3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 61 62 63 64 65 66 67 68 69 70 71[.]
Trang 1CHUYÊN ĐÈ 3: CÔNG TÁC XÃ HỘI CHO NGƯỜI CAO TUỔI
Ở NÔNG THON VIET NAM HIEN NAY
(Thời gian: 36 giờ)
Mục tiêu của chuyên đề:
+ Xác định được các nguồn lực và giải pháp trong việc trợ giúp, triển
khai các chính sách của Đảng và Nhà nước đối với người cao tuổi ở nông thôn
- Kỹ năng:
+ Tham vấn được cho các tổ chức, cá nhân trong thực hiện chính sách
của nhà nước đối với người cao tuổi theo theo quy định
+ Thực hiện được theo đúng tiến trình khi trợ giúp nhóm đối tượng này
- Thái độ: Cần thận, chia sẻ và sẵn sàng giúp đỡ người cao tuổi
I NONG THON VIET NAM VA CAC VAN DE LIEN QUAN DEN CUỘC
SÓNG NGƯỜI CAO TUỔI Ở NÔNG THÔN
1 Khái niệm nông thôn
Cho đến nay, chưa có một định nghĩa chuẩn xác được chấp nhận một cách rộng rãi về nông thôn Khi nói về nông thôn, thường thì người ta hay so sánh
nông thôn với thành thị Có ý kiến cho rằng có thể dùng chỉ tiêu dân số, mật độ
dân cư dé phân biệt nông thôn với thành thị Có ý kiến đưa ra nên dùng chỉ tiêu
trình độ kết cấu hạ tầng, chỉ tiêu về phát triển sản xuất hàng hoá, lại có những ý
kiến cho rằng nông thôn là vùng mà ở đấy chủ yếu làm nông nghiệp Tắt cả những ý kiến trên đều đúng nhưng chưa đầy đủ Nếu dùng những chỉ tiêu riêng
lẻ thì chỉ thể hiện được từng mặt của nông thôn nhưng chưa thể bao trùm được khái niệm vùng nông thông một cách đầy đủ
Nông thôn và đô thị là những vùng lãnh thổ có những nét nổi bật cơ bản ở
chỗ cả hai không có một ranh giới rõ rệt, nhưng cả hai đều có một mối liên hệ
khăng khít với nhau Các khu vực nông thôn luôn gắn liền với một trung tâm của
nó - đó là những vùng đô thị, hay chí ít ra cũng mang những nét căn bản của đô thị Trong lòng các vùng nông thôn luôn tồn tại một trung tâm như thế Vì thế
nảy sinh vấn đề là cần định nghĩa xem đâu là nông thôn và đâu là đô thị, đồng nghĩa với việc xác định đâu thuộc về vùng nông thôn và đâu thuộc về vùng đô
Trang 2thị, khi đó cần chú ý đến sự giáp ranh giữa hai khu vực này Trong thực tế phát triển xã hội giữa nông thôn và đô thị có một vùng “mở” pha tạp giữa nông thôn
và đô thị, đó là: vùng đô thị hoá, vùng ven đô [Tống Văn Chung]
Ở mỗi quốc gia đều có sự phân biệt khác nhau giữa nông thôn và đô thị
Chẳng hạn ở Mỹ cho rằng, một loạt những khu chung cư cao tầng ở nông thôn
không được xếp vào đô thị Ở Nga, người ta quan niệm đô thị là những tụ điểm dân cư từ trên chục ngàn người trở lên Còn ở Việt Nam, khu vực được coi là đô thị thấp nhất (đô thị loại V) là những tụ điểm quần cư với số dân 4000 người trở lên (Nghị định 72/2001/Nđ-CP) Theo quan niệm của nhà xã hội học Trung Quốc, thị trấn “ đầu là nông thôn, đuôi là đô thị”, và vì vậy thị trấn và thị tứ
không thuộc vào đô thị [Tô Duy Hợp, 1977:177]
V Staroverov - nhà xã hội học người Nga đã đưa ra một định nghĩa khá
bao quát về nông thôn, khi ông cho rằng: “Nông thôn với tư cách là khách thể
nghiên cứu xã hội học về một phân hệ xã hội có lãnh thổ xác định đã định hình
từ lâu trong lịch sử đặc trưng của phân hệ xã hội này là sự thống nhất đặc biệt
của môi trường nhân tạo với các điều kiện địa lý - tự nhiên ưu trội, với kiểu loại
tổ chức xã hội phân tán về mặt không gian Tuy nhiên nông thôn có những đặc trưng riêng biệt của nó” Cũng theo nhà xã hội học này thì nông thôn phân biệt
với đô thị bởi trình độ phát triển kinh tế xã hội thấp kém hơn; bởi thua kém hơn
về mức độ phúc lợi xã hội, sinh hoạt điều này thể hiện rõ trong cơ cấu xã hội và
trong lối sống của cư dân nông thôn Như vậy theo ý kiến phân tích của các nhà
xã hội học và kinh tế học có thể đưa ra khái niệm tổng quát về vùng nông thôn như sau:
Nông thôn là vùng khác với đô thị là ở đó có một cộng đồng chủ yếu là nông dân, làm nghè chính là nông nghiệp; có mật độ dân cư thấp hơn; có kết cấu
hạ tầng kém phát triển hơn; có mức độ phúc lợi xã hội thua kém hơn; có trình độ
dan tri, trình độ tiếp cận thị trường hàng hoá thấp hơn
Tuy nhiên khái niệm trên cần được đặt trong điều kiện thời gian và không gian nhất định của nông thôn mỗi nước, mỗi vùng và cần phải tiếp tục nghiên
cứu để có khái niệm chính xác và hoàn chỉnh hơn
2 Đặc điểm của nông thôn Việt Nam
Khái niệm trên khắc hoạ những nét đặc trưng cơ bản của vùng nông thôn như sau:
1 Nông thôn phải gắn chặt với một nghề lao động xã hội truyền thống, đặc
trưng và nổi bật là hoạt động sản xuất nông nghiệp điều này thé hiện ở chỗ, tư liệu sản xuất cơ bản và chủ yếu của nông thôn là đất đai Chính vì vay, no tao ra
47
Trang 3sự gắn kết nghề nghiệp của người dân nông thôn với nơi “chôn nhau cắt rốn” của mình
2 Nông thôn bao gồm những tụ điểm quần cư (làng, bản, buôn, ấp) thường có
quy mô nhỏ về mặt số lượng
3 So với đô thị thì nông thôn là vùng có kết cấu hạ tầng chậm phát triển hơn, mức độ phúc lợi xã hội thua kém hơn; trình độ sản xuất hàng hoá và tiếp cận thị trường thấp hơn Vì vậy nông thôn chịu sức hút của đô thị về nhiều mặt, dân cư
nông thôn thường hay di chuyển tự do ra các đô thị để kiếm việc làm và tìm cơ hội sống tốt hơn
4 Nông thôn có thu nhập và đời sống thấp hơn, trình độ văn hóa, khoa học công nghệ thấp hơn đô thị Nông thôn có một lối sống đặc thù của mình - lối sống nông thôn, lối sống của các cộng đồng xã hội được hình thành chủ yếu trên cơ
sở của một hoạt động lao động nông nghiệp
5 Nông thôn có mật độ dân cư thấp nhưng giàu tiềm năng về tài nguyên thiên
nhiên như đất đai, nguồn nước, khí hậu, rừng, biển , ở nông thôn có một môi trường tự nhiên ưu trội, con người gần gũi với thiên nhiên hơn Chính điều này
đã hình thành một đặc trưng nỗi trội của nông thôn - tính cố kết cộng đồng, đó là văn hoá nông thôn, một loại hình văn hoá đặc thù mang đậm nét dân gian, nét
truyền thống dân tộc luôn gắn kết với thiên nhiên: cây đa, bến nước, con đò, dòng sông
6 Xã hội nông thôn cũng rất đa dạng về điều kiện kinh tế xã hội, đa dạng về trình độ tổ chức quản lý, đa dạng về quy mô và mức độ phát triển Tính đa dạng
đó không chỉ khác biệt với đô thị mà ngay cả giữa các vùng nông thôn cũng có
sự khác nhau Cung cách ứng xử xã hội nặng về tục lệ nhiều hơn là pháp lý điều
đó có ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng khai thác tài nguyên và các nguồn lực
để đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững
Để phân biệt nông thôn và đô thị các nhà xã hội học đã đưa ra nhiều tiêu chí, trong đó có một số tiêu chí nổi trội như sau:
1 Vê nghệ |- Đa sô những người ở nông thôn- Phân lớn lao động gắn với Inghiệp làm nghề nông nghiệp Trong! những nghề chế tạo, cơ khí,
thương mại, nghề tự do, quản trị
các nghề phi nông nghiệp khác
Trang 42.Vê môi |- Môi trường tự nhiên ưu trội hơn - Sự tách biệt với tự nhiên lớn
lrường môi trường nhân tạo, con người hơn, môi trường nhân tạo ưu
có mối liên hệ trực tiếp với trội hơn, ít dựa vào tự nhiên, bể
3.Mậtđộ |- Mật độ dân cư thâp Mật độ dân - Mật độ dân cư cao hơn, mật độ dân số cư và tính nông thôn là 2 khái dân cư và tính đô thị là 2 khái
niệm tương phản nhau niệm tương ứng với nhau
W.Tính hỗn |- So với cộng đông đô thị, dân cư - Tính phức tạp (đa dạng) của dân| tạp và tính | ở nông thôn mang tính thuần cư đô thị so với những cộng
thuần nhất | nhất cao hơn về các đặc điểm đồng nông thôn
của dân cư | chúng tộc và tâm lý
5 Tính chât|- Tự cung tự câp, tự sản tự tiêu|- Mục đích là tạo lợi nhuận, sự
hoạtđộng | nền kinh tế khép kín, năng lực phát triển đô thị tạo ra quan hệ
kinh tế dư thừa, thị trường khó phát sản xuất tư bản Làm giàu bằng
(7 Chi tiêu - Chi tiêu tiết kiệm, nhưng đôi- Chi tiêu có kê hoạch
lhàng ngày | khi cũng vượt quá khả năng thu|
nhập do những tục lệ chỉ phối
§ Sự khác |Có sự phân tang xã hội vê mặt - Sự khác biệt và phân tâng xã
biệtxãhội kinh tế nhưng không rõ rệt Trong hội là những khái niệm tương! vàphân [những xã hội cổ truyền, phân| ứng với tính đô thị Khoảng
tầng xã hội lầng xã hội mang tính đẳng cấp, cách xã hội lớn, mang nét đặc
nhiều hơn Thu nhập bình quân| trưng của xã hội hiện đại Phân không cao, ở khu vực nông thôn tầng xã hội rõ rệt Về mặt kinh| bình quân khoảng 100.000 tế có sự phân tầng giàu, nghèo Iđ/người/tháng Về mặt giai cấp có sự phân tầng!
