1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THU HOẠCH lý luận hình thái kinh tế xã hội và sự nhận thức con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay

28 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 105,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

lý luËn h×nh th¸i kinh tÕ x héi THU HOẠCH Lý luận hình thái kinh tế xã hội và sự nhận thức con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay ============================= Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X khẳng định “ phải nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ trí tuệ của Đảng, kiên định chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng và phát triển sáng tạo trong thực tiễn hoạt động của Đảng” Việc xây dựng chủ nghĩa xã hội là sự.

Trang 1

THU HOẠCH-Lý luận hình thái kinh tế - xã hội và sự nhận thức con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay

=============================

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X khẳng định: “ phải nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ trí tuệ của Đảng, kiênđịnh chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độclập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng và phát triển sáng tạotrong thực tiễn hoạt động của Đảng”1

Việc xây dựng chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp đầy khó khăn vàphức tạp đòi hỏi chúng ta phải phát huy cao độ tính năng động chủquan trong nhận thức và hành động trên cơ sở tôn trọng khách quan.Tuyệt đối tránh việc cường điệu vai trò chủ quan mà bất chấp kháchquan sẽ rơi vào căn bệnh chủ quan duy ý chí, chính căn bệnh chủquan duy ý chí ở nhiều nước xã hội chủ nghĩa trước đây trong quátrình xây dựng đất nước đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng Đóchính là những bài học thực tiễn quý báu cho Đảng Cộng sản ViệtNam trong quá trình lãnh đạo đất nước thực hiện đổi mới Cácnghiên cứu cho thấy căn bệnh chủ quan duy ý chí của Đảng ta trướcđây như Cương lĩnh được thông qua tại Đại hội VII nhận định:

“Đảng đã phạm sai lầm chủ quan duy ý chí, vi phạm quy luật khách

1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội X, tr 49

Trang 2

quan”2 Chủ yếu là do thiếu kiến thức, kém lý luận, lạc hậu trongnhận thức về chủ nghĩa xã hội và ít kinh nghiệm dẫn đến sai lầm, ấutrĩ, “tá khuynh” chứ không phải do sai lầm của chủ nghĩa cơ hội Đểkhắc phục và phòng ngừa căn bệnh ấy đòi hỏi chúng ta phải nhậnthức lại chủ nghĩa xã hội, tiến hành đổi mới một cách toàn diện, sâusắc cả lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội nói chung và conđường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta nói riêng.

Trong giai đoạn cách mạng hiện nay từ sau bước ngoặt nhữngnăm 1989 - 1991 đã xuất hiện một số ý kiến phủ nhận lý luận vàthực tiễn về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội: Họ cho rằng chủnghĩa tư bản hiện còn chưa đi tới giới hạn phát triển cuối cùng.Ngày nay chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang hình thái mới như “chủnghĩa tư bản hậu công nghiệp” hoặc “chủ nghĩa tư bản khoa học -

kỹ thuật” Do đó thực ra đã và đang không hề có xu hướng quá độ

từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội Cách mạng Tháng MườiNga, chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô, Đông Âu trước đây và ởmột số nước còn lại hiện nay chỉ là “sự lầm lạc, vô vọng, lãng phícủa lịch sử” Chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp

đổ, chính do tiến trình quá độ tại đây thiếu tiền đề vật chất - xã hộicần thiết là chủ nghĩa tư bản phát triển cao Trong quá trình xâydựng đất nước ở Liên Xô và Đông Âu, các đảng cộng sản đã thựchiện một cách chủ quan duy ý chí, vì vậy cuối cùng không tránhkhỏi thất bại Như vậy theo họ con đường phát triển quá độ lên chủ

2 Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, tr 5.

Trang 3

nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa tại một số nước trên thếgiới hiện nay lại càng thiếu cơ sở khách quan, ít tính khả thi và khó

tế - xã hội là vấn đề lý luận quan trọng cần được hiểu sâu sắc và vậndụng một cách đúng đắn, sáng tạo vào thực tiễn cách mạng nước tahiện nay

Thực tiễn sự sụp đổ của Liên Xô và hàng loạt nước xã hội chủnghĩa ở Đông Âu vào cuối những năm 80 của thế kỷ XX đã tạo cơhội cho những quan điểm cơ hội, phản động ra sức tấn công vào chủnghĩa Mác - Lênin Chúng ra sức rêu rao rằng lý luận Mác - Lênin

về hình thái kinh tế xã hội xã hội chủ nghĩa đã sai lầm, lỗi thời, nên

xã hội loài người sẽ không phát triển theo quy luật của sự vận động,phát triển các hình thái kinh tế - xã hội như chủ nghĩa Mác - Lênin

