1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

document

53 12 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 10,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55

Trang 1

; BO GIAO THONG VAN TAI TRUONG CAO DANG GIAO THONG VAN TAI TRUNG UONG I

GIAO TRINH

Mô đun: CÔNG TÁC XÃ HỘI VƠI

NGUOI KHUYET TAT

NGHE: CONG TAC XA HOI

TRINH DO: CAO DANG

Hà Nội — 2017

Trang 2

MUC LUC

LOI NOI DAU

BAI 1: KIEN THUC CHUNG VE KHUYET TAT VA NGUOI KHUYET TAT

1 Khái niệm, phân dạng khuyết tật

1.1 Khái niệm khuyết tật

1.2 Người khuyết tật

1.3.Phân loại khuyết tật

2 Nguyên nhân 16 2.1 Các nguyên nhân chính: 16

3 Hậu quả của khuyết tật 17

3.1 Hậu quả đối với bản thân người khuyết tật

3.2 Hậu quả đối với gia đình người khuyết tậ

3.3 Hậu quả đối với xã hội

4 Những khó khăn của người khuyết tật trong hòa nhập cộng đồng

4.1 Những khó khăn từ bản thân người khuyết tật

4.2 Những khó khăn của người khuyết tật khi hòa nhập cộng đồng

5 Chăm sóc người khuyết tật dựa vào cộng đồng

PHAN THUC HANH BAI 1

Mau 1

Méu 2

BAI 2 : CÔNG TÁC HỖ TRỢ NGƯỜI KHUYÉT TẬTT 2-2222 37

1 Các văn bản pháp luật quốc tế về người khuyết tật - 37

2 Các chính sách với người khuyết tật ở Việt Nam -cc -+- 39 2.1 Chính sách hỗ trợ giáo dụụC -. -c-e-©-c+ee+ccc+xertccrxeerrrrrxeerrrrrkeerrrre 39

2.2 Chính sách hỗ trợ việc làm -e¿+++++©E++et+tErxesrrrrvxeerrrrreeerrrre 42

2.3 Chính sách ưu đãi VỀ y tẾ -ccccc+ccScccvreHEEE1 1 1 rcee 44

2.4 Các mô hình người khuyết tật làm ăn giỏi . - -ccccccccccesccccvccceee 46

BÀI 3: KỸ NĂNG CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI KHUYÉT TẬT 33

1 Kỹ năng phát hiện và đánh giá khuyết tật -522cccccccccsrrrre 53

1.1 Kỹ năng phát hiện KUyel tit ceeccccessssssssssssssssssssssssssssssesssssssssssnisssessessanesseesesees 53 1.2 Đánh giá tình trạng người bị khuyết tật -cccccccecccccvceccsrrrrcres 56

Trang 3

2.1 Một số nguyên tắc chung trong giao tiếp với thân chủ khuyết tật 38 2.2.Kỹ năng giao tiếp lấy con người làm trung tâm đối với thân chủ có một số

dạng khuyết tật thường gặp -. c-: 5555cccccccScSESrverritrrrrtrtrrrrrrrrrrrrrreeree 62

3 Kỹ năng lập kế hoạch sản xuất, kinh doanh 2 £z+zze 71

3.1 Tại sao phải lập kế hoạch sản xuất kinh doanh c-©ee©cxe+cc+ssevcrse T1

3.2 Các kỹ năng cân có trong lập ké hoạch sản xuất kinh doanh: T7

3.3 Việc thành lập và xét cơ sở sản xuất kinh doanh của người khuyết tật và

thương bệnh: ĐÌHÏH 5-5 xxx TT nàn ghê 77

4 CTXH cá nhân với người khuyết tật -+++2Vvvv+rrerrrrrvrvee 79

4.1 Công tác xã hội cá nhân với người khuyết tật .- ccccccccccesccccccex 79

4.2 Phương pháp giải quyết vấn đỀ: -cccc+ ©222c5ccveertcccvvvvvrerrrrrrrrree 79

Tiến trình giải quyết vấn đề trong phương pháp công tác xã hội với cá nhân bao

OM 7 DUOC TT ố ẻ ố.ẻ.ẻ 79

5 CTXH nhóm với người khuyết tật -2 2++++2222222vvrrrrrrrrrvee 90

Qui: TKHINỘNEontonooitiiioidBRtliTiE0160054101116546554601611064463560118485865/481430446140/548066a85Ä 90

o2: CG:mgrrfiÔiiGtHtGI XHÍ THHOT ÏT:icssaadaniioniksEi01101641660114415805048143148614046480866a85E 90

3.3 Các dạng nhóm trong: cong the XA NGI: csirisessscssssssessssssassesesotvessisessnsnsavenssies O1 5.4 Công tác xã hội nhóm được sử dụng trong các trường hợp: 93 5.5 Công tác xã hội nhóm với người khuyết tật . -cccc cc-5ccccccecceee 94

1 Tổ chức các hoạt động giáo dục và hoạt động khác cùng với cộng tác viên

cộng đồng để nâng cao nhận thức xoá bỏ kỳ thị với người khuyết tật 103

2 Xây dựng và thực hiện các kế hoạch chăm sóc cá nhân với sự phối hợp với gia đình và những người khác - - ¿5° + + +ketkerrkerkrkerkerkrree 104

3 Đảm bảo an toàn và tăng cường tính độc lập của người khuyết tật với sự hỗ

trợ của gia đình và tổ chức cộng đồng -ccrrrrrtrtrrrrrrrree 106 3.1 Mô hình sinh kế -cccccccScScctttrtrererrerrrrrirrrrrrrrrrtrrrrrrrrrrrrrrerrree 106

3.2 Mô hình sống độc lập - -cc2c+++ScEEEEvveeerrtrttrvverrrrrrrrrrrreerree 107

Trang 4

4 Xây dựng các chương trình giáo dục cho người khuyết tật tại nhà trường và

tại cộng đồng 22++++22222 222 22221111111.2221111111 2211111111 re 108

TÁC nan e 108 4.2 Giáo dục hội nÏIẬT) - - << tt nghe 109 4.3 Giáo dục hòa nihậD - << << xxx EkEkEkekEkrkkkkkkrrrkrekrkrkrkrkrree 109

5 Cung cấp các chương trình vui chơi giải trí cho người khuyết tật 111

6 Điều chỉnh những hành vi chưa phù hợp - +2 113

BÀI 5_ CÁC TÔ CHỨC CỦA NGƯỜI KHUYÉT TẬT - 2 114

1 Liên hiệp Hội về người khuyết tật (VED) ++2cvcvvrvvee 114

2 Hội bảo trợ người tàn tật và trẻ mỗ côi (ASVHO) - 115

2.1 Tôn chỉ, mục đích của hội s5 k+xEeExeeeEkeeseeeexeexeerereeree 115 2.2 Chức năng, nhiệm vụ và quyền -:‹.:ạ 116

2.3 TỔ chức, hoạt độngg -++22EEE©vvvretttEEEEvvvrrittrrrrrrrrrrrrrrrrrves 116

PL ng nnốố.ố 120

3 Hội người mù Việt Nam (VBA - Vietnam Blind Association) 121

3.1 Hoàn cảnh và sự ra đời của hội người mù Việt Nam - - -5«-s= 121

3.2 TO chee ca HOE seecscsssssssssssesssssssessssssesssssssessssssecssssisesesssuessensivesesssucsesssneeseess 123

B13 NhiGm VU CUA NGI oeeeeceesescseesecseseseeneseeseeesesecsesseseseeseeeeseneeseeesetecseeeeaeeeeaeneee 124 3.4 Tati cChinh, tai SG CUA NGI ececccccccscescessesecsscsseeseenceseeseestenseseesseesseacesseeesseenees 125

