Bé gi¸o dôc ®µo t¹o Bé quèc phßng 1 19 THU HOẠCH Một số suy nghĩ về đánh giá, nhận xét của Mác, Ăng ghen đối với Chủ nghĩa duy vật của Phoi ơ bắc được đề cập trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” Sự ra đời của triết học Mác là một cuộc cách mạng trong lịch sử triết học Sự xuất hiện của triết học Mác là một tất yếu lịch sử, một hiện tượng hợp quy luật Nó là kết tinh tất cả những giá trị cao quý của tư duy triết học, văn hoá, khoa học của lịch sử nhân loại Đồng thời, cũng dựa trên những tiền đề cần thi.
Trang 1trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”
Sự ra đời của triết học Mác là một cuộc cách mạng trong lịch sử triết học Sự xuất hiện của triết học Mác là một tất yếu lịch sử, một hiện tượng hợp quy luật Nó là kết tinh tất cả những giá trị cao quý của tư duy triết học, văn hoá, khoa học của lịch sử nhân loại Đồng thời, cũng dựa trên những tiền đề cần thiết về mặt kinh tế, xã hội đạt được ở thời đại đó Có thể nói, sự ra đời của triết học Mác vừa là bước ngoặt cách mạng, là đỉnh cao trong sự phát triển lý luận triết học, vừa
là sự tiếp thu, kế thừa biện chứng những di sản triết học và khoa học của nhân loại
Cùng với các tác phẩm lý luận đã viết của mình, “Hệ tư tưởng Đức” là một tác phẩm triết học rất quan trọng của Mác, Ăng-ghen Trong tác phẩm này, những tư tưởng cơ bản của thế giới quan mới đã được trình bày tương đối hoàn chỉnh, phù hợp với trình độ lúc bấy giờ
Trang 2Sự luận chứng các tư tưởng, các nguyên lý, các phạm trù của quan niệm duy vật về lịch sử có một ý nghĩa hết sức to lớn cả về mặt lý luận, cả về mặt thực tiễn
Về hoàn cảnh ra đời của tác phẩm:
Vào mùa hè năm 1844, Mác và Ăng-ghen đã gặp nhau ở Pa-ri, qua trao đổi thường xuyên, hai ông đã có sự thống nhất cao những vấn
đề thuộc về lĩnh vực lý luận, như Ăng-ghen kể lại: “Khi tôi đến thăm Mác vào mùa hè năm 1844 ở Pa-ri, thì thấy rằng chúng tôi hoàn toàn nhất trí với nhau trong mọi lĩnh vực lý luận, và từ đó trở đi đã bắt đầu
sự cộng tác giữa chúng tôi” Đầu năm 1845, Mác dời Pa-ri đến Brúc-xen Tại Pa-ri, Ông đã chuyển hẳn sang lập trường của chủ nghĩa duy vật, đến Brúc-xen, Mác đã đề xuất những cơ sở khoa học của một thế giới quan mới trên lập trường của giai cấp vô sản Đồng thời, ông đã tiến hành các hoạt động thực tiễn nhằm thành lập một chính đảng vô sản Tại đây, Mác đã trình bày quan niệm duy vật về lịch sử trong
“Luận cương về Phoi-ơ-bắc” Thế giới quan mới - những luận điểm cơ bản đã được Mác nêu cô đọng trong bản sơ thảo này Đây là một tài liệu quan trọng làm cơ sở để hai ông tiếp tục phát triển lên về lý luận
Trang 3và trình bày rõ ràng, chi tiết hơn trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” sau này
Trong thời gian chuẩn bị và viết tác tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, ở nhiều nước Tây Âu, quá trình phát triển của CNTB diễn ra khá mạnh mẽ Những mâu thuẫn vốn có của CNTB ngày càng gay gắt Mâu thuẫn cơ bản của phương thức sản xuất TBCN đã trở lên không thể điều hoà được Những mâu thuẫn giai cấp vốn có của xã hội tư bản
mà trước hết là mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản ngày càng gay gắt, đặc điểm đó đã tạo những tiền đề khách quan chín muồi cho việc khái quát lý luận về vai trò lịch sử của giai cấp vô sản và đề xuất các quan điểm duy vật về lịch sử
