2 22 THU HOẠCH Lý luận về nhà nước trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” của ăngghen ý nghĩa trong việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay I Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm Ăngghen viết tác phẩm Nguồn gốc của gia đình của chế độ tư hữu và của nhà nước trong hai tháng từ cuối tháng Ba đến cuối tháng Năm 1884, nhân có những công trình nghiên cứu của nhà Nhân chủng học người Mỹ H Moócgan; cùng với việc nghiên cứu lịc.
Trang 1nghĩa trong việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay
I Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm
Ăngghen viết tác phẩm ''Nguồn gốc của gia đình của chế độ tưhữu và của nhà nước'' trong hai tháng từ cuối tháng Ba đến cuối thángNăm 1884, nhân có những công trình nghiên cứu của nhà Nhân chủnghọc người Mỹ H.Moócgan; cùng với việc nghiên cứu lịch sử nhà nướcHylạp, Rôma, Giécmanh
Trong thời điểm này chủ nghĩa đế quốc phát triển tương đối hoàbình, đồng thời cũng là thời kì giai cấp vô sản tập hợp lực lượng đểchuẩn bị cho những cuộc cách mạng sắp tới
Tình hình kinh tế, chính trị- xã hội nước Đức cuối thế kỷ 19 đầuthế kỷ 20 diễn ra hết sức phức tạp:
Về kinh tế: nước Đức vẫn là nước kém phát triển so với các nước
đã tiến hành cách mạng tư sản như Anh, Pháp, Hà lan
Về chính trị- xã hội: giai cấp tư sản Đức vừa yếu kém về kinh tếvừa bạc nhược về chính trị, nó mang tính hai mặt, một mặt muốn làm
Trang 2cách mạng để xoá bỏ chế độ phong kiến quân chủ, mặt khác lại sợ lựclượng cách mạng đang lên- sợ giai cấp vô sản, do đó giai cấp tư sảnĐức hèn nhát, cải lương, thoả hiệp với giai cấp phong kiến.
Trong khi đó, giai cấp vô sản Đức còn nhiều hạn chế: chưa ýthức một cách rõ ràng vai trò lịch sử của mình, chưa được tổ chứcchặt chẽ và còn bị ảnh hưởng của các tư tuởng cơ hội, thoả hiệp, cảilương xâm nhập Trong điều kiện đó xuất hiện các luận thuyết sai lầmcủa Bachopen, của Lecnan khi giải thích về lịch sử gia đình
Từ các lý do nêu trên đã thôi thúc Ăngghen viết tác phẩm “Nguồngốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước”
Lúc đầu Ăngghen đề nghị in tác phẩm của mình trong tạp chí líluận hợp pháp “Thời mới” của đảng dân chủ xã hội Đức nhưng về sauông bỏ kế hoạch vì nhận thấy tác phẩm sẽ không được ấn hành dokhuynh hướng chính trị của nó Cuốn sách đã được ra mắt ở Xuyrichvào đầu tháng Mười năm 1884 Thời gian đầu, bọn cầm quyền Đứcgây trở ngại cho việc phát hành, nhưng về sau những khó khăn đó đãđược khắc phục và tác phẩm được tiếp tục xuất bản những lần tiếp theo, vớicác thứ tiếng khác nhau như tiếng Xecbi, Balan, Rumani, Italia, Đan mạch;Ăngghen đã hiệu đính các bản dịch tiếng Italia, Đan mạch
Tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và củanhà nước'' tiếp tục được xuất bản lần thứ tư có sửa đổi và bổ sungvào cuối năm 1891 ở Stútgát Khi Ăngghen còn sống, tác phẩm được
Trang 3xuất bản lần thứ năm vào năm 1892 và lần thứ sáu vào năm 1894,nhưng nội dung không có gì thay đổi so với lần xuất bản thứ tư Tácphẩm của Ăngghen được xuất bản bằng tiếng Nga lần đầu tiên ởPêtécbua vào năm 1894 Về sau tác phẩm nhiều lần được xuất bảnbằng tiếng Nga và những tiếng khác.
