3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49
Trang 1- BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI -
TRUONG CAO DANG NGHE GIAO THONG VAN TAI TWI
GIAO TRINH
CONG TAC XA HOI VOI NGUOI NGHEO
(Lưu hành nội bộ)
Trang 2LOI NOI DAU ;
Công tác xã hội với người nghèo là mô đun chuyên môn nghê quan trọng của chương trình đạo tạo cao đẳng nghề, liên quan tới các hoạt động cung cấp dịch vụ cho đối tượng
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đã đem lại cho đất nước
nhiều thành tựu to lớn về mọi mặt nhưng những vấn đề như thiên tai, dịch bệnh, khủng bố,
thảm họa, nghèo đói, ô nhiễm môi trường, đặc biệt là người nghèo dân tộc thiểu số đang sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn vẫn cần sự hỗ trợ của Nhà nước đề vươn
lên thoát nghèo
Giáo trình CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI NGHÈO được biên soạn theo chương
trình đào tạo trình độ cao đẳng nghề nghề Công tác xã hội đã được phê duyệt
Giáo trình gồm có:
Bài 1: Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giám nghèo và việc làm
Bài 2: Nhiệm vụ và hoạt động của ban xoá đói giảm nghèo
Bài 3: Ngân hàng chính sách xã hội và tín dụng hộ nghèo
Bài 4: Lập kế hoạch sản xuất phát triển kinh tế gia đình
Bài 5: Vấn đề giới trong xoá đói giám nghèo
Bài 6: Phương pháp có sự tham gia của người dân trong xoá đói giảm nghèo
Mặc dù đã có sự cố gắng lớn của tập thể tác giả cùng sự tạo điều kiện của Khoa và
Nhà trường, nhưng đây là giáo trình được biên soạn lần đầu nên không tránh khỏi những thiếu sót Tập thể tác giả mong nhận được những ý kiến góp ý cả các chuyên gia, đồng nghiệp và độc giả đề giáo trình ngày càng hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Nhóm biên soạn
Trang 3BAI 1: NHUNG VAN DE CO BAN VE DOI NGHEO VA XOA DOI
GIAM NGHEO
I Quan niệm và nhận dạng về nghèo đói
1 Quan niệm về nghèo đói
1 Khải niệm nghèo
Từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia mô tả nghéo 1a “sw thiéu cơ hội để
có thể sống một cuộc sống tương ứng với các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định Thước đo các tiêu chuẩn này và các nguyên nhân dẫn đến nghèo nàn thay đổi tùy theo địa phương và theo thời gian ”
Theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO), nghèo được xác định là “nghèo theo thu
nhập Người nghèo là người có thu nhập hàng năm ít hơn một nửa mức thu nhập bình quân trên đầu người hàng năm (Per Capita Incomme, PCI) ctia quéc gia”
Các quốc gia tham gia hội nghị về chống nghèo đói do Uỷ ban Kinh tế xã hội khu vực Châu á- Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Bangkok, Thái Lan vào tháng
9 năm 1993, đã thống nhất cao và cho rằng: "Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân
cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu câu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quản của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận "
Khái niệm này đó đề cập đến sự phụ thuộc của nhu cầu con người ở mỗi giai đoạn phát triển và sự khác biệt giữa các phong tục tập quán được thừa nhận ở các vùng khác nhau Điều này muốn nhấn mạnh rằng nhu cầu cơ bản của con người ở mỗi
một nền văn hoá, một giai đoạn phát triển kinh tế là khác nhau
Định nghĩa mới của Ngân hàng Thế giới đề cập đến nghèo ở khía cạnh rộng hơn không chỉ là thiếu thốn điều kiện về vật chất mà còn là những vấn đề khác như
giáo dục, sức khỏe hay khả năng dé bị tổn thương Theo tô chức này “Nghèo là khái niệm vượt khỏi phạm vì túng thiếu về vật chất; nghèo không chỉ gồm các chỉ số dựa trên thu nhập mà còn gồm các vấn đề liên quan đến năng lực như dinh dưỡng, súc khỏe, giáo dục, khả năng dễ bị ton thương, không có quyển phát ngôn và không có quyên lực ”
Trang 4Quan niệm của Việt Nam về nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có khả năng thỏa mãn một phần các nhu cầu cơ bản của con người và có mức sống ngang bằng với mức sống tối thiểu của cộng đồng xét trên mọi phương điện
Còn khái niệm đói được hiểu là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống đưới mức tối thiểu không đảm bảo nhu cầu vật chat dé duy trì cuộc sống
Quan niệm về nghèo đói của từng quốc gia hay từng vùng, từng nhóm dân cư, nhìn chung không có sự khác biệt đáng kể Tiêu chí chung nhất để xác định nghèo đói vẫn là mức thu thập hay chỉ tiêu để thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người về
ăn, ở mặc, y tế, giáo dục, văn hóa, đi lại và giao tiếp xã hội Sự khác nhau chỉ là thỏa
mãn ở mức cao hay thấp mà thôi Điều này phục thuộc vào trình độ phát triển kinh tế
- xã hội cũng như phong tục tập quán của từng vùng, từng quốc gia
Người ta phân ra hai loại nghèo, nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối
Roberd Me Namara đã định nghĩa khái niệm nghèo tuyệt đối nhu sau: "Nghéo