Trang 53 Các yếu tố ánh hưởng đến cuộc sống người cao tuỗi ở nông thôn
3.1 Nông nghiệp đối với sự phát triển của các nước chuyển đỗi
Báo cáo của WB cho rằng Đông Á và ĐNA, đặc biệt là các nước có nền
kinh tế đang chuyên đổi từ nông nghiệp sang đô thị hóa như Việt Nam, thì nông nghiệp vẫn được coi là yếu tố quan trọng trong việc xóa đói nghèo, tăng thu nhập cho nông dân Hay nói cách khác, nông dân muốn thoát nghèo vẫn phải gắn với nông nghiệp
Các số liệu thống kê cho thấy, đã có 200 triệu người thoát nghèo nhờ nghề
nông; việc di dân ra thành thị cũng là nguyên nhân chiếm 20% trong việc giảm
số người nghèo có thu nhập 1 USD/ngày ở khu vực Đông Á và Đông Nam A;
tới năm 2040 vẫn còn 75% người nghèo và đa số họ vẫn sống ở nông thôn 3.2 Ở Việt Nam, nông nghiệp còn mở đường cho các chính sách đỗi mới Thực tiễn trong nhiều năm qua, tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam đã đem lại lợi ích cho cả vùng đô thị và nông thôn Năm 1993 có tới 2/3 số dân nông thôn được coi là nghèo thì ngày nay con số này chỉ còn 1/5 Nhưng khi Việt Nam chuẩn bị bước vào vị thế là nước có mức thu nhập trung bình và cao hơn,
vấn đề là liệu sự phát triển có lợi cho tất cả mọi người còn tồn tại được nữa
không? Cải thiện năng suất nông nghiệp và tạo cơ hội cho người nghèo ở nông
thôn và các dân tộc thiểu số vẫn là vấn đề lớn cần phải quan tâm đúng mức Nhiều chuyên gia cho rằng, 'Việt Nam đã làm tốt việc tạo điều kiện cho sản xuất tiếp cận tốt nhất với tài nguyên thiên nhiên như đất đai, nước giao đất cho nông dân sản xuất cùng với tự do hoá thương mại và đầu tư mạnh về thuỷ lợi
3.3 Nông thôn Việt Nam hiện nay còn một 86 ton tai
Tại cuộc hội thảo "Công nghiệp hóa nông thôn và phát triển nông thôn
Việt Nam - Đài Loan", do Viện Khoa học Xã hội Việt Nam và Viện Nghiên cứu
Trung ương Đài Loan tổ chức ngày 17/12/2007, và cuộc hội thảo “Nông dân
Việt Nam trong quá trình hội nhập” do Viện Chính sách và Chiến lược phát triển
Nông nghiệp nông thôn tô chức ngày 18/12/2007, các chuyên gia đã liệt kê ra những vấn đề xã hội bức xúc, nan giải trong 20 năm qua Đó là vấn đề khoảng
cách giàu - nghèo và bất bình đẳng xã hội; tình trạng thiếu việc làm, di dân tự
phát; xung đột xã hội gia tăng; dân trí và quan trí thấp; dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe yếu kém; đời sống văn hóa có nhiều biểu hiện tiêu cực, xuống cấp;
năng lực quản lý xã hội, kết cầu hạ tầng thấp kém; môi trường bị ô nhiễm và suy
thoái ở mức báo động
Mức độ giảm nghèo chung của Việt Nam tiến bộ liên tục Tuy nhiên, xu
hướng phân hóa giàu nghèo gia tăng trong nội bộ khu vực nông thôn, đặc biệt là
giữa nông thôn với đô thị Nhiều chuyên gia còn đưa ra con số về chênh lệch
Trang 6giàu nghèo giữa nông thôn - thành thị lên tới trên 6,9 lần (2004) chứ không phải con số 3,5 lần như vẫn nhắc đến
Một vấn đề nữa là người nông dân thiếu việc làm do bị mắt đất do xu thế
tích tụ ruộng đất ngay tại nông thôn và quá trình đô thị hóa và phát triển các khu công nghiệp hiện nay (20 năm qua, 300.000 héc-ta đất nông nghiệp bị mắt đi do quá trình này) Điều này đã làm cho vấn đề thiếu việc làm tại nông thôn và xu
hướng di dân ra thành phố để mưu sinh là không thẻ tránh khỏi Đây là xu thé
của một xã hội phát triển là giảm tương đối cơ cấu của nông nghiệp trong nền kinh tế, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ
Thiếu hụt nhất ở khu vực này là tri thức và thông tin khoa học hiện đại
không được chuyên giao một cách có hệ thống Người nông dân thiếu kiến thức,
nên khó chuyển giao được khoa học công nghệ để họ thực sự làm chủ Điều này tiếp tục dat ho va thé bat lợi hơn nữa
Một thách thức to lớn nữa của khu vực nông thôn là sức ép trong chi tiêu cho giáo dục, áp lực của tình trạng gia tăng ô nhiễm và suy thoái môi trường đến mức báo động Làng nghề và các khu công nghiệp nông thôn gây ô nhiễm đất, nước và không khí rất nặng, làm suy thoái tài nguyên môi trường do khai thác tự
phát, không theo quan điểm phát triển kinh tế - xã hội bền vững Khu vực đô thị
- công nghiệp là nguồn gây ô nhiễm và suy thoái môi trường nặng nề hơn và cư
dân ven đô lại là những người trực tiếp chịu hậu quả
Il MOT SO DAC DIEM VE NGƯỜI CAO TUOI DUA TREN PHAN
TICH SO BO SWOT
1 Thuan loi
Người cao tuổi là một kho tàng kiến thức, kinh nghiệm sống Người cao
tuổi Việt Nam góp phần quan trọng trong việc khuyên dạy con cháu, dong ho,
giúp nhiều người áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, kinh
doanh, giáo dục, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, nâng cao chất lượng cuộc sống, đây mạnh công tác khuyến học, khuyến tài, phát triển các hình thức hoạt động
giáo dục, y tế cho đất nước
51
Trang 7cao tuổi chỉ tới bệnh viện khi ốm đau nhiều 15% ngudi cao tuổi tự mua thuốc điều trị tại nhà hoặc sử dụng các phương pháp truyền thống 23,45% cần có sự
hỗ trợ trong sinh hoạt hàng ngày Đặc biệt, chỉ có 10% người cao tuổi được
kiểm tra sức khỏe định kỳ và 50% người cao tuổi có bảo hiểm y tế Nhận thức
của người cao tuổi suy giảm, trí nhớ thay đổi: trí nhớ ngắn hạn giảm sút, họ sống
nặng về nội tâm; tư duy kém năng động và kém linh hoạt; người cao tuổi thường
khó chấp nhận cái mới và không thích phải thay đổi thói quen Về tình cảm,
người cao tuổi có cảm xúc nhạy bén, vui buồn dễ dàng Người cao tuổi cũng
thường có tâm lý tiêu cực như tự ti, có cảm giác mat mát, cô độc và suy giảm khả năng giao tiếp Về kinh tế, tỷ lệ người cao tuổi nghèo cao hơn tỷ lệ nghèo chung; nhiều người cao tuổi không có tiền tiết kiệm khi về già, chỉ có 20% người cao tuôi có lương hưu hay trợ cấp xã hội 70% người cao tuổi vẫn tiếp tục
làm việc dù có thu nhập hay không Thường họ làm nông nghiệp, chăn nuôi với
sự hỗ trợ của con cháu, họ hàng Ruộng ở nông thôn ngày càng ít đi, nên thu nhập của Người cao tuổi cũng thấp Đặc biệt ở nông thôn số tỉ lệ người cao tuổi mắc các căn bệnh như đau đầu, chóng mặt, đau khớp, đau lưng thường tăng lên với tỷ lệ lớn ở nhóm tuổi 80 trở lên, ở người cao tuổi nữa và người cao tuổi sống
ở nông thôn Người cao tuổi ở nông thôn hầu như không có tiền tiết kiệm để dành cho tuổi già Họ làm ruộng, cày bừa, gặt hái, xay xát gạo tùy theo sức
mình Họ vẫn coi việc giúp đỡ con cái trong việc đồng áng, việc nhà là trách
nhiệm của mình, khi sống cùng gia đình con cái Ở thành phố, Người cao tuổi thường sống với con cái lại giúp đỡ họ việc nhà, chăm lo các cháu nhỏ, đưa
chúng đi học, đi chơi, ăn uống và lấy đó là niềm vui, là trách nhiệm của mình
3 Cơ hội
Từ năm 1969 Liên Hiệp Quốc có nhiều tuyên bố, kế hoạch hành động và kinh phi dé thực hiện các họat động nhằm chăm sóc hỗ trợ Người cao tuổi Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm chăm sóc Người cao tuổi
„ điều này thể hiện rõ qua Hiến pháp (1992), các bộ Luật: Hôn nhân gia đình, Luật bảo vệ chăm sóc sức khoẻ nhân dân, Luật Lao động, Bộ luật hình sự và nhiều chỉ thị, nghị định, thông tư đã được ban hành nhằm thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về chăm sóc Người cao tuổi Thực hiện các chủ
trương trên đến nay trong tổng số 8,15 triệu người cao tuổi hiện nay có khoảng 2.682.600 người có thu nhập thường xuyên hàng tháng từ các nguồn trợ cấp, lương hưu (chiếm 32,9%) và 781.935 người thuộc diện trợ giúp xã hội (chiếm
9,5% tổng số Người cao tuổi ) và 250.818 người được cấp BHYT Như vậy, hiện có 42,5% Người cao tuổi được nhận nguồn hỗ trợ từ nhà nước Ngoài hoạt
động của các cơ quan chức năng, có thể nói Hội Người cao tuổi là tổ chức có nhiều hoạt động chăm sóc Người cao tuổi như: Hội Người cao tuổi đã phối hợp
Trang 8với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp giúp Người cao tuổi nâng cấp nhà tạm;
tổ chức mừng thọ, chúc thọ vào dịp đầu xuân, ngày Quốc tế người cao tuổi; chăm lo tang lễ người cao tuổi từ trần; xây dựng “Câu lạc bộ ông bà cháu”; Tổ chức các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao; các câu lạc bộ nghệ thuật, thơ ca, thể dục, dưỡng sinh, tham quan Từ chính sách cho tới hoạt động của các cơ quan đoàn thẻ đã tạo điều kiện thuận lợi chọ việc phát triển các hoạt động chăm sóc hỗ trợ người cao tuổi
4 Thách thức
Những hoạt động trên mới đáp ứng một phần nhu cầu của Người cao tuổi Số đông vẫn chưa được tiếp cận đầy đủ các dịch vụ chăm sóc y tế, thể dục, thể thao, nhất là ở nông thôn, miễn núi, vùng sâu, vùng xa Nhận định về việc chăm
sóc Người cao tuổi , trong Hội thảo” Già hóa dân số và định hướng xây dựng Chương trình Hành động Quốc gia vì Người cao tuổi Việt Nam giai đoạn 20122020" ngày 20/9/2011, Thứ trưởng Bộ LĐTBXH Nguyễn Trọng Đàm phát
biểu: hệ thống chăm sóc Người cao tuổi hiện nay còn nhiều bất cập, cụ thể như: nhận thức về già hóa dân số và tác động tới phát triển kinh tế — xã hội trong nhân dân còn hạn chế; nhiều cấp lãnh đạo chưa nhận thức vấn đề; xã hội chưa thay đổi cách nhìn nhận tiêu cực đối với người già; bản thân Người cao tuổi không nhận thức được sự cần thiết phải chăm sóc, bảo vệ bản thân; người dân ở
nông thôn chưa quan tâm chuẩn bị cho tuổi già Dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe công lập không đảm bảo được nhu cầu khám chữa bệnh của Người cao tuổi , trình độ của các bác sỹ còn hạn chế đây chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng Người cao tuổi Việt Nam sống lâu nhưng chưa sống khỏe