Lúc này, phong trào công nhân ở Tây Âu nói chung, ở Đức nói riêng đã phát triển mạnh, nhưng nó chỉ được tiếp tục phát triển được khi mà nó thoát khỏi sự phụ thuộc vào hệ tư tưởng của các giai cấp khác, tự mình xây dựng được hệ tư tưởng độc lập trên cơ sở tiếp thu một thế giới quan mới, một học thuyết cách mạng mới Trong khi đó, trên lĩnh vực tư tưởng lý luận, những người ủng hộ hai ông chỉ là thiểu
số trong phong trào công nhân, còn những người theo phái CNXH tiểu
Trang 4tư sản lại chiếm ưu thế Phoi-ơ-bắc thực chất là một đại biểu của phái
“CNXH chân chính” đã viết một bài báo công khai nhận mình là người cộng sản (mùa hè năm 1845), đồng thời một số người trong phái Hê-ghen trẻ lại viết những bài báo chống lại chủ nghĩa cộng sản, đòi hỏi Mác, Ăng-ghen phải có sự “bút chiến” để vừa tuyên truyền, giác ngộ làm cho những người theo phái của hai ông được phát triển, mặt khác để phê phán các quan điểm sai trái và trình bày có hệ thống những quan điểm về thế giới quan mới, duy vật về lịch sử Đó là bối cảnh và lý do ra đời của tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”
Mùa thu năm 1845, đề cương tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” được C.Mác và Ph Ăng-ghen soạn thảo Từ tháng 11/1845 các ông bất tay vào viết nội dung chi tiết, đến tháng 4/1846 tác phẩm cơ bản hoàn thành và được hai ông tiếp tục bổ sung, hoàn chỉnh một năm sau
đó Tuy nhiên, do hoàn cảnh lịch sử, phần lớn các chương của tác phẩm không được xuất bản lúc sinh thời của Mác và Ăng-ghen Tác phẩm được in toàn bộ lần đầu tiên ở Liên Xô năm 1932
Tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” mang tính phê phán rất phong phú và rộng lớn Nhưng ý nghĩa chung của tác phẩm này lại là ở chỗ
Trang 5Mác và Ăng-ghen trình bày một cách chính diện một thế giới quan mới, vô sản, hình thành những cơ sở triết học của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và lý luận chủ nghĩa cộng sản liên quan chặt chẽ với cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản
Kết cấu nội dung của tác phẩm gồm 2 tập:
Tập I có lời tựa và 3 chương Hai ông tập trung trình bày quan điểm duy vật về lịch sử cũng như học thuyết về chủ nghĩa cộng sản của mình; phê phán những quan điểm của Phoi-ơ-bắc, Hê-ghen và những người theo phái “Hê-ghen trẻ”
Tập II có 3 chương (nguyên bản có 5 chương) Hai ông tập trung phê phán những quan điểm sai lầm của cái gọi là “CNXH chân chính” mà nét điển hình của nó là sự kết hợp giữa triết học Đức (chủ yếu là triết học Hê-ghen và triết học Phoi-ơ-bắc) với những học thuyết
xã hội chủ nghĩa không tưởng (chủ yếu là chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp)
Về chủ đề và nội dung thu hoạch:
Do điều kiện, khả năng nhận thức của bản thân có hạn, qua
nghiên cứu tác phẩm, đặc biệt là Chương I: Phoi-ơ-bắc, sự đối lập
Trang 6giữa quan điểm duy vật và quan điểm duy tâm, tôi chọn nội dung
thu hoạch cho mình với chủ đề: Một số suy nghĩ về đánh giá, nhận xét của Mác, Ăng-ghen đối với Chủ nghĩa duy vật của Phoi-ơ-bắc được đề cập trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”.