ở mức độ tuyệt đối là sống ở ranh giới ngoài cùng của tôn tại Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tôi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mắt phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới trí thức chúng ta "
Ngân hàng Thế giới xem thu nhập 1 đô la mỹ/ngày theo sức mua tương ứng mức mua tương đương đề thoả mãn nhu cầu sống tối thiểu là chuẩn nghèo tuyệt đối
Theo từ điển Bách khoa toàn thư Wikipedia, nghèo tương đối là “việc cung cấp
không đây đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về một số
tầng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội đó” Nghèo tương đối có thé
là khách quan, tức là sự hiện hữu không phụ thuộc vào cảm nhận của những người trong cuộc Người ta gọi là nghèo tương đối chủ quan khi những người trong cuộc cảm thấy nghèo không phụ thuộc vào sự xác định khách quan Bên cạnh việc thiếu Sự
cung cấp vật chất (tương đối), việc thiếu thốn tài nguyên phi vật chất ngày càng có tầm quan trọng hơn”
Quan niệm đơn giản cho rằng
+ Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng đáp
Trang 5ứng nhu cầu tối thiểu của con người như cơm ăn, áo mặc, chữa bệnh, học hành
+ Nghèo tương đối: Là sự so sánh tình trạng kinh tế của người/nhóm cá nhân này với người/nhóm cá nhân khác
2 Chuẩn nghèo và phương pháp xác định
Chuẩn nghèo là một thước đo để xác định ai nghèo, ai không nghèo, điều đó
cũng có nghĩa quan trọng cho việc:
+ Xác định đối tượng an trợ giúp phù hợp
+ Hoạch định chính sách và các giải pháp trợ giúp
+ Tổ chức thực hiện giúp đối tượng tiếp cận với các chính sách trợ giúp
Có hai phương pháp xác định chuẩn nghèo:
- Phương pháp dựa vào nhu cầu chỉ tiêu ;
- Phương pháp so sánh với thu nhập bình quân đầu người của các hộ gia đình;
a Phương pháp xác định chuẩn nghèo dựa vào nhu cầu chỉ tiêu:
Đây là phương pháp do các chuyên gia Ngân hàng thế gới (WB) khởi xướng
và cũng là phương pháp được nhiều quốc gia cũng như các tổ chức Quốc tế công nhận và sử dụng trong việc xác định chuẩn nghèo ở cấp quốc gia hoặc sử dụng trong các dự án lớn Nội dung cơ bản của phương pháp này là dựa vào nhu cầu chỉ tiêu để bảo đảm các nhu cầu cơ bản của con người về ăn, ở, mặc, y tẾ, giáo dục, văn hoá, đi
lại và giao tiếp xã hội
Tổng chỉ tiêu = chỉ tiêu cho LTTP + chỉ tiêu cho phi LTTP
Ưu điểm của phương pháp này: Có cơ sở khoa học tin cậy ; độ chính xác cao; phản sát thực trạng cuộc sống, nhiều quốc gia công nhận và sử dụng, có cơ sở để so sánh với các quốc gia khác khi điều chỉnh chuẩn nghèo cho từng năm chỉ cần điều
chỉnh giá cả rổ hàng hoá
Công thức tính: CN; = (CLUTTP,¡ * CSG + CLTTP, ¡ ) : 70 * 100
Trong đó: CN¡, chuẩn nghèo năm thứ j
CTLTTP: chỉ tiêu cho lương thực thực phẩm
CSG: tốc độ giá gia tăng của rổ hàng hoá
Chia 70 và nhân 100 là chỉ tiêu cho LTTP chiếm 70% tổng chỉ tiêu
Trang 6Nhược điểm của phương pháp này: Tính toán phức tạp, nhất là tính toán giá cả r6 hàng hoá, vì giá các mặt hang ở các vùng, miền, khu vực thành thị và nông thôn khác nhau, phải tính toán đề có giá trị trung vị hoặc trung bình hợp lý, chính điều này tạo nên sự không hợp lý của chuẩn nghèo cho một địa phương cụ thể, song nó lại có ý
nghĩa chung ở cấp quốc gia hoặc cho vùng Mặt khác việc thu thập thông tin các mặt
hàng và chỉ tiêu thực tế của dân cư cũng phức tạp, chỉ có số ít người làm được; chỉ phí
điều tra tốn kém ; ré hang hoá phải luôn thay đổi và dé bị ý muốn chủ quan chỉ phối;
giá cả LTTP và phi LTTP luôn thay đổi và có sự khác nhau giữa thành thị và nông
thôn, giữa các vùng, do vậy việc tính toán cũng dễ có sai số và bị chỉ phối bởi ý kiến
chủ quan
b Phương pháp xác định chuẩn nghèo dựa vào so sánh với thu nhập bình quân
đầu người của các hộ gia đình
Phương pháp này cũng rất khoa học và tương đối đơn giản, một số nước phát triển ở Châu Âu và Mỹ đã sử dụng, họ cho rằng người nghèo là những người có thu nhập không đủ để chỉ phí cho lương thực thực phẩm và các dịch vụ xã hội Do vậy người ta xác định chuẩn nghèo bằng khoảng 1/2 thu nhập bình quân đầu người của các hộ gia đình trong cả nước
Công thức tính cụ thể cho nước ta như sau:
Công thức tính: CNj =( TNj /2 + TNj/3) : 2
Trong đó: CNj là chuẩn nghèo năm thứ j
TNj là thu nhập bình quân đầu người của các hộ gia đình năm thứ j
Trong trường hợp này chuẩn nghèo được lấy ở khoảng giữa của 1/2 và 1/3 thu
nhập bình quân đầu người của hộ gia đình
Phương pháp này có ưu điểm là đơn giản, dễ tính toán và nó gắn rất chặt với
tốc độ tăng thu nhập của dân cư, ít tốn kém kinh phí vì có thể sử dụng số liệu có sẵn,
các địa phương cũng tự tính được chuẩn nghèo của mình Nhưng nhược điểm là sự điều chỉnh chuẩn nghèo có khoảng dao động lớn ( từ mức 1/2 đến 1/3 do đó dễ bị chỉ phối bởi ý muốn chủ quan của người tính và việc so sánh giữa các quốc gia giữa các
vùng cũng không trên một mặt bằng).