IV 0002069: 0)08042 (0 HJA,|đLÃ:,.K 126

Trang 5

LOI NOI DAU

Theo báo cáo về khuyết tật trên thế giới của tổ chức Y tế thế giới và ngân hàng thế giới hiện nay, ước tính có khoảng 10 -15% dân số thế giới (tức là khoảng

700 triệu cho đến một tỷ người) là NKT và 80% trong số họ đang sống ở các nước đang phát triển NKT chiếm 20% trong số người nghèo nhất trên thế giới và rất khó

khăn trong tiếp cận giáo dục, việc làm, chăm sóc sức khỏe và dịch vụ trợ giúp xã hội

khác

Sáng 11/1/2019, tại Hà Nội, Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) phối hợp với Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc tại Việt Nam (Unicef) tổ chức lễ công bố kết

quả điều tra quốc gia về người khuyết tật Việt Nam trong 2 năm 2016-2017" Cả nước

gần 5 triệu hộ gia đình có người khuyết tật Tỷ lệ người khuyết tật từ 2 tuổi trở lên chiếm hơn 7% dân số, tương đương khoảng hơn 6,2 triệu người Điều đó ở một chừng mực nào đó đã cho thấy vấn đề khuyết tật và người khuyết tật là phổ biến ở Việt

Nam và là vấn đề cần quan tâm trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội quốc gia

Theo ông Vũ Thanh Liêm, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và

Đầu tư): “Kết quả cuộc điều tra cho thấy người khuyết tật ít có cơ hội đi học, đi làm

hơn Mặc dù người khuyết tật được hưởng BHYT cao hơn nhưng các dịch vụ phục hồi chức năng còn rất hạn chế Việc tiếp cận các cơ sở y tế cũng như trường học gặp khó khăn Người khuyết tật sống trong hộ nghèo cao hơn người không khuyết tật, đặc biệt vẫn còn tư tưởng kỳ thị đối với người khuyết tật” Trong những năm tới, số lượng người khuyết tật có xu hướng gia tang do tai nan giao thông, tai nạn lao động, ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng, đồng thời những nguyên nhân dẫn tới

tàn tật cũng sẽ có sự biến động và khác hơn so với giai đoạn trước đây

Công tác xã hội với người khuyết tật là một chuyên ngành quan trọng của công tác xã hội Với kiến thức và kỹ năng chuyên môn của mình, các nhân viên công tác xã hội nhận diện các khó khăn và nhu cầu của người khuyết tật để từ đó trợ giúp họ vượt qua các khó khăn, đáp ứng các nhu cầu của họ và mang lại sự công bằng và bình đẳng cho người khuyết tật trong xã hội Để đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, giảng dạy và học tập của giảng viên và sinh viên nghề Công tác xã hội của Nhà trường, Tổ môn Công tác xã hội - Khoa Sư phạm dạy nghề - Trường Cao đẳng Giao thông vận tải trung ương I tô chức biên soạn cuốn Giáo trình Công tác xã hội với người khyết tật đùng cho nội bộ Với kinh nghiệm giảng đạy còn hạn chế đã tích lũy được, cùng với sự có gắng tìm tòi, nghiên cứu của các thầy cô trong tổ môn, cuốn Giáo trình đã cố gắng chọn lọc trình bày những vấn đề cơ bản nhất về Công tác xã hội với người khuyết tật Hy vọng cuốn giáo trình an sinh xã hội sẽ kịp thời phục vụ cho giảng viên, sinh viên Nhà trường, đồng thời là tài liệu tham khảo có ích

"Theo báo Điện tử của đài tiếng nói Việt Nam VOV ngày 11/1/2019

Trang 6

Cuốn giáo trình Công tác xã hội với người khuyết tật được trình bay đựa trên

chương trình khung do Tổng cục dạy nghề ban hành gồm có 5 bài:

Bài 1: Kiến thức chung về khuyết tật và người khuyết tật

Bài 2: Công tác hỗ trợ người khuyết tật

Bài 3: Kỹ năng công tác xã hội với người khuyết tật

Bài 4: Các hoạt động hòa nhập cộng đồng của người khuyết tật

Bài 5: Các tổ chức của người khuyết tật

Giáo trình Công tác xã hội với người khuyết tật nội bộ này lần đầu tiên được

biên soạn nên không tránh khỏi thiếu sót, chúng tôi mong nhận được ý kiến đóng góp

của bạn đọc để hoàn thiện nội dung của giáo trình./

Tổ môn Công tác xã hội - Khoa Sư phạm dạy nghề

Trang 7

BAI 1: KIEN THUC CHUNG VE KHUYET TAT VA NGUOI KHUYET TAT

Thoi gian: 14 gid

1 Khái niệm, phân dạng khuyết tật

1.1 Khái niệm khuyết tật

Trong hệ thống phân loại Quốc tế ICF (Tại Đại hội WHO lần thứ 54 ngày

22 tháng 5 năm 2001, phiên bản ICIDH — 2 chính thức được WHO phê duyệt ban

hành và đổi tên là ICF(International Classification on Functioning) WHO định

nghĩa khuyết tật như sau: “K#uyết tật là thuật ngữ chung chỉ tình trạng khiếm khuyết, hạn chế vận động và tham gia, thể hiện những mặt tiêu cực trong quan hệ

tương tác giữa cá nhân một người (vê mặt tình trạng sức khỏe) với các yếu tố hoàn cảnh của người đó (bao gồm yếu tổ môi trường và các yếu tố cá nhân khác) ” Phân loại ICF được sử dụng để đánh giá tình trạng chức năng và giảm khả năng trong mối quan hệ tương tác giữa điều kiện sức khỏe và các lĩnh vực liên quan đến sức khỏe của một cá thể hay một cộng đồng

* Cấu trúc phân loại ICE

Thông tin phân loại ICF cho một người được cấu trúc bởi hai phần Phần 1 là

thông tin về chức năng và giảm khả năng Phần 2 mô tả các yếu tố hoàn cảnh bao gồm

đặc điểm cá nhân và yếu tố môi trường

- Phần thứ nhất được cấu thành bởi hai thành tố, đó là:

+ 1a) Đặc điểm cơ thể về cấu trúc giải phẫu và hệ thống chức năng;

+ 1b) Hoạt động và sự tham gia, mô tả khả năng thực hiện được các hoạt động của cá nhân và khả năng tham gia các hoạt động xã hội

- Phần thứ 2, mô tả mối tương tác hoàn cảnh cũng được cấu thành bởi 2 thành

Trang 8

nhau, tat ca déu duge phan loai) Tuy nhién yéu tố cá nhân không được phân loại chỉ

tiết vì phạm vi của yếu tố cá nhân là rất rộng trong đó nhiều yếu tố liên quan đến văn hóa, tôn giáo và xã hội

