hoạt, không tách rời, nhìn sự vật luôn vận động trong

sự phát sinh, phát triển chuyển hoá không ngừng Lênin viết: “Phép

15 C Mác v Ph nghen, To n t p, Nxb Chính tr qu c gia, H.1994, t p 20, tr 37- tr 38.ị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 1995, Tập 3, tr 39- tr 40 ốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 1995, Tập 3, tr 39- tr 40.

16 V.I.Lênin, To n t p, Nxb Ti n b , M.1981, t p 29, tr 240.ết học, Nxb CTQG, Hà Nội, 1997, tr 182 ội, 1995, Tập 3, tr 39- tr 40.

Trang 20

Cả hai phương pháp biện chứng và siêu hình đã xuất hiện từthời cổ đại, nó gắn liền với khoa học và thực tiễn cũng đấu tranh vớinhau và trải qua các giai đoạn khác nhau:

Phép biện chứng tự phát thời cổ đại, thể hiện rõ nét trong triếthọc Trung Hoa và Hy Lạp cổ đại Các nhà biện chứng cổ đại đãthấy rằng các sự vật, hiện tượng của thế giới tồn tại trong nhữngmối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau, trong đó tất cả đều vận động,biến hoá, sinh thành và tiêu vong Do khoa học và thực tiễn chưađạt trình độ phân tích giới tự nhiên nên các nhà biện chứng cổ đạimới chỉ chú ý đến sự vận động, sự quá độ, những mối liên hệ nhiềuhơn là chú ý đến cái đang vận động, đang quá độ, đang liên hệ vớinhau Như vậy, phép biện chứng thời kỳ cổ đại còn nguyên thuỷ,ngây thơ, tự phát nhưng căn bản là đúng và là “kết quả của một trựckiến thiên tài” đó chưa phải là kết quả nghiên cứu và thực nghiệmkhoa học

Từ nửa cuối thế kỷ XV trở đi, khoa học tự nhiên phát triển rấtmạnh mẽ Nó đã đi sâu phân tích, chia nhỏ giới tự nhiên, cố địnhnhững mảng riêng biệt để nghiên cứu, đã đem đến những thành tựu

vĩ đại trong nhận thức thế giới, phương pháp đó đã để lại cách xemxét thế giới một cách siêu hình Phương pháp ấy đã thống trị trongtriết học (Lốccơ, Bêcơn) Mặc dù vậy phương pháp siêu hình đãđóng một vai trò tích cực trong quá trình nhận thức thế giới Khikhoa học phát triển, từ việc nghiên cứu có tính chất sưu tập, mô tảtừng sự vật, hiện tường của thế giới, đòi hỏi chuyển sang nghiêncứu các sự vật hiện tượng trong qúa trình phát sinh, vận động, phát

Trang 21

triển của nó thì phương pháp tư duy siêu hình không còn phù hợpnữa Đòi hỏi phải có cách nhìn mới về giới tự nhiên, phép biệnchứng duy tâm xuất hiện mà điển hình là phép biện chứng duy tâmcủa Hêghen Mâu thuẫn lớn nhất của triết học của ông là mâu thuẫngiữa phương pháp biện chứng với hệ thống duy tâm.

Chính sự phát triển của khoa học và thực tiễn, mà trực tiếp làsản xuất vật chất và đấu tranh giai cấp, đòi hỏi phải có cách xem xétmới Phép biện chứng duy vật của Mác và Ăngghen đã xuất hiện,các ông đã cải biến phép biện chứng duy tâm của Hêghen, thốngnhất với chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phoiơbắc- đã cải biến cho

ra đời phép biện chứng duy vật, làm cho chủ nghĩa duy vật trở thànhchủ nghĩa duy vật biện chứng Ăngghen viết: “Phép biện chứng là

Như vậy, đấu tranh giữa phương pháp nhận thức biện chứng vàsiêu hình đã gắn liền với cuộc đấu tranh giữa thế giới quan duy vật

và duy tâm trong lịch sử triết học, nhưng không phải là đồng nhấtvới nhau, không hoà trộn vào nhau- thống nhất trong sự khác biệt

Năm là, sự hình thành, phát triển của tư tưởng triết học phụ thuộc vào sự kế thừa và phát triển các tư tưởng triết học trong tiến trình lịch sử.