Như chúng ta đã biết, Phoi-ơ-bắc (1804-1872) là nhà duy vật nổi tiếng đầu tiên trong hàng ngũ các nhà triết học vào những năm 40 của thế kỷ XIX, bậc tiền bối của triết học Mác Phoi-ơ-bắc đã làm sống lại chủ nghĩa duy vật của thế kỷ XVII, XVIII và làm phong phú một cách sáng tạo thế giới quan duy vật Ông là một trong những người mà Mác, Ăng ghen kế thừa những tiền đề lý luận một cách trực tiếp để xây dựng nên học thuyết của mình
Tuy tiếp thu triết học duy vật của Phoi-ơ-bắc nhưng Mác, Ăng ghen tiếp thu một cách có phê phán, chọn lọc và kế thừa Khi đánh giá, nhận xét về chủ nghĩa duy vật của Phoi-ơ-bắc, Mác, Ăng ghen đã
đưa ra một nhận xét chính xác rằng: “Khi Phoi-ơ-bắc là nhà duy vật thì ông không bao giờ đề cập đến lịch sử; còn khi ông xem xét đến lịch sử thì ông không phải là nhà duy vật ở Phoi-ơ-bắc, lịch sử và chủ nghĩa duy vật hoàn toàn tách rời nhau”(1).
Trang 7Thật vậy, hệ thống triết học của Phoi-ơ-bắc chỉ duy vật trong lĩnh vực tự nhiên Phoi-ơ-bắc là nhà triết học duy vật vì khi giải quyết vấn đề cơ bản của triết học, quan hệ giữa tồn tại và tư duy, vật chất và
ý thức, Phoi-ơ-bắc đã chứng minh và khẳng định thế giới là vật chất, giới tự nhiên không phải do thần linh, thượng đế hay một đấng siêu nhân nào sáng tạo ra, nó tồn tại độc lập với ý thức và không phụ thuộc vào bất cứ “ý niệm” nào Cơ sở tồn tại của giới tự nhiên nằm ngay trong giới tự nhiên, chứ không phải tự nhiên là “sự tồn tại khác” của tinh thần Ông cho ý thức, tư duy là tính thứ hai, còn vật chất là tính thứ nhất ý thức chỉ là của con người, là sản phẩm của bộ óc người trong sự phản ảnh thế giới vật chất Như vậy trong lĩnh vực quan niệm
về tự nhiên, Phoi-ơ-bắc là nhà duy vật triệt để, ông cũng đấu tranh bác
bỏ học thuyết của Can-tơ, mà nội dung của học thuyết này cho rằng:
tự nhiên là do ý thức con người cấu tạo nên; và cũng bác bỏ học thuyết của Hê ghen, học thuyết cho rằng: tự nhiên là một “sự tồn tại khác” của tinh thần thế giới Phoi-ơ-bắc khẳng định tự nhiên tự nó tồn tại mà con người có thể giải thích tự nhiên từ bản thân nó
Trang 8Trong lĩnh vực tự nhiên, Phoi-ơ-bắc còn có quan niệm đúng đắn về mối quan hệ giữa vật chất và vận động, thời gian và không gian, khắc phục một số điểm hạn chế của hình thức duy vật máy móc, coi vật chất như một cái gì thuần nhất Theo Phoi-ơ-bắc, tự nhiên có rất nhiều chất lượng khác nhau mà những cảm giác
(1) C.Mác và Ph Ăng ghen, Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,1995, tr 65
của con người có thể nhận biết được, ông cho rằng “Quan hệ thực sự của tư duy đối với tồn tại là: tồn tại, chủ thể, tư duy, thuộc tính”, nói một cách khác: chủ thể (con người) với tính cách là một bộ phận của
tự nhiên, còn tư duy là thuộc tính của nó Phoi-ơ-bắc thừa nhận tính khách quan của các quy luật tự nhiên, tính khách quan của quan hệ nhân quả, thừa nhận sự vận động, phát triển của giới tự nhiên diễn ra một cách khách quan trong những điều kiện nhất định dẫn tới sự xuất hiện đời sống hữu cơ và con người, hay nói một cách khác là ông
đã chứng minh nguồn gốc phát triển của giới hữu cơ từ giới vô cơ, nguồn gốc của con người từ giới tự nhiên, nguồn gốc của ý thức bắt đầu từ vật chất