- Với mỗi một thay đổi của một lĩnh vực cụ thể, ICF đưa ra thang phân loại 4

bậc để chỉ mức độ tác động tích cực/hay tiêu cực của trạng chức năng Bốn mức độ

gồm: ảnh hưởng nhẹ, ảnh hưởng vừa, ảnh hưởng nhiều, và ảnh hưởng nghiêm trọng

Ví dụ nếu có khiếm khuyết thì mức mức 1 là khiếm khuyết nhẹ, mức 2 là khiếm

khuyết trung bình, mức 3 là khiếm khuyết nghiêm trọng, mức 4 là hoàn toàn mắt cấu trúc Nếu có giảm khả năng thì mức 1 là giảm khả năng nhẹ, mức 2 là giảm khả năng

trung bình, mức 3 là giảm khả năng nhiều và mức 4 là mất hoàn toàn khả năng

Mô tả khái quát cầu trúc ICF

cau Wan ® cate nang co Cachoat dong ramiprimwanr

khi6m khuyết Ưng hạn chế sự gia

Trong các văn bản pháp lý trước đây của nhà nước Việt Nam, tàn tật là cụm từ

được sử dụng, song theo Luật người khuyết tật năm 2010, cụm từ khuyết tật được

dùng để thay thế từ tàn tật trong các văn bản chính thức

Như vậy định nghĩa khuyết tật theo cách tiếp cận khái niệm mới được hiểu "Là tình trạng thiếu hụt chức năng hay rối loạn chức năng so với chuẩn sinh lý bình thường làm cho cá nhân bị trở ngại trong học tập, làm việc, giao tiếp, vui chơi giải trí

cơ thể đo bẩm sinh mà có, hoặc đo tai nạn hay bệnhh gây ra”

Như vậy, khuyết tật có thể được hiểu là khiếm khuyết thực thể ở một bộ phận

nào đó hoặc khiếm khuyết chức năng ở một hoặc nhiều cơ quan, tổ chức của cơ thể và

khiếm khuyết đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống

Nói về khiếm khuyết, là vấn đề rất thông thường, và bắt kỳ ai cũng đều có thể

bị khiếm khuyết trong một giai đoạn nào đó của cuộc sống Vậy vấn đề chỉ còn nằm ở

Trang 9

chỗ khiếm khuyết đó nghiêm trọng đến mức nào Tuy nhiên khái niệm nghiêm trọng ở đây không hoàn toàn xác định được một cách đơn nhất, bởi vì nó không chỉ phụ thuộc

vào bản thân khiếm khuyết mà còn phụ thuộc vào bối cảnh văn hóa, khoa học

Nếu một người cận thị khá nặng trong thời đại không có kính trợ giúp thì đó là

một vấn đề rất rắc rối và sẽ bị coi là khuyết tật Còn trong thời đại hiện nay tật khúc xạ không còn là vấn đề lớn ảnh hưởng đến cuộc sống mỗi cá nhân Một ví dụ khác, chẳng

hạn một cô gái có vết sẹo đài ở mặt và trông khó coi (theo quan điểm của xã hội) sẽ bị

ảnh hưởng nghiêm trọng đến hạnh phúc của cô trong đó có lòng tự trọng bị tổn thương

và khả năng kết hôn theo sự tự lựa chọn thấp Nhưng rõ ràng là cô gái đó vẫn có sức

khỏe thể chất, tâm thần và giác quan bình thường nếu vết sẹo đó ở vùng bung van dé

lại khác hoàn toàn Như vậy sự khuyết tật của cô do quan niệm của xã hội tạo thành,

chính những quan niệm của xã hội và của chính cô đã hạn chế cô được nhận đầy đủ giá trị cuộc sống

Những điều trên cho thấy, sự tiến bộ của khoa học công nghệ và sự điều chỉnh

thái độ đúng đắn khiến nhiều người khuyết tật sẽ đơn giản chỉ là bị khiếm khuyết 1.2 Người khuyết tật

Trước đây, trong các văn bản quốc tế cũng như của Việt Nam thường theo

sử dụng thuật ngữ “người tàn tật” (Theo Tuyên ngôn về quyền của người khuyết tật được ĐHĐ LHQ thông qua ngày 9/12/75, Theo nghị định số §1/CP ngày

23/11/95 của Chính phủ Việt Nam về hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ lao

động về lao động người tàn tật) Tuy nhiên, hiện nay hầu như tất cả các văn bản

liên quan đến người khuyết tật đều không sử dụng thuật ngữ “ người tàn tật” mà chỉ sử dụng thuật ngữ “người khuyết tật”

Theo Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tat — 2006 thì “Người khuyết tật (people with disabilities) bao gồm những người có những khiếm khuyết lâu dài về thể chất, trí tuệ, thần kinh hoặc giác quan mà khi tương tác với các rào cản khác nhau có thể cản trở sự tham gia đây đủ và hiệu quả của họ trong xã hội trên một nên tảng công bằng như những người khác trong xã hội ”.ˆ

Theo luật người khuyết tật của được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày

17/06/2010: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận

cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn "°

Việc thay đổi thuật ngữ này là vì việc hiểu bản chất của khuyết tật có thể từ

nhiều nguyên nhân khác nhau, có thể là từ cá nhân, từ xã hội chứ không phải chỉ từ một phía Do vậy nếu dùng từ “tan /ᣔ thì chỉ tập trung vào sự bat lợi của họ đối

2 Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật, 2006

*Lnật Người khuyết tật Việt Nam, 2010

Trang 10

với mọi người xung quanh, tức phân biệt họ đối với xã hội Trong cuộc hội thảo

do Văn phòng Điều phối các hoạt động hỗ trợ người tàn tật Việt Nam (NCCDP) và

Tổ chức Cứu trợ và Phát trién (CRS) thực hiện thì có đến 17 trên tổng số 19 ý kiến

cho rằng nên thay cụm từ “tàn tật” bằng “khuyết tật” Ngoài ra bản thân những người có khiếm khuyết cũng muốn mình được gọi bằng cụm từ “người khuyết tật” hơn là “người tàn tật”

1.3.Phân loại khuyết tật

Có nhiều cách phân loại người khuyết tật khác nhau tùy vào mục đích của sự phân loại

1.3.1 Phân loại theo nguyên nhân gây khuyết tật

Khuyết tật bẩm sinh: những khuyết tật xuất hiện ngay từ thời kỳ bào thai đo sai lệch nhiễm sắc thể hoặc mắc phải trong thai kỳ; ví dụ như bệnh Down, sứt môi, hở hàm ếch, bại não, não ting thủy, câm- điếc bam sinh

Khuyết tật mắc phải: những khuyết tật xuất hiện như một di chứng của bệnh tật

hoặc tai nạn trong cuộc đời, ví dụ như cụt tay, chân, liệt, mù, điếc

1.3.2 Phân loại theo nhóm khuyết tật

Dùng trong phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng Việc phân loại khuyết tật

sử dụng tiêu chí giảm chức năng sinh lý do một hoặc nhiều khuyết tật Do đó khuyết tật được phân thành 2 nhóm, bao gồm:

- Nhóm chỉ mắc 1 khuyết tật:

+ Giảm chức năng vận động;

+ Giảm chức năng nghe và nói;

+ Giảm chức năng nhìn;

+ Giảm cảm giác (xúc giác, vị giác, khứu giác );

+ Giảm chức năng nhận thức (chậm phát triển trí tuệ, sa sút trí tuệ);

+ Giảm chức năng kiểm soát tâm thần và hành vi (rối loạn tâm thần và hành vi): + Bệnh lý tâm thần;

+ Các giảm chức năng khác: tuần hoàn, hô hấp, tiêu hoá, tiết niệu, nội tiết, sinh

duc, sinh san

- Nhóm mắc đa khuyết tật: mắc 2 khuyết tật trở lên

1.3.3 Phân loại theo dạng tật

Dùng trong thực thi các chính sách xã hội, y học thé thao, phan loại người

khuyết tật theo chức năng bộ phận bị khuyết tật thành các đạng tật

Trang 11

- Dinh khớp, biến dạng khớp do chứng các bệnh lý khớp

- Dj dang bẩm sinh: bàn chân khèo, trật khớp háng bẩm sinh, gai đôi

- Bại, liệt trong di chứng bại não, bại liệt, liệt dây thần kinh ngoại vi, viêm não

