Lùc lîng sn xuÊt vµ quan hÖ sn xuÊt lµ hai mÆt cña nÒn sn xuÊt cã quan hÖ biÖn chøng víi nhau PAGE 21 THU HOẠCH Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất nhận thức và vận dụng của Đảng ta trong quá trình đổi mới kinh tế Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của nền sản xuất có quan hệ biện chứng với nhau Sự tác động qua lại đó tuân theo một quy luật nhất định, đó là quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất Đây là một trong những quy luật cơ bản của c.
Trang 1Đảng ta trong quá trình đổi mới kinh tế
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của nền sảnxuất có quan hệ biện chứng với nhau Sự tác động qua lại đó tuân theomột quy luật nhất định, đó là quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ củalực lượng sản xuất Đây là một trong những quy luật cơ bản của chủnghĩa duy vật lịch sử, quy luật này chi phối sự vận động, phát triển của
xã hội, nó vạch ra mối quan hệ bản chất, tất yếu, ổn định, phổ biến vàlặp lại giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xúât của các hình tháikinh tế xã hội trong lịch sử Là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ học thuyếthình thái kinh tế xã hội của Mác, là hòn đá tảng của lý luận hình tháikinh tế xã hội khoa học Nghiên cứu quy luật này có ý nghĩa to lớn đốivới công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay, là cơ sởtiến hành cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và cách mạng quan hệ sảnxuất
1.- Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
Xã hội loài người trong quá trình phát triển đã trải qua nhiều giaiđoạn kế tiếp nhau, ứng với mỗi giai đoạn của sự phát triển ấy là mộthình thái kinh tế- xã hội nhất định Các hình thái kinh tế xã hội này vậnđộng phát triển do sự tác động của các quy luật khách quan nội tại, vốn
Trang 2có của nó, đó là quá trình phát triển tự nhiên của lịch sử C.Mác viết:
“ Sự phát triển của những hình thái kinh tế-xã hội là một quá trình lịch
sự tồn tại của con người trong toàn bộ lịch sử hình thành và phát triểncủa nó và do đó là tiền đề của toàn bộ lịch sử nhân loại là con người, lànhững con người có khả năng sống để rồi lại “làm ra lịch sử” của mình.Nhưng để sống thì trước hết phải có cái ăn, cái mặc, nhà ở và cácphương tiện phục vụ cuộc sống của mình, vì thế mà hành vi lịch sử đầutiên của nhân loại là “sản xuất ra bản thân đời sống vật chất”, sản xuất
ra những tư liệu sinh hoạt để thoả mãn những nhu cầu của mình- mộtđiều kiện cơ bản của mọi lịch sử mà (hiện nay cũng như hàng nghìnnăm về trước) người ta phải thực hiện hàng ngày, hàng giờ Chínhnhững con người hiện thực, những con người bằng xương, bằng thịt,những con người hành động “đúng như họ bị quy định bởi sự phát triểnnhất định của lực lượng sản xuất của họ và bởi sự giao tiếp phù hợp với
sự phát triển ấy” là “kẻ sản xuất ra những quan niệm, ý niệm, v.v củamình” và sự phát triển sản xuất vật chất và “sự giao tiếp vật chất” củamình, họ đã làm biến đổi, cùng với hiện thực đó của mình” Do đó,hoạt động lao động sản xuất của con người mang tính xã hội Quá trìnhlao động sản xuất, con người có hai mối quan hệ song trùng đó là quan
hệ giữa con người với tự nhiên (gọi là lực lượng sản xuất) và quan hệgiữa người với người (gọi là quan hệ sản xuất) Hai mối quan hệ nàygắn bó chặt chẽ, tác động biện chứng với nhau tạo thành một phương
1 C.Mác, Ph ngghen To n t p, T p 13, Nxb CTQG, H n i, 1993, tr.16 Ăngghen Toàn tập, Tập 13, Nxb CTQG, Hà nội, 1993, tr.16 àn tập, Tập 13, Nxb CTQG, Hà nội, 1993, tr.16 ập, Tập 13, Nxb CTQG, Hà nội, 1993, tr.16 ập, Tập 13, Nxb CTQG, Hà nội, 1993, tr.16 àn tập, Tập 13, Nxb CTQG, Hà nội, 1993, tr.16 ội, 1993, tr.16.