Trang 9Về nhận thức luận, Phoi-ơ-bắc tiếp tục chống lại thuyết không thể biết và lối tư biện trìu tượng ông phê phán hệ thống triết học duy tâm khách quan của Hê ghen vì Hê ghen coi đối tượng của tư duy không có gì khác với bản chất của tư duy Ông khẳng định đối tượng của nhận thức nói chung và của triết học nói riêng là giới tự nhiên và con người Ông kêu gọi: hãy quan sát giới tự nhiên đi, hãy quan sát con người đi, bạn sẽ thấy ở đấy, trước mắt bạn những bí mật của triết học Cũng trong khi chống lại thuyết không thể biết, ông đã khẳng định con người có khả năng nhận thức được giới tự nhiên, một người thì không thể nhận thức được hoàn toàn giới tự nhiên nhưng toàn bộ loài người thì có thể nhận thức được
Hệ thống triết học của Phoi-ơ-bắc khi đi vào bàn vấn đề tự nhiên thì duy vật triệt để như đã trình bày ở trên, song khi bàn về lĩnh vực xã hội ông lại là một nhà duy tâm Phoi-ơ-bắc phê phán mạnh mẽ thần học và tôn giáo, vạch rõ nguồn gốc của nó, ông cho rằng chính con người đã bày đặt ra thần thánh bằng cách trìu tượng hoá đặc tính con người của mình, tuyệt đối hoá, thần thánh hoá đặc tính của con người Nhưng sau khi bác bỏ tôn giáo cũ, Phoi-ơ-bắc đã lại tuyên bố
Trang 10một thứ tôn giáo mới “không có chúa” - Tôn giáo tình yêu Như vậy Phoi-ơ-bắc đã hạ thần học xuống trình độ nhân bản học và nâng nhân bản học lên trình độ thần học
Quan niệm về thời kỳ lịch sử của loài người: Phoi-ơ-bắc khẳng định sở dĩ những thời kỳ lịch sử loài người khác nhau chỉ là do thay đổi các hình thức tôn giáo, muốn làm cho xã hội phát triển, tiến lên phải thay thế tôn giáo cũ bằng tôn giáo mới, loại tôn giáo tôn thờ “tình yêu thương nhân loại” Ông cho mối quan hệ nền tảng con người cơ bản là quan hệ đạo đức, ông kêu gọi “Nhân loại cứ hôn nhau đi” thì sẽ giải quyết được các mối quan hệ và các vấn đề trong xã hội Như vậy Phoi-ơ-bắc đã rơi vào thuyết duy tâm và không tưởng trong các quan niệm về
xã hội
Về vấn đề xã hội, khi đề cập đến con người, Mác, Ăng ghen cũng chỉ ra hạn chế cơ bản của Phoi-ơ-bắc là ông không hiểu đúng về con người, coi con người như là một thực thể tự nhiên thuần tuý mang bản chất tộc loại Phoi-ơ-bắc không nhận thức được bản chất xã hội của con người, không thấy vai trò của mối quan hệ giữa con người với con người quy định bản chất của họ, do đó quan niệm của ông về bản
Trang 11chất của con người vẫn mang tính trìu tượng, phi hiện thực Mác, Ăng ghen đã phân tích và chỉ rất rõ hạn chế này của Phoi-ơ-bắc: “Đành rằng so với các nhà duy vật thuần tuý thì Phoi-ơ-bắc có ưu điểm lớn là ông thấy rằng con người cũng là một “đối tượng của cảm giác”; nhưng hãy cứ gạt bỏ việc ông coi con người chỉ là “đối tượng của cảm giác” chứ không phải là “hoạt động cảm giác được”, vì cả ở đây nữa ông vẫn còn bám vào lý luận và không xem xét con người trong mối quan
hệ nhất định của họ, trong những điều kiện sinh hoạt hiện có của họ, những điều kiện làm cho họ trở thành những con người đúng như họ đang tồn tại trong thực tế thì Phoi-ơ-bắc cũng không bao giờ đi tới được những con người hành động đang tồn tại thực sự, mà ông vẫn cứ dừng lại ở một sự trìu tượng: “Con người” và chỉ đóng khung ở chỗ thừa nhận con người “hiện thực, cá thể, bằng xương, bằng thịt” trong tình cảm thôi, nghĩa là ông không biết đến những “quan hệ con người”, “giữa người với người” nào khác, ngoài tình yêu và tình bạn, hơn nữa lại là tình yêu và tình bạn được lý tưởng hoá ông không phê phán những điều kiện sinh hoạt hiện tại”(1) Đồng thời Mác, Ăng ghen đã
Trang 12