II Kết cấu của tác phẩm
Tác phẩm gồm có lời tựa cho hai lần xuất bản (lần thứ nhất năm
1848, lần thứ hai năm 1891) và 9 chương:
- Chương I: Những giai đoạn văn hoá tiền sử;
- Chương II: Gia đình;
- Chương III: Thị tộc I-rô-qua;
- Chương IV: Thị tộc Hy Lạp;
- Chương V: Sự ra đời của Nhà nước A-ten;
- Chương VI: Thị tộc và Nhà nước ở La Mã;
- Chương VII: Thị tộc của người Kentơ và của người GiécManh;
- Chương VIII: Sự hình thành Nhà nước ở người Giéc Manh;
- Chương IX: Thời đại dã man và thời đại văn minh
Tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của
nhà nước'' được in trong C.Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, Tập 21 ,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995 (từ trang 41 đến trang 265).
Trang 4III Những quan điểm duy vật lịch sử về nhà nước của Ăngghen trong tác phẩm
1 Quan điểm duy vật lịch sử về vấn đề nhà nước.
Đây là một trong những vấn đề chủ yếu được Ăngghen trình bày
trong tác phẩm và thể hiện sự phát triển sâu sắc những quan điểm củaMác về nhà nước Vấn đề nhà nước được Ăngghen trình bày rõ quachương V đến chương IX của tác phẩm, trong đó những kết luận quantrọng được chỉ ra trong chương IX “thời đại dã man và thời đại vănminh”
1.1 Tính tất yếu của nhà nước
Trong xã hội nguyên thuỷ chưa có sự xuất hiện của nhà nước, quaphân tích các thị tộc Irôqua, thị tộc Hylạp, Ăngghen đã khẳng định ở xãhội đó chưa có cơ sở để hình thành nhà nước Ăngghen viết: “Căn cứtheo Moócgan, tôi đã mô tả lại chế độ đó một cách chi tiết, vì ở đây,chúng ta có dịp nghiên cứu tổ chức của một xã hội chưa từng biết đến
Trang 5liên minh các thiết chế xã hội tự nguyện nảy sinh để điều hành xã hội.(Ăngghen phân tích từ trang 142 đến trang 147).
Về bản chất nó khác với bản chất nhà nước sau này: nó không cóquân đội, công an, cảnh sát, quan toà và nhà tù thế mà mọi việc đều trôichảy Ăngghen viết: “Với tất cả tính ngây thơ và giản dị của nó, chế độthị tộc đó quả là một tổ chức tốt đẹp biết bao! Không có quân đội, hiếnbinh và cảnh sát, không có quý tộc, vua chúa, tổng đốc, trưởng quan vàquan toà, không có nhà tù, không có những vụ xử án, thế mà mọi việc
Ăngghen khẳng định trong quá trình vận động, phát triển của xãhội, những thiết chế của xã hội cộng sản nguyên thuỷ tất yếu bị phá vỡ,thay thế vào đó một thiết chế phù hợp hơn đó là nhà nước Ông viết:
“Quyền lực của cộng đồng nguyên thuỷ đó nhất định phải bị đập tan- và
nó đã bị đập tan Đã làm suy yếu xã hội thị tộc không có giai cấp và đãđưa xã hội đó đến chỗ diệt vong Và bản thân xã hội mới, trong suốt hainghìn năm trăm năm tồn tại, vẫn không phải là cái gì khác mà chỉ là sựphát triển của cái thiểu số nhỏ, một sự phát triển bằng mồ hôi nước mắtcủa tuyệt đại đa số những người bị bóc lột, áp bức và hiện nay xã hội đó
2 C.Mác v Ph ngghen, To n t p, t p 21, Nxb CTQG, S th t H N i 1995, tr 147 ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ội 1995, tr 145- tr 146.
3 C.Mác v Ph ngghen, To n t p, t p 21, Nxb CTQG, S th t H N i 1995, tr 150 ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ội 1995, tr 145- tr 146.