Trang 3thức sản xuất Phương thức sản xuất là cách thức mà con người tiếnhành sản xuất ra của cải vật chất, là sự thống nhất giữa lực lượng sảnxuất và quan hệ sản xuất trong một giai đoạn lịch sử nhất định Mỗigiai đoạn phát triển của lịch sử xã hội loài người có một phương thứcsản xuất, lịch sử xã hội loài người là sự tiếp nối nhau của các phươngthức sản xuất phát triển từ thấp tới cao
Lực lượng sản xuất là biểu hiện mối quan hệ giữa con người vàgiới tự nhiên trong quá trình sản xuất vật chất, là sự thống nhất biệnchứng giữa người lao động có kinh nghiệm, kỹ năng và tri thức nhấtđịnh với tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động, trong đó ngườilao động đóng vai trò quyết định, tư liệu sản xuất đóng vai trò quantrọng Người lao động là chủ thể sáng tạo và tiêu dùng của xã hội,nguồn lực cơ bản, vô tận của sản xuất, là bí mật của mọi sự sáng tạo.Hiệu quả sản xuất cao hay thấp phụ thuộc vào tri thức, kỹ năng, kinhnghiệm, động cơ, thái độ của người lao động Do đó người lao động cóvai trò hết sức quan trọng, nhân tố quyết định của lực lượng sản xuất.Lênin viết: “lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công
cơ bắp và sức mạnh thần kinh, trong lao động ,sức mạnh ấy được nhânlên gấp nhiều lần Lao động của con người ngày càng trở thành laođộng có trí tuệ, hàm lượng trí tuệ chứa đựng trong sản phẩm lao độngngày càng tăng Trí tuệ của con người là sản phẩm của tự nhiên, hìnhthành và phát triển trong lao động, cùng với lao động Ngày nay, khi
2 V.I Lênin: To n tâp, T p 38, Nxb Ti n b , Mát- xc - va, 1977, tr 430 àn tập, Tập 13, Nxb CTQG, Hà nội, 1993, tr.16 ập, Tập 13, Nxb CTQG, Hà nội, 1993, tr.16 ến bộ, Mát- xcơ- va, 1977, tr 430 ội, 1993, tr.16 ơ- va, 1977, tr 430.
Trang 4khoa học kỹ thuật phát triển, con người trở thành nguồn lực đặc biệt, tàinguyên vô tận, không bao giờ cạn.
Tư liệu lao động bao gồm đối tượng lao động và công cụ lao động.Công cụ lao động là thành tố cơ bản, quan trọng, không thể thiếu trongquá trình sản xuất Ăngghen gọi là: "khí quan của bộ óc con người”, là :
"sức mạnh của tri thức đã được vật thể hoá”, có tác dụng nối dài cácgiác quan của con người, nhân sức mạnh trí tuệ của con người lên gấpnhiều lần Công cụ lao động do con người sáng tạo ra, sử dụng làmphương tiện vật chất trong quá trình sản xuất Công cụ lao động quyếtđịnh năng suất lao động Khi công cụ đạt tới trình độ tin học hoá, tựđộng hoá thì sức mạnh của nó trở nên hết sức kỳ diệu Công cụ laođộng là yếu tố biến động nhất, cách mạng nhất Sự biến đổi, cải tiến vàhoàn thiện công cụ lao động gây nên sự biến đổi sâu sắc trong tư liệusản xuất Mọi sự biến đổi của phương thức sản xuất bắt đầu từ sự biếnđổi của công cụ lao động Trình độ phát triển của công cụ lao động làthước đo trình độ chinh phục thiên nhiên của con người Mác cho rằng,mũi tên đồng cho ra đời chế độ chiếm hữu nô lệ, cối xay gió gắn liềnvới chế độ phong kiến, máy hơi nước gắn liền với chế độ tư bản Ngàynay, khoa học càng có vai trò quan trọng trong sản xuất, trở thành lựclượng sản xúất trực tiếp, là nguyên nhân trực tiếp của nhiều biến đổi tolớn trong sản xuất và đời sống Đúng như Mác đã dự đoán trước đâyrằng, khoa học trở thành “lực lượng sản xuất trực tiếp”, trở thành “lựclượng sản xuất độc lập”, nó được vật chất hoá vào trong quá trình sản