(1) C.Mác và Ph Ăng ghen, Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,1995, tr 64
chỉ ra mối quan hệ giữa con người với đời sống, với quá trình sản xuất vật chất một cách đúng đắn ngay ở phần đầu tác phẩm là: “Chính con người, khi phát triển sự sản xuất vật chất và sự giao tiếp vật chất của mình, đã làm biến đổi, cùng với hiện thực đó của mình, cả tư duy lẫn sản phẩm tư duy của mình Không phải ý thức quyết định đời sống mà chính đời sống quyết định ý thức”(1)
Tóm lại, với hệ thống triết học của mình, Phoi-ơ-bắc đã có đóng góp to lớn cho lịch sử phát triển của triết học nói chung và đóng góp cho sự hình thành triết học cổ điển Đức, hệ tư tưởng Đức Chủ nghĩa duy vật của Phoi-ơ-bắc thực sự là đỉnh cao nhất, có kế thừa và phát triển những tư tưởng duy vật trước đó trước khi chủ nghĩa Mác, triết học Mác ra đời Tuy nhiên, chủ nghĩa duy vật của ông cũng còn hạn chế, còn nằm trong khuôn khổ siêu hình và mới chỉ duy vật trên lĩnh vực tự nhiên, còn trong lĩnh vực xã hội thì triết học của ông lại thể hiện sự duy tâm Như vậy, sự nhận xét, đánh giá của Mác, Ăng
Trang 13ghen về chủ nghĩa duy vật của Phoi-ơ-bắc đề cập trong tác phẩm Hệ
tư tưởng Đức: “Khi Phoi-ơ-bắc là nhà duy vật thì ông không bao giờ
đề cập đến lịch sử; còn khi ông xem xét đến lịch sử thì ông không phải
là nhà duy vật ở Phoi-ơ-bắc, lịch sử và chủ nghĩa duy vật hoàn toàn tách rời nhau” là hoàn toàn chính xác Bằng sự phân tích, đánh giá
một cách sâu sắc, tài tình, Mác và Ăng ghen đã chỉ rõ những tiến bộ đóng góp cũng như những hạn chế chủ yếu trong triết học của Phoi-ơ-bắc
Xuất phát từ đánh giá trên, Mác, Ăng ghen đã tiếp thu những thành tựu của chủ nghĩa duy vật về lĩnh vực tự nhiên của Phoi-ơ-bắc, khắc phục hạn chế, sai lầm trong nhìn nhận lĩnh vực xã hội để xây dựng lên hệ thống triết học của mình Trong giải quyết các vấn đề về
xã hội, Mác và Ăng ghen đã gắn, đưa toàn
bộ chủ nghĩa duy vật vào nhìn nhận, đánh giá lĩnh vực xã hội bằng sử dụng phép biện chứng để tránh sự xem xét duy tâm, siêu hình, máy móc, cơ giới trong nhận thức xã hội Theo Mác, Ăng ghen thì xã hội cũng chỉ là một bộ phận của giới tự nhiên, một bộ phận đặc biệt, phát triển cao nhất của giới tự nhiên mà thôi Lần
Trang 14(1) C.Mác và Ph Ăng ghen, Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội,1995, tr 38
đầu tiên trong lịch sử triết học, Mác, Ăng ghen đã thống nhất được chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng, tạo thành chủ nghĩa duy vật biện chứng, khắc phục được hạn chế mà chủ nghĩa duy vật của Phoi-ơ-bắc đã mắc phải Là người có thế giới quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng, Mác và Ăng ghen đã sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch
sử để nhìn nhận xã hội, thực chất đó là sự vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng vào nhận thức xã hội; khắc phục hạn chế của Phoi-ơ-bắc trong quan niệm về con người (tuyệt đối hoá quan hệ tình yêu, tình bạn trong các quan hệ xã hội); các ông cũng chỉ rõ các quan hệ đó là sản phẩm của các kiểu quan hệ khác (quan hệ vật chất, kinh tế); con người là sản phẩm của điều kiện xã hội, lịch sử, là con người hoạt động cải tạo thực tiễn, cải tạo xã hội Vấn đề này đã được Mác, Ăng-ghen chỉ rõ trong “Hệ tư tưởng Đức” khi phê phán Phoi-ơ-bắc: “Như vậy là Phoi-ơ-bắc không bao giờ hiểu được rằng thế giới cảm giác được là tổng số những hoạt động sống và cảm giác được của những cá