~ màng não, tủy sống, tai biến mạch não

- Teo cơ, cứng khớp ở những bệnh nhân bị bệnh mạn tính phải nằm lâu ngày ở

một tư thế

Các biểu hiện thường thấy ở những người khuyết tật vận động:

- Trẻ nhỏ có thể không bú được vì không thực hiện được động tác mút; khi bế

đầu trẻ ưỡn ra sau, lưỡi thè ra khi mẹ đặt núm vú vào miệng, thường quấy khóc, không chịu chơi

- Tré ít hoặc không sử dụng tay, ít hoặc không đi chuyển từ chỗ này sang chỗ

khác; ít chịu vận động, không chịu chơi, hay ngồi một mình, không tự chăm sóc mình

được

~ Người lớn thường ít vận động, ít hoặc không sử dụng tay chân, di chuyển khó

khăn, đau khớp, không tự ăn, uống, tắm, rửa, đại tiểu tiện, vệ sinh cá nhân; không

tham gia được những công việc trong sinh hoạt hàng ngày của gia đình, cộng đồng và

xã hội

- Người khuyết tật vận động cũng có thể có những khuyết tật khác kèm theo

như khuyết tật về nghe, nói; nhìn, thần kinh

- Cách cư xử không bình thường: buồn rầu, chán nản, tính tình thay đổi bất

thường, luôn trông chờ và sự giúp đỡ của người khác, giảm hoặc mất lòng tin vào chính mình

b) Khuyết tật nghe, nói

Định nghĩa người khuyết tật nghe, nói là những người không thể nghe, không thể nói nhu bình thường hoặc sức nghe giảm từ khoảng cách trên 3 mét

Những người "câm - điếc": gồm những người có khuyết tật về thính giác tức là điếc từ khi được sinh ra dan đến không biết nói Ở những người này cơ quan phát âm hoàn toàn bình thường

Người khiếm thính: gồm những người suy giảm chức năng nghe đo nhiều nguyên nhân khác nhau; nhóm này không phải là không nghe thấy âm thanh, xin nói

rõ, họ vẫn nghe được âm thanh, nhưng âm thanh tiếng nói với cường độ nhỏ nên không thể nghe thấy

Nhóm người khuyết tật nói gồm những người bị mắc chứng nói ngọng, nói lắp hoặc không nói được

Cách phát hiện người khuyết tật nghe:

- Trẻ dưới 6 tháng tuổi: Đặt trẻ nằm ngửa, ngồi phía đầu trẻ để trẻ không nhìn

thấy; Vỗ tay mạnh và quan sát xem trẻ có giật mình hay ngạc nhiên, nháy mắt, uốn

Trang 12

người, co chân tay lại hay không; nếu có là trẻ nghe thấy, nếu không là trẻ đã giảm khả năng nghe; lặp lại 3 lần để khẳng định kết quả

~ Trẻ dưới 36 tháng tuổi: Trẻ ngồi trước mặt mẹ, người kiểm tra ngồi phía sau

trẻ; Dùng dụng cụ phát ra âm thanh

c) Khuyét tat nhin

Định nghĩa người khuyết tật nhìn là những người có khuyết tật ở mắt

- Cận thị: Mắt nhìn không rõ khi vật ở xa

- Viễn thị: Mắt nhìn không rõ khi vật ở gần

- Loạn thị: Mắt nhìn thấy hình ảnh vật thể méo mó, không sắc nét

- Quang ga: Mat không nhìn thấy ở ánh sáng yếu

- Nhìn đôi: Mắt nhìn thấy hai ảnh của cùng một vật

~ Mất thị trường: Mắt mắt một góc nhìn, vùng nhìn

- Lòa: Mắt không còn nhìn rõ nữa, mà chỉ còn có thể nhìn thấy mọi vật lờ mờ,

không rõ nét

- Mù toàn thể: Mắt không mắt khả năng nhìn hoặc không có mắt bẩm sinh

- Mù màu: Mắt không có khả năng phân biệt màu sắc nhất định với mức độ khác nhau, phổ biến nhất mù màu đỏ màu xanh

Cách phát hiện người có khuyết tật nhìn:

- Trẻ nhỏ từ 3 tháng đến 3 tuổi: Để trẻ ngồi trong lòng mẹ, cầm một vật phát

sáng (nến, đèn) các mắt trẻ 30-50cm va dua đi đưa lại, nếu:

+ Trẻ nhìn theo vật phát sáng di chuyển là trẻ nhìn bình thường;

+ Trẻ không nhìn theo vật phát sáng di chuyền trong 3 lần là trẻ giám khả năng nhìn

- Trẻ trên 3 tuổi và người lớn: Đứng cách người được kiểm tra 3 mét, giơ ngón tay của 1 bàn tay lên Nói ho làm như vậy, khi người đó không làm giống được có nghĩa là họ đã giảm khả năng nhìn

- Dùng ánh sáng đèn xem kỹ từng mắt của người giảm khả năng nhìn, gửi đi khám chuyên khoa mắt tắt cả những người có những biểu hiện sau:

+ Mắt đỏ và chảy nước mắt nhiều hơn bình thường;

+ Có màng màu nâu trên lòng trắng;

+ Mắt đỏ và sưng đọc bờ mi;

+ Di tật, tổn thương mắt;

+ Khô giác mạc; có điểm sáng trên lòng đen mất;

+ Mờ hay đục con ngươi mắt

d) Khuyét tat than kinh, tâm thần

- Người khuyết tật thần kinh là người có khuyết tật ở bộ máy thần kinh của cơ

Trang 13

+ Khuyét tat hé thần kinh vận động như các dạng liệt cứng, liệt mềm, bại liệt Khuyết tật thần kinh thường đi với các dạng khuyết tật khác như khuyết tật vận động,

nghe, nói, nhìn

+ Khuyết tật hệ thần kinh trung ương như động kinh đó là những cơn mất ý

thức ngắn, định hình đột ngột, có khuynh hướng chu kỳ tái phát, khi lên cơn có thể không kiểm soát được

- Người khuyết tật tâm thần là những người có những biểu hiện tâm thần không bình thường như rối loạn nhân cách, các dạng bệnh tâm thần hay còn gọi là những

người có hành vi xa lạ

Các biểu hiện hay gặp là:

- Nhức đầu, mắt ngủ, thay đổi tính tình;

- Vui vẻ bất thường, múa hát, nói cười ami hoac buồn rầu, ủ rũ, không nói năng

gi;

- Nghe thấy tiếng nói hay nhìn thấy hình ảnh không có trong thực tế;

- Tự cho mình có nhiều tài năng xuất chúng hoặc cho là có người theo dõi ám

hại mình;

- Lên cơn kích động hoặc nằm im không ăn uống gì

e) Khuyét tật trí tuệ

Người khuyết tật trí tuệ là người không có khả năng điều khiển bản thân và xử

lý các vấn đề của riêng mình, hoặc phải được dạy mới biết làm, họ có nhu cầu về sự

giám sát, kiểm soát và chăm sóc cho sức khoẻ của bản thân mình và cần đến sự chăm sóc của cộng đồng

Điền hình của dạng này là trẻ chậm phát triển trí tuệ Trẻ có hoạt động trí tuệ

dưới mức trung bình, hạn chế về kỹ năng thích ứng và loại khuyết tật xuất hiện trước