HLCÔNG TÁC XÃ HỘI CHO NGƯỜI CAO TUỎI TRÊN THÉ GIỚI VÀ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1 Tình hình người cao tuổi trên thế giới
Theo thống kê của Liên Hiệp Quốc thì vào năm 2000 cả thế giới có 600
triệu người cao tuổi (N, gười cao tuổi ) Ở các nước phát triển, cứ 6 người dân thì
có 1 người trên 65 tuổi Tính toán thống kê cho thấy số người cao tuổi ở các
nước đang phát triển sẽ tăng gấp đôi trong vòng 25 năm tới, đạt 850 triệu người vào năm 2025, chiếm 12% tổng dân số các nước và đến năm 2050 Người cao tuổi sẽ tăng lên 2 tỷ người Trong mối quan hệ giữa dân số và con người thì vấn
đề già hóa dân số là một thành tựu đáng kể của một đất nước Tuổi thọ của con
người ngày càng cao chứng tỏ điều kiện sống của họ an toàn hơn, thu nhập khá hơn, dinh dưỡng đầy đủ hơn và hệ thống y tế chăm sóc con người được cải thiện
hơn, tỷ suất sinh và tử đều giảm Tuy nhiên, vấn đề già hóa dân số nhanh lại tác động đến nhiều khía cạnh của đời sống, sinh hoạt con người; ảnh hưởng đến vấn
53
Trang 9đề an sinh xã hội, trong đó quan trọng nhất là việc chăm sóc sức khỏe cho Người cao tuổi ; ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế, tiết kiệm và đầu tư của đất nước
2 Thực trạng người cao tuôi và Công tác xã hội cho người cao tuổi ở nông thôn Việt Nam hiện nay
Việt Nam đang ở vào thời kỳ cơ cấu dân số vàng với khoảng l,6 triệu người bước vào tuổi lao động mỗi năm, theo dự báo thì giai đoạn này kéo dài trong khoảng 1015 năm Bên cạnh điều kiện thuận lợi về dân số trước mắt thì xu hướng già hóa dân số cũng sẽ diễn ra nhanh ở nước ta Theo điều tra Biến động Dân số-KHHGĐ năm 2010, Người cao tuổi Việt Nam tăng nhanh cả về số lượng và tỷ trọng Năm 2010, tổng dân số Việt Nam là 86,75 triệu người, trong
đó Người cao tuổi là 8,15 triệu người, chiếm 9,4% dân số Trong 8,15 triệu Người cao tuổi có 3,98 triệu người từ 6069 tuổi (4,51% DS), 2,79 triệu người
7079 tuổi (3,22% DS), 1,17 triệu người trên 80 tuổi (1,93% DS) và khoảng 9.380 người trên 100 tuổi Hiện có 72,9% người cao tuổi sống ở nông thôn và 27,1% sống ở thành thị 79% người cao tuổi sống với con cháu có cuộc sống vật
chat, tinh thần tương đối ổn định, còn 21% sống độc thân hay chỉ có hai vợ chồng già sống với nhau Do ảnh hưởng của sự phát triển kinh tế, không chỉ ở
thành thị mà ở cả nông thôn, mô hình gia đình nhiều thế hệ cùng chung sống
đang có xu hướng giảm đi Số lượng các gia đình chỉ có hai vợ chồng già hay gia đình người cao tuổi đơn thân đang tăng lên Một xu hướng già hóa nhanh chóng đã được quan sát tại Việt Nam trong những thập kỷ gần đây4 Tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên tăng từ 6,7% năm 1979 lên 9,2% trong năm 2006 Tỷ lệ này được dự báo là 26,1% vào năm 2005 Tuổi thọ Việt Nam lúc sinh tăng từ
66 năm 1990 đến 72 năm 2006, và được dự báo sẽ tăng Điều này ảnh hưởng
đến việc tăng trưởng kinh tế, cũng như các chương trình an sinh xã hội đáp ứng
yêu cầu của nhóm dân số cao tuổi là những người được coi là thiệt thòi và dễ bị tổn thương nhất Hiện cả nước có khoảng 7,9 triệu Người cao tuổi chiếm 9,45%
dân số, trong đó có 3,98 triệu người từ 60- 69 tuổi (4,51% DS), 2,79 triệu người 70- 79 tuổi (3,22% DS), 1,17 triệu người trên 80 tuổi (1,93% DS) và khoảng 9.380 người trên 100 tuổi Có 72,9% Người cao tuổi sống ở nông thôn và 27,1%
sống ở thành thị 79% Người cao tuổi sống với con cháu có cuộc sống vật chất, tỉnh thần tương đối ổn định, còn 21% sống độc thân hay chỉ có hai vợ chồng già
sống với nhau Những Người cao tuổi này đang rất cần sự quan tâm, chăm sóc
của cộng đồng đẻ đảm bảo được những nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống
Trang 10
2.1 Thực trạng người cao tuổi ở nông thôn Việt Nam
Trong kết quả điều tra Quốc gia về Người Cao tuổi Việt Nam tổ chức
ngày 04/05/2012 của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (VWU), Viện Nghiên cứu
YXã hội học (ISMS) và Công ty Nghiên cứu và Tư vấn Đông Dương (IRC) đã
đưa ra một vài thống kê như sau:
2.1.1 Về giáo dục
Tỷ lệ người cao tuổi biết đọc và viết dễ dàng khoảng 64% Có sự khác
biệt rõ rệt về tuổi, giới tính, khu vực sống và dân tộc: người càng cao tuổi, nữ
giới, người ở nông thôn và người dân tộc thiểu số có tỷ lệ biết đọc, viết hoặc cả đọc và viết đều thấp hơn nhiều so với người ít tuổi, nam giới, người ở thành thị
và người Kinh.Sự khác biệt này cũng có thể thấy rõ trong số những người chưa
đi học bao giờ: Ở nông thôn, khả năng có thể đọc nhưng khó khăn chiếm 26,3%,
khó khăn viết chiếm 27,9%, khó khăn cả đọc và viết chiếm 75,2% và có tới
23,1% người cao tuổi không đi học, 35,7% chưa học hết tiểu học
2.1.2 Về tình trạng hôn nhân
Phần lớn người cao tuổi đang có vợ/chồng chiếm 58% ở nông thôn hoặc goá vợ/chồng.chiếm 37.7%, tình trạng hôn nhân khác (như ly thân, ly dị, chưa
kết hôn bao giờ) chiếm tỷ lệ rất nhỏ Đáng chú ý, tuổi càng cao thì tỷ lệ nữ goá
chồng cao hơn tỷ lệ nam goá vợ: Nam chiếm 14%, nữ chiếm 50.7% Đây chính
là dấu hiệu của “nữ hoá? dân số cao tuổi
2.1.3 Về số thế hệ sống trong một gia đình
Tính trung bình, hộ gia đình người cao tuổi có khoảng 4 thành viên Giữa các nhóm dân số không có sự khác biệt đáng kể, trừ thành thị và nông thôn Sự
khác biệt của hai khu vực này có thể giải thích một phần bằng sự hạn hẹp không
gian sống và chỉ phí phải thuê nhà nếu ở riêng ở đô thị cao hơn nhiều so với
nông thôn Tỷ lệ gia đình từ 3 thế hệ trở lên chiếm khoảng 44.3% ở nông thôn
và 35.1% ở thành thị, trong đó chủ yếu là nữ chiếm 42%, nam chiếm 33%
55
Trang 11Người cao tuổi sống với ai? Phần lớn người cao tuổi ở nông thôn vẫn sống với
con cháu (65.3%) Người cao tuổi sống cô đơn ở nông thôn (chiếm 15.9%) lớn hơn ở thành thi(chiém 9.7%)
2.1.4 Quan hệ / đối xử trong gia đình với người cao tuổi
Ở nông thôn, tỷ lệ người cao tuổi được đối xử không tốt (bị nói nặng lời;
bị từ chối nói chuyện; bị đánh đập hoặc đe doạ) không cao, nhưng có sự khác
biệt rõ rệt giữa các nhóm dân số Trong số các hành vi đối xử này thì tỷ lệ Người cao tuổi bị nói nặng lời là cao nhất chiếm khoảng 12%, bị từ chối nói chuyện chiếm 2%, bị đánh đập, đe dọa chiếm 2,5% Đây là dấu hiệu cho thấy Người cao
tuổi cần được tôn trọng và bảo vệ ngay từ trong gia đình
2.1.5 Về điều kiện vật chất nhà ở
Chiếm tỉ lệ 22.4% Người cao tuổi sống trong nhà kiến cố và 67,3% sống trong nhà bán kiên cố Và vẫn còn tới 10.2% Người cao tuổi đang sống trong nhà tạm hoặc loại nhà tương đương Và càng ở tuổi cao, tỉ lệ ngudi cao tudi
sống trong các nhà tam bg lại càng cao hơn: Từ 50 — 59 tuổi chiếm 5,5%, từ 60
~ 60 tuổi chiếm tỉ lệ 7,2%, từ 70 — 79 tuổi chiếm tỉ lệ 7,8%, từ 80 tuổi trở lên chiếm tỉ lệ 8,9%
2.1.6 Các công việc đang làm
Người sống ở nông thôn có tỷ lệ đang làm việc cao hơn người sống ở
thành thị (Thành thị chiếm 28,1%, nông thôn chiếm 44%), trong đó ở nông thông phần lớn người cao tuổi là tự làm nông nghiệp chiếm tỉ lệ 67,2% Công
việc này cũng là công việc mà phần lớn NCT làm lâu nhất (khoảng 66,7%)
Nguyên nhân chủ yếu mà người cao tuổi không làm việc là vì vấn đề sức khoẻ
(Nam: 43%, Nữ: 45,8%) Nguyên nhân này càng lớn khi tuổi càng cao Tiếp đó, nghỉ hưu và chăm sóc gia đình cũng là những lý do quan trọng để Người cao
tuổi không làm việc
2.1.7 Nguồn thu nhập
Tính trung bình, khoảng 60% thu nhập của người cao tuổi là từ hai nguồn:
làm việc (32.2%) và từ hỗ trợ của con cái (31.4%) Tương tự, các khoản trợ cấp
xã hội và lương hưu chiếm khoảng 23,4% thu nhập của Người cao tuổi Người càng cao tuổi thì thu nhập từ làm việc giảm mạnh so với nhóm trẻ tuổi hon,
nhưng họ lại nhận được nhiều hơn từ hỗ trợ của con cái và hỗ trợ của nhà nước Tiết kiệm và mục đích tiết kiệm Mục đích chính của Người cao tuổi có tiết kiệm
là để dành cho các công việc khẩn cấp (gần 67%) như ốm đau, bệnh tật ; tiếp
đó là dành cho con cháu (12%) và dành cho nghỉ dưỡng lúc tuổi già (10%) Điều
này thể hiện rõ nhu cầu dự phòng rất lớn của Người cao tuổi Vì thế, việc có
Trang 12nguồn thu nhập thường xuyên từ lao động, hưu trí nhà nước hoặc trợ cấp để đảm bảo thu nhập và có tích luỹ là điều hết sức quan trọng với Người cao tuổi
2.1.8 Tự đánh giá vê tình hình tài chính trong gia đình
Tự đánh giá về tình hình tài chính của gia đình, có đến 30% người cao tuổi
cho rằng cuộc sống còn thiếu thốn Khoảng 38,1% cho rằng thi thoảng còn không đủ và chỉ có 0.8% nói rằng cuộc sống rất đầy đủ.Ti lệ Người cao tuổi
sống trong hộ nghèo Chiếm tỉ lệ 31,73% Người cao tuổi đang sống trong hộ
nghèo Cao gấp 3 lần so với ở thành thị chiếm 7,1%
2.1.9 Ti lé can được trợ giúp trong sinh hoạt hàng ngày
Có khoảng 30% Người cao tuổi nhận được sự trợ giúp khi gặp khó khăn
trong sinh hoạt hàng ngày Ở nhóm tuổi 80+, cũng chỉ có hơn một nửa số Người
cao tuổi nhận được sự trợ giúp khi gặp khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày
chiếm tỉ lệ 55,35% Tỷ lệ cần trợ giúp khi gặp khó khăn trong sinh hoạt hàng
ngày ở nhóm Người cao tuổi nữ cao hơn gấp3 lần so với nhóm Người cao tudi
nam Và phần lớn hỗ trợ các sinh hoạt vẫn là Vợ / chồng chiếm 40,5%, con cái
chiếm 17,3% và con dâu chiếm 17,3%
2.1.10 Tình hình sử dụng BHYT ở Người cao tuổi
Có tới 35,6% Người cao tuổi không có bất kỳ một loại BHYT nào Tỷ lệ Người cao tuổi có BHYT tự nguyện mới chiếm khoảng 18,8% Mặc dù luật BHYT đã được ban hành và áp dụng tử năm 2009, song vẫn còn có khoảng 25%