Trang 7c Phương pháp điều chỉnh chuẩn nghèo
Phương pháp này phải điều chỉnh giá cả của rổ hàng hoá, giá cả các mặt hàng phi lương thực thực phẩm cho phù hợp với thực tế, thông thường 2 đến 3 năm người
ta điều tra một lần và căn cứ vào kết quả điều tra để điều chỉnh giá cả rổ hàng hoá và
giá cả mặt hàng phi LTTP cho phù hợp với tình hình thực tế Tuy nhiên nếu thời gian
quá dài thì cũng phải xem xét điều chỉnh cơ cấu rổ hàng hoá; quy trình thực hiện như
sau:
Bước một là điều chỉnh số lượng, khối rổ hàng hoá ( nếu cần thiết)
Bước hai là tính giá cả rổ hàng hoá mới điều chỉnh
Bước ba là người ta điều chỉnh tỷ lệ nhu cầu chỉ tiêu cho lương thực, thực phẩm
và phi lương thực thực phẩm thông thường kinh tế càng phát triển thì tỷ lệ chỉ tiêu
cho nhu cầu LTTP có xu hướng giảm, và tỷ lệ chỉ cho nhu cầu phi LTTP tăng
Bước bốn là tính giá cả chỉ tiêu cho phi LTTP
Bước năm là tính tổng nhu cầu chỉ tiêu mới (chuẩn nghèo mới)
Rồ hàng hoá được áp dụng tính chuẩn nghèo có khoảng 42 mặt hàng nhằm dam
bảo cung cấp 2100 K.calo cho một người trong một ngày
Từ năm 2004 đến nay, nước ta đã 6 lần điều chỉnh chuẩn nghèo, cụ thể như sau:
- Năm 2004 là 170 nghìn đồng 1 người 1 tháng đối với khu vực nông thôn và
220 nghìn đồng 1 người 1 tháng đối vớikhu vực thành thị
- Năm 2006 là 200 nghìn đồng 1 người 1 tháng đối với khu vực nông thôn và
260 nghìn đồng 1 người 1 tháng đối với khu vực thành thị
- Năm 2008 là 290 nghìn đồng 1 người 1 tháng đối với khu vực nông thôn và
370 nghìn đồng 1 người 1 tháng đối với khu vực thành thị
- Năm 2010 là 350 nghìn đồng 1 người 1 tháng đối với khu vực nông thôn và
440 nghìn đồng 1 người 1 tháng đối với khu vực thành thị
Giai đoạn 2011-2015: (Quyết định số 09/2011/ QĐ-TTg )
Chuẩn hiện hành: 500.000VND đối với khu vực thành thị và 400.000VND đối
với khu vực nông thôn
3 Thực trạng nghèo đói
Trang 83.1 Vấn đề nghèo trên thế giới
Theo số liệu thống kê của Ngân hàng Thế giới (WB), năm 1981, trên thế giới
có 1,5 tỉ người nghèo tương ứng với 40% dân số thế giới, năm 1993, số người nghèo
là 1,314 tỉ người tương ứng với 29% dân số thế giới, đến 2001 có 1,1 tỷ người (tương ứng với 21% dân số thế giới) có thu nhập ít hơn 1 đô la Mỹ tính theo sức mua địa
phương và vì thế được xem là rất nghèo Phần lớn những người nghèo này sống tại
Châu Phi, Châu á Trong khi nhờ vào tăng trưởng kinh tế tại nhiều vùng của châu á, tỷ
lệ người nghèo giảm xuống rõ rệt (từ 58% xuống còn 16% tại Đông á) thì con số
những người nghèo nhất lại tăng lên ở châu Phi (gần gấp đôi từ 1981 đến 2001 phía
Nam sa mạc Sahara) Tại Đông Âu và Trung á con số những người nghèo nhất đã
tăng lên đến 6% dân số năm 2004 Nếu như đặt ranh giới nghèo là 2 đô la Mỹ mỗi
ngày thì có tổng cộng là 2,7 tỉ người nghèo, gần một nửa dân số thế giới
Nhưng trong năm 2008, năm đầu tiên của cuộc khủng hoảng tài chính và lương
thực trên thế giới thì cả số lượng và tỷ lệ người có mức sống đưới 1,25 USD/ngày
(mức được xếp loại nghèo đói theo chuẩn giá cả năm 2005) đã giảm trên mọi khu vực
của thế giới Theo WB ước tính năm 2010, tình trạng nghèo đói toàn cầu chỉ bằng 1/2 mức năm 1990 Như vậy, thế giới đã đạt “mục tiêu phát triển thiên niên kỷ "của LHQ
là giảm tình trạng đói nghẻo trên thế giới xuống còn một nửa từ năm 1990 đến 2015-
sớm hơn 5 năm Điều này cho thấy, mặc dù cuộc khủng hoảng kép, tốc độ giảm nghèo dài hạn vẫn được duy trì ở mức trên 1% trong giai đoạn 2008-2010
3.2 Vấn đề nghèo ở Việt Nam
Theo số liệu của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc, năm 2004 chỉ số
nghèo tổng hợp (Human Poverty Index-HPI) của Việt Nam xếp hạng 4l trên 95 nước
Cũng theo số liệu của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc, vào năm 2002 tỷ lệ nghèo theo chuẩn quốc gia của Việt Nam là 12.9%, theo chuẩn thế giới là 29% và tỷ
lệ nghèo lương thực (%số hộ nghèo ước lượng năm 2002) là 10.87% Chuẩn nghèo ở
Việt Nam cũng đã nhiều lần thay đổi Bảng sau cho thấy tỷ lệ nghèo chia theo khu
vực theo các năm 2004, 2006, 2008 và 2010
Tỷ lệ hộ nghèo chia theo khu vực
Trang 9Don vi tinh: %
Bảng sau thé hiện kết quả điều tra mới nhất vào năm 2010 về số hộ nghèo và
cận nghèo cho thấy số lượng hộ nghèo và hộ cận nghèo vẫn còn ở mức cao Tổng số
hộ nghèo cả nước là 3.055.560 hộ chiếm tỷ lệ 14,2% và 1.612.381 hộ cận nghèo
chiếm tỷ lệ 7,53% Chỉ tiết phân theo các vùng miền trong bản sau
Số hộ nghèo và cận nghèo trong cả nước năm 2010
Š Hộ nghèo Hộ cận nghèo
Cả nước 3.055.566 | 14,20 | 1.612.381 |7,53
I Mién nai Déng Bac =| 581.560 | 24,62 | 227.496 9,68
I Miền núi Tây Bắc 236.365 | 39,16 | 80.118 13,27
II Đồng bằng Sông Hồng | 409.823 | 8,30 261.586 5,30
IV | KhulVcũ 578007 | 22,68 | 343.370 13,47
Trang 10V Duyên hải miền Trung | 333.250 |17/27 | 208.833 10,82
VI Tây nguyên 262.879 |2248 | 87.860 7,51
VI | Đông Nam Bộ 77.802 2,11 81.213 2,20
VI | ĐB sông Cửu Long 575.880 | 13,48 |321.905 7,53
Nguồn: Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, 2011
4 Nguyên nhân
4.1 Đặc điểm của người nghèo
Sau gần 30 năm đổi mới, thu nhập và mức sống của đại đa số người dan da được cải thiện Trước đây do nguồn lực hạn chế nên các chương trình giảm nghèo chủ yếu tập trung cho đối tượng nghèo về lương thực thực phẩm (Nhu cầu về cơm ăn, áo mặc) ngày nay, trong giai đoạn đất nước đổi mới, mức sống người đân được nâng lên, nhu cầu về phi lương thực thực phẩm cũng được nâng cao ( Nhu cầu về nhà ở, y