Đây là quy luật giao lưu tư tưởng triết học cùng loại theo chiềudọc tiến trình lịch sử Giao lưu tư tưởng triết học cùng loại tronglịch sử là một phương thức tái tạo tư tưởng Sự tái tạo tư tưởng củamột hệ thống triết học là một quá trình triển khai những tiềm thế tồn

17 C Mác v Ph nghen, To n t p, Nxb Chính tr qu c gia, H.1994, t p 20, tr 767.ị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 1995, Tập 3, tr 39- tr 40 ốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 1995, Tập 3, tr 39- tr 40.

Trang 22

tại ở cái ban đầu, cái xuất phát của cả hệ thống triết học đó tronglịch sử Triết học của mỗi thời đại lịch sử bao giờ cũng dựa vào tàiliệu lịch sử của triết học các thời đại trước, lấy đó làm tiền đề, làmđiểm xuất phát cho hệ thống triết học của mình

Phép biện chứng duy vật của Mác đã kế thừa tất cả yếu tố tiến

bộ của các hình thức trước đó mà trực tiếp là phép biện chứng duytâm của Hêghen Nhưng phép biện chứng của chủ nghĩa Mác hoàntoàn đối lập với phép biện chứng duy tâm của Hêghen Trước hết,Ăngghen đã chỉ ra sự hình thành chủ nghĩa duy vật biện chứng làkết quả của quá trình cải tạo căn bản phép biện chứng của Hêghen.Hêghen là người đầu tiên trong lịch sử triết học trình bày toàn bộgiới tự nhiên, lịch sử và tư duy dưới dạng một quá trình nghĩa là sựvận động biến đổi và phát triển không ngừng; ông cũng nêu ra hệthống những quy luật, phạm trù của phép biện chứng Ăngghen viết:

Phạm trù trung tâm xuyên suốt toàn bộ phép biện chứng củaHêghen là “phát triển”; từ “ý niệm tuyệt đối, tha hoá thành giới tựnhiên”, “cái gì hợp lý thì hiện thực và cái gì hiện thực thì hợp lý”;Hêghen viết: “tính hiện thực trong sự phát triển của nó tự bộc lộ ra

trường của Hêghen: vừa mang tính cách mạng khoa học vừa bảothủ, phản động về mặt triết học Luận điểm trên của Hêghen khôngchỉ muốn bảo vệ, duy trì mọi cái đang tồn tại- nền chuyên chế nhànước quân chủ Phổ, mà điều cơ bản nhất theo ông, không phải tất cảnhững gì hiện đang tồn tại cũng là hiện thực mà thuộc tính hiện thực

18 C Mác v Ph nghen, To n t p, Nxb Chính tr qu c gia, H.1995, t p 21, tr 249 ị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 1995, Tập 3, tr 39- tr 40 ốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 1995, Tập 3, tr 39- tr 40.

19 L ch s tri t h c, Nxb Q ND, H N i, 2003, tr 143.ị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 1995, Tập 3, tr 39- tr 40 ử triết học, Nxb QĐND, Hà Nội, 2003, tr 143 ết học, Nxb CTQG, Hà Nội, 1997, tr 182 ọc, Nxb CTQG, Hà Nội, 1997, tr 182 ĐND, Hà Nội, 2003, tr 143 ội, 1995, Tập 3, tr 39- tr 40.

Trang 23

chỉ thuộc về những gì đồng thời là tất yếu Rõ ràng mâu thuẫn lớnnhất của triết học Hêghen là mâu thuẫn giữa hệ thống và phươngpháp- hệ thống duy tâm đã bóp nghẹt phương pháp biện chứng.Ăngghen viết: “Hêghen không bị đơn giản gạt ra một bên Trái lại,người ta lấy phương diện cách mạng đã trình bày trên kia của triếthọc Hêghen, tức là phương pháp biện chứng, làm điểm xuất phát.Nhưng hình thức hiểu Hêghen thì phương pháp ấy lại không dùng