Trang 6Như vậy, Ăngghen đã khẳng định một xã hội để hình thành nhànước phải có những cơ sở của nó, nhà nước không phải là thứ quyền lực
từ bên ngoài áp đặt vào
1.2 Về nguồn gốc nhà nước
Ăngghen đã phê phán quan điểm duy tâm về nguồn gốc của nhànước: nhà nước không phải là một quyền lực từ bên ngoài áp đặt vào xãhội, không phải là hiện thực của ý niệm đạo đức hay là hình ảnh và hiệnthực của lý tính như Hêghen khẳng định Ông viết: “Nhà nước quyếtkhông phải là một quyền lực từ bên ngoài áp đặt vào xã hội, không phải
là “hiện thực của ý niệm đạo đức” là “hình ảnh và hiện thực của lý tính”
Nhà nước nảy sinh trong xã hội; theo Ăngghen, nhà nước ra đời do hainguồn gốc:
Nguồn gốc sâu xa: xuất phát từ nguồn gốc kinh tế, đó là kết quả của
sự phân công lao động xã hội, chế độ chiếm hữu tư nhân tư liệu sảnxuất Ăngghen viết: “Nó đã bị sự phân công và hậu quả của sự phâncông ấy- tức là sự phân chia của xã hội thành giai cấp- phá tan Nó đã bị
Về nguồn gốc trực tiếp: biểu hiện về mặt chính trị xã hội, dẫn đến
sự phân công xã hội thành giai cấp và mâu thuẫn giai cấp không thể
4 C.Mác v Ph ngghen, To n t p, t p 21, Nxb CTQG, S th t H N i 1995, tr 252 ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ội 1995, tr 145- tr 146.
5 C.Mác v Ph ngghen, To n t p, t p 21, Nxb CTQG, S th t H N i 1995, tr 251 ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ội 1995, tr 145- tr 146.
Trang 7điều hoà được dẫn đến sự ra đời của nhà nước để duy trì xã hội trongmột “trật tự” nhất định Từ mâu thuẫn giai cấp không thể điều hoà được
đã dẫn tới giai cấp thống trị đã buộc các cơ quan đứng đầu thị tộc, bộ lạcdần dần xa rời nhân dân đối lập với lợi ích của nhân dân và trở thành cơquan áp bức nhân dân Ăngghen viết: “Nhà nước là sản phẩm của một
xã hội đã phát triển tới một giai đoạn nhất định; nó là sự thú nhận rằng
xã hội đó bị lúng túng trong một mối mâu thuẫn với bản thân mà khôngsao giải quyết được, rằng xã hội đó đã bị phân thành những mặt đối lậpkhông thể điều hoà mà xã hội đó bất lực không sao loại bỏ được Nhưngmuốn cho những mặt đối lập đó, những giai cấp có quyền lợi kinh tếmâu thuẫn nhau đó, không đi đến chỗ tiêu diệt lẫn nhau và tiêu diệt luôn
cả xã hội trong một cuộc đấu tranh vô ích, thì cần phải có một lực lượngcần thiết, một lực lượng rõ ràng là đứng trên xã hội, có nhiệm vụ làm dịubớt sự xung đột và giữ cho sự xung đột đó nằm trong vòng “trật tự” Vàlực lượng đó, nẩy sinh ra từ xã hội, nhưng lại đứng trên xã hội và ngày
Sau này khi nghiên cứu quan điểm trên đây của Ăngghen, Lênin đãnhấn mạnh rằng Nhà nước là sản phẩm của những mâu thuẫn giai cấpkhông thể điều hoà được Và chỉ rõ tư tưởng của Ăngghen về việc Nhànước có thể “làm dịu” mâu thuẫn, xung đột trong xã hội không có nghĩaNhà nước là cơ quan điều hoà mâu thuẫn giai cấp Rõ ràng nhà nướckhông phải là một quyền lực từ bên ngoài áp đặt vào xã hội, không phải
6 C.Mác v Ph ngghen, To n t p, t p 21, Nxb CTQG, S th t H N i 1995, tr 252- tr 253 ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ội 1995, tr 145- tr 146.
Trang 8là “hiện thực của ý niệm đạo đức” là “hình ảnh và hiện thực của lý tính”như Hêghen khẳng định.