tế, giáo dục, giao tiếp xã hội ) Cơ hội phát triển và thụ hưởng các thành quá của sự
phát triển cũng có sự khác biệt đáng kể giữa nhóm giàu và nhóm nghèo, do sự phân hóa giàu-nghèo có xu hướng gia tăng
Một số vùng miền (Đặc biệt vùng dân tộc khó khăn) cái nghèo của người dân
vẫn rất đa dạng Thẻ hiện tình trạng thiếu ăn 1 vài tháng/năm; vẫn sống trong các ngôi nhà ọp ẹp tạm bợ; có tỷ lệ trẻ em bỏ học cao; Người dân nhập cư đo thị việc làm bap bênh, thu nhập thấp, chưa được bình đẳng trong việc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, giáo dục
4.2 Nguyên nhân nghèo đói
*Nguyên nhân khách quan
- Xuất phát điểm của nền kinh tế nước ta trước khi “đổi mới” thấp, do phải trải
qua hơn 30 năm chiến tranh, nguồn lực của Nhà nước chưa đáp ứng ngay được nhu
cầu phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương và điều kiện tự nhiên không thuận
lợi ở một số vùng, miễn
- Phong tục, tập quán lạc hậu tồn tại hàng thế kỷ nay chưa dỡ bỏ được
-_ Thời gian dài nền kinh tế chậm phát triển (Cơ chế bao cấp)
Trang 11- Khi chuyển đổi cơ chế kinh tế lại làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội khác, trong đó có vấn đề nghèo đói ( Mặt trái của nền kinh tế thị trường-Hội nhập)
- Khủng hoảng kinh tế thế giới ảnh hưởng đến các Quốc gia
- Nạn tham nhũng, lãng phí đâu đó còn tồn tại
- Người nghèo vẫn khó tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản
- Do tác động của cơ chế chính sách:
Cơ chế chính sách chưa thực sự phù hợp và kịp thời đáp ứng với điều kiện kinh
tế xã hội của đất nước trong giai đoạn mới, chi tiêu cho y tế, giáo dục và chính sách
đầu tư phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước chưa cân đối giữa các cấp hành chính, giữa các vùng miễn, giữa các ngành kinh tế (giữa nông nghiệp với công nghiệp, giữa
khu vực nông thôn với khu vực thành thị)
- Kinh tế phát triển không bền vững, tăng trưởng tuy khá nhưng chủ yếu là do
nguồn vốn đầu tư trực tiếp và đầu tư vào con người ở mức cao nhưng hiệu quả còn hạn chế, số lượng lao động được đào tạo đáp ứng nhu cầu thị trường còn thấp, nông dân khó tiếp cận tín dụng ngân hàng nhà nước
* Nhóm nguyên nhân chủ quan
- Thiếu vốn sản xuất — kinh doanh
- Thiếu kiến thức sản xuất — kinh doanh
- Thiếu thông tin về thị trường
- Thiếu đất và không có đất sản xuất
- Ốm đau, bệnh tật
- Đông con, thiếu lao động
- Không tìm được việc làm
- Rủi ro
- Gia đình có người mắc tệ nạn xã hội
- Cá biệt có người lười lao động
Trong xã hội, người nghèo luôn chịu thua thiệt, trong bối cảnh hiện nay, tăng
trưởng kinh tế lại làm cho khoảng cách giàu nghèo giãn hơn, người nghèo khó có cơ
Trang 12hội tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, khó có cơ hội trong việc tham gia vào thị trường lao động ta có thể biểu diễn vòng luần quần của nghèo đói như sau
VONG LUAN QUAN CUA NGHEO DOI
1I Nhận thức về chủ trương xóa đói giảm nghèo
Công tác xã hội có lịch sử lâu dai trong quá trình hỗ trợ giải quyết nghèo đói ở các cấp độ khác nhau từ việc hỗ trợ cá nhân người nghèo đến phát triển thay đổi cộng đồng nghèo và các chính sách, chương trình xã hội xoá đói giảm nghèo của quốc gia Công tác xã hội tham gia vào lĩnh vực này với ý nghĩa hết sức quan trọng và mang tính nhân văn sâu sắc được dựa trên nghiên tác đạo đức nghề nghiệp- Đó là phấn đấu
cho sự công bằng xã hội Và nghèo đói được xem là vấn đề chính gây cản trở công
bằng xã hội
Vấn đề giảm nghèo là vấn đề toàn cầu, không chỉ có ở Việt Nam và các nước
đang phát triển, các nước nghèo mà là vấn đề của cả nước phát triền.
Trang 13Giảm nghèo là đòi hỏi cấp bách của toàn nhân loại Ở nước ta, giảm nghèo là
một chủ trương, một quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước, giảm nghèo là một cuộc
cách mạng xã hội sâu sắc, là phong trào của quần chúng, nhất là ở địa phương Để
thực hiện giảm nghèo, bên cạnh hệ thống các chính sách, vấn đề xây dựng nguồn lực,
trong đó có nguồn nhân lực từ Trung ương đến địa phương, từ các nhà hoạch định
chính sách đến những người tổ chức thực hiện các cấp, đặc biệt là cấp cơ sở, là một
việc làm hết sức quan trọng
Xét tình hình thực tế, khi nước ta bước vào thời kỳ đổi mới thì sự phân hoà giàu nghèo điễn ra rất nhanh nếu không tích cực xoá đói giảm nghèo và giải quyết tốt các vấn đề xã hội khác thì khó có thể đạt được mục tiêu xây dựng một cuộc sống ấm no
về vật chất, tốt đẹp về tinh thần, vừa phát huy được truyền thống tốt đẹp của đân tộc,
vừa tiếp thu được yếu tố lành mạnh và tiến bộ của thời đại Do đó trong chính sách phát triển kinh tế -xã hội thời kỳ 1996-2000 nhà nước đã xây dựng được các chương
trình mục tiêu quốc gia, trong đó có chương trình xoá đói giảm nghèo quốc gia Xoá
đói giảm nghèo không chỉ là vấn đề kinh tế đơn thuần, mà nó còn là vấn đề kinh tế -
xã hội quan trọng, do đó phải có sự chỉ đạo thống nhất giữa chính sách kinh tế với
chính sách xã hội Xuất phát từ điều kiện thực tế nước ta hiện nay, xoá đói giảm nghèo về kinh tế là điều kiện tiên quyết để xoá đói giảm nghèo về văn hoá, xã hội Vì
vậy, phải tiến hành thực hiện xoá đói giảm nghèo cho các hộ nông dân sinh sống ở
vùng cao, vùng sâu, hải đảo và những vùng căn cứ kháng chiến cách mạng cũ, nhằm