biểu hiện trong giới tự nhiên và trong lịch sử chỉ là sự sao chép lại

sự tự vận động của ý niệm, một sự tự vận động diễn ra vĩnh viễn,không biết ở đâu, nhưng dù sao cũng độc lập đối với mọi bộ ócđang tư duy của con người Sự xuyên tạc có tính chất tư tưởng hệ ấy

là cái cần phải gạt bỏ Chúng tôi lại xem xét một lần nữa một cáchduy vật rằng những ý niệm trong đầu óc của chúng ta, coi đó lànhững phản ánh của sự vật hiện thực, chứ không phải xem xétnhững sự vật hiện thực, coi đó là những phản ánh của giai đoạn này

nghĩa về phép biện chứng duy vật: “Phép biện chứng đã được coi là

Quy luật của thế giới bên ngoài cũng như của tư duy con người,thành hai loại quy luật đồng nhất về chất nhưng về biểu hiện thìkhác nhau theo ý nghĩa là bộ óc con người có thể áp dụng nhữngquy luật đó một cách có ý thức, và chỉ ra tính thứ nhất của biệnchứng khách quan và biện chứng thứ hai của tính chủ quan- biệnchứng của ý niệm chỉ là sự phản ánh vào ý thức sự vận động biện

20 C Mác v Ph nghen, To n t p, Nxb Chính tr qu c gia, H.1995, t p 21, tr 248- tr 249.ị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 1995, Tập 3, tr 39- tr 40 ốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 1995, Tập 3, tr 39- tr 40.

21 Tri t h c, Nxb CTQG, H N i, 1997, tr181.ết học, Nxb CTQG, Hà Nội, 1997, tr 182 ọc, Nxb CTQG, Hà Nội, 1997, tr 182 ội, 1995, Tập 3, tr 39- tr 40.

22 C Mác v Ph nghen, To n t p, Nxb Chính tr qu c gia, H.1994, t p 20, tr 767.ị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 1995, Tập 3, tr 39- tr 40 ốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 1995, Tập 3, tr 39- tr 40.

Trang 24

chứng của thế giới hiện thực, cần phải sửa chữa, phát triển và cảitạo phép biện chứng nói chung và phép biện chứng duy tâm củaHêghen bằng cách: “Phép biện chứng của Hêghen đã được đặt đầulên trên hay nói đúng hơn, từ chỗ trước kia nó đứng bằng đầu, bây

Ăngghen đã chỉ ra cơ sở duy tâm của triết học Hêghen, vạch ra mâuthuẫn chủ yếu giữa hệ thống triết học bảo thủ, giáo điều với phươngpháp biện chứng cách mạng Hệ thống triết học của Hêghen đã coithường nội dung đời sống thực tế và xuyên tạc bức tranh khoa họchiện thực Phép biện chứng duy tâm của Hêghen đã bất lực trước sựphân tích thực tiễn, phân tích sự phát triển của nền sản xuất vật chất

và đặc biệt là bất lực trước sự phân tích các sự kiện chính trị, đócũng là thể hiện tính chất hai mặt trong triết học Hêghen

Mặt khác, Mác và Ăngghen đã khắc phục tính phiến diện,không triệt để của chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phoiơbắc.Phoiơbắc đã phê phán triết học của Cantơ và triết học của Hêghen

và khẳng định: thế giới tự nhiên là vật chất, không do ai sinh ra, nóvĩnh viễn và vô hạn, nguyên nhân của tự nhiên ngay trong bản thân

nó, ngoài tự nhiên và con người không còn gì nữa Bàn về vấn đề ýthức Phoiơbắc cho rằng ý thức là thuộc tính của bộ óc: quan hệthực sự của tư duy đối với tồn tại là: tồn tại là chủ thể, tư duy làthuộc tính Con người là một bộ phận của tự nhiên và là chủ thể,còn tư duy là thuộc tính của nó, có nghĩa là tư duy là thuộc tính củacon người Nhưng khi bàn về con người, ông không thấy tính hiệnthực của con người, không thấy bản chất xã hội của con người,

23 C Mác v Ph nghen, To n t p, Nxb Chính tr qu c gia, H.1995, t p 21, tr 430.ị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 1995, Tập 3, tr 39- tr 40 ốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 1995, Tập 3, tr 39- tr 40.

Ngày đăng: 24/04/2022, 09:26

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w