1.3 Về đặc trưng của nhà nước
Ăngghen đã chỉ ra hai đặc trưng cơ bản của nhà nước, để phân biệtnhà nước với các tổ chức trong xã hội Đặc trưng của nhà nước đượcĂngghen phân tích một cách sâu sắc, ông cho rằng nhà nước có đặctrưng phân chia dân cư theo địa vực và thiết lập quyền lực công cộng Đặc trưng thứ nhất của nhà nước được Ăngghen phân tích và ôngcho rằng nhà nước có đặc trưng phân chia dân cư theo địa vực cư trú tức
là phân chia theo lãnh thổ; nhà nước quản lý thần dân theo lãnh thổ chứkhông theo huyết thống Ăngghen viết: “So với tổ chức hệ tộc trước kiathì đặc trưng thứ nhất của nhà nước là ở chỗ nó phân chia thần dân của
nó theo địa vực Cách tổ chức những công dân của nhà nước theo địa
Ăngghen cũng chỉ ra đó là kết quả của sự đấu tranh gay go và lâu dàimới xác lập được, Ông viết: “Cho nên chúng ta thấy tổ chức đó hình như
là điều tự nhiên; nhưng chúng ta đã thấy rằng cần phải trải qua một cuộcđấu tranh gay go và lâu dài như thế nào thì tổ chức đó mới được xác lập,
Đặc trưng thứ hai của nhà nước là sự thiết lập một quyền lực côngcộng đặc biệt, bản thân nhà nước là một bộ máy là cơ quan quyền lực
7 C.Mác v Ph ngghen, To n t p, t p 21, Nxb CTQG, S th t H N i 1995, tr 253 ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ội 1995, tr 145- tr 146.
8 C.Mác v Ph ngghen, To n t p, t p 21, Nxb CTQG, S th t H N i 1995, tr 253 ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ội 1995, tr 145- tr 146.
Trang 9chính trị, gắn với nó là công cụ đặc biệt- tổ chức ra lực lượng vũ trang,nhà tù và không còn trực tiếp là dân cư tự tổ chức thành lực lượng vũtrang nữa Ăngghen viết: “Đặc trưng thứ hai của nhà nước là sự thiết lậpmột quyền lực công cộng, không còn trực tiếp là dân cư tự tổ chức thànhlực lượng vũ trang nữa Quyền lực công cộng đặc biệt đó là cần thiết, vì
từ khi có phân chia xã hội thành giai cấp thì không thể có tổ chức vũtrang tự hoạt động của dân cư được nữa Quyền lực công cộng đó đều
Để duy trì quyền lực công cộng đó, nhà nước cần phải huy động sựđóng góp của công dân đó là thuế Ăngghen viết tiếp: “Để duy trì quyềnlực công cộng đó, cần phải có sự đóng góp của công dân đó là thuếmá Nắm được quyền lực công cộng và quyền thu thuế, bọn quan lại,
Sau này quyền thu thuế được tách ra thành đặc trưng riêng của nhànước
1.4 Về bản chất của nhà nước
Một điểm đặc biệt quan trọng mà trong tác phẩm “nguồn gốc cácgia đình của chế độ tư hữu và của nhà nước”, Ăngghen đã chỉ ra, đó là
về bản chất giai cấp của nhà nước Đi từ nguồn gốc ra đời của nhà nước
và những đặc trưng cơ bản của nhà nước trong xã hội có đối kháng giaicấp, ông đã chỉ rõ nhà nước mang bản chất của một giai cấp, không có nhà
9 C.Mác v Ph ngghen, To n t p, t p 21, Nxb CTQG, S th t H N i 1995, tr 253- tr 254 ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ội 1995, tr 145- tr 146.
10 C.Mác v Ph ngghen, To n t p, t p 21, Nxb CTQG, S th t H N i 1995, tr 254 ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ội 1995, tr 145- tr 146.