phá vỡ thế sản xuất tự cung, tự cấp, độc canh, đây mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế sản xuất nông nghiệp trên toàn quốc theo hướng sản xuất hàng hoá, phát triển công nghiệp nông thôn, mở rộng thị trường nông thôn, tạo việc làm tại chỗ, thu hút lao đông ở nông thôn vào sản xuát tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp và dịch vụ là con
đường cơ bản để xoá đói giảm nghèo ở nông thôn Chuyên dich cơ cấu kinh tế ở nông
thôn phải được xem như là 1 giải pháp hữu hiệu, tạo bước ngoạt cho phát triển ở nông thôn, nhằm xoá đói giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay Tiếp tục đổi mới nền
kinh tế theo hướng sản xuất hàng hoá trên cơ sở nền kinh tế thị trường có sự điều tiết
của nhà nước Đó là con đường đề cho mọi người vượt qua đói nghèo, để nhà nước có
Trang 14thêm tiềm lực về kinh tế để chủ động xoá đói giảm nghèo Đây là sự thé hiện tư tưởng
kinh tế của Hồ Chủ Tịch:" Giúp đỡ người vươn lên khá, ai khá vươn lên giàu, ai giàu thì vươn lên giàu thêm".Thực hiện thành công chương trình xoá đói giảm nghèo
không chỉ đem lại ý nghĩa về mặt kinh tế là tạo thêm thu nhập chính đáng cho người nông dân ổn định cuộc sống lâu dai, ma xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế nông
thôn còn là nền tảng, là cơ sở đề cho sự tăng trưởng và phát triển 1 nền kinh tế bền vững, góp phần vào sự nghiệp đổi mới đất nước Hơn thế nữa nó còn có ý nghĩa to lớn
về mặt chính trị xã hội
Xoá đói giảm nghèo nhằm nâng cao trình độ dân trí, chăn sóc tốt sức khoẻ nhân
dân, giúp họ có thể tự mình vươn lên trong cuộc sống, sớm hoà nhập vào cuộc sống cộng đồng, xây dựng được các mối quan hệ xã hội lành mạnh, giảm được khoảng trống ngăn cách giữa người giàu với người nghèo, ồn định tinh thần, có niềm tin vào
bản thân, từ đó có lòng tin vào đường lối và chủ trương của đảng và Nhà nước Đồng
thời hạn chế và xoá bỏ được các tệ nạn xã hội khác, bảo vệ môi trường sinh thái Ngoài ra, còn có thể nói rằng không giải quyết thành công các nhiệm vụ và yêu cầu xoá đói giảm nghèo thì sẽ không chủ động giải quyết được xu hướng gia tăng phân
hoá giàu nghèo, có nguy cơ đây tới phân hoá giai cấp với hậu quả la su ban cing hoa
và do vậy sé de doa tinh hinh 6n dinh chinh trị và xã hội làm chệch hướng XHCN của
sự phát triển kinh tế -xã hội Không giải quyết thành công các chương trình xoá đói
giảm nghèo sẽ không thể thực hiện được công bằng xã hội và sự lành mạnh xã hội nói chung Như thế mục tiêu phát triển và phát triển bền vững sẽ không thể thực hiện được Không tập trung nỗ lực, khả năng và điều kiện để xoá đói giảm nghèo sẽ không thể tạo được tiền đề để khai thác và phát triển nguồn lực con người phục vụ cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nước nhằm đưa nước ta đạt tới ttrình độ phát triển tương đương với quốc tế và khu vực, tháo khỏi nguy cơ lạc hậu và tụt hậu
Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành công tác xóa đói giảm nghèo,
đã đạt được những kết quả nhất định, đặc biệt là giai đoạn 2006-2010 cho thấy những thành công đáng kể trong việc xây dựng được hệ thống cơ chế, chính sách, giải pháp
tăng cường năng lực, đẩy mạnh công tác xã hội hóa, kết quả là tốc độ giảm nghèo
Trang 15nhanh Theo tổng kết của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, trong 4 năm 2006-
2010 đã có khoảng 5 triệu lượt hộ nghèo được vay vốn tín dụng ưu đãi với mức vay
bình quân từ 6-7 triệu đồng/lượthộ Triển khai được 30.000 lướp tập huấn chuyển
giao kỹ thuật, xây dựng 8500 mô hình trình diễn và hội nghị đầu bờ với 3 triệu lượt
người nghèo Đã có 100.000 lao động nghèo được dạy nghề miễn phí, trong đó có khoảng 60% lao động đã tìm được việc làm, tự tạo việc làm Triển khai va nhân rộng
hô hình giảm nghèo tại 218 xã thuộc 35 tỉnh với 27.566 hộ (70% là hộ nghèo đã tham
gia mô hình Có khoảng 2.000 công trình hạ tầng phục vụ sản xuất được đầu tư cho
273 xã đặc biệt khó khăn, bãi ven biển, hải đảo Có 52 triệu lượt người nghèo được cấp thẻ bảo hiểm y tế, § triệu lượt học sinh nghèo được miễn giảm học phí, 2,8 triệu lượt học sinh nghèo được hỗ trợ sách vở 140 ngàn lượt cán bộ giảm nghèo ở cơ sở được tập huấn nâng cao năng lực Về hỗ trợ nhà ở, có khoảng 350 ngàn hộ nghèo
được hỗ trợ nhà ở
Kết quả thực hiện Chương trình 134,135 giai đoạn II cho thấy đã có 14.024,7 tỷ đồng được Chính phủ phân bồ cho thực hiện các chương trình 135 và 4.482 tỷ đồng
cho hỗ trợ các địa phương thực hiện chương trình 134 từ năm 2004 đến 2009 Đã có
§.237 công trình hạ tầng cơ sở đã được xây dựng, trong đó có 5.465 công trình đã hoàn thành và đưa vào sử dụng Chương trình 134 đã hỗ trợ được 373.400 nhà ở cho
hộ nghèo đân tộc thiểu số, giao 1.552 ha dat cho 71.713 hộ
( Số liệu đánh giá sau 4 năm 2005-2009 chương trình mục tiêu Quốc gia giảm
nghèo giai đoạn 2005-2010-Bộ Lao động Thương binh và Xã hội)
Mặc dù được quốc tế và nhân dân trong nước đánh giá tích cực về các thành quả của công tác xóa đói, giảm nghèo, tuy nhiên công tác giảm nghèo của nước ta hiện nay còn một số khó khăn
Thứ nhất là tốc độ giảm nghèo không đồng đều giữa các khu vực Tỷ lệ nghèo
ở khu vực nông thôn vẫn cao hơn trên dưới hai lần so với khu vực thành thị; tỷ lệ
nghèo ở miền núi tương tự cũng cao từ 1,7 đến 2 lần so với tỷ lệ nghèo chung của cả
nước, tôc độ giảm nghèo của các nhóm dân tộc thiêu sô còn chậm
Trang 16Thứ hai là kết quả giảm nghèo được đánh giá là chưa bền vững với tỷ lệ hộ tái nghèo còn ở mức từ 7 đến 10% Một khó khăn thách thức nữa trong công tác xóa đói