đã luận giải Mặc dù vậy, các nhà khoa học đã khẳng định sự thật đóchỉ là sự sụp đổ về mô hình của hình thái kinh tế - xã hội bị khiếmkhuyết trầm trọng, một hình thái kinh tế - xã hội không phù hợp, vớiquy luật phát triển của lịch sử theo đúng tính biện chứng của nó.Cũng chính thực tiễn ấy đã giúp chúng ta nhận thức lại về chủ nghĩa

Trang 4

xã hội, tiến hành đổi mới một cách toàn diện về chủ nghĩa xã hội,tiến hành đổi mới một cách toàn diện và sâu sắc cả về nhận thức vàhành động Từ đó một trong những vấn đề đặt ra là phải xây dựngmột hình thái kinh tế - xã hội, xã hội chủ nghĩa như thế nào là hợpquy luật phát triển của xã hội lịch sử; bằng không trước sau chúng tacũng sẽ tránh khỏi việc đi theo “vết xe đổ” của Liên Xô và các nước

xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu Muốn thế đòi hỏi trước chúng ta cầnnhận thức một cách sâu sắc học thuyết hình thái kinh tế - xã hội củachủ nghĩa Mác - Lênin và vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo vàođiều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội là nội dung cơ bản của chủnghĩa duy vật lịch sử và cũng là một trong những nội dung cơ bảncủa toàn bộ chủ nghĩa Mác - Lênin Học thuyết vạch rõ những quyluật cơ bản của vận động xã hội, vạch ra phương pháp duy nhấtkhoa học để giải thích lịch sử Căn cứ vào những tư tưởng của cácnhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin và thực tiễn lịch sử loài người,chúng ta có thể xác định: Hình thái kinh tế - xã hội là một phạm trùcủa chủ nghĩa duy vật lịch sử, dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạnlịch sử nhất định, với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho xãhội đó phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất vàvới một kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên nhữngquan hệ sản xuất ấy Khái niệm này đã chỉ ra cấu trúc của một hìnhthái kinh tế xã hội cụ thể gồm những yếu tố cơ bản bên trong của nó

và mối quan hệ giữa các yếu tố ấy Những yếu tố cơ bản của hình

Trang 5

thái kinh tế - xã hội bao gồm lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất

và kiến trúc thượng tầng Ngoài các yếu tố cơ bản còn có các yếu tốkhông cơ bản khác như dân tộc, gia đình, truyền thống

Để hiểu về học thuyết hình thái kinh tế - xã hội trước hết chúng

ta cần nắm được phương pháp tiếp cận hình thái kinh tế xã hội củaMác Cách tiếp cận của Mác có gì khác với các nhà triết học trướcđó? Và vì sao nó trở thành một trong những cống hiến vĩ đại củatriết học Mác và cũng là bước phát triển mới, là bước ngoặt cáchmạng của lịch sử triết học, các nhà triết học trước Mác như Platôn,Hêghen, Phơ Bách, do hạn chế bởi điều kiện lịch sử và trình độnhận thức do sự chi phối của lập trường, giai cấp, do sai lầm vềphương pháp tiếp cận nghiên cứu nên đều đi từ quan điểm tư tưởng

để giải quyết các vấn đề, quá trình của đời sống xã hội Họ lấy tưduy để giải thích đời sống xã hội, lấy chính trị để giải thích kinh tế.Chính vì vậy họ đều đi đến bất lực khi giải quyết các vấn đề, cácquá trình của đời sống xã hội không giải thích được sự vận động,phát triển xã hội lịch sử Trái ngược lại bằng sự kế thừa có chọn lọctất cả các thành quả nghiên cứu về triết học xã hội của các bậc tiềnbối, bằng những công trình nghiên cứu tỷ mỉ về quá trình lịch sửloài người, nhất là lịch sử xã hội tư bản, Mác luôn đi từ lĩnh vựckinh tế vật chất để giải thích các hiện tượng, các quá trình của đờisống xã hội Ông luôn nghiên cứu xã hội trong một chỉnh thể thốngnhất, làm nổi bật riêng quan hệ sản xuất trong các quan hệ xã hội vàxem đây là quan hệ cơ bản, ban đầu quyết định tất cả các quan hệ

Trang 6

xã hội khác Chính nhờ phương pháp tiếp cận đó Mác đã giải thíchđầy đủ và đúng đắn những quy luật vận động, phát triển của xã hộilịch sử.