18 tuổi

Phân loại trẻ chậm phát triển trí tuệ thường dựa vào chỉ số thông minh IQ

- Người có chỉ số thông minh tir 75 — 100 là người phát triển bình thường

- Chỉ số thông minh IQ dưới 75 là người chậm phát triển trí tuệ Trong đó: + Chi sé IQ 60 — 74 có thể theo học được các lớp hòa nhập trong trường phô

thông

+ Chỉ số thông minh IQ 40 — 60 mức độ chậm vừa có thể tham gia học tại các

trường chuyên biệt đành cho trẻ chậm phát triển trí tuệ

+ Chỉ số thông minh IQ dưới 40 mức độ chậm phát triển trí tuệ nặng có thể học

các kỹ năng tự phục vụ bản thân

Trẻ chậm phát triển trí tuệ được phân thành các nhóm nhẹ, vừa, nặng và nghiêm

trọng Nhóm trẻ chậm phát triển trí tuệ nhẹ là đông nhất chiếm khoảng 85% tổng số trẻ chậm phát triển trí tuệ Nhóm trẻ chậm phát triển trí tuệ vừa chiếm khoảng 10% tổng

Trang 14

số trẻ chậm phát triển trí tuệ Nhóm trẻ chậm phát triển trí tuệ nặng chiếm khoang 3%- 4% tổng số trẻ chậm phát triển trí tuệ Nhóm trẻ chậm phát triển trí tuệ nghiêm trọng chiếm khoảng 1%-2% tổng số trẻ chậm phát triển trí tuệ

Các đặc trưng của trẻ chậm phát triển trí tuệ

Các đặc trưng phát triển chung:

- Chậm phát triển vận động: trẻ chậm biết lật, ngồi, bò và đi đứng;

- Chậm biết nói hoặc khó khăn khi nói;

- Kém hiểu biết về các quy luật xã hội căn ban;

- Không ý thức được hậu quả về các hành vi của mình;

- Kho khăn khi tự phục vụ: tự ăn uống, vệ sinh cá nhân;

- Lăng xăng

Đặc trưng về cảm giác, trỉ giác, có 3 biểu hiện sau:

- Cham chap, ít linh hoạt;

- Phân biệt màu sắc, dấu hiệu, chỉ tiết sự vật kém;

~ Thiếu tính tích cực trong quan sát

Đặc trưng về tư duy:

- Trẻ phát triển trí tuệ chủ yếu là hình thức tư duy cụ thể, do đó trẻ khó nhận biết các khái niệm;

- Tu duy của trẻ thường biểu hiện tính không liên tục;

- Tư duy lôgíc kém; Khó khăn trong suy nghĩ hợp tình lý;

- Tu đuy trẻ còn thiếu tính nhận xét, phê phán

Đặc trưng về trí nhớ:

- Chậm hiểu cái mới, quên nhanh cái vừa tiếp thu;

- Quá trình ghi nhớ không bền vững, không đầy đủ;

- Chỉ ghi nhớ được cái bên ngoài sự vật, khó ghi nhớ cái bên trong, khái quát

Đặc trưng về chú ý:

- Khó tập trung, dễ bị phân tán;

- Không tập trung vào chỉ tiết, chỉ tập trung các nét bên ngoài;

- Kém bền vững;

- Luôn luôn bị phân tán bởi các sự việc nhỏ;

- Thời gian chú ý của trẻ chậm phát triển trí tuệ kém hơn nhiều trẻ bình thường g) Khuyết tật khác

Các khuyết tật không nằm trong 5 loại khuyết tật trên như dị hình, dị dạng, nạn nhân chất độc da cam, di chứng bệnh phong, hội chứng Down

Khuyết tật đang có nhiều ý kiến chưa thống nhất là tự kỷ Tự kỷ là một rối loạn tâm thần nặng, mạn tính với đặc điểm là trẻ mất khả năng phát triển mối quan hệ, khó

Trang 15

khăn trong việc cư xử với mọi người, chậm phát triển về mặt ngôn ngữ cũng như có

những hành vi định hình lặp đi lặp lại

Tự kỷ có thể nằm trong dạng khuyết tật thứ 4, thứ 5 hoặc thứ 6 Các cơ quan

tham gia xây dựng luật và các nghị định, thông tư thi hành luật Người khuyết tật vẫn chưa thống nhất quan điểm xếp tự kỷ vào dang tật nào Câu lạc bộ Gia đình Trẻ tự kỷ

Hà Nội cho rằng, nếu xếp tự kỷ vào khuyết tật thần kinh, tâm thần, hoặc khuyết tật trí

tuệ là không đúng với bản chất của khuyét tật tự kỷ Mặt khác, trên thực tế có rất nhiều trẻ tự kỷ điển hình, rất khó khăn trong tương tác xã hội, nhưng không có đầy đủ dấu

hiệu đặc trưng của thần kinh hay chậm phát triển, nếu xếp tự kỷ chung với một trong

hai nhóm này, sẽ rất khó khăn và thiếu chính xác khi các hội đồng địa phương xét

công nhận khuyết tật cũng như phân hạng khuyết tật (các mức nặng, trung bình, nhẹ)

Một nhân vật nổi tiếng trong lịch sử đồng thời là một người tự kỷ là nhà bác học Albert Eistein Chắc chắn không ai cho rằng ông mắc chứng thần kinh, hay hài hước

hơn, là chậm phát triển trí tuệ! Vì những phân tích trên mà câu lạc bộ đề nghị tự kỷ

được xếp vào dạng khuyết tật khác, nhóm duy nhất có thể phù hợp trong trường hợp này

* NGƯỜI KHUYẾT TẬT ĐƯỢC CHIA THEO MỨC ĐỘ KHUYẾT TẬT

SAU ĐÂY:

- Người khuyết tật đặc biệt nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thẻ tự

thực hiện việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày;

- Người khuyết tật nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thẻ tự thực hiện

một số việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày;

-_ Người khuyết tật nhẹ là người khuyết tật có thể tự thực hiện một số việc phục

vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày

Xác nhận mức độ khuyết tật

Theo luật người khuyết tật Việt Nam năm 2010 việc xác nhận mức độ khuyết

tật được qui định như sau:

Điều 15 Trách nhiệm xác định mức độ khuyết tật

1 Việc xác định mức độ khuyết tật do Hội đồng xác định mức độ khuyết tật

Trang 16

ce) Có bằng chứng xác thực về việc xác định mức độ khuyết tật của Hội đồng

xác định mức độ khuyết tật không khách quan, chính xác

3 Trường hợp đã có kết luận của Hội đồng giám định y khoa về khả năng tự

phục vụ mức độ suy giảm khả năng lao động thì việc xác định mức độ khuyết tật theo

quy định của Chính phủ

Điều 16 Hội đồng xác định mức độ khuyết tật

1 Hội đồng xác định mức độ khuyết tật do Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã,

phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) thành lập

2 Hội đồng xác định mức độ khuyết tật bao gồm các thành viên sau đây: a) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã là Chủ tịch Hội đồng:

b) Trạm trưởng trạm y tế cấp xã;

e) Công chức cấp xã phụ trách công tác lao động, thương bỉnh và xã hội;

đ) Người đứng đầu hoặc cấp phó của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội

phụ nữ, Đoàn thanh niên, Hội cựu chiến binh cấp xa;