Trang 10nước phi giai cấp Nhà nước là công cụ áp bức của giai cấp này với giai cấpkhác và nhà nước bao giờ cũng của một giai cấp nhất định- giai cấp đóthống trị xã hội bằng kinh tế- quyền lực kinh tế Vì vậy nhà nước mang bảnchất của một giai cấp tổ chức ra nó, không thể có một nhà nước chungchung phi giai cấp Ăngghen viết: “Vì nhà nước nảy sinh từ nhu cầu phảikiềm chế những sự đối lập giai cấp; vì nhà nước đồng thời cũng nảy sinh
ra giữa cuộc xung đột của các giai cấp ấy, cho nên theo lệ thường, nhànước là nhà nước của giai cấp có thế lực nhất, của cái giai cấp thống trị
về mặt kinh tế và nhờ có nhà nước mà cũng trở thành giai cấp thống trị
về mặt chính trị và do đó có thêm được những phương tiện mới để đàn
Theo quan điểm của Ăngghen thì khi phân tích cơ cấu xã hội- giaicấp của một xã hội cụ thể, chúng ta có thể chỉ ra được nhà nước trong xãhội ấy là của giai cấp nào Trong xã hội cũ dựa trên sự đối kháng giaicấp, chỉ có các nhà nước của giai cấp chủ nô, giai cấp phong kiến, giaicấp tư sản Không có cái gọi là nhà nước phi giai cấp, nhà nước điều hoàmâu thuẫn giai cấp như những kẻ xuyên tạc chủ nghĩa Mác tuyêntruyền Ăngghen còn khẳng định thêm: “Nhà nước là một tổ chứccủa giai cấp hữu sản, dùng để bảo vệ giai cấp này, chống lại giai
Tuy nhiên, theo Ăngghen có những trường hợp ngoại lệ, trongchừng mực nào đó nhà nước ở vị trí trung lập, đại diện cho một số giai
11 C.Mác v Ph ngghen, To n t p, t p 21, Nxb CTQG, S th t H N i 1995, tr 255 ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ội 1995, tr 145- tr 146.
12 C.Mác v Ph ngghen, To n t p, t p 21, Nxb CTQG, S th t H N i 1995, tr 256 ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ội 1995, tr 145- tr 146.
Trang 11cấp nhất định, nó phản ánh thế cân bằng tạm thời giữa các giai cấp vàcuộc đấu tranh giai cấp sẽ phá vỡ thế cân bằng đó Theo Ăngghen nhànước tựa hồ như của hai giai cấp cơ bản, đó là nhà nước của thời kỳ màtrong đó cuộc đấu tranh của những giai cấp ấy đang ở thế “bình quân”,cân bằng tạm thời Song những trường hợp này không tồn tại lâu dài.Chẳng hạn như chế độ quân chủ chuyên chế ở thế kỷ XVII và XVIII,chế độ Bônapáctơ của đế chế I, II, đế chế dân tộc Giécmanh mới thờiBixmác Ăngghen viết: “Cũng có trường hợp ngoại lệ là có những thời
kỳ trong đó những giai cấp đang đấu tranh lẫn nhau lại gần đạt được mộtthế bình quân khiến cho chính quyền nhà nước, tựa hồ một kẻ trung giangiữa các bên, lại tạm thời có được một mức độ độc lập nào đó đối với cảhai giai cấp Chẳng hạn như chế độ quân chủ chuyên chế ở thế kỷ XVII
và XVIII đã giữ thế thăng bằng giữa bọn quý tộc và giai cấp tư sản; nhưchế độ Bônapáctơ của Đế chế I và đặc biệt là của Đế chế II ở Pháp, đãđẩy giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, rồi lại đẩy giai cấp tư sản
Ví dụ như nhà nước Cămpuchia hiện nay cũng là biểu hiện của thếcân bằng đó, theo quy luật nó sẽ bị phá vỡ thế cân bằng ấy khi đấu tranh
về lợi ích của các giai cấp nổ ra
Tư tưởng của Ăngghen về bản chất của Nhà nước đã được Lênintrình bày rất chi tiết và sâu sắc trong tác phẩm “Nhà nước và cáchmạng”
13 C.Mác v Ph ngghen, To n t p, t p 21, Nxb CTQG, S th t H N i 1995, tr 255 ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ội 1995, tr 145- tr 146.