Để hiểu phạm trù hình thái kinh tế xã hội trước hết chúng ta cầnnắm được các yếu tố cơ bản bên trong của nó là gì? Và mối quan hệgiữa chúng diễn ra như thế nào

Lực lượng sản xuất bao gồm người lao động với kỹ năng laođộng của họ và tư liệu sản xuất trước hết là công cụ lao động Lựclượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên,nói lên trình độ kỹ thuật - kinh tế của một hình thái kinh tế xã hội và

là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt sự khác nhau giữa các thờiđại kinh tế - kỹ thuật trong lịch sử Nó là yếu tố xét đến cùng quyếtđịnh các yếu tố khác và quyết định sự biến đổi của các hình tháikinh tế - xã hội

Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong quátrình sản xuất Nó bao gồm các quan hệ sở hữu đối với tư liệu sảnxuất, các quan hệ trong tổ chức quản lý sản xuất các quan hệ phânphối sản phẩm lao động Cả ba mặt quan hệ đó trong quá trình sảnxuất xã hội luôn gắn bó với nhau, tạo thành một hệ thống có tínhchất ổn định tương đối so với sự năng động không ngừng của lựclượng sản xuất Chúng thường xuyên tác động trở lại lực lượng sảnxuất, đồng thời chính quan hệ sản xuất là tiêu chuẩn khách quan đểphân biệt các hình thái kinh tế xã hội, phân biệt bản chất của các chế

độ xã hội trong lịch sử, trong các hình thái kinh tế xã hội mà loài

Trang 7

người đã từng trải qua lịch sử đã được chứng kiến sự tồn tại của cảhai loại hình thức sở hữu cơ bản đối với tư liệu sản xuất: sở hữu tưnhân và sở hữu công cộng Chỉ có trong xã hội sở hữu công cộng về

tư liệu sản xuất thì con người mới bình đẳng với nhau trong tổ chứclao động và phân phối sản phẩm và có quan hệ hợp tác, tương trợgiúp đỡ nhau Ngược lại trong chế độ sở hữu tư nhân là sự bất bìnhđẳng, là quan hệ thống trị và bị trị do đó đối kháng xã hội trở thànhgay gắt Và C Mác Ph Ăngghen đã chứng minh rằng chế độ tư bảnchủ nghĩa không phải là hình thức sở hữu cuối cùng trong lịch sửloài người Chủ nghĩa xã hội dựa trên chế độ công hữu về tư liệusản xuất dù sớm hay muộn cũng sẽ đóng vai trò phủ định đối vớichế độ tư hữu

Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm về chính trị,pháp quyền, triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật, thẩm mĩ cùngvới những thiết chế xã hội tương ứng như: Nhà nước, đảng phái,giáo hội, đoàn thể được hình thành trên cơ sở hạ tầng nhất định.Kiến trúc thượng tầng là bộ mặt tinh thần của xã hội Nó có tácđộng to lớn tới cả lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Trongkiến trúc thượng tầng các xã hội có giai cấp đối kháng, ngoài bộphận chủ yếu đóng vai trò là công cụ của giai cấp thống trị, còn cónhững yếu tố đối lập với bộ phận ấy như những tư tưởng, quanđiểm, những tổ chức chính trị của giai cấp bị trị

Mối quan hệ giữa các yếu tố cơ bản của hình thái kinh tế xã hội,

là sự liên hệ tác động thống nhất biện chứng giữa chúng, được thể

Trang 8

hiện chủ yếu trên hai quy luật đó là: quy luật về sự phù hợp củaquan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất,quy luật về sự thống nhất biện chứng giữa các cơ sở hạ tầng và kiếntrúc thượng tầng.