Trang 5xuất, trở thành một mắt khâu của quá trình sản xuất, vật hoá vào đốitượng lao động Những phát minh, sáng chế, bí mật công nghệ trởthành nguyên nhân của mọi biến đổi trong lực lượng sản xuất, đó là loạihàng hoá đặc biệt, của cải đặc biệt Khoa học làm rút ngắn khoảng cách
từ phát minh, sáng chế đến ứng dụng vào sản xuất làm cho năng suấtlao động tăng nhanh, của cải xã hội ngày càng nhiều lên Nếu như trướckia từ phát minh sáng chế đến ứng dụng vào sản xuất phải mất hàngnăm, hàng nhiều năm, thậm chí bị lãng quên thì ngày nay có được ứngdụng ngay lập tức vào trong quá trình sản xuất Các tổ chức, các cơquan nghiên cứu nằm ngay trong các cơ sở sản xuất kinh doanh Sựphát triển của khoa học đã kịp thời giải quyết những mâu thuẫn, nhữngyêu cầu sản xuất đặt ra và có khả năng phát triển vượt trước Khoa họcthâm nhập vào tất cả các yếu tố sản xuất, trở thành mắt khâu bên trongcủa quá trình sản xuất, kích thích sự phát triển năng lực làm chủ sảnxuất của con người, đòi hỏi con người phải tích cực học tập, nâng caotrình độ kiến thức chuyên môn, nâng cao tay nghề, có năng lực làm chủsản xuất Nếu không đáp ứng được các yêu cầu đó, người lao động sẽ
bị sa thải khỏi dây chuyền sản xuất Khoa học là cơ sở của hoạt độngsản xuất, người lao động sử dụng những tri thức, những thành tựu khoahọc áp dụng vào sản xuất tạo ra năng suất lao động ngày càng cao;khoa học thâm nhập vào quá trình tổ chức sản xuất; khoa học trở thànhmột ngành sản xuất vật chất với quy mô ngày càng lớn, mức độ đầu tưcho khoa học ngày càng cao Khoa học và công nghệ hiện đại chính là
Trang 6đặc điểm thời đại của sản xuất và do vậy nó được coi là cái đặc trưngcủa nền sản xuất hiện đại.
Chính nhờ lực lượng sản xuất phát triển làm cho năng suất laođộng ngày càng tăng lên Năng suất lao động chính là tiêu chuẩn đánhgiá sự tiến bộ của mỗi thời đại lịch sử, nhân tố quyết định thắng lợi củamột chế độ xã hội Lênin cho rằng: “Xét đến cùng, thì năng suất laođộng là cái quan trọng nhất, chủ yếu nhất cho thắng lợi của chế độ xãhội mới Chủ nghĩa tư bản đã tạo ra một năng suất lao động chưa từngthấy trong chế độ nông nô Chủ nghĩa tư bản chỉ có thể bị đánh bại, và
sẽ bị đánh bại hẳn, vì chủ nghĩa xã hội tạo ra một năng suất lao động
phải nâng cao chất lượng con người, quan tâm đến yếu tố con người,đồng thời đầu tư cho khoa học công nghệ, đổi mới công cụ lao động vàphương tiện lao động, phát triển y tế, văn hoá, giáo dục đào tạo
Quan hệ sản xuất là toàn bộ những mối quan hệ kinh tế vật chấtgiữa người và người hình thành trong quá trình sản xuất Trong tácphẩm "Lao động làm thuê và tư bản”, Mác viết: " Trong sản xuất,người ta không chỉ quan hệ với tự nhiên Không thể sản xuất được nếukhông kết hợp với nhau theo một cách nào đó để hoạt động chung vàtrao đổi hoạt động với nhau Muốn sản xuất được, người ta phải cónhững mối liên hệ và quan hệ nhất định với nhau; và quan hệ của họ
3 V.I Lênin: To n tâp, T p 39, Nxb Ti n b , Mát- xc - va, 1977, tr 25 àn tập, Tập 13, Nxb CTQG, Hà nội, 1993, tr.16 ập, Tập 13, Nxb CTQG, Hà nội, 1993, tr.16 ến bộ, Mát- xcơ- va, 1977, tr 430 ội, 1993, tr.16 ơ- va, 1977, tr 430.