Trang 12Trong quá trình phân tích về nguồn gốc, bản chất giai cấp của nhànước, Ăngghen luôn gắn những vấn đề đó với giai cấp và đấu tranh giaicấp Theo lôgíc trình bày của mình, Ăngghen xác định giai cấp là mộtphạm trù lịch sử gắn liền với giai đoạn phát triển kinh tế nhất định vàtheo đó thì nhà nước- sản phẩm trực tiếp của đấu tranh giữa các giai cấp-cũng là có tính lịch sử
1.3 Về vấn đề nhà nước tiêu vong
Về tư tưởng nhà nước tiêu vong, nhà nước không tồn tại vĩnh viễn
mà khi không còn giai cấp thì nhà nước cũng tự tiêu vong TheoĂngghen, nhà nước là một phạm trù lịch sử, quá trình ra đời, tồn tại của
nó gắn với những điều kiện nhất định, khi những điều kiện đó mất đi thìnhà nước cũng tiêu vong Ăngghen viết: “Giai cấp tiêu vong thì nhànước cũng không tránh khỏi tiêu vong theo Xã hội sẽ tổ chức lại nềnsản xuất trên cơ sở liên hiệp tự do và bình đẳng giữa những người sảnxuất, sẽ đem toàn thể bộ máy nhà nước xếp vào cái vị trí thật sự của nólúc bấy giờ: vào viện bảo tàng đồ cổ, bên cạnh cái xa kéo sợi và cái rìu
Tuy nhiên, Ăngghen chưa bàn về vấn đề nhà nước tự tiêu vong
mà sau này trong tác phẩm “Nhà nước và cách mạng”, Lênin đã bảo
vệ và phát triển tư tưởng của Ăngghen về vấn đề nhà nước tiêu vong,Lênin chỉ ra rằng chỉ có nhà nước vô sản mới tự tiêu vong được và để
nó tự tiêu vong thì phải có đầy đủ những điều kiện cần thiết
14 C.Mác v Ph ngghen, To n t p, t p 21, Nxb CTQG, S th t H N i 1995, tr 258 ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ội 1995, tr 145- tr 146.
Trang 13Mặc dù trong tác phẩm “nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu
và của nhà nước”, Ăngghen chưa có điều kiện đi vào phân tích quá trìnhtiêu vong của nhà nước nhưng ông đã vạch ra những mâu thuẫn vốn cótrong các chế độ xã hội cũ, khiến nó không thể tồn tại mà phải thay thế
bằng chế độ xã hội cao hơn Kết thúc tác phẩm của mình, Ăngghen đã
chỉ ra những điều mà xã hội có giai cấp trong thời đại văn minh đã làmđược và những mâu thuẫn giai cấp sâu sắc của nó và để kết luận,Ăngghen đã trích ra một xét đoán của Moócgan: “Sự diệt vong của xãhội đang đứng sừng sững trước mặt chúng ta một cách đe doạ như là sựkết thúc của một quá trình lịch sử mà của cải là mục đích cuối cùng vàduy nhất Vì một quá trình phát triển như vậy đang chứa đựng nhữngyếu tố làm cho chính nó bị tiêu diệt Đó sẽ là một sự hồi sinh- nhưngdưới một hình thức cao hơn- của tự do, bình đẳng và hữu ái của những
2 Quan điểm của Ăngghen về một số nội dung của chủ nghĩa duy vật lịch sử trong tác phẩm.
2.1 Về giai cấp và đấu tranh giai cấp
Ăng ghen đã nghiên cứu phân tích trên lập trường duy vật về sựhình thành giai cấp trong xã hội, đã chỉ ra những điều kiện kinh tế đãphá vỡ tổ chức hệ tộc, bộ lạc ngay từ giai đoạn cao các thời đại dã man
và sự loại bỏ hoàn toàn các tổ chức đó khi xuất hiện thời đại văn minh.Ăng ghen đã luận chứng một cách khoa học về sự hình thành giai cấp
15 C.Mác v Ph ngghen, To n t p, t p 21, Nxb CTQG, S th t H N i 1995, tr 265 ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ội 1995, tr 145- tr 146.