đ) Người đứng đầu tổ chức của người khuyết tật cấp xã nơi có tổ chức của

người khuyết tật

3 Chủ tịch Hội đồng có trách nhiệm tổ chức và chủ trì hoạt động của Hội đồng Hội đồng làm việc theo nguyên tắc tập thể Cuộc họp của Hội đồng chỉ có giá trị khi

có ít nhất hai phần ba số thành viên của Hội đồng tham dự Kết luận của Hội đồng

được thông qua bằng cách biểu quyết theo đa số, trường hợp số phiếu ngang nhau thì

quyết định theo ý kiến của Chủ tịch Hội đồng Kết luận của Hội đồng được thể hiện bằng văn bản do Chủ tịch Hội đồng ký

4 Hội đồng xác định mức độ khuyết tật quyết định độc lập và chịu trách nhiệm

trước pháp luật về tính trung thực trong việc xác định mức độ khuyết tật

5 Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định chi tiết hoạt động

của Hội đồng xác định mức độ khuyét tat

Điều 17 Phương pháp xác định mức độ khuyết tật

1 Việc xác định mức độ khuyết tật quy định tại khoản 1 Điều 15 của Luật này

được thực hiện bằng phương pháp quan sát trực tiếp người khuyét tật, thông qua thực

hiện hoạt động đơn giản phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày, sử dụng bộ câu

hỏi theo các tiêu chí về y tế, xã hội và các phương pháp đơn giản khác đề kết luận mức

độ khuyết tật đối với từng người khuyết tật

Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Bộ trưởng Bộ Y tế, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định chỉ tiết khoản này

2 Bộ trưởng Bộ Y tế chủ trì phối hợp với Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định chỉ tiết về việc xác định mức độ khuyét tật đối với trường hợp

quy định tại khoản 2 Điều 15 của Luật này

Trang 17

Điều 18 Thủ tục xác định mức độ khuyết tật

1 Khi có nhu cầu xác định mức độ khuyết tật, người khuyết tật hoặc người đại

diện hợp pháp của người khuyết tật gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người khuyết tật cư trú

2 Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận đơn đề nghị xác định mức độ

khuyết tật, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm triệu tập Hội đồng xác định mức độ khuyết tật, gửi thông báo về thời gian xác định mức độ khuyết tật cho

người khuyết tật hoặc người đại diện hợp pháp của họ

3 Hội đồng xác định mức độ khuyét tật tổ chức việc xác định mức độ khuyết tật, lập hồ sơ xác định mức độ khuyết tật và ra kết luận

4 Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày có kết luận của Hội đồng xác định mức độ khuyết tật, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã niêm yết và thông báo công

khai kết luận của Hội đồng xác định mức độ khuyết tật và cấp giấy xác nhận khuyết tật

5 Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định chỉ tiết trình tự,

thủ tục, hồ sơ xác định mức độ khuyết tật quy định tại Điều này

Điều 19 Giấy xác nhận khuyết tật

1 Giấy xác nhận khuyết tật có các nội dung cơ bản sau đây:

a) Họ và tên, ngày, tháng, năm sinh, giới tính của người khuyết tật;

b) Địa chỉ nơi cư trú của người khuyết tật;

c) Dạng khuyết tật;

d) Mức độ khuyết tật

2 Giấy xác nhận khuyết tật có hiệu lực kể từ ngày Chủ tịch Ủy ban nhân dân

cấp xã ký

3 Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định việc đổi, cấp lại,

thu hồi Giấy xác nhận khuyết tật

Điều 20 Xác định lại mức độ khuyết tật

1.Việc xác định lại mức độ khuyết tật được thực hiện theo đề nghị của người

khuyết tật hoặc người đại diện hợp pháp của người khuyết tật khi có sự kiện làm thay

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến khuyết tật mà chủ yếu gồm:

- Những nguyên nhân do môi trường sóng:

Trang 18

+ Đói nghèo, suy dinh dưỡng, tật bệnh không được phát hiện và chữa trị, phục

hồi chức năng kịp thời

+ Điều kiện ăn ở chật chội, yếu kém, mắt vệ sinh

+ Ô nhiễm và suy thoái môi trường, thiên tai

+ Sử dụng thuốc chữa bệnh bừa bãi dẫn đến nhiễm độc

+ Chấn thương do tai nạn, rủi ro ( giao thông, trong lao động, trong gia đình và trong thể thao) Trong thời bình theo thời gian tỷ lệ người khuyết tật do chiến tranh sẽ

giảm dần thay vào đó tỷ lệ do tai nạn giao thông, sinh hoạt và lao động sẽ tăng lên

+ Thay đổi chế độ ăn uống và hoàn cảnh sống

+ Thiếu chăm sóc trong thời kỳ đầu mang thai và sơ sinh ( thiếu Ôxi, tổn thương não do ngạt, do trấn thương đầu trong khi sinh, đẻ non, viêm màng não do

bệnh sởi, ho gà, quai bị, thuỷ đậu và viêm phổi sau khi sinh)

+ Chiến tranh và bạo lực: Các cuộc chiến đã tạo ra nhiều thương binh và nạn

nhân Tùy từng quốc gia có những chính sách đặc biệt đẻ giúp đỡ những người này

- Những nguyên nhân do xã hội

+ Mù chữ và thiếu thông tin về các dịch vụ y tế sẵn có, do không theo dõi hay

thiếu hiểu biết

+ Sy bat lực của y hoc va khoa hoc ky thuat

+ Căng thẳng và áp lực trong cuộc sống và công việc hàng ngày

+ Thái độ của xã hội, đô thị hoá, dân số gia tăng, di cư

+ Kết hôn trực hệ ( cùng huyết thống)

- Những nguyên nhân bẩm sinh

+ Di truyền, dị tật bẩm sinh

+ Do gen ( lỗi do NST, hội chứng đao)

+ Do lay truyén tir cha me tir trong bao thai (soi Rubella, giang mai, HIV)

2.2 Một số nguyên nhân khác như:

+ Lạm dụng và nghiện rượu, thuốc lá và ma tuý gây nhiễm độc thai nhi

+ Các thử nghiệm khoa học lên thân thể mà không có sự đồng ý của nạn nhân

3 Hậu quả của khuyết tật

3.1 Hậu quả đối với bản thân người khuyết tật

Trang 19

- 90% trẻ em tàn tật chết sớm, Tỷ lệ mắc bệnh cao

- Không được vui chơi

- Không được học hành Kết quả phân tích cho thấy tỷ số đang đi học phổ thông

trung học thuần ở nhóm NKT thấp hơn đáng kẻso với Người không khuyết tật và kết quả này đúng cho cả nam lẫn nữ khi phân tích riêng hai nhóm Thực tế Người khuyết tật nặng

không được tính đến vì họ không có khả năng đi học

- Thất nghiệp không có thu nhập Tỷ lệ người trưởng thành trong độ tuổi lao

động (từ 18 đến đưới 60 tuổi đối với nam và từ 18 đến dưới 55 tuổi đối với nữ) đang đi

làm của NKT rất gần với tỷ lệ của NKKT Tại thời điểm khảo sát có khoảng 80% số NKT

cũng như NKKT trưởng thành trong độ tuổi lao động hiện đang đi làm Tuy nhiên, tỷ lệ này

trong nhóm NKTN lại rất thấp và ở mức dưới 5% Một điểm đáng chú ý khác là khác biệt

giới rấtrõ rệt giữa NKT và NKKT trong tình trạng việc làm: trong khi tỷ lệ nam giới trong độ tuổi lao động có việc làm ở NKKT cao hơn nữ giới thì nam giới có việc làm lại thấp hơn đôi hút so với nữ giới trong nhóm NKT

1

Biểu đồ 3.29”