Sự tác động lẫn nhau giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sảnxuất biểu hiện mối quan hệ mang tính chất biện chứng:

Quan hệ này biểu hiện thành quy luật cơ bản nhất của sự vậnđộng của đời sống xã hội - quy luật về sự phù hợp của quan hệ sảnxuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất Nó chỉ ra rằnglực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất có mối quan hệ thống nhấtbiện chứng trong một phương thức sản xuất nhất định, sự thống nhất

ấy không loại trừ mâu thuẫn và thường xuyên chúng tác động qualại với nhau Trong đó lực lượng sản xuất giữ vai trò quyết định đốivới quan hệ sản xuất cả về tính chất nội dung cũng như sự ra đời vàbiến đổi của quan hệ sản xuất Song song với đó tất cả các mặt củaquan hệ sản xuất cũng luôn tác động trở lại đến tất cả các yếu tố củalực lượng sản xuất theo hai chiều hướng: phù hợp hoặc không phùhợp với lực lượng sản xuất: nếu quan hệ sản xuất phù hợp với tínhchất và trình độ của lực lượng sản xuất thì nó trở thành động lựcthúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Sự phù hợp ở đây được coinhư nguyên tắc của sự phát triển và được biểu hiện là sự tương ứngthường xuyên với nhau giữa các mặt của quan hệ sản xuất với lựclượng sản xuất trong từng bước đi, hiện trạng lực lượng sản xuất thếnào thì đòi hỏi quan hệ sản xuất phải như thế ấy; đó là sự thúc đẩy

Trang 9

nhau phát triển, trong đó lực lượng sản xuất luôn tạo ra “kẽ hở”buộc quan hệ sản xuất tuân theo, đồng thời quan hệ sản xuất lại luôntạo “địa bàn” đầy đủ cho lực lượng sản xuất phát triển thực chất đây

là sự phù hợp biện chứng, bao hàm cả phù hợp và không phù hợp,với xu hướng vận động từ phù hợp đến không phù hợp rồi đến phùhợp, được chuyển hoá một cách liên tục trong xu thế phát triển Dấuhiệu của sự phù hợp ấy trên thực tế là năng suất, chất lượng sản xuấttăng, thái độ người lao động tích cực hơn, mọi mặt của đời sốngngười lao động được cải thiện với trạng thái phù hợp như vậy, lựclượng sản xuất sẽ có cơ sở để phát triển hết khả năng của nó, ngoài

ra khi quan hệ sản xuất không phù hợp với lực lượng sản xuất nó sẽkìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Đó là sự xuất hiệnmâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất Sự khôngphù hợp này có thể xảy ra ở hai mức độ, đó là việc quan hệ sản xuấtvượt quá xa hoặc tụt hậu sau so với lực lượng sản xuất Trong tất cảcác mặt của quan hệ sản xuất, quan hệ phân phối sản phẩm lao động

có sức tác động trở lại mạnh mẽ đối với lực lượng sản xuất, mà trựctiếp nhất là người lao động Sự tác động trở lại của quan hệ sảnxuất đối với lực lượng sản xuất được thực hiện thông qua các quyluật kinh tế xã hội, đặc biệt là các quy luật kinh tế cơ bản Trong xãhội sự tác động trở lại đó diễn ra phức tạp qua nhiều khâu như thôngqua mục đích nền sản xuất, thông qua cơ chế kinh tế xã hội và lợiích người lao động Trong xã hội có giai cấp thì sự tác động củaquan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất chủ yếu thông qua vai

Trang 10

trò của giai cấp đại biểu cho quan hệ sản xuất ấy Như vậy, lựclượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt thống nhất biện chứngkhông thể tách rời trong một phương thức sản xuất mà trong đó lựclượng sản xuất đóng vai trò quyết định đối với quan hệ sản xuất, cònquan hệ sản xuất thì luôn luôn thể hiện tính độc lập tương đối, tácđộng trở lại lực lượng sản xuất, lực lượng sản xuất luôn vận độngphát triển, là nguyên nhân sâu xa của mọi sự biến đổi xã hội Sựphát triển tất yếu khách quan của lực lượng sản xuất sẽ dần đến việcxoá bỏ bằng cách này hay cách khác quan hệ sản xuất cũ và thayvào nó bằng một kiểu quan hệ sản xuất mới phù hợp với sự pháttriển của lực lượng sản xuất; tiếp tục mở đường cho lực lượng sảnxuất phát triển Điều dó cũng có nghĩa đã xoá bỏ phương thức sảnxuất lỗi thời, cho ra đời một phương thức sản xuất mới trong lịch

sử C.Mác đã viết: “Những quan hệ xã hội đều gắn liền mật thiết vớilực lượng sản xuất, do đó được những lực lượng sản xuất mới, loàingười thay đổi phương thức sản xuất của mình và do thay đổiphương thức sản xuất, cách kiếm sống của mình Cái cối xay quaybằng tay đưa lại xã hội lãnh chúa, cái cối xay chạy bằng hơn nướcđưa lại xã hội có nhà tư bản công nghiệp”3

Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, mỗi xã hội trong lịch sửđều có một kiểu những quan hệ vật chất cơ bản nhất tương ứn vớinhững lực lượng sản xuất nhất định, đó là quan hệ sản xuất Phù hợpvới kiểu quan hệ sản xuất đó là các quan hệ chính trị tinh thần được

3 C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, tập 13, Nxb CTQG, H 1993, tr 187.

Trang 11

hình thành trên cơ sở những quan hệ kinh tế Sự liên hệ, tác độnglẫn nhau giữa quan hệ kinh tế của xã hội và các quan hệ chính trịtinh thần ấy được phản ánh theo nguyên lý về mối quan hệ biệnchứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Đây cũng là quyluật cơ bản ảnh hưởng tới sự vận động, phát triển của hình thái kinh

tế - xã hội, là cơ sở để nhận thức về sự vận động phát triển của xãhội lịch sử

Cơ sở hạ tầng là khái niệm dùng để chỉ toàn bộ những quan hệsản xuất của một xã hội trong sự vận động hiện thực của chúng hợpthành cơ cấu kinh tế của xã hội đó Cơ sở hạ tầng của một xã hội cụthể được đặc trưng trước hết bởi kiểu quan hệ sản xuất thống trịtiêu biểu cho xã hội ấy Ngoài ra những quan hệ sản xuất quá độ nhưcác quan hệ sản xuất tàn dư, quan hệ sản xuất mầm mống, cũng cóvai trò nhất định Tuy nhiên vai trò chủ đạo và quyết định đối vớitoàn bộ cơ sở hạ tầng là kiểu quan hệ sản xuất thống trị Như vậy,xét trong tổng thể các quan hệ xã hội thì các quan hệ sản xuất hợpthành cơ sở kinh tế của xã hội, là cơ sở hiện thực mà trên đó người

ta dựng lên kiến trúc thượng tầng tương ứng với cơ sở thực tại ấy

C Mác đã viết: “Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơcấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực trên đó đứng lênmột kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị và những hình thái ýthức xã hội tương ứng với cơ sở hiện thực đó”4

4 C Mác và Ph Ăngghen toàn tập, tập 13, Nxb CTQG, H 1993, tr 15.

Trang 12

Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của một xã hội luôn tácđộng qua lại biện chứng với nhau Trong đó cơ sở hạ tầng quyếtđịnh kiến trúc thượng tầng và kiến trúc thượng tầng tác động to lớntrở lại cơ sở hạ tầng sinh ra nó Cơ sở hạ tầng quyết định đến tínhchất, bộ mặt, nội dung các quan điểm tư tưởng và các tổ chức củakiến trúc thượng tầng Đúng như C.Mác khẳng định “Cơ sở kinh tếthay đổi thì toàn bộ cái kiến trúc thượng tầng đó sẽ cũng bị đảo lộn

ít nhiều nhanh chóng”5 Mặc dù cơ sở hạ tầng quyết định đối vớikiến trúc thượng tầng, song chủ nghĩa Mác - Lênin cũng luôn nhấnmạnh tính độc lập tương đối và sự tác động trở lại của kiến trúcthượng tầng đối với cơ sở hạ tầng Trước tiên kiến trúc thượng tầngbao giờ cũng có vai trò bảo vệ củng cố cơ sở hạ tầng đã sinh ra nó.Ngoài ra sự tác động trở lại đó thể hiện ở chỗ kiến trúc thượng tầngquy định phương hướng, hình thức tốc độ vận động phát triển của

cơ sở hạ tầng Nó tác động theo 2 chiều hướng Nếu kiến trúcthượng tầng phản ánh đúng các quy luật khách quan về kinh tế - xãhội thì nó thúc đẩy và tạo điều kiện thuận lợi cho cơ sở hạ tầng pháttriển; bằng không nó sẽ kìm hãm sự phát triển của cơ sở hạ tầng,gây nên các trở lực cho quá trình sản xuất xã hội Vai trò tác độngcủa các bộ phận trong kiến trúc thượng tầng đến cơ sở hạ tầng làkhông ngang bằng nhau Cụ thể ở đây C Mác luôn nhấn mạnh vaitrò của bộ phận chính trị, pháp quyền (nhà nước) trong kiến trúcthượng tầng Bên cạnh đó tính độc lập tương đối của kiến trúcthượng tầng còn biểu hiện là ngay bản thân giữa các bộ phận trong

5 Sđd, tr 15.

Trang 13

kiến trúc thượng tầng cũng thường xuyên có mối quan hệ tác độngqua lại một cách biện chứng lẫn nhau.