43 CMác v ngghen: To n t p, T p 6, Nxb Chính tr qu c gia, H n i 1993, tr 552 àn tập, Tập 13, Nxb CTQG, Hà nội, 1993, tr.16 Ăngghen Toàn tập, Tập 13, Nxb CTQG, Hà nội, 1993, tr.16 àn tập, Tập 13, Nxb CTQG, Hà nội, 1993, tr.16 ập, Tập 13, Nxb CTQG, Hà nội, 1993, tr.16 ập, Tập 13, Nxb CTQG, Hà nội, 1993, tr.16 ị quốc gia, Hà nội 1993, tr 552 ốc gia, Hà nội 1993, tr 552 àn tập, Tập 13, Nxb CTQG, Hà nội, 1993, tr.16 ội, 1993, tr.16.
Trang 7sản xuất, con người không thể không quan hệ với nhau, quan hệ nàymang tính tất yếu, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của conngười Sản xuất càng phát triển thì các mối quan hệ này càng phongphú, phức tạp Quan hệ sản xuất bao gồm quan hệ sở hữu về tư liệu sảnxuất; quan hệ trong tổ chức, quản lý sản xuất và quan hệ về phân phốisản phẩm lao động Những mối quan hệ này thể hiện trong đời sốngkinh tế hết sức phong phú, đan xen nhau Quan hệ sở hữu đối với tưliệu sản xuất gồm hai hình thức cơ bản là sở hữu tư nhân và sở hữucông cộng Quan hệ về tổ chức quản lý bao gồm hai hình thức cơ bản làthống trị, bị trị và hợp tác tương trợ làm chủ trong sản xuất Quan hệ vềphân phối gồm hai hình thức cơ bản là bóc lột, bị bóc lột và phân phốitheo kết quả lao động và hiệu suất sản xuất kinh doanh, bảo đảm côngbằng hợp lý Các mặt của quan hệ sản xuất có quan hệ biện chứng vớinhau, tác động ảnh hưởng, chi phối lẵn nhau Mỗi mặt của quan hệ sảnxuất có vai trò riêng, nhưng nó chỉ phát huy tác dụng khi nó gắn bó vớicác mặt khác, nếu tách rời, tuyệt đối hoá bất cứ mặt nào thì đều là sailầm Trong ba mối quan hệ trên thì quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuấtđóng vai trò quan trọng nhất, đây là quan hệ giữa các tập đoàn ngườitrong chiếm hữu tư liệu sản xuất, là quan hệ xuất phát cơ bản, trung tâmcủa quan hệ sản xuất, có vai trò quyết định các quan hệ khác, quyếtđịnh địa vị kinh tế của của các giai cấp Vì muốn sản xuất thì phải có tưliệu sản xuất, ai nắm quyền chủ động về tư liệu sản xuất thì người đógiữ vai trò quyết định tới tổ chức quản lý và phân phối sản phẩm Tính
Trang 8chất quan hệ sở hữu quyết định tính chất quan hệ sản xuất Trong xãhội, giai cấp nào nắm giữ tư liệu sản xuất chủ yếu là giai cấp trung tâmcủa phương thức sản xuất, đồng thời là giai cấp thống trị xã hội Quan
hệ tổ chức quản lý sản xuất có vai trò quyết định trực tiếp đến quy mô,tốc độ, hiệu quả của nền sản xuất Quan hệ phân phối sản phẩm laođộng có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc kích thích trực tiếp lợiích của con người, là chất xúc tác kinh tế thúc đẩy tốc độ, nhịp điệu sảnxuất, nó có thể làm năng động hoá đời sống kinh tế hoặc ngược lại
Quan hệ sản xuất hình thành một cách khách quan, là quan hệ cơbản, chủ yếu, quyết định mọi quan hệ xã hội khác, quan hệ sản xuấtkhông phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người, nó phải phù hợpmột cách khách quan với trình độ của lực lượng sản xuất nhất định.Mác viết: "Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người cónhững quan hệ nhất định, tất yếu không phụ thuộc vào ý muốn chủquan của họ - tức những quan hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợpvới một trình độ phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật
xuất khác phải dựa trên sự phát triển của lực lượng sản xuất nhất định
Vì vậy, đánh giá đúng mức độ phát triển của lực lượng sản xuất để lựachọn hình thức, bước đi thích hợp của quan hệ sản xuất là rất quantrọng, điều đó phụ thuộc vào năng lực nhận thức của con người
5 CMác v ngghen: To n t p, T p 13, Nxb Chính tr qu c gia, H n i 1993, tr 15 àn tập, Tập 13, Nxb CTQG, Hà nội, 1993, tr.16 Ăngghen Toàn tập, Tập 13, Nxb CTQG, Hà nội, 1993, tr.16 àn tập, Tập 13, Nxb CTQG, Hà nội, 1993, tr.16 ập, Tập 13, Nxb CTQG, Hà nội, 1993, tr.16 ập, Tập 13, Nxb CTQG, Hà nội, 1993, tr.16 ị quốc gia, Hà nội 1993, tr 552 ốc gia, Hà nội 1993, tr 552 àn tập, Tập 13, Nxb CTQG, Hà nội, 1993, tr.16 ội, 1993, tr.16.
Trang 9Quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sảnxuất chỉ ra rằng: Quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ của lựclượng sản xuất Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt củamột phương thức sản xuất có quan hệ biện chứng, tác động qua lại.Trong đó lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, quan hệ sảnxuất tác động trở lại to lớn đối với lực lượng sản xuất Nếu quan hệ sảnxuất phù hợp nó sẽ thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, ngược lạinếu không phù hợp nó sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Vận dụng phép biện chứng duy vật vào quá trình sản xuất ta thấyrằng: quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan
hệ giữa nội dung và hình thức, trong đó nội dung quyết định hình thức,hình thức tác động trở lại nội dung Lực lượng sản xuất là nội dung baogồm các yếu tố của quá trình sản xuất hợp thành, còn quan hệ sản xuất
là hình thức của quá trình sản xuất Do đó lực lượng sản xuất quyếtđịnh quan hệ sản xuất, quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sảnxuất
Tính chất của lực lượng sản xuất là tính chất cá nhân, riêng lẻ haytính chất xã hội hoá ở các mức độ khác nhau trong quá trình sản xuất.Trong chế độ cộng sản nguyên thuỷ, lực lượng sản xuất chưa phát triển,công cụ lao động thô sơ, chỉ cần ít người, thậm chí một người để làm ramột sản phẩm, cho nên lực lượng sản xuất mang tính cá nhân Khi công
cụ lao động phát triển thì sản phẩm lao động là kết tinh sức lao độngcủa nhiều người, nhiều thế hệ người, lúc này lực lượng sản xuất mang
Trang 10tính xã hội hoá ngày càng cao Ăngghen nhận định: “Giai cấp tư sảnkhông thể biến những tư liệu sản xuất có hạn ấy thành những lực lượngsản xuất hùng mạnh mà lại không biến từ chỗ là những tư liệu sản xuất
do cá nhân sử dụng thành những tư liệu sản xuất xã hội, chỉ có thể được
xuất là trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, trình độ chinh phụcthiên nhiên của con người Trình độ lực lượng sản xuất được quyếtđịnh bởi trình độ phát triển của khoa học công nghệ, công cụ lao động,của tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm của người lao động, trình độ phâncông lao động xã hội Trên thực tế, tính chất và trình độ của lực lượngsản xuất gắn bó chặt chẽ với nhau không tách rời nhau, nói trình độ sảnxuất là bao hàm cả lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất bởi vì, lực lượngsản xuất là yếu tố năng động, cách mạng, thường xuyên biến đổi Nónăng động, cách mạng là do sản xuất bao giờ cũng mang tính mục đích,