NCT ở nhóm tuổi 80+ chưa được hưởng BHYT miễn phí Tỷ lệ NCT từ 50 trở
lên bị đau ốm hoặc chấn thương và tỉ lệ được điều trị bởi cán bộ y tế Có 33,7%
NCT bị đau ốm hoặc bị chấn thương trong vòng 12 tháng qua nhưng chỉ có hơn 1⁄3 trong số đó được điều trị chiếm 13,1% Ở nhóm NCT trên 80, tỷ lệ này là khoảng 50% Nhóm NCT nữ chiếm tỉ lệ 36.6% bị đau ốm hoặc bị chắn thương
trong vòng 12 tháng qua cao hơn một so với nhóm NCT nam chiếm tỉ lệ 27,8%
Tỷ lệ NCT sống ở nông thôn bị đau ốm hoặc bị chấn thương trong vòng 12 tháng được điều trị bởi cán bộ y tế còn thấp và chỉ bằng một nửa so với nhóm NCT sống ở thành thị (13.1% so với 23.4%) Tỷ lệ NCT từ 50 trở lên bị đau ốm hoặc chấn thương cần được điều trị nhưng không nhận được bắt kỳ điều trị nào
và lý do không nhận được điều trị Lý do không nhận được các điều trị này Có
tới 53.5% NCT từ 50 trở lên bị đau ốm hoặc chấn thương cần được điều trị
nhưng không nhận được bất kỳ điều trị nào Nguyên nhân lớn nhất là không đủ tiền chỉ trả cho việc điều trị chiếm tỉ lệ 65,8%, ngoài ra có tới 13.3% tỉ lệ Người cao tuổi cho biết không có người đưa đi điều trị cũng là một lý do được nói đến
và chiếm 20.7% trong các lý do khiến cho NCT không nhận được bắt kỳ điều trị
nào Trong khi đó, có tới 77.1% tỉ lệ Người cao tuổi phải trả tiền cho các dịch vụ
57
Trang 13chăm sóc sức khỏe và chỉ một nửa người cao tuổi có đủ khả năng chỉ trả chiếm 50,4% còn lại là không đủ khả năng Và người chi trả chủ yếu cho các khoản điều trị đó vẫn chủ yếu là bản thân Người cao tuổi chỉ trả chiếm 39,3%, và trong quá trình điều trị phần lớn vẫn chỉ là những thành viên trong gia đình giúp đỡ
chăm sóc chiếm 74,5%
2.2 Một số vấn đề đặt ra trong chăm sóc Người cao tuổi
Hiện nay, công tác tổ chức các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho Người
cao tuổi tại cộng đồng còn ít Ở nhiều địa phương, các hoạt động này chủ yếu
mang tính đơn lẻ, tự phát Việc tổ chức các câu lạc bộ Người cao tuổi , câu lạc
bộ dưỡng sinh sẽ rất có ích cho sức khỏe của họ, song hình thức này còn nhiều hạn chế và bj chi phối bởi kinh phí hoạt động hạn hẹp và đối tượng tổ chức Hơn nữa, công tác khám, chữa bệnh cho Người cao tuổi vẫn chưa được quan tâm đúng mức Tình trạng người cao tuổi tự bỏ tiền để khám chữa bệnh vẫn còn phổ biến, do vậy chi phí khám chữa bệnh đã, đang là một gánh nặng cho Người cao
tuổi và gia đình Chính vì vậy, việc thành lập các trung tâm Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi (CSSKNgười cao tuổi ) để phục vụ nhu cầu được chăm sóc sức
khỏe toàn diện, rèn luyện nâng cao sức khỏe về thể chất và tinh thần, khám phát hiện và điều trị bệnh kịp thời của Người cao tuổi là rất cần thiết Nhưng hiện
nay, tình trạng thiếu hụt nhân lực chăm sóc Người cao tuổi đang gây khó khăn cho các trung tâm CSSKNgười cao tuổi Do ở Việt Nam có nhiều người quan niệm chăm sóc Người cao tuổi chưa phải là một nghề, nên người điều dưỡng không được trang bị về tâm lý, kỹ năng tiếp cận, chăm sóc người già Vì thế, các
trường đào tạo cần trang bị thêm những kiến thức cho sinh viên theo học ngành
điều dưỡng, bởi nhu cầu của xã hội về chăm sóc sức khỏe Người cao tuổi ngày
càng trở nên bức thiết Mặc đù Luật Người cao tuổi đã chú trọng rất nhiều đến
những quyền lợi mà người cao tuổi được hưởng, như chính sách phụng dưỡng, chăm sóc sức khỏe Người cao tuổi , chính sách bao trợ xã hội nhưng kết quả
thực hiện trên thực tế chưa đáp ứng được yêu cầu Sau những cống hiến hy sinh cho con cháu, quê hương, đất nước Người cao tuổi (nhất là những Người cao
tuổi cô đơn, không nơi nương tựa hoặc có hoàn cảnh đặc biệt), cần được sống cho chính bản thân mình, ở những nơi dành riêng cho họ để được chăm sóc, trân trọng và yêu thương Trong những năm tới, số Người cao tuổi của Việt Nam sẽ gia tăng nhanh chóng Vì vậy, chăm sóc Người cao tuổi bên cạnh sự chăm sóc của những người thân trong gia đình, đang rất cần sự chung tay chăm sóc của
toàn xã hội để giám thiểu nỗi lo cho Người cao tuổi nước ta
Trang 14IV KET LUAN
Số lượng người già ở Việt Nam tăng mạnh cả về số tuyệt đối lẫn tương đối Vẫn còn một số lượng không nhỏ các cụ vẫn còn mù chữ, đặc biệt là các cụ
ở vùng sâu vùng xa, vùng khó khăn Chính hạn chế này đã gây nhiều khó khăn cho người cao tuổi khi tham gia vào các hoạt động xã hội, phát triển kinh tế gia đình và việc tiếp tục nâng cao trình độ học vấn cho NCT ở nước ta hiện chưa có các hoạt động triển khai Điều kiện sống ngày một tăng góp phần tích cực vào việc nâng cao sức khoẻ của người cao tuổi Công tác tổ chức các hoạt động chăm sóc sức khoẻ cho người cao tuổi tại cộng đồng còn ít, tại nhiều địa bàn khảo sát tình trạng người cao tuổi hoạt động đơn lẻ, tự phát là phổ biến Phần
lớn Người cao tuổi vẫn phải tự bỏ tiền để được khám chữa bệnh là phổ biến Chế độ khám chữa bệnh theo bảo hiểm y tế và thẻ khám chữa bệnh còn nhiều hạn chế Hiện vẫn còn nhiều nhóm đối tượng người cao tuổi chưa tiếp cận đến
được với thẻ bảo hiểm y tế Đồng thời chất lượng khám chữa bệnh theo chế độ thẻ bảo hiểm chưa đảm bảo chất lượng Điều kiện sống của người cao tuổi đang dần được cải thiện cùng với điều kiện sống của toàn xã hội Mức chỉ sinh hoạt
hàng tháng tính bình quân cho 1 người cao tuổi ở nông thôn còn thấp và có sự
chênh lệch lớn so với khu vực thành thị Sự khác biệt về phát triển giữa các khu vực tạo ra ảnh hưởng rõ rệt đến điều kiện sống của người cao tuổi và khoảng cách này cần được thu hẹp Đây là một yếu tố tạo nên sự khác biệt và khoảng
cách giàu nghèo giữa các khu vực Cuộc sống của người cao tuổi hiện nay còn
nhiều khó khăn và phần lớn trong số họ phải dựa vào chính bản thân để sống Điều kiện kinh tế khó khăn là nguyên nhân cơ bản thúc đây người cao tuổi tham
gia hoạt động kinh tế Người cao tuổi còn đóng vai trò quan trọng trong việc truyền lại những kinh nghiệm, những giá trị truyền thống, các quy tắc xã hội và các nghỉ lễ cũng như các hoạt động xã hội truyền thống trọng lão luôn được duy trì, người cao tuổi luôn có vị trí cao trong gia đình Họ luôn được kính trọng, tiếng nói luôn có ảnh hưởng quyết định đến các hoạt động của gia đình
Mô hình gia đình nhiều thế hệ hiện nay đang được khuyến khích duy trì song
việc dung hoà về lối sống, suy nghĩ giữa các thế hệ trong một gia đình luôn là vấn đề quan trọng Tình trạng nhà ở chật chội, kinh tế của con cháu vẫn còn khó khăn cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng các cụ phải sống cô đơn song chiếm tỷ lệ không nhiều Lý do con cái không muốn sống chung chiếm tỷ lệ nhỏ
cần hạn chế tình trạng này, nhất là khi cơ chế thị trường đang có những ảnh
hưởng sâu sắc đến lối sống gia đình, đảm bảo cuộc sống gia đình cho người cao tuổi Sự giúp đỡ của các thành viên trong gia đình hiện nay vẫn là chủ yếu, các
tổ chức xã hội, các cơ quan đoàn thể vào cuộc vẫn chưa nhiều và chưa thực sự
59
Trang 15'Việc chăm sóc và phát huy tài năng trí tuệ của người cao tuổi vẫn còn bị coi nhẹ
Từ đó xin đưa ra một số khuyến nghị như sau:Tình trạng già hóa dân số là một quy luật tất yếu, cần có sự đầu tư phát triển các dịch vụ, xây dựng các mô hình
chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi Cần có những giải pháp, chính sách phù hợp cho đặc điểm người cao tuổi của từng khu vực giữa đồng bằng và miền núi,
giữa thành thị và nông thôn Cần có các chương trình đảo tạo cho người cao tuổi để giúp người cao tuổi có thể tham gia vào các hoạt động xã hội và phát
triển kinh tế gia đình bởi vẫn có một số lượng không nhỏ Người cao tuổi chưa biết chữ, mù chữ Cần phát triển và duy trì các hoạt động chăm sóc sức khỏe
cho Người cao tuổi tại cộng đồng, đặc biệt ở nông thôn Chế độ khám chữa bệnh theo bảo hiểm y tế và thẻ khám chữa bệnh còn nhiều hạn chế Hiện vẫn còn
nhiều nhóm đối tượng người cao tuổi chưa tiếp cận đến được với thẻ bảo hiểm y
tế Đồng thời chất lượng khám chữa bệnh theo chế độ thẻ bảo hiểm chưa đảm
bảo chất lượng Cần có sự hoàn thiện hơn trong thời gian tới Cần có những chính sách tập trung hơn nữa vào việc nâng cao mức sống, điều kiện sống cả về
vật chất lẫn tỉnh thần quy mô và có sự liên kết giữa các tổ chức đoàn thế và sao
cho phủ hợp với từng giai đoạn của người cao tuổi
Trang 1661
Trang 17CHUYÊN ĐÈ 4: BẠO LỰC GIA ĐÌNH VỚI PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM
(Thời gian: 36 giò)
Mục tiêu của chuyên đề:
+ Thực hiện được theo đúng tiến trình khi trợ giúp nhóm đối tượng này
- Thái độ: Cần thận, chia sẻ và sẵn sàng giúp đỡ người bị bạo hành
I THỰC TRẠNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH VỚI PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM
1 Khái niệm và biểu hiện về bạo lực thể chất đối với phụ nữ và trẻ em 1.1 Khái niệm về bạo lực gia đình
Trong tiếng Việt, bạo lực được hiểu là “sức mạnh dùng để cưỡng bức, trấn
áp hoặc lật đổ" Khái niệm này dé lam người ta liên tưởng tới các hoạt động chính trị, nhưng trên thực tế bạo lực được coi như một phương thức hành xử
trong các quan hệ xã hội nói chung Các mối quan hệ xã hội vốn rất đa dạng và phức tạp nên hành vi bạo lực cũng rất phong phú, được chia thành nhiều dạng
khác nhau tùy theo từng góc độ nhìn nhận: bạo lực nhìn thấy và bạo lực không nhìn thấy được; bạo lực với phụ nữ, với trẻ em