giảm nghèo nằm ở sự hạn chế trong các chương trình và chính sách giảm nghèo
Thứ ba, theo Bà Nguyễn Thị Kim Ngân, chương trình giảm nghẻo chưa toàn diện, nhiều chính sách và chương trình mang tính ngắn hạn, chồng chéo và chưa tạo
được sự gắn kết chặt chẽ và lồng ghép tập trung vào mục tiêu giảm nghèo Và những
hạn chế trong công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cũng là cản trở trong công tác giảm nghèo
TII Chính sách và các mô hình xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam
1 Chính sách đối với người nghèo
Xóa đói, giảm nghèo trong suốt thời gian qua đã được Đảng và Chính phủ luôn
quan tâm Vấn đề này đã được thể hiện trong các văn bản chính thức của Đảng và
Chính phủ như trong các Nghị quyết của trung ương Đảng trong những khóa gần đây
Từ năm 1998 đến nay, Chính phủ đã đưa chương trình xóa đói, giảm nghèo thành chương trình mục tiêu quốc gia và được đưa vào kế hoạch định kỳ 5 năm của Chính phủ và các địa phương, đến nay đã qua 3 giai đoạn: 1998 - 2000; 2001 - 2005; 2006 -
2010
Các chính sách, dự án hỗ trợ người nghèo hiện nay ở Việt Nam được phân theo
các nhóm sau
(1) Nhóm các chính sách, dự án tạo điều kiện phát triển sản xuất, kinh
doanh: chính sách tín dụng, ưu đãi, chính sách hỗ trợ đất sản xuất cho đồng bào dân
tộc thiểu số; các sự án khuyến nông-lâm-ngư nghiệp và hỗ trợ sản xuất, phát triển
nghành nghề; dự án phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu cho các xã đặc biệt khó khăn;
dự án dạy nghề cho người nghèo và dự án nhân rộng mô hình giảm nghèo
(2)_ Nhóm các chính sách hỗ trợ người nghèo tiếp cập các dịch vụ xã hội: chính sách hỗ trợ y tế, giáo dục, hỗ trợ nhà ở và nước sinh hoạt và chính sách trợ giúp
pháp lý
Trang 17(3) Nhóm các dự án nâng cao năng lực và nhận thức như hoạt động dao tao
cán bộ giảm nghèo và truyền thông, các hoạt động giám sát và đánh giá các chương
trình, dự án giảm nghèo
Sau đây là một số văn bản đo Chính phủ và Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội và các Bộ, Ngành liên quan ban hành hỗ trợ giải quyết nghèo đói
- Quyết định số 754/QĐ-TTg ngày 18/6/2007 về việc thành lập Ban chỉ đạo
quốc gia giảm nghèo
- Quyết định số 13/QĐ-BCĐGN ngày 06/12/2007 quy định về quy chế hoạt
động của Ban chỉ đạo quốc gia giảm nghèo
- Thông tư 04/2007/TT-BLĐTBXH ngày 28/2/2007 hướng dẫn quy trình rà
soát hộ nghèo hàng năm
- Thông tư liên tịch số 102/2007/TTLT/BTC-BLĐTBXH ngày 20/8/2007 về
hướng dẫn cơ chế quản lý tài chính đối với một số đự án của Chương trình mục tiêu
quốc gia giảm nghèo
- Quyết định 1053/2007/QĐ-BLĐTBXH ngày 23/7/2007 quy định khung theo dõi, giám sát, đánh giá thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006-2010
- Quyết định 23/2007/QĐ-BLĐTBXH ngày 5/10/2007 quy định hề thống chỉ
tiêu, theo dõi, giám sát thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai
đoạn 2006-2010
- Quyết định 134/2004/ QĐ-TTg ngày 20/7/2004 quy định chính sách hỗ trợ
đất sản xuất, đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số, đối sống
khó khăn
- Quyết định 07/2006/ QĐ-TTg ngày 10/1/2006 gọi tắt là chương trình 135 giai
đoạn II: chương trình phát triển kinh tế, xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2006-2010
- Nghị quyết 30A/2008/NQ-CP ngày 27/2/2008 gọi tắt là nghị quyết 30 về hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo
Trang 18- Quyét dinh 167/2008/ QD-TTg ngay 12/12/2008 vé chinh sách hỗ trợ hộ
nghéo vé nha 6 va an sinh xa hoi
- Quyết định số 20/2007/QĐ-TTg ngày 5/2/2007 phê duyệt Chương trình mục
tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006-2010 (gọi tắt là chương trình giảm nghèo
2006-2010)
- Nghị quyết 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 về định hướng giảm nghèo bền vững
thời kỳ 2011-2020 Đây là văn bản nêu rõ định hướng công tác giảm nghèo trong thời
gian 10 năm tới Trong văn bản này đã quy định các chính sách hỗ trợ giảm nghèo
chung bao gồm: hỗ trợ sản xuất, dạy nghề, tạo việc làm, tăng thu nhập; hỗ trợ về giáo
dục và đào tạo; hỗ trợ về y tế và dinh dưỡng; hỗ trợ về nhà ở; hỗ trợ tiếp cận dịch vụ
pháp lý và hỗ trợ hưởng thụ văn hóa, thông tin Bên cạnh đó Nghị quyết cũng đưa ra
các chính sách hỗ trợ giảm nghèo đặc thù cho các hộ nghèo, người nghèo thuộc dân tộc thiểu số, hay hộ nghèo, người nghèo sinh sống tai các huyện nghèo, xã nghèo và thôn bản đặc biệt khó khăn; các chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình, dự
án sử dụng vốn trái phiếu Chính phủ vốn ODA và các chương trình khác phải tập
trung các hoạt động và nguồn lực ưu tiên đầu tư trước cho các huyện nghèo, xã nghèo
2 Các mô hình xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam
Được Ngân hàng Thế giới đánh giá là một trong những nước có nhiều thành tựu
trong lĩnh vực giảm nghèo, Việt Nam đã và đang áp dụng nhiều mô hình xoá đói giảm
nghèo bao gồm nhiều các dịch vụ công tác xã hội Tác giả Ngô Trường Thi, mô hình
xoá đói giảm nghèo tại Việt Nam được khái quát theo các nhóm chủ yếu như sau:
Mô hình phát triển kinh tế hộ từ mục tiêu tạo việc làm tăng thu nhập, an ninh lương thực XĐGN đến phát triển sản xuất theo hé sinh thai (VAC, VACR mang tính sản xuất hàng hóa)
Mô hình kinh tế trang trại phát triển theo hệ sinh thái trên cơ sở phát triển theo
thế mạnh sản phẩm hàng hóa đã được xây dựng và ngày càng phát triển, tạo ra những
vùng chuyên canh, sản phẩm hàng hóa đặc sản, truyền thống.