®*Š «Chỉ phí kinh tế của sống với khuyết tật và kì thị ở Việt Nam”, Chịu trách nhiệm

xuất bản: Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội, NXB Lao Động, 2013

18

Trang 20

Kết quả phân tích số liệu cho thấy gần như tất cả những người dang đi làm, gồm

cả NKT và NKKT, được nhận lương cho công việc của mình Nhìn chung, NKT cé

mức lương tháng thấp hơn so với NKKT Khoảng một nửa số NKT có mức lương tháng

trung bình từ 1,25 triệu đồng trở xuống trong khi khoảng một nửa số NKKT có lương tháng trung bình vào khoảng 2 triệu đồng trở xuống Những người có khó khăn về tự chăm sóc bản thân và thính giác có mức lương thấp hơn những người khuyết tật dạng khác nhưng những khác biệt này không đáng kể

(Đơn vi: đỗng)

Trung bình Trung vị Nhin 2.922 361 1.100.000

- Khó có cơ hội lập gia đình Kết quả phân tích từ nghiên cứu này cho thấy

NKT gặp nhiều khó khăn hơn trong việc kết hôn Tỷ lệ chưa bao giờ kết hôn trong

nhóm NKT cao hơn nhiều so với nhóm NKKT ở tất cả các nhóm tuổi Ngược lại, tỷ lệ

người gặp trục trac trong hôn nhân, như ly dị, ly thân hay góa, cũng cao hơn trong nhóm NKT

so với nhóm NKKT, đặc biệt ở các nhóm tuổi lớn hơn

- Ít được hưởng các dịch vụ cộng đồng và hòa nhập xã hội

- Bị khinh rẻ, coi thường

®! : «Chị phí kinh tế của sống với khuyết tật và kì thị ở Việt Nam”, Chịu trách nhiệm

xuất bản: Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội, NXB Lao Động, 2013

Trang 21

3.2 Hậu quá đối với gia đình người khuyết tật

- Người khuyết tật không tham gia được vào các hoạt động của gia đình

- Người khuyết tật không hoặc rất ít tham gia vào các hoạt động lao động sản

xuất

~ Gia đình phải đầu tư thời gian để giúp đỡ

- Gia đình phải tốn kém kinh phí chữa trị bệnh tật Đúng như dự đoán, NKT có

sức khỏe kém hơn như đã thấy ở các phần trên và đo đó họ phải chỉ trả nhiều hơn cho

việc chăm sóc sức khỏe của bản thân Bảng điều tra sau mô tả chỉ phí trung bình đầu

người cho việc điều trị nội trú trong vòng 12 tháng qua, điều trị ngoại trú trong vòng 3

tháng qua và tự điều trị trong vòng 3 tháng qua của NKTN, NKT và NKKT Điều trị ngoại trú tốn kém hơn nhiều so với tự điều trị và điều trị nội trú lại tốn kém hơn nhiều

so với điều trị ngoại trú Tính trung bình, những NKKT, NKT và NKTN phải điều tri

nội trú đã phải trả lần lượt là 5,2, 6,6 và 13,4 triệu đồng cho mỗi người trong vòng 12 tháng qua Chỉ phí bình quân đầu người cho việc điều trị ngoại trú trong nhóm NKKT,

NKT và NKTN lần lượt là 0,9, 1,3 và 1,9 triệu đồng trong 3 tháng qua, hay 3,6, 5,4 và

7,5 triệu đồng trong 12 tháng qua Nếu giả định rằng chỉ phí trong 3 tháng qua bằng 1⁄4 chỉ phí trong 12 tháng qua Cũng theo giả định này, chỉ phí tự điều trị trong nhóm NKKT, NKT

và NKTN lần lượt là 1,3, 2,3 và 3,8 triệu đồng trong 12 tháng qua Việc NKT và đặc biệt là

NKTN sử dụng dịch vụ điều trị nội trú nhiều hơn và phải trả nhiều chỉ phí hơn cho thấy họ

phải chịu gánh nặng tài chính trong việc chăm sóc sức khỏe lớn hơn so với NKKT Trong số

những người có nhu cầu chăm sóc sức khỏe, ví dụ hoặc là điều trị nội trú, điều trị ngoại trú,

tự điều trị, hoặc kết hợp nhiều phương thức, NKKT, NKT, và NKTN phải trả trung bình lần

lượt 3,1, 6,0 và 10,3 triệu đồng mỗi người trong vòng 12 tháng qua cho việc chăm sóc sức khỏe Những kết quả này một lần nữa cho thấy bức tranh về gánh nặng tài chính về chăm sóc sức khỏe trong nhóm người khuyết tật là tương đối cao

- Bị xã hội dèm pha, kì thị

- Suy sụp về kinh tế và tinh thần Thu nhập hộ gia đìnhvà mức độ khuyết tật có

mối quan hệ nghịch chiều: NKT sống trong các hộ gia đình nghèo hơn so với NKKT và NKTN sống trong các hộ nghèo nhất

Bức tranh tương tự về mối quan hệ giữa khuyết tật và nghèo đói cũng được thay

rõ khi sử dụng cách phân loại hộ nghèo và hộ cận nghèo mới nhất đành cho giai đoạn

2011-2015 của Chính phủ theo Quyết định só 09/201/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ

ký ngày 30 tháng I năm 201 1 Theo cách phân loại mới này của Chính phủ, hiện có 8% NKT

ở khu vực nông thôn sống trong các hộ nghèo trong khi tỷ lệ này trong nhóm NKKT chỉ là 3,5% Tỷ lệ này trong nhóm NKTN sống ở khu vực nông thôn lên tới 20%

3.3 Hậu quả đối với xã hội

Trang 22

- Ngudi khuyét tật không làm ra của cải đối với xã hội, xã hội phải đầu tư của

cải cho người khuyết tật

- Những người lành phải chăm sóc cho người khuyết tật

- Ảnh hưởng đến an ninh chính trị xã hội

- Ảnh hưởng đến sự phát triển chung của xã hội, đến chất lượng cuộc sống

- Là gánh nặng của xã hội Chi phi có liên quan đến khuyết tật ở Việt Nam là

đáng kể, vào khoảng 8,8%-9,5% thu nhập hàng năm của hộ gia đình (3,991-4.343 triệu

đồng hay 200-218 USD) Các con số này thấp hơn một chút so với ước lượng 11,5%

thu nhập của hộ gia đình do Mont và Cường (201 [) thực hiện dựa trên số liệu điều tra

mức sống dân cư năm 2006 (VHLSS) [46] Nghiên cứu ở Tamil Nadu, Ấn Độ cho thấy chỉ phí trung bình của khuyết tật là trên 9% và tương đương hai đến ba lần tổn

thất về khả năng sản xuất do đỉnh đưỡng nghèo nàn Zaidi và Burchardt (2003) tìm ra chỉ phí thêm của khuyết tật tại Anh vào khoảng từ 11% đến 69% thu nhập Saunders (2006) chỉ ra rằng chỉ phí có liên quan đến khuyết tật ở Australia tương ứng với 29%

của thu nhập đã được chuẩn hóa mặc dù thang đo này tăng 37% so với thang đo khác

(có vẻ thực tế hơn) về khuyết tật Báo cáo của Cullinan và cộng sự ước tính Chi phí

kinh tế có liên quan đến khuyết tật tại Ai Len khoảng 30,3% tới 32,7% của thu nhập

trung bình một tuần

Chi phí có liên quan đến khuyết tật ở Việt Nam ảnh hưởng nhiều bởi loại

khuyết tật Dạng khuyết tật có khó khăn trong giao tiếp có kết quả chỉ phí cao nhất (11,018-14,997 triệu đồng) Zaidi va Burchardt (2003) đã chỉ ra rằng những người

không được hưởng trợ cấp do khiếm khuyết vận động, khả năng tự lập bị hạn chế, có

vấn đề về sức khỏe tâm thần và khó khăn trong việc cầm nắm là những người có mức chỉ phí thêm đáng kể nhất Những người được hưởng trợ cấp do khả năng tự lập bi hạn chế và khiếm khuyết vận động có chỉ phí thêm cao hơn hẳn các nhóm khác