Bạo lực gia đình là một dạng thức của bạo lực xã hội, là “hành vi cố ý của các thành viên gia đình gây tồn hại hoặc đe dọa gây ton hại với các thành
viên khác trong gia đình” (Điều 1, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007) Nói một cách dễ hiểu hơn, đó là việc “các thành viên gia đình vận dụng sức mạnh để giải quyết các vấn đề gia đình” Gia đình là tế bào của xã hội, là
hình thức thu nhỏ của xã hội nên bạo lực gia đình có thể coi như là hình thức thu nhỏ của bạo lực xã hội với rất nhiều dạng thức khác nhau
Xét về hình thức, có thể phân chia bạo lực gia đình thành các hình thức chủ yêu sau:
Trang 18- Bạo lực thể chất: là hành vi ngược đãi, đánh đập thành viên gia đình, làm tổn thương tới sức khỏe, tính mạng của họ
- Bạo lực về tỉnh thần: là những lời nói, thái độ, hành vi làm tổn thương tới danh
dự, nhân phẩm, tâm lý của thành viên gia đình
- Bạo lực về kinh tế: là hành vi xâm phạm tới các quyền lợi về kinh tế của thành
viên gia đình (quyền tự do lao động, tự do kinh doanh, quyền sở hữu tài sản )
- Bạo lực về tình dục: là bất kỳ hành vi nào mang tính chất cưỡng ép trong các quan hệ tình dục giữa các thành viên gia đình, kể cả việc cưỡng ép sinh con
Mỗi hình thức bạo lực có thể được biểu hiện dưới nhiều hành vi khác nhau Luật
Phòng, chống bạo lực gia đình đã quy định các hành vi bạo lực bao gồm:
- Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ,
tính mạng;
- Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;
- Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm
trọng;
- Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà
và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;
- Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả
năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính;
- Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở
Như vậy, có thể hiểu bạo lực gia đình trước hết phải là hành vi “cố ý của
thành viên gia đình và hành vi này phải” gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổ
hại, về thé chat, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình Các hành vi có thể được thể hiện dưới dạng hành động, như hành hạ, ngược đãi, đánh đập nạn nhân hoặc không hành động, như bàng quang, thờ ơ, bỏ mặc, chiến tranh lạnh Những hành vi thể hiện dưới dạng hành động thường xâm phạm trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe của nạn nhân, đồng thời cũng gây ra những tồn hại về tỉnh thần cho nạn nhân
63
Trang 191.2 Biểu hiện về Bạo lực thể chất đối với phụ nữ và tré em
- Khái niệm bạo lực thể xác: Bạo lực thé xác là bất kỳ hành vi cố ý nào làm ton thương thể chất của đối phương, kể cả các trường hợp hành vi bạo hành diễn ra không thường xuyên, mức độ tổn thương chưa nghiêm trọng
- Bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái là biểu hiện cao nhất của bất bình đẳng
giới Đây không còn là chuyện riêng của mỗi nhà mà trở thành một vấn đề cần
được cả xã hội quan tâm giải quyết Điều quan trọng hơn hết là sự hiểu biết và
ý thức của mỗi người, đặc biệt là người đàn ông trong gia đình: “Vai trò của nam giới trong phòng chống bạo lực đối với phụ nữ là điều vô cùng quan trọng Bởi nam giới không chỉ là người thực hiện hành vi bạo hành mà họ còn có quyền lực rất lớn trong gia đình Do đó, nâng cao ý thức và trách nhiệm của nam giới là vô cùng quan trọng Nam giới thường là nguyên nhân gây ra bạo lực và họ cũng là một phần trong giải pháp phòng chống”
- Mặc dù nam giới cũng bị ảnh hưởng, nhưng phụ nữ và trẻ em gái là những nạn nhân chính của bạo lực gia đình Theo báo cáo quốc gia về bạo lực đối với phụ
nữ tại Việt Nam thì 32% phụ nữ từng kết hôn phải hứng chịu bạo lực về thể
xác, 10% phụ nữ từng kết hôn trải nghiệm bạo lực tình dục, 54% phụ nữ từng
kết hôn hứng chịu bạo lực tỉnh thần và 5% phụ nữ bị đánh đập trong khi mang thai từ chính người chồng của mình
- Vì vậy, các cơ quan chức năng đã đưa ra thông điệp chính của Ngày quốc tế xóa bỏ bạo lực đối với phụ nữ (25/11) năm nay là “Đàn ông đích thực nói không bạo lực với phụ nữ”
2.Thực trạng bạo lực gia đình đối với phụ nữ và trẻ em trên thế giới
Rõ ràng, được đối xử công bằng và bình đẳng vẫn là mơ ước xa vời của nhiều phụ nữ, kể cả ở những quốc gia phát triển và những đất nước nghèo đói Quá nhiều người đang bị hành hạ, tra tấn một cách rất man rợ
Bạo hành là vấn đề toàn cầu, xay ra trong moi tang lớp xã hội, mọi lãnh thổ,
không phân biệt giàu hay nghèo, văn hoá và tôn giáo, có học thức hay không
Ở Mỹ, cứ 15 giây lại có một phụ nữ bị đánh đập, 6 phút xảy ra một vụ hiếp
dâm, mỗi ngày có 4 phụ nữ bị kẻ bạo hành giết chết Đến tận năm 1960, các
Trang 20quan toà ở đây vẫn không chịu xét xử các trường hợp bạo hành gia đình và cho
đó là chuyện trong nhà, chỉ cần đóng cửa bảo nhau
Ở Ấn Độ, mỗi ngày có 4 phụ nữ bị thiêu sống vì vấn đề của hồi môn Chưa đầy một giờ đồng hồ, có một phụ nữ Nga bị chồng giết hại Trong những năm gần đây, trung bình sẽ có khoảng 14 ngàn phụ nữ Nga bị cướp đi sinh mạng bởi chính người bạn đời của mình (trong khi đó, cả nước Nga rộng lớn chỉ có 10 nhà tạm lánh)
Người dân ở Nga có câu châm ngôn: “Người vợ có thể yêu người chẳng không bao giờ đánh đập họ, nhưng bà ta không bao giờ kính trọng chông”
Tại Úc, cứ 7 thanh niên thì có ít nhất một người cho rằng họ không thấy vấn đề
gì nếu “bắt” một cô gái quan hệ với họ, những cuộc xô xát giữa nam và nữ xảy
ra là do lỗi của phụ nữ và phần lớn người được hỏi cho rằng đánh phụ nữ là điều
Có 4 “nhà tạm lánh” dành cho những người đàn ông đang hứng chịu nạn bạo hành tại Hà Lan, dành cho 12.000 đàn ông của đất nước này cần được giúp
đỡ thường xuyên
Đó là những con số khô khan và lạnh lùng, được UNICEF nêu lên đầy
can đảm và thuyết phục, như hồi chuông báo động với cả thế giới Một sự thật đau lòng và trần trụi hơn, đó là thủ phạm của những vụ bạo hành với các nạn nhân thường là do những người họ yêu thương và tin tưởng, những người có quyền lực và trách nhiệm trong gia đình
Bạo hành gia đình - một thứ tệ nạn mới đang lan tràn giữa thời buổi văn
minh va binh đẳng giới Rất nhiều minh chứng cho thấy một bộ phận không nhỏ
của nhân loại đang bị rơi vào thế yếu, bị dồn đến chân tường nhưng không thể,
và cũng không đủ sức phản kháng lại được:
Phụ nữ ở Bangladesh ngoài việc phải sống trong hoàn cảnh khó khăn và nghèo khổ, còn phải chịu những đối xử tàn bạo của chồng
Axit ở đất nước này rất rẻ, và từ lâu, nó đã trở thành công cụ cốt yếu của
đàn ông khi muốn trừng phạt phụ nữ, ngay cả khi lý do chỉ là những cãi vã thường ngày
Phần đông những phụ nữ bị tạt axit sẽ chết vì những vết bỏng ăn sâu vào
cơ thể, gây đau đớn vô cùng Số còn lại sẽ bị mù mắt, và từ khuôn mặt đến toàn thân bị biến dạng
Ngay ở tại một nước phát triển như Hungary, rất nhiều sĩ quan cảnh sát
có định kiến với phụ nữ bị bạo hành về tình dục nếu họ đến tố giác tội phạm
Đối với những nạn nhân nghèo khổ, cảnh sát thường nghĩ rằng bạo hành
tình dục là điều đi kèm với hoàn cảnh sống của họ, và không thể, cũng như
65
Trang 21không muốn giúp đỡ họ Còn nếu nạn nhân là người giàu có, cảnh sát lại tỏ vẻ nghỉ ngờ những tố cáo của họ (Theo các phỏng vấn của tổ chức Ân xá quốc tế
(AD ‘ co
Có đên 62% người dân Hungary không biệt rắng cưỡng bức tình dục trong gia đình cũng là phạm pháp Và nếu vụ việc được đưa ra toà, phụ nữ ở đất nước này lại phải đối diện với suy nghĩ cho rằng: người chồng có quyền buộc vợ phải quan hệ tình dục với mình Ngay một nữ thẩm phán cũng cho biết: Nếu bị cưỡng
bức tình dục, bà rất ngại trình báo (Theo báo cáo của tổ chức Ân xá quốc tế)
Có nhiều lập luận cho rằng: bạo hành gia đình là một bản năng tự nhiên
trong mọi xã hội, cho nên không thể ngăn ngừa và chấm dứt được Tất nhiên, lập luận này không thể đứng vững, vì có nhiều xã hội tồn tại mà bạo hành rất hiếm
khi xảy ra
3 Thực trạng bạo lực gia đình đối với phụ nữ và tré em ớ Việt Nam
3.1 Đối với phụ nữ
Số phụ nữ có hoặc từng có gia đình hiện đang phải chịu một trong hai
hình thức bạo hành này chiếm 9% Nghiên cứu quốc gia về Bạo lực Gia đình đối
với phụ nữ ở Việt Nam được Chính phủ Việt Nam và Liên Hợp Quốc công bố
ngày 25/11 cho hay
Hình 4 Tỷ lệ phụ nữ từng tị chồng gây bạo lực thể xác hoặc tình dục chia
Nếu xem xét đến cả ba hình thức bạo hành chính trong đời sống vợ chồng
— thể xác, tình dục và tinh thần, thì có hơn một nửa (58%) phụ nữ Việt Nam cho biết đã từng là nạn nhân của ít nhất một hình thức bạo lực gia đình kể trên Các
Trang 22kết quả nghiên cứu cũng cho thấy khả năng phụ nữ bị chồng mình lạm dụng nhiều hơn gấp ba lần so với khả năng họ bị người khác lạm dụng
“Lần đầu tiên một cuộc nghiên cứu đã được tiến hành trên phạm vi cả nước nhằm tìm hiểu những thông tin chỉ tiết về mức độ phổ biến và các loại hình bạo lực đối với phụ nữ, các hậu quả về mặt sức khỏe của bạo lực gia đình, các
yếu tố rủi ro, phòng ngừa bạo lực, cách xử trí của phụ nữ khi gặp phải bạo lực gia đình cũng như các dịch vụ trợ giúp mà họ đã sử dụng,” Bà Trần Thị Hằng, Phó Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Thống kê phát biểu
Các số liệu mới được đưa ra đã nêu bật một thực trạng là đa số phụ nữ Việt
Nam đều có nguy cơ tiềm tàng bị bạo lực gia đình ở một hay một vài thời điểm
nào đó trong cuộc sống của họ
Hình 1 Tỷ lệ phụ nữ bị chẳng gây bạo lực thể xác chia theo độ tuổi, Việt Nam