Từ chỗ xác định được các yếu tố cấu thành hình thức kinh tế

-xã hội luận giải mối quan hệ biện chứng giữa các yếu tố ấy theo cácquy luật khách quan, đồng thời trên cơ sở thực tiễn xã hội lịch sửchủ nghĩa duy vật biện chứng đã xem xét và khẳng định sự vậnđộng của xã hội là một quá trình biến đổi và phát triển khôngngừng C Mác đã viết: “Tôi coi sự phát triển của những hình tháikinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên” Con người tạo ralịch sử, tạo ra những quan hệ xã hội của mình, đó là xã hội Nhưng

xã hội luôn vận động theo quy luật khách quan không phụ thuộc vào

ý muốn chủ quan của con người Mỗi hình thức kinh tế - xã hộiđược coi như một cơ thể xã hội phát triển theo những quy luật vốn

có của nó, những quy luật riêng về sự ra đời hoạt động và chuyểnhoá lên hình thức cao hơn; thành một cơ thế xã hội khác Sự thaythế kế tiếp nhau của các hình thái kinh tế - xã hội từ xã hội cộng sảnnguyên thuỷ đến xã hội chiếm hữu nô lệ, đến xã hội phong kiến, rồiđến xã hội tư bản chủ nghĩa, là quá trình tiến hoá bao hàm nhữngbước nhảy vọt tạo nên sự phát triển cho lịch sử loài người Với sựnghiên cứu các quy luật của sự phát triển xã hội nói chung và chủnghĩa tư bản nói riêng, C Mác đã đi đến nhận định khoa học là sẽxuất hiện một hình thái kinh tế - xã hội mới hình thái kinh tế - xãhội cộng sản chủ nghĩa Trên phạm vi lịch sử nhân loại thì xã hộiloài người đã trải qua một số hình thái kinh tế - xã hội nhất định

Trang 14

Nhưng do điều kiện về lịch sử, không gian và thời gian nên khôngphải quốc gia nào cũng phải trải qua đầy đủ tất cả các hình thái kinh

tế - xã hội có tính tuần tự từ thấp đến cao theo sơ đồ chung Thực tếtrong lịch sử đã có không ít quốc gia vứoi những điều kiện lịch sửnhất định đã phát triển theo con đường bỏ qua một hoặc vài hìnhthái kinh tế - xã hội nào đó trong khi đa số quốc gia phát triển tuần

tự qua các hình thái kinh tế - xã hội Từ đó C Mác đã nêu lên những

tư tưởng về khả năng “phát triển rút ngắn” và V.I.Lênin đã nêu lênkhả năng “không phải trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”

để tiến lên chủ nghĩa xã hội đối với nước lạc hậu Ông chỉ ra nhữngđiều kiện cho phép các nước lạc hậu, tư bản có thể bỏ qua giai đoạnphát triển tư bản chủ nghĩa tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, đó là:Phương thức sản xuất định bỏ qua đã đã trở lên lỗi thời, phươngthức sản xuất mới đã trở thành hiện thực giai cấp cách mạng và lựclượng xã hội tiên tiến có đủ khả năng lãnh đạo cuộc chuyển biếncách mạng tiến lên phương thức sản xuất cao hơn

Như vậy quá trình lịch sử - tự nhiên của sự phát triển xã hộiloài người bao hàm cả con đường phát triển tuần tự và “bỏ qua”trong những điều kiện lịch sử nhất định một hoặc vài hình thái kinh

tế - xã hội Theo quan điểm biện chứng duy vật thì tất cả các conđường phát triển cụ thể của mỗi nước đều là cách riêng mà trong đó

nó bao hàm những quy luật chung, những quá trình có tính phổ biếncủa sự phát triển xã hội Các quy luật phổ biến ấy luận đúng vai tròchi phối con đường phát triển riêng của mỗi quốc gia Tất cả các

Ngày đăng: 24/04/2022, 09:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w