nó do quy luật lợi ích chi phối Người lao động vì lợi ích của mình, vìcuộc sống của mình đòi hỏi phải cải tiến công cụ lao động, tăng năngsuất lao động Nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần của con ngườingày càng tăng lên, trong quá trình sản xuất, kỹ năng, tri thức, kinhnghiệm của con người cũng tăng lên không ngừng, làm cho con người
có năng lực thực tiễn để đáp ứng nhu cầu của mình, quá trình đó kíchthích sản xuất phát triển Mặt khác, bản thân của nền sản xuất đòi hỏiphải tăng năng suất, giảm cường độ lao động, muốn vậy phải cải tiến
6 CMác v ngghen: To n t p, T p 20, Nxb Chính tr qu c gia, H n i 1994, tr 373 àn tập, Tập 13, Nxb CTQG, Hà nội, 1993, tr.16 Ăngghen Toàn tập, Tập 13, Nxb CTQG, Hà nội, 1993, tr.16 àn tập, Tập 13, Nxb CTQG, Hà nội, 1993, tr.16 ập, Tập 13, Nxb CTQG, Hà nội, 1993, tr.16 ập, Tập 13, Nxb CTQG, Hà nội, 1993, tr.16 ị quốc gia, Hà nội 1993, tr 552 ốc gia, Hà nội 1993, tr 552 àn tập, Tập 13, Nxb CTQG, Hà nội, 1993, tr.16 ội, 1993, tr.16.
Trang 11công cụ lao động, sáng tạo ra công cụ mới, mà con người có khả nănglàm việc đó Tính năng động, cách mạng của lực lượng sản xuất còn dođược kế thừa một cách khách quan sự phát triẻn của chính nó ở thời đạitrước.
Lực lượng sản xuất quyết định sự ra đời và biến đổi của quan hệsản xuất; quyết định cơ cấu, nội dung, tính chất của quan hệ sản xuất.Khi lực lượng sản xuất phát triển đến một trình độ nhất định, nó mâuthuẫn với quan hệ sản xuất đã lỗi thời, lạc hậu làm xuất hiện nhu cầukhách quan là phải xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ, thiết lập quan hệ sảnxuất mới thích ứng với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.Nghĩa là khi lực lượng sản xuất phát triển thì sớm muộn quan hệ sảnxuất cũng biến đổi theo Xu hướng chung của mọi xã hội là khôngngừng phát triển do nhu cầu đòi hỏi của con người ngày càng cao Sựphát triển đó bao giờ cũng bắt đầu từ sự biến đổi của lực lượng sảnxuất, trước hết là công cụ lao động, vì công cụ lao động là yếu tố năngđộng, cách mạng nhất, sự vận động của nó mang tính khách quan nhằmđáp ứng nhu cầu tồn tại, phát triển không ngừng của xã hội Cùng với
sự phát triển của của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất cũng hìnhthành và biến đổi cho phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất sựphù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượngsản xuất làm cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ Khi lực lượngsản xuất phát triển đến một trình độ mới, quan hệ sản xuất không cònphù hợp nữa sẽ nảy sinh mâu thuẫn Mâu thuẫn này biểu hiện về mặt
Trang 12chính trị là mâu thuẫn giữa các giai cấp, mâu thuẫn giai cấp tất yếu dẫnđến đấu tranh giai cấp, đỉnh cao của đấu tranh giai cấp là cách mạng xãhội Cách mạng xã hội thành công sẽ xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ, thiếtlập quan hệ sản xuất mới Điều đó có nghĩa là phương thức sản xuất cũlỗi thời, lạc hậu bị diệt vong, phưông thức sản xuất mới tiến bộ đượcxây dựng Mác viết: “Tới một giai đoạn phát triển nào đó, các lựclượng sản xuất vật chất xã hội sẽ mâu thuẫn với quan hệ sản xuất hiện