gia đình không phải là nơi an toàn đối với họ Ví dụ, ở vùng Đông Nam Bộ,
42% phụ nữ cho biết họ đã từng bị chồng mình bạo hành thể xác hoặc tình dục
Tuy nhiên, mặc dù có sự khác biệt giữa các vùng miền, khu vực, nhưng sự khác
biệt lớn nhất có thể nhận thấy là giữa các dân tộc, trong đó tỷ lệ phụ nữ cho biết
họ đang hoặc đã từng là nạn nhân của bạo lực gia đình dao động từ 8% (người HMong) đến 36% (người Kinh)
67
Trang 23
“Mặc dù bạo lực gia đình là một hiện tượng rat phổ biến nhưng vấn đề này vẫn bị giấu diếm nhiều,” Bà Henrica A.F.M Jansen, Trưởng nhóm nghiên cứu phát biểu “Bên cạnh sự kỳ thị và sự xấu hỗ khiến cho phụ nữ phải giữ im lặng, nhiều phụ nữ còn nghĩ rằng bạo lực trong quan hệ vợ chồng là một điều “bình thường' và người phụ nữ cần bao dung, nhẫn nhịn chịu đựng để gìn giữ sự êm
ấm cho gia đình.” Thực tế là cứ hai phụ nữ tham gia nghiên cứu thì có một người cho biết trước khi tham gia trả lời phỏng vấn phục vụ nghiên cứu này, họ
chưa từng nói cho ai biết về việc bị chồng mình bạo hành
Hình 3 Tỷ lệ phụ nữ bị chẳng gây bạo lực tình đục chia theo nhóm tuổi, V iệt
“Báo cáo này nêu bật tính cấp thiết của việc phá bỏ sự im lặng,”Ông Jean
Marc Olive, Trưởng Đại diện Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tại Việt Nam nhắn mạnh “Tất cả chúng ta đều mong đợi những phụ nữ là nạn nhân của bạo lực gia
đình và những phụ nữ đã tham gia cuộc điều tra này sẽ đứng dậy nói lên tiếng
nói của mình và chấm dứt bạo lực gia đình”
68
Trang 24Rõ ràng là bạo lực gia đình đã gây nên những hậu quả nghiêm trọng đối
với sức khỏe thể chất và tỉnh thần của người phụ nữ Ở Việt Nam, cứ bốn phụ
nữ từng bị chồng bạo hành thê chất hoặc tình dục thì có một người cho biết họ
phải chịu đựng những vết thương trên cơ thể và hơn một nửa trong số này cho biết họ đã bị thương tích nhiều lần So với những phụ nữ chưa từng bị bạo hành
thì những người đã từng bị chồng bạo hành có nhiều khả năng bị bệnh tật và sức
khỏe kém hơn gần hai lần và khả năng nghĩ đến việc tự tử nhiều hơn gấp ba lần Phụ nữ có thai cũng là đối tượng có nguy cơ bị bạo hành Theo báo cáo nghiên cứu, khoảng 5% phụ nữ từng có thai cho biết họ đã bị đánh đập trong thời gian
mang thai Trong hầu hết các trường hợp này, họ đã bị chính người cha của đứa trẻ mình đang mang trong bụng lạm dụng
3.2 Đối với trẻ em ở Việt Nam
Mặc dù bạo lực gia đình xảy ra phổ biến đối với phụ nữ nhưng trẻ em
cũng là nạn nhân của bạo lực gia đình Cứ bốn phụ nữ có con dưới 15 tuổi thì có một người cho biết con của họ đã từng bị chồng họ bạo hành thể xác Nghiên
cứu này đã chỉ ra rằng bạo lực gia đình là một mối đe dọa nghiêm trọng đối với
cuộc sống của trẻ em Ví dụ, báo cáo nghiên cứu cho biết trẻ em sống trong
những gia đình mà mẹ bị cha bạo hành sẽ có nhiều khả năng có các vấn đề về
hành vi hơn so với những trẻ em khác
69
Trang 25
Bạo lực gia đình - vấn nạn nhức nhối cúa xã hội
“Những người chồng bạo hành có nhiều khả năng đã từng chứng kiến mẹ mình bị cha đánh đập, hoặc chính họ đã từng bị đánh đập khi còn nhỏ Những điều đã trải qua thời thơ ấu chính là một yếu tố nguy cơ quan trọng liên quan đến việc bản thân họ sau này trở thành người gây ra bạo lực gia đình”, bà Jansen
cho biết thêm Điều này củng cố cho quan điểm rằng bạo lực là một hành vi do
con người học từ người khác
@Gadeh co bas bec tah than
ØG+ đeh c+ lên tượng ép GHTD
Đồ thị biếu hiện nạn bạo lực gia đình ở Việt Nam
Trang 26II THỰC TRẠNG BẠO HÀNH ĐÓI VỚI PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM TRÊN DIA BAN TINH SON LA TRONG GIAI DOAN HIEN NAY
(2005 - 2010)
2.1 Khái quát về địa lý tự nhiên, kinh tế - xã hội tính Sơn La
2.1.1 Vj tri dia ly va điều kiện tự nhiên
Sơn La là một tinh nằm ở phía Tây Bắc, tông diện tích tự nhiên là 14.174
kmẺ chiếm 4,27% diện tích cả nước Toàn tỉnh gồm có 11 đơn vị hành chính (01
thành phố và 10 huyện), có chung đường biên giới Việt - Lào dài trên 250km và
đường địa giới giáp các tỉnh bạn là 628km Toạ độ địa lý từ 20930 - 22°02 vĩ độ Bắc, từ 10311 - 105202” kinh độ Đông Phía Bắc giáp tỉnh Yên Bái; phía Đông
giáp tỉnh Phú Thọ, Hoà Bình; phía Nam giáp tỉnh Thanh Hoá và tỉnh Hủa Phăn, Tuông Pha Băng của nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào; phía Tây giáp tỉnh Điện Biên, Lai Châu
Dân số (thống kê năm 2009) là 1.083.700 người, mật độ dân số 73
người/km” trong đó nam chiếm 50,2%, nữ chiếm 49,8% Bao gồm 12 dân tộc anh em (kinh 17,61%; Thái 53,20%; Mường 7,57%; Mông 14,61%; Dao 1,77%; Khơ Mú 1,17%; Kháng 0,80%; La Ha 0,75%; Xinh Mun 1,98%; Tày 0,15%;
Lào 0,31%; Hoa 0,02%; dân tộc khác 0,06%) Tổng số lao động trên địa bàn khoảng 584.940 người (chiếm 56% tổng dân só); lao động nông, lâm nghiệp là chủ yếu với 502.350 người (chiếm 86% tổng lao động) [33; 1]
Sơn La là một tỉnh miền núi có độ cao trung bình từ 600-700m so với
mực nước biển, địa hình chia cắt sâu và mạnh Địa hình gồm các dãy núi phần lớn chạy dần theo hướng Tây Bắc - Đông Nam và nghiêng dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam theo chiều dòng chảy của Sông Đà và Sông Mã Tỉnh có 2 cao nguyên là cao nguyên Mộc Châu và cao nguyên Nà Sản
Tỉnh Sơn La nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa mang đặc điểm
của khí hậu Tây Bắc, chia làm hai mùa: mùa đông lạnh và khô; mùa hè nóng,
ẩm và mưa nhiều Với đặc điểm địa hình như vậy đã tạo cho tài nguyên thiên
nhiên tỉnh Sơn La đa dạng phong phú với tài nguyên rừng có khả năng phát triển; tài nguyên khoáng sản, tài nguyên đất, với hệ động thực vật phong phú, đa
dạng với nhiều chủng loại quý hiếm
2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội
Trong những năm qua được sự quan tâm của Đảng, Nhà Nước và sự nỗ
lực vượt bậc của Đảng bộ chính quyền địa phương, nền kinh tế Sơn La tiếp tục
chuyên dịch cơ cấu theo hướng sản xuất hàng hoá nhiều thành phần, hình thành
các vùng tập trung chuyên canh, thâm canh, kết hợp mở rộng vùng cây ăn quả, cây công nghiệp gắn với cơ sở chế biến có quy mô và công nghệ phù hợp Đồng
71
Trang 27thời hình thành các khu công nghiệp, khu đô thị mới nhằm đây nhanh tốc độ phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh trong thời gian tới
Theo Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh năm 2010 của
Uỷ ban nhân dân tinh Son La, tổng sản phẩm (GDP) trong tỉnh ước đạt 4.377,450 tỷ đồng, bằng 98,6% kế hoạch và tăng 12,8% so với năm 2009 Trong đó khu vực
nông, lâm, thuỷ sản giảm 3,4%; công nghiệp - xây dựng tăng 19,3%; dịch vụ tăng
24% Cơ cau GDP: nông, lâm nghiệp, thuỷ sản giảm từ 43,6% năm 2009 xuống còn 40,01%; khu vực công nghiệp, xây dựng từ 23,3% năm 2009 lên 23,4%; dịch vụ
tăng từ 33,1% năm 2009 lên 36,56% [33; 2]
Bên cạnh đó, văn hoá - xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống vật chất, tỉnh
thần của nhân dân được cải thiện, công tác xoá đói giảm nghèo đạt kết quả quan trọng; các vấn đề bức xúc của xã hội được tập trung giải quyết
Giáo dục và đào tạo được củng cố và phát triển toàn diện, các ngành học, bậc
học phát triển nhanh về quy mô trường lớp, học sinh; cuộc vận động “ð#zi không” với 4 nội dung được triển khai thực hiện nghiêm túc góp phần nâng cao chất lượng giáo dục; đây mạnh công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở
Công tác bảo vệ chăm sóc sức khoẻ nhân dân, chính sách khám chữa
bệnh cho người nghèo được chú trọng; chất lượng khám chữa bệnh được nâng
lên; mạng lưới y tế được củng có Tỷ lệ trạm y tế xã có bác sỹ đạt 64%; tổng số cán bộ y tế hiện có 4.019 người, tăng 13,2% so với năm 2009 Tỷ lệ tử vong trẻ
em dưới 01 tuổi là 0,58%, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng giảm xuống
còn 23,5% Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2010 là 1,25%; giảm tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên xuống còn 9,5% [33; 9]
Chương trình xoá đói giảm nghèo, xoá nhà tạm được đây mạnh và đạt kết
quả cao Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 46% (năm 2006) xuống còn 25% (năm
2010), phấn đấu giảm xuống dưới 10% vào năm 2015 [33; 11]
Ngoài ra, tình hình an ninh chính trị tiếp tục được giữ vững, trật tự an toàn
xã hội được bảo đảm, phục vụ tích cực cho nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của
tỉnh Kết quả thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh được thể hiện toàn diện trên các mặt: công tác nam tinh hình, công tác tham mưu; đây mạnh thực hiện có hiệu quả chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm, ma tuý Quan hệ đối ngoại, hợp
tác quốc tế tiếp tục được củng có, tăng cường và mở rộng; đặc biệt là quan hệ hợp tác
với các tỉnh giáp biên giới Việt - Lào Công tác tôn tạo, tăng dày hệ thống mốc quốc giới 'Việt - Lào được tập trung chỉ đạo, đến nay đã hoàn thành 13 mốc biên giới giữa Sơn La
với tỉnh Luông Pha Băng
Như vậy, ta có thể thấy Sơn La là một tỉnh miền núi có nền kinh tế tăng
trưởng khá nhanh, mặc dù những yếu tố vật chất tạo điền kiện cho sự phát triển
Trang 28phần lớn vẫn phụ thuộc vào sự hỗ trợ của Trung ương, nhưng cũng góp phần dần đưa Sơn La thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn và rút ngắn khoảng cách
với các tỉnh phát triển, tạo lập các yếu tố cơ bản làm tiền đề phát triển trong
những năm tiếp theo Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đã đạt được, ở Sơn