Trang 19Mô hình phát triển kinh tế tập thể xoá đói giảm nghèo, trên cơ sở hình thành các tổ, nhóm hộ giúp đỡ nhau làm ăn phát triển sản xuất, giúp nhau lúc khó khăn lá
lành đùm lá rách, như tổ tín dụng tiết kiệm, tổ hỗ trợ vay vốn, tổ người nghèo giúp
nhau làm ăn, mô hình được các tô chức hội, đoàn thể xây dựng và phát triển rộng rãi
với hàng chục triệu hội viên tham gia
Mô hình phát triển làng nghề truyền thống, xây dựng thương hiệu sản phẩm,
mở rộng việc làm, tăng thu nhập, làm giàu, như mô hình liên hoàn nuôi trồng đánh bắt
thủy hải sản gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm ở các xã bãi ngang ven biển, làng
nghề thủ công mỹ nghệ, làng nghề khu ven đô, khu công nghiệp,
Mô hình phát triển cộng đồng xoá đói giảm nghèo bền vững (mô hình lan toả),
giải quyết nguyên nhân bức xúc nhất của tình trạng nghèo đói của hộ nghèo, xã nghèo
về nhận thức, kiến thức làm ăn đề tạo bước đột phá mở đường thực hiện tiếp các giải pháp giải quyết nguyên nhân nghèo đói khác để xoá đói giảm nghèo bền vững theo
phương thức tự cứu
Mô hình liên kết giữa doanh nghiệp với hộ, xã phát triển vùng nguyên liệu, với
nội dung giúp hộ nghèo về vốn, trợ giúp kỹ thuật, bao tiêu sản phẩm, giúp xã nghèo
về cơ sở hạ tầng nhỏ phát triển vùng nguyên liệu đề xoá đói giảm nghèo
Mô hình trao quyền sở hữu bền vững các công trình cơ sở hạ tầng, với hình thức giao cho hộ đồng bào dân tộc nhận duy tu bảo dưỡng đường bộ ở các tỉnh miền núi góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo
Mô hình xây dựng đội ngũ hướng dẫn viên cộng đồng, cán bộ làm công tác xoá
đói giảm nghèo kiêm khuyến nông viên thôn bản cầm tay chỉ việc giúp hộ nghèo
thoát nghèo
Mô hình khuyến khích hộ nghèo thoát nghèo với hình thức hỗ trợ một phần lãi
suất đề tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng của người nghèo và tiếp tục cho hộ
thoát nghèo được hưởng các chính sách: tín dụng ưu đãi, y tế, giáo dục nhằm đảm bảo
tính bền vững xoá đói giảm nghèo
Mô hình hỗ trợ người nghèo về nhà ở;
Mô hình hỗ trợ người nghèo về y tế;
Trang 20Mô hình hỗ trợ con hộ nghèo về giáo dục;
Mô hình bạn giúp bạn, hội giúp hội viên vượt lên số phận, khắc phục khó khăn
xoá đói giảm nghèo
Dự án hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng ở những địa bàn nghèo, đặc biệt khó khăn; -
Dự án nhân rộng mô hình giảm nghèo và dự án hỗ trợ nâng cao năng lực giảm nghèo,
truyền thông, giám sát và đánh giá
Nhìn chung, các mô hình giảm nghèo ở Việt nam đã bao gồm nhiều dịch vụ công tác xã hội Tuy nhiên, còn thiếu một số dịch vụ trực tiếp cho người nghèo như dịch vụ tham vấn trực tiếp cho người nghèo, dịch vụ vận động người nghèo tham gia xây dựng chính sách Do công tác xã hội chưa được công nhận rộng rãi là một nghề,
vì vậy mà vai trò của nhân viên xã hội cũng chưa được thể hiện một cách rõ nét trong
từng mô hình giảm nghèo ở Việt Nam
Đối với người nghèo, dường như tất cả các nhu cầu cơ bản đều thiếu hụt, Nghèo đói đã dẫn người nghèo gặp nhiều nguy cơ như trẻ em bỏ nhà đi lang thang, gia đình ly tán, bạo lực, bệnh tật
IV Công tác xã hội đối với người nghèo đói
1 Các phương pháp tiếp cận hỗ trợ người nghèo
Hiện nay, có bốn phương pháp tiếp cận phô biến trong việc giúp đỡ người nghèo:
- Thứ nhất là cách tiếp cận đảm bảo quyền con người Phương pháp này nhấn
mạnh đến quyền được tồn tại, quyền được an toàn về vật chất, sức khỏe và được phát
triển toàn diện và bình đẳng
- Thứ hai là cách tiếp cận đáp ứng các nhu cầu cơ bản Cách tiếp cận này là cách giúp người nghèo đảm bảo quyền con người để họ có điều kiện để phát triển mọi
mặt thể chất, tinh thần, tình cảm
- Thứ ba là cách tiếp cận chia sẻ trách nhiệm xã hội Cách tiếp cận này nhần
mạnh đến nguyên lý mỗi cá nhân đề có yếu tố cá thể và tập thể Bên cạnh đó phương
pháp này cũng nhấn mạnh đến sự tương hỗ, chia sẻ để người nghèo có thể vươn lên
trong cuộc sông
Trang 21- Thứ tư là cách tiếp cận đảm bảo sự công bằng trong xã hội Cách tiếp cận này
trú trọng vào việc đảm bảo tạo ra môi trường thuận lợi tiếp cận các cơ hội vật chất, giáo duc, y tế, văn hóa và xã hội cho mọi người phát triển và quan tâm đến nhóm các đối tượng yếu thế
2 Định hướng của nghệ công tác xã hội với người nghèo
Theo Michael Sherraden có bốn chủ đề cơ bản định hướng của nghề công tác xã hội
thúc đây sự tham gia ngày càng mạnh mẽ hơn của nghề nghiệp vào lĩnh vực công tác
xã hội
Thứ nhất là công tác xã hội đưa ra các dịch vụ đáp ứng như cầu cơ bản và giải
quyết vấn đề Với người nghèo, họ phải gánh chịu nhiều thiếu thốn đặc biệt là những
thiếu thốn và không được đáp ứng những nhu cầu cơ bản, đôi khi là những nhu cầu tối
thiểu sinh tồn như có đủ thức ăn, có đủ áo ấm đề mặc, có chỗ ở an toàn Và do nhiều
nhu cầu không được đáp ứng cộng thêm với những khó khăn cản trở khác do sự
nghèo khó mang lại, họ gặp rất nhiều vấn đề và cần có sự hỗ trợ giải quyết