có mà trong đó từ trước tới nay các lực lượng sản xuất vẫn phát triển,
từ chỗ hình thức phát triển của lực lượng sản xuất những quan hệ ấy trởthành xiềng xích cho lực lượng sản xuất khi đó bắt đầu thời đại của một
nghĩa diệt vong của một phương thức sản xuất đã lỗi thời làm xuất hiệnmột phương thức sản xuất mới Lịch sử xã hội loài người là lịch sử pháttriển của phương thức sản xuất Quy luật này tác động trong lịch sử xãhội loài người, làm cho xã hội chuyển biến từ hình thái kinh tế- xã hộinày sang hình thái kinh tế- xã hội khác cao hơn và có những quan hệtiến bộ hơn Mác cho rằng do có được những lực lượng sản xuất mới,loài người đã thay đổi phương thức sản xuất, cách làm ăn của mình,loài người thay đổi cả những quan hệ của mình
Quan hệ sản xuất tuy được sinh ra từ lực lượng sản xuất nhưng nókhông phải là sản phẩm thụ động, tiêu cực, trái lại có tác động một cáchtích cực, chủ động, sáng tạo đối với lực lượng sản xuất Nó tác độngđến lực lượng sản xuất trên cả ba mặt: nó chi phối mục đích của nền
7 CMác v ngghen: To n t p, T p 13, Nxb Chính tr qu c gia, H n i 1993, tr 15 àn tập, Tập 13, Nxb CTQG, Hà nội, 1993, tr.16 Ăngghen Toàn tập, Tập 13, Nxb CTQG, Hà nội, 1993, tr.16 àn tập, Tập 13, Nxb CTQG, Hà nội, 1993, tr.16 ập, Tập 13, Nxb CTQG, Hà nội, 1993, tr.16 ập, Tập 13, Nxb CTQG, Hà nội, 1993, tr.16 ị quốc gia, Hà nội 1993, tr 552 ốc gia, Hà nội 1993, tr 552 àn tập, Tập 13, Nxb CTQG, Hà nội, 1993, tr.16 ội, 1993, tr.16.
Trang 13sản xuất, chi phối khuynh hướng phát triển các nhu cầu về lợi ích vậtchất, tinh thần, chi phối hệ thống tổ chức quản lý sản xuất, quản lý xãhội và phân phối sản phẩm Sự tác động đó diễn ra theo hai hướng, nếuquan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất thì nó trởthành động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Ngược lại, nếuquan hệ sản xuất không phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất thìkìm hãm, cản trở sự phát triển của lực lượng sản xuất, gây khủng hoảngkinh tế xã hội Sự tác động của quan hệ sản xuất biểu hiện rõ nhất, trựctiếp nhất ở khâu phân phối sản phẩm, nó tác động đến người lao động,biểu hiện ở tinh thần, thái độ, trách nhiệm Nó tác động đến công cụ laođộng, phản ánh tính tích cực trong cải tiến, áp dụng thành tựu khoa học.
Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất là
sự tác động của tất cả các yếu tố quan hệ sản xuất và nó diễn ra hết sứcphong phú, phức tạp Nếu xem xét một cách giản đơn, tách rời, tuyệtđối hoá vai trò của một yếu tố nào đó đều là phiến diện, sai lầm
Thực chất của quy luật đòi hỏi sự phù hợp giữa lực lượng sảnxuất và quan hệ sản xuất, lực lượng sản xuất thế nào thì quan hệ sảnxuất thích ứng như vậy, quan hệ sản xuất bao giờ cũng là của một lựclượng sản xuất nhất định, quan hệ sản xuất vượt trước hay đi sau sự đòihỏi của lực lượng sản xuất đều không phù hợp Đây là trạng thái, trong
đó quan hệ sản xuất tạo địa bàn đầy đủ cho lực lượng sản xuất pháttriển, là sự phù hợp tương đối, là quá trình thống nhất biện chứng, sựthống nhất bao hàm mâu thuẫn, là trạng thái cân bằng động, nghĩa là nó