La mặt bằng dân trí vẫn còn thấp và phát triển không đều Vì vậy còn nhiều hủ
tục lạc hậu đặc biệt là tư tưởng phân biệt nam nữ
Vì vậy, mặc dù đã trải qua hàng nghìn năm lịch sử với những cuộc cách mang to lớn thì phụ nữ Sơn La, nhất là phụ nữ ở vùng sâu, vùng xa vẫn chịu
thiệt thòi về mọi mặt, vẫn phải chịu sự bat bình đẳng nam nữ trong mọi lĩnh vực
của đời sống xã hội và trong gia đình Đặc biệt là tình trạng bạo lực trong gia
đình đối với phụ nữ đang gây nhiều bức xúc trong toàn tỉnh
2.2 Thực trạng bạo lực trong gia đình đối với phụ nữ trên địa bàn tỉnh Sơn
La
2.2.1 Thực trạng bạo lực trong gia đình doi với phụ nữ
Một trong những vấn đề bức xúc hiện nay là tình trạng một bộ phận phụ
nữ và trẻ em trở thành nạn nhân của các hành vi ngược đãi diễn ra ngay trong gia đình, do chính người chồng gây ra Cũng như các vấn đề xã hội khác, nó
chịu tác động của những thay đổi về môi trường kinh tế, văn hoá, xã hội Mặc dù
đã có sự ngăn chặn khá kiên quyết của pháp luật, chính quyền, của các đoàn thể
nhưng thực tế tại cộng đồng dân cư, không phải cặp vợ chồng nào cũng có thể sống một cách hoàn toàn êm ấm hạnh phúc Bạo lực trong gia đình khi lén lút,
lúc công khai, đã và đang xảy ra phá vỡ hạnh phúc của một số gia đình, nhất là
các cặp vợ chồng trẻ Vì vậy chúng ta cần phải đấu tranh nhằm ngăn chặn, tiến tới xoá bỏ hoàn toàn các hành vi bạo lực gia đình đối với phụ nữ
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, bạo lực gia đình bao gồm nhiều dạng Trong xã hội Việt Nam nó thường diễn ra dưới hai hình thức: “bøo lực nhìn
thấy được” và “bạo lực không nhìn thấy được” Hai dạng bạo lực này ở nơi này
được thể hiện trong mối quan hệ khăng khít, ở nơi khác lại được thể hiện trong sự độc lập, tách biệt lẫn nhau Điều này phụ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể của từng gia đình, vào nhận thức và hành động của các thành viên trong gia đình
Thứ nhất: bạo lực nhìn thấy được
Vấn đề bạo lực và các hành vi bạo lực trong gia đình là một vấn đề phức tạp, thể hiện ở nhiều góc độ Trong thực tế, các nghiên cứu chủ yếu tập trung ở các hành vi bạo lực nhìn thấy được mà ít có những phân tích sâu đối với những
hành vi bạo lực không nhìn thấy được trong gia đình
Bạo lực nhìn thấy được đó là bạo lực về thân thẻ, tình dục với các hành vi đánh đập, hành hạ đến thương tích phải tìm đến cái chết; hay bị hành hạ chửi rủa
73
Trang 29hắt hủi khi không sinh được con trai; người chồng đòi lấy vợ hai hoặc người chồng khinh bỉ coi vợ như người ở Ta có thể nhận thấy đây là một dạng bạo lực rất nguy hiểm Nó làm cho người phụ nữ bị tổn thương, đau đớn hoặc đôi
khi mắt đi cả tính mạng của mình
Thực trạng bạo lực gia đình nói chung, bạo lực nhìn thấy được nói riêng
của toàn tỉnh ngày càng tăng với con số đáng lo ngại Năm 2005 có 175 vụ ly hôn do mâu thuẫn gia đình và đánh đập ngược đãi Đến năm 2006 con số này là
270 vụ, tăng gần 2 lần so với năm 2005 và không ngừng tăng lên, trong năm
2007 là 212 vụ, năm 2008 số vụ bạo lực đã lên tới 319 vụ tang 1,5 lần so với
năm 2007 Đến năm 2010 là 645 vụ, tăng 2„1 lần so với năm 2008, và tăng 4,8
lần so với năm 2005
Thực trạng này ngày càng phổ biến khắp các cơ sở địa phương trong toàn tỉnh, chiếm tỷ lệ lớn trong các vụ án về hôn nhân và gia đình Theo thống kê của Toà án nhân dân trong 455 vụ ly hôn năm 2009 trên địa bàn tỉnh thì có đến gần
400 vụ ly hôn do bạo lực gia đình gây ra với các nguyên nhân: rượu chè, ngoại tình, cờ bạc
Bạo lực gia đình không chỉ xảy ra ở vùng sâu, vùng xa với những người có trình độ học vấn thấp mà còn ở thành phó, trong những gia đình có học vấn cao, có
địa vị xã hội Ngay tại địa bàn Thành phố, năm 2010 có 67 vụ án hôn nhân gia đình
thì có đến 54 vụ án do bạo lực gia đình gây ra Còn ở địa bàn các huyện là 571 vụ [31; 1] Tuy nhiên con số này chưa hẳn đã phản ánh đúng thực tế Nhiều trường hợp
các nạn nhân che giấu, âm thầm chịu đựng; một số bị đánh đập quá mức thì chỉ đến
tâm sự với cán bộ cơ sở, không muốn công khai
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến việc ly hôn của các gia đình nhưng nguyên
nhân cơ bản dẫn đến tình trạng này vẫn là do mâu thuẫn gia đình và tệ đánh đập
ngược đãi Trong đó phụ nữ luôn là người gánh chịu hậu quả TS Hoàng Bá Thịnh (Trung tâm nghiên cứu giới gia đình và môi trường trong phat trién) cho rang: “Bao
lực gia đình là một hiện tượng xã hội, nó chịu sự tác động của nhiều yếu tô kinh tế, văn hoá, xã hội khác nhau Điều dễ nhận thấy là, bạo lực giới trong gia đình có xu
hướng phổ biển hơn ở các cộng đồng có mức sóng và dân trí thấp, hoặc tư tưởng
trọng nam khinh nữ vẫn còn nặng né” [30; 65]
Sơn La với đặc điểm là một tinh miền núi nghèo nàn lạc hậu với hơn 80%
là dân tộc Mấy năm gần đây mới bắt đầu phát triển công nghiệp Chính vì vậy
trình độ dân trí còn rất thấp, bên cạnh đó còn chịu ảnh hướng của truyền thống
xưa, tập tục lạc hậu vẫn ăn sâu bám rễ trong tư tưởng mỗi người nơi đây nên việc nhận thức về bạo lực trong gia đình chưa đúng đắn
Trang 30Theo nghiên cứu mới nhất ở Huyện Mộc Châu (2006): Các cuộc thảo luận
nhóm, phỏng vấn sâu cho thấy phần lớn người dân đều không có nhận thức rõ
ràng về bạo lực gia đình, khái niệm bạo lực chưa được nghe nói đến hoặc ở mức
độ rất mơ hồ Theo kết quả khảo sát phiếu điều tra hộ gia đình, có tới 63,3% số người được hỏi chưa bao giờ nghe nói tới bạo lực gia đình và 36,8% đã được
nghe nói nhưng hiểu biết rất mơ hồ [10; 10]
Trên thực tế thông tin về bạo lực gia đình đối với người dân, đặc biệt là các
dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa chủ yêu qua các cuộc họp tổ, xã, và do chính quyền cơ sở cung cấp Phần lớn các hộ gia đình người dân không có các phương
tiện nghe nhìn Việc triển khai các chính sách, đường lối, thực hiện chủ trương pháp luật của nhà nước chủ yếu dựa vào đội ngũ cán bộ cơ sở Tuy nhiên, trình độ nhận thức của đội ngũ cán bộ cơ sở còn rất hạn chế Với cách nghĩ đơn giản, nhiều chị em phụ nữ chấp nhận những hành vi thô bạo của các ông chồng với quan điểm cho rằng “phải biết thông cảm”, chỉ có một số hành vi được xác định khá rõ là
hành vi bạo lực gia đình như đánh đập, chửi mắng Còn những người nam giới lại
có xu hướng phủ nhận tình trạng bạo lực gia đình tại địa phương hay gia đình như: Một nhóm nam ở huyện Mai Sơn đã nhận xét: cá nhóm người ngôi đây chỉ trừ một
anh thôi còn tất cả đều đã từng đánh vợ Đánh không nặng đâu chỉ tát tai hoặc
dam vài cái Chuyện ấy thì quá bình thường, ở địa phương nhiều lắm
Thông thường, người phụ nữ khi bị chồng đánh đập, chửi bới sẽ cam chịu, chờ đợi sự tỉnh ngộ của đức ông chồng, không muốn làm to chuyện vì quan niệm xấu chàng hỗ ai Chỉ có những trường hợp nào nghiêm trọng đến tính
mạng thì lúc đó, chị em mới nói ra nỗi khổ nhục mình phải chịu Theo như lời
kể của lãnh đạo Huyện Phù Yên: ÄMội năm có 6,7 vụ đánh vợ nghiêm trọng còn
dam tat thi nhiều Có ông chông nhốt vợ trong buông khoá cửa không cho ra ngoài, có trường hợp vợ bị đánh nhưng không dám nói ra đến khi bị phát hiện thì mới nói
Chẳng hạn như trường hợp của chị Lường Thị N thi tran Thuan Chau 1a một người hiền lành chăm chỉ hết lòng vì chồng, vì con Chồng chị là anh Lò
Văn P lại là người hay uống rượu và mỗi khi say xin lại về nhà mắng chửi đánh đập vợ mình Mặc dù vậy chị N vẫn cắn răng chịu đựng, thế nhưng chị càng nhịn thì chồng chị lại lấn tới và gần đây chị đã bị chồng đánh trọng thương phải vào viện điều trị và sau nhiều lần hai bên gia đình, tổ dân phó, toà án hoà giải nhưng chị N vẫn kiên quyết ly hôn
Qua khảo sát thực tế cho thấy tình trạng bạo lực trong gia đình diễn ra
phổ biến ở các gia đình dân tộc, với nhiều hình thức khác nhau Ở cấp độ nguy hiểm nhất là tình trạng tự tử do mâu thuẫn gia đình, mâu thuẫn vợ chồng khá
75
Trang 31nhiều Theo số liệu báo cáo của Toà án tỉnh Sơn La trong năm 2010 có tới 71 vụ
tự tử Trong đó số vụ tự tử liên quan đến mâu thuẫn gia đình là 5§ vụ và phần lớn là ở người dân tộc (dân tộc HMông là 23 vụ)
Đối với người dân tộc thiểu số, do phong tục tập quán lạc hậu, tuy tình trạng ly hôn không nhiều nhưng thực tế người vợ thường phải cam chịu và chấp
nhận kể cả trong trường hợp người chồng rất vũ phu, đối xử tệ bạc, đã dẫn họ đến cái chết bằng cách tự tử Vì vậy, số vụ tự tử liên quan đến bạo lực gia đình ở các dân tộc trên địa bàn tỉnh Sơn La là khá nhiều Đó là trường hợp của chị
Giàng Thị P sinh năm 1974, là cán bộ xã ở huyện Sốp Cộp ăn lá ngón tự tử năm
2005 Năm 2004 chị được giao kiêm nhiệm vụ công an viên của thôn Công việc bận rộn ngày đi nương, đêm tranh thủ đi làm nhiệm vụ của thôn Do nghi ngờ
chị đi chơi ngoài (chơi trai) nên chồng chị thường xuyên có hành động mắng
chửi, thậm chí còn cầm dao doa giết vợ nếu bắt được quả tang Chị P đã nhiều lần thanh minh nhưng chồng không tin Do phan uất, chị đã ăn lá ngón tự tử, dé lại một cháu gái 2 tuổi
Trước thực trạng nêu trên, trong những năm qua Hội liên hiệp phụ nữ tỉnh
đã có nhiều giải pháp hữu hiệu nhằm giảm thiểu nạn bạo hành trong gia đình, về
cơ bản đã trả lại những quyền tự do, bình đẳng cho chị em phụ nữ
Hoạt động hoà giải: Công tác hoà giải ở cơ sở luôn được cấp hội phát
huy có hiệu quả, với lực lượng trên 70% hòa giải viên ở cơ sở là phụ nữ, các chị
đã chủ động, tích cực trong việc nắm tình hình, kịp thời thăm hỏi, tư vấn, góp ý các gia đình có nguy cơ xảy ra bạo lực gia đình nên đã góp phần ngăn chặn