Thứ hai là công tác xã hội phấn đấu cho sự công bằng xã hội Công tác xã hội
từ lâu đã luôn sát cánh cùng với những người nghèo biện hộ, vận động chính sách để người nghèo có các cơ hội được cung cấp và chia sẻ các nguồn lực xã hội
Thứ ba là công tác xã hội hướng đến các quyền con người Định hướng này có nghĩa là công tác xã hội tham gia vào hỗ trợ người nghèo có được cơ hội thực hiện các quyền con người của mình Ví dụ các quyền được tiếp cận một cách công bằng tới các dịch vụ giáo dục như con cái người nghèo được đến trường học có cơ hội bồi dưỡng và phát triển tri thức hay quyền được bình đẳng tham gia các hoạt động công cộng giống như những thành viên khác trong cộng đồng và trong xã hội
Thứ tư là công tác xã hội hướng tới sự phát triển xã hội Công tác xã hội có vai trò hỗ trợ người nghèo, cộng đồng và xã hội một cách tích cực để có thể đạt được sự
phát triển tối đa tiềm năng bản thân và từ đó cũng là đóng góp cho sự phát triển xã
hội
3 Các dịch vụ công tác xã hội với giảm nghèo
Trang 22Trên thế giới, các dịch vụ công tác xã hội đối với vấn đề giảm nghèo được tông hợp theo hai hình thức tiếp cận Thứ nhất là theo hình thức cung cấp các dịch vụ trực tiếp hỗ trợ cá nhân, gia đình và cộng đồng Thứ hai là hình thức tập trung vào mảnh
đưa ra các chính sách, chương trình giải quyết vấn đề nghèo
- Các dịch vụ công tác xã hội trực tiếp
Các dịch vụ công tác xã hội trực tiếp nhằm mục đích hỗ trợ đáp ứng các nhu
cầu trực tiếp của người nghèo
Đối với cá nhân người nghèo, công tác xã hội cung cấp các dịch vụ cung cấp
thức ăn, áo ấm, tìm kiếm chỗ ở an toàn, kết nói tới chăm sóc sức khoẻ thẻ chất và tỉnh
thần, học tập, học nghề, tìm kiếm việc làm và khuyến khích tham gia các hoạt động
xã hội Đơn cử như tại Canađa, nhiều ngân hàng thức ăn (food bank) được lập ra để cung cấp thức ăn miễn phí cho những người nghèo, người hưởng trợ cấp Hay việc tìm kiếm chỗ ở an toàn cho người nghèo không nơi nương tựa trong các trung tâm, cơ
sở xã hội Bên cạnh đó, người nghèo được nhân viên xã hội kết nối tới các dịch vụ
chăm sóc sức khoẻ khi bị ốm đau Nhân viên xã hội cũng cung cấp các dịch vụ tham
vấn cho những người nghèo có vấn đề về tâm lý xã hội Quan trọng hơn nữa, nhân viên xã hội là người biện hộ, khích lệ đề người nghèo được tham gia các hoạt động xã hội bình đẳng như các thành viên khác trong xã hội
Đối với gia đình nghèo, nhân viên xã hội cung cấp các dịch vụ tham vấn, kết
nối gia đình nghèo tới các dịch vụ chương trình tài chính, chăm sóc sức khoẻ Ví dụ
như các chương trình hướng dẫn hộ gia đình vay vốn, tạo việc làm, đề từ đó gia đình
có thể cải thiện tình hình kinh tế gia đình
Đối với cộng đồng, công tác xã hội đưa ra các dịch vụ phát triển cộng đồng, nâng cao nhận thức của người dân về vấn đề nghèo và khuyến khích sự tương trợ, hỗ trợ của cộng đồng với người nghèo và gia đình họ
- Các dịch vụ công tác xã hội liên quan đến chính sách, chương trình xã hội hỗ
trợ người nghèo
Công tác xã hội đã và đang tham gia rất tích cực vào việc xây dựng các chính
sách, các chương trình xã hội hỗ trợ người nghèo ở nhiều nước trên thế giới Nhân
Trang 23viên xã hội là người hỗ trợ chính phủ tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng, nhu cầu của người nghèo từ đó đề xuất với cơ quan cấp trên để nghiên cứu đưa ra các chính sách,
chương trình xã hội hỗ trợ người nghèo Ví dụ như nếu việc đưa ra nhu cầu được tiếp
cận các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ miễn phí Hay các chương trình hỗ trợ giảm nghèo
thông qua phát triển cộng đồng
4 Một số kỹ năng làm việc với người nghèo
Kỹ năng tuyên truyền vận động
Kỹ năng tập huấn
Kỹ năng biện hộ
Kỹ năng huy động nguồn lực
Kỹ năng tham vấn
V Kinh nghiệm quốc tế về giải quyết vấn đề đói nghèo
1 Giải quyết đói nghèo ở Thái Lan
Đối với Thái Lan tỉ lệ nghèo là 30% dân số trong thập kỷ 80 đến năm 1996
giam xuống còn 3% (13 triệu người) bởi chính phủ Thái Lan thực hiện một số biện pháp sau:
- Đối với người nghèo CHính phủ cho vay bằng hiện vật để sản xuất, cho vay vật tư giá rẻ, chất lượng tốt
- Thu mua các sản phẩm ngũ cốc rẻ, Ngân hàng cho nông dân vay vốn với lãi
suất thấp (3% năm) và cho nông dân dùng théc dé thé chấp Khi thóc được giá người
dân bán thóc và hoàn vốn cho Ngân hàng
- Chính phủ Thái Lan áp dụng mô hình gắn liền chính sách phát triển quốc gia
với phát triển nông thôn Thông qua việc phát triển nông thân xây dựng những xí
nghiệp ở làng quê nghèo, phát triển mô hình kinh doanh vừa và nhỏ, mở rộng các
trung tâm dạy nghề ở nông thôn đề giảm tỉ lệ thất nghiệp
- Chính phủ Thái Lan còn ban hành chính sách cải cách ruộng đất, qua đó người dân có quyền làm chủ ruộng đất Nhà nước tạo điều kiện cho nông dân mở rộng quy mô, hướng nông dân đi theo con đường sản xuất hàng hóa
2 Giải quyết đói nghèo ở Trung Quốc