Trang 14gắn liền với sự phát triển các lực lượng sản xuất, của những cuộc phâncông lao động xã hội lớn Trong tác phẩm nguồn gốc của gia đình, củachế độ tư hữu và của nhà nước”, Ăngghen đã trình bày rõ ba lần phâncông lao động xã hội lớn dẫn tới sự hình thành các giai cấp khác nhautrong xã hội văn minh.
Sự phân công xã hội lớn đầu tiên là chăn nuôi tách khỏi trồng trọt,việc chăn nuôi và coi giữ gia súc là ngành lao động chủ yếu của một số
bộ lạc tiên tiến Những bộ lạc du mục tách rời khỏi bộ phận còn lại củanhững người dã man Vật phẩm chủ yếu mà các bộ lạc du mục trao đổivới những bộ lạc lân cận là gia súc, gia súc trở thành hàng hoá Ăngghenviết: “Những bộ lạc du mục tách rời khỏi bộ phận còn lại của nhữngngười dã man: Đó là sự phân công xã hội lớn đầu tiên Những bộ lạc dumục không những sản xuất nhiều thức ăn hơn những người dã mankhác, mà những thức ăn do họ sản xuất ra cũng có nhiều loại hơn.Không những họ có nhiều sữa, nhiều sản phẩm làm bằng sữa và nhiềuthịt hơn, mà còn có da thú, len, lông dê cũng như có một số lượng sợi vàhàng diệt ngày càng tăng, vì khối lượng nguyên liệu đã tăng lên Vì vậy
Về thành tựu các công nghiệp trong giai đoạn này, Ăngghen chỉ ra
có 2 thành tựu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đó là khung dệt và nấuquặng, chế tạo đồ kim loại (nhưng chưa biết khai thác sắt) Từ sự phâncông xã hội lớn đầu tiên đã làm cho sản xuất tăng lên trong tất cả các
16 C.Mác v Ph ngghen, To n t p, t p 21, Nxb CTQG, S th t H N i 1995, tr 237- tr 238 ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ội 1995, tr 145- tr 146.
Trang 15ngành, sức lao động của con người “có khả năng sản xuất được nhiềusản phẩm hơn số sản phẩm cần thết cho sinh hoạt của họ” Sự phát triểncủa sản xuất đẻ ra nhu cầu phải thu hút những sức lao động mới và chiếntranh đã cung cấp những sức lao động mới, đó là tù binh bắt được trongchiến tranh bị biến thành nô lệ Ăngghen đi đến khẳng định: “Trongnhững điều kiện lịch sử lúc đó, sự phân công lao động xã hội lớn đầutiên, do tăng năng xuất lao động, tức là tăng của cải và do mở rộng lĩnhvực hoạt động sản xuất, nhất định phải đưa đến chế độ nô lệ Từ sự phâncông xã hội lớn đầu tiên, đã nẩy sinh sự phân chia lớn đầu tiên trong xã
Sự phân công xã hội lớn đầu tiên đã làm thay đổi sự phân lao độngtrong gia đình Việc tìm kiếm thức ăn cho những đàn gia súc của giađình cá thể được trao cho người đàn ông, người đàn ông đảm nhiệmviệc sản xuất ra công cụ và sử dụng công cụ để tìm kiếm thức ăn chogia súc Theo đó, sự thống trị của người đàn ông trong gia đình trở nêntất yếu
Phân tích tiếp sự phát triển của thời đại dã man, Ăngghen đã chỉ ra
sự phân công lớn lần thứ hai, đó là: thủ công nghiệp đã tách khỏi nông
nghiệp, từ đó xuất hiện nền sản xuất hàng hoá Vào giai đoạn cao của
thời đại dã man, con người biết sử dụng sắt và chỉnh những công cụbằng sắt đã làm cho của cả tăng nhanh và các ngành nghề phát triển theohướng ngày càng chuyên môn hoá Ăngghen viết: “Của cải tăng lên
17 C.Mác v Ph ngghen, To n t p, t p 21, Nxb CTQG, S th t H N i 1995, tr 240 ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146 ội 1995, tr 145- tr 146.