các vụ bạo lực gia đình trên địa bàn Điển hình như: Gia đình anh Đức - chị Huyền (xã Chiềng Pac huyén Thuan Chau) do anh Duc bi nghién ma tuy lai
cờ bạc, thường xuyên mang đồ đạc trong nhà đi bán, kinh tế gia đình sa sút, hay đánh đập vợ con mỗi khi anh đòi tiền không được Chị Huyền đưa đơn ly
hôn và bỏ về nhà mẹ đẻ ở Biết được sự việc trên Hội phụ nữ xã Chiềng Pac
đã phối hợp với ban công an và ban tư pháp xã đến gặp anh Đức để động viên
và thuyết phục nhiều lần Sau gần 3 tháng động viên thuyết phục, anh Đức đã
nhận ra khuyết điểm, tự nguyện đi cai tại trung tâm và đi đón mẹ con chị Huyền về Đến nay, gia đình anh chị đã hoà thuận trở lại, anh Đức tu chí làm ăn
và trở thành công dân tốt
Công tác giải quyết đơn thư: Trong 6 năm các cấp Hội phụ nữ trong tỉnh
đã nhận tổng số 1701 đơn có nội dung về hôn nhân và gia đình, nguyên nhân
chủ yếu là do chồng cờ bạc, nghiện ma tuý, ngoại tình, về đánh đập, ruồng rẫy
vợ con Riêng bạo lực gia đình có 215 đơn, trong đó cấp tinh là 35 đơn, cấp
huyện, thành, hội là 51 đơn và cấp cơ sở là 129 đơn Hội phụ nữ đã trực tiếp giải
Trang 32quyết được 102 đơn, số còn lại được chuyển cho cơ quan pháp luật có thầm
quyền giải quyết Tiêu biểu trong hoạt động này phải kể đến chỉ hội phụ nữ phường Chiềng Lễ, phường Chiềng Sinh (Thành phố Sơn La) Trong vòng 6 năm qua đã làm tốt công tác hoà giải nên không có đơn vượt cấp Tiêu biểu phải
kể đến vụ ly hôn của anh Lò Pha Sản và chị Cầm Thị Thoa (phường Tô Hiệu, Thành phố Sơn La) Chồng chị luôn cờ bạc, ngoại tình về nhà lại hay đánh đập
và xúc phạm đến danh dự của chị, và đòi ly hôn Hội phụ nữ từ phường cho đến
cơ sở đã 3 lần hoà giải mà không thành, Toà án nhân dân phường đã xử cho anh
ly hôn Do toà sơ thẩm xử án không đảm bảo quyền lợi chính đáng cho phụ nữ
và trẻ em nên Hội phụ nữ phường đã đề nghị Hội phụ nữ tỉnh can thiệp, xem xét
lại vụ việc trên, qua xác minh cụ thể, Hội phụ nữ tỉnh đã có văn bản đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, Toà án nhân dân tỉnh Sơn La xem xét giải quyết nhằm đảm bảo quyền lợi cho mẹ con chị Thoa Kết quả Toà án nhân dân tỉnh đã
xử bác đơn ly hôn của anh Sản Đến nay hai vợ chồng anh chị đã đoàn tụ và anh
Sản có những thay đổi lớn, đã cai rượu, không đi ngoại tình, chịu khó làm ăn
Như vậy, bạo lực nhìn thấy được đối với phụ nữ trong gia đình ở Sơn La
ngày càng có xu hướng gia tăng, nhưng việc nhận thức về nó, về vai trò của
người phụ nữ chưa thực sự đúng đắn và đầy đủ
Thứ hai: bạo lực không nhìn thấy được
Bạo lực không nhìn thấy được là những hành vi xúc phạm tâm lý, tình
cảm, tỉnh thần ; nhìn bề ngoài khó phát hiện nhưng lại làm cho phụ nữ đau khổ
về mặt tỉnh thần, tâm lý Hay đay nghiến, chì triết do phụ nữ không làm ra tiền phải phụ thuộc vào chồng, phụ nữ bị bắt phải làm việc để có tiền cho chồng đánh bạc Lúc vợ có lỗi lầm thì chửi bới vợ, hoặc sức khoẻ yếu không đáp ứng
được nhu cầu tình dục Dạng bạo lực này xuất phát từ sự phân công lao động
bắt hợp lý giữa nam và nữ trong gia đình Hiện nay ở nhiều nước, đặc biệt là các nước phương Đông vẫn còn tồn tại quan điểm cho rằng: Phục vụ vô điều kiện cho chồng con nói riêng và nam giới nói chung là “chức năng” là “thiên hướng”,
là sự “hy sinh” nhường nhịn của người phụ nữ trong gia đình Quan điểm này xuất phát từ tư tưởng phụ quyền được phản ánh trong luật pháp phong kiến và chuyển thành phong tục tập quán hoà quyện vào đời sống xã hội từ hàng chục
thế kỷ nay, như là một dạng đạo đức xã hội, một lối sống của nhân dân từ trong
gia đình ra ngoài xã hội
Ở các mức độ khác nhau, quan niệm này đã gán cho phụ nữ những trách
nhiệm chính rất nặng nề trong các công việc tái sản xuất ra sức lao động (nội trợ,
chăm sóc con cái và thành viên trong gia đình) trong khi họ là người thực hiện chính nhiệm vụ tái sản xuất sinh bọc ra con người (mang thai, sinh con và cho
Hi
Trang 33con bú bằng sữa của mình) Bên cạnh đó, phụ nữ vẫn thực hiện trách nhiệm lao
động sản xuất như nam gidi Nhiéu quan niém sai 1am cho rang, việc nội trợ
là “hiên chức ” của phụ nữ và họ không bằng lòng nếu như người phụ nữ nào không hoàn thành các thiên chức trên Có lẽ họ đã không hiểu hoặc cố tình không hiểu thiên chức ở đây là trời trao nghĩa là tạo hoá đã quy định là không thay đổi được Đó là các chức năng (mang thai, sinh con và cho con bú bằng
sữa mẹ) còn trách nhiệm nội trợ là “xế hội chức ” nghĩa là xã hội trao cho phụ
nữ và có thể thay đổi được Tuy nhiên, cũng còn rất nhiều nam giới đã thực hiện hành vi bóc lột phụ nữ với những nguy biện về thiên chức Đồng nghĩa với việc lao động quá sức, sự hưởng thụ của phụ nữ bị coi là thứ yếu, thậm chí
không được tính đến
Cách mạng tháng Tám đã thành công được 65 năm, ở khắp nơi, người ta
hô hào về bình đẳng giới, trong từng điều kiện cụ thẻ, cuộc đấu tranh đòi quyền
bình đẳng nam nữ đã được tiến hành mạnh mẽ trên các lĩnh vực luật pháp, gia đình và xã hội Điều đó đã làm biến đổi về căn bản vị trí, quyền lợi của người
phụ nữ so với trước đây
Tuy nhiên cuộc đấu tranh nào cũng có khó khăn của nó, đặc biệt Sơn La
vốn là một tỉnh miền núi có trình độ dân trí thấp, ảnh hưởng nặng nề của tàn dư,
hủ tục lạc hậu Vì những lý do đó, chúng ta có thể giải thích được vì sao Sơn La vẫn tổn tại tư tưởng “rọng nam khinh nữ”, thậm chí ở nơi vùng sâu, vùng xa có
xu hướng phục hoi va phat triển Chính tư tưởng này đã tạo ra một thứ bạo lực
vô cùng ghê gớm, nó khiến cho họ không bị đánh đập về thẻ xác thì cũng bị đầy đoạ về tỉnh thần, không bị mắng chửi nhưng vẫn phải lao động cực nhọc và phục
tùng như một nô lệ Ngày nay, trong khi có nhiều người chồng đã yêu thương, chia sẻ với vợ gánh nặng gia đình, thì vẫn còn không ít những người chồng thờ ơ
trút toàn bộ trách nhiệm gia đình lên đầu vợ Từ việc lao động, kiếm sống, đến
việc quản lý, thu vén các công việc trong gia đình như cơm nước, giặt giũ, chăm sóc người già, giáo dục con cái Trong khi người vợ tất bật từ sáng đến tối thì
những ông vua này lại nhởn nhơ, nhàn nhã bên các chiếu bạc hoặc giải sầu với
rượu Điều đáng lưu ý là ở nhiều làng xã, những người chồng kiểu này vẫn được ủng hộ, thậm chí cả chính giới phụ nữ Như trường hợp Bà Trần Thi V, 50 tuổi ở Phường Tô Hiệu, Thành phố Sơn La khi được hỏi về bạo lực gia đình đã luôn
miệng nói về sự hiền lành của người chồng và khẳng định rằng mình chưa hề bị
đánh bao giờ, cuộc sống vợ chồng bà êm ấm, bà vẫn được quyết định những
việc quan trọng trong nhà Nhưng bà lúc nào cũng phàn nàn về một sức ép vô
hình đã buộc bà phải lao động cật lực suốt cuộc đời
Trang 34Ở Sơn La từ năm 2005 -2008 cho thấy, phụ nữ là người đóng vai trò chính trong việc nội trợ, ví dụ như nấu cơm (nữ: 68%, nam: 4,4%); giặt giữ (nữ:
69,5%, nam:3,4%); dọn dep trong gia đình (nữ:53,2%, nam: 5,7%); chăm sóc con cái và dạy con học (nữ: 41,1%, nam: 9,3%) [10; 14] Hình ảnh người phụ nữ Thái luôn gắn với chiếc gùi, chiếc túi đeo, hay bên khung cửi đệt vải và các đồ
gia dụng khác phần nào phản ánh vị trí người phụ nữ trong gia đình Với khối lượng công việc nhiều như thế, chúng ta thấy có sự bắt bình đẳng giới, song theo
quan niệm của người phụ nữ Thái thì đó là trách nhiệm, bến phận của người vợ,
người mẹ trong gia đình, là niềm vui trong lao động và hạnh phúc của họ nên trên thực tế hiện nay hầu như không có gì thay đổi về thực trạng này Những con
số này nằm chung trong thực trạng cả nước, theo tác giả Nguyễn Linh Khiếu:
“Những công việc gia đình riêng người vợ thực hiện đặc biệt cao là: nấu ăn 77.9%, mua thực phẩm 86,9%; giặt quần áo 77,6% và chăm sóc con cái
43,3%” [14; 225] Như vậy các công việc nấu ăn, giặt giữ quần áo, chăm sóc
con chủ yếu do phụ nữ đảm nhiệm, người đàn ông có tham gia nhưng tỷ lệ lại
rất thấp như: “nấu ăn 2,15%; mua thực phẩm 2,3%; giặt quân áo 1,9%; chăm sóc con cái 2,3%; chăm sóc người già, người ấm 3,7%” [14; 225]
Bên cạnh đó, hiện nay nhiều ông chồng đã bước đầu tự giác chia sẻ công
việc cùng vợ và một số gia đình khác thuê người giúp việc tạo ra thời gian
nghỉ ngơi, tiếp thu học tập văn hoá của người phụ nữ được tăng lên Dẫu là đang
có sự chia sẻ công việc gia đình của người chồng đối với người vợ, nhưng về cơ bản người phụ nữ vẫn là người đóng vai trò chính
Trong cuộc điều tra được hỏi ở Huyện Sông Mã thì có hơn 80% trả lời là
trong các gia đình nghèo người cực khổ nhất là phụ nữ và trẻ em Họ phải lao động từ sáng tới khuya Không có một công việc trồng trọt, chăn nuôi nào dù nặng nhọc nhất từ cày bừa, gieo cấy, gặt hái mà không qua tay họ Thậm chí có chị phải làm cả những việc mà trước đây chỉ dành cho đàn ông như bốc vác, kéo xe Ngược lại, nhiều ông chồng của họ lại dùng mọi lời đường mật hoặc cả biện pháp trấn áp để lấy cho bằng được những đồng tiền ít ỏi trong túi vợ và
nướng vào các canh bạc, rượu chè
Trong điều kiện như vậy người phụ nữ đã không còn thời gian nghỉ ngơi
để nâng cao trình độ văn hoá Nhiều phụ nữ trả lời rằng, trong 3 năm gần đây họ
không đi khỏi huyện, không xem một vở kịch nào kể cả khi các đoàn nghệ thuật
về tận địa phương biểu diễn, trình độ văn hoá thấp khiến cho các chị em trốn
tránh các hoạt động văn hoá, xã hội, tự ti mặc cảm và chỉ biết vùi đầu vào công
việc kiếm sống vắt vả tất cả tạo thành một vòng xoáy luân quần, khiến họ cam
79