; “Mỗi quan hệ chồng chất giữa khuyết tật, kỳ thị và nghèo đói và chứng minh

răng tôn tại vòng tròn tác động qua lại giữa khuyết tật, kỳ thị và nghèo đói đòi hỏi cân

có sự chung tay của Nhà nước của cộng đông và bản thân sự cô găng của người khuyêt

tật

4 Những khó khăn của người khuyết tật trong hòa nhập cộng đồng

- Người khuyết tật luôn phải chịu đựng những tác động tiêu cực từ tình trạng khuyêt tật của bản thân lên nhiêu khía cạnh đời sông Những khía cạnh tác động đó rât đa dạng, phong phú -

4.1 Những khó khăn từ bản thân người khuyết tật

Về mặt tâm lý, xã hội người khuyết tật thường phải đương đầu với các vấn

Trang 23

- Sự căng thẳng: Mỗi cá nhân mang bệnh mãn tính hay khuyết tật đều phải

đối mặt với sự tăng dần về tần suất và mức độ của những tình huống gây căng

thang (Falvo, 1999; Horowitz, 1986)

Sự căng thắng của người khuyết tật xuất phát từ những tình huống khó khăn

mà họ phải trải qua hàng ngày mà hàm chứa trong đó những nỗi lo lắng, băn khoăn về:

+ Tình trạng sức khỏe của bản thân (Sức khỏe của tôi có ngày càng yếu đi không? )

+ Hình ảnh vẹn toàn của cơ thể (Cơ thể thiếu đi đôi chân có khiến mọi người

nhìn tôi với con mắt soi mới, thương hại không?) Đặc biệt với những người mới

khuyết tật có thể do bệnh tật, tai nạn, sự mất mát một bộ phận cơ thé dẫn đến một

khủng hoảng tram trong rất khó chấp nhận và thích ứng Họ khó có thể quen thuộc

được với sự thiếu hụt một bộ phận nào đó trên cơ thể, tự cảm thấy đau đớn và dằn

vặt vì mất mát này, dẫn đến những thái độ và hành vi tiêu cực

+ Khả năng sống độc lập, tự chủ trong các tình huống khác nhau (Liệu tôi

có tự nuôi sống được mình không? Tôi có thể tự đến rạp hát mà không cần ai giúp không?)

+ Khả năng hoàn thiện những vai trò gia đình, xã hội và nghề nghiệp theo kì

vọng của bản thân, gia đình và xã hội (Liệu tôi có thể xin được công việc tương

xứng với bằng cấp của mình không?

- Sự biến đổi hay thiếu hụt trong hình ảnh cơ thể Hình ảnh cơ thể là những

ghi nhận trong tiềm thức của mỗi cá nhân về cơ thể mình (Schilder, 1950) Nó phát

triển từ từ và phản chiếu kết quả có được từ họat động của các giác quan (ví dụ: thị

giác, thính giác, cảm giác vận động) thông qua sự tương tác, giao tiếp với mọi người và với môi trường xung quanh Cụ thể, những người xung quanh có thái độ hay quan điểm như thế nào về cơ thể người khuyết tật, họ tiếp nhận bình thường

hay có những phản ứng khác lạ như nhìn chằm chằm, xì xào bàn tán, trêu chọc,

Bên cạnh đó, khi tham gia các hoạt động trong môi trường xung quanh, người

khuyết tật cũng hình thành nên hình ảnh bản thân mình, chẳng hạn người khuyết

tật vận động qua tiếp xúc với môi trường tự nhiên như làm việc trên đồng ruộng sẽ

cảm nhận rõ rệt về những khó khăn của cơ thể khi đi lại, vận động Do ảnh hưởng

của bệnh tật hay khuyết tật, ngoại hình cũng như một số chức năng của các cá nhân

bị ảnh hưởng, khiến cho họ gặp khó khăn và trải nghiệm sự kì thị, phân biệt đối xử

sẽ làm thay đổi hay thậm chí bóp méo hình ảnh về cơ thể của họ cũng như ảnh

hưởng tới sự tự nhận thức về bản thân (Bramble&Cukr, 1998; Falvo, 1999) N éu

người khuyết tật có thể thích nghỉ về mặt tâm lý xã hội với những thay đổi hoặc vấn đề về thể chất và cảm giác thì họ có thể hòa nhập xã hội tốt hơn Những thích

Trang 24

nghi that bai, ngược lại có thể dẫn đến các triệu chứng tâm thần như sự lo lắng và tuyệt vọng kéo dài, nỗi đau tâm lý, sự mệt mỏi kinh niên, sự thu hẹp quan hệ xã hội

và sự nhận thức méo mó (Livneh & Antonak, 1997)

- Nhận thức tiêu cực về bản thân Sự tự nhận thức của một cá nhân và ý

thức về tính cách bản thân đều có liên kết với hình ảnh cơ thể và được xem là có

nguồn gốc xã hội (Bramble & Cukr, 1998; McDaniel, 1976) Trong quá trình

tương tác xã hội, khi người khuyết tật tiếp xúc và nhận biết được thái độ kì thị hay những hành vi phân biệt đối xử của người xung quanh xuất phát từ sự khác biệt bên

ngoài của họ, người khuyết tật có thể đánh mắt ý thức về con người thực sự của

mình, khiến cho họ hoài nghỉ về giá trị bản thân, tự nhìn nhận bản thân thông qua hình thể bên ngoài thay vì nhân cách bên trong Chính bởi vậy, có thể dẫn đến sự

xói mòn lòng tự trọng bản thân và có thái độ tiêu cực trong gặp gỡ, tiếp xúc mọi người

- Sự gia tăng dấu hiệu bệnh tật Những phản ứng tiêu cực lặp lại và định kiến của xã hội thể hiện trong tương tác xã hội đã khiến cho những dấu hiệu bệnh của

những người bệnh mãn tính và khuyết tật có xu hướng trầm trọng hơn (Corrigan,

2000; Falvo, 1999) Dưới những ảnh hưởng tất yếu của tình trạng khuyết tật (suy

giảm sức khỏe, khó khăn trong thực hiện các chức năng xã hội, ), bản thân người khuyết tật và cộng đồng có những nhìn nhận khác biệt về tiêu chuẩn và kỳ vọng xã hội với người khuyết tật, cho rằng họ không thể đáp ứng những tiêu chuẩn và kì vọng thông thường trong vai trò học sinh, sinh viên, người lao động, người vợ,

người chồng, Điều này dẫn đến sự kì thị và phân biệt đối xử trong xã hội, khiến

cho người khuyết tật gặp phải ngày càng nhiều căng thẳng trong cuộc sống, dẫn tới

sự sụt giảm lòng tự trọng, sự thu hẹp tương tác xã hội, và gián tiếp ảnh hưởng tới cơ hội và khả năng họ tiếp xúc với môi trường bên ngoài, bao gồm việc tham gia trị

liệu và phục hồi chức năng trong các cơ sở dịch vụ cần thiết (Falvo, 1999; B.A

Wright, 1983) Chính điều này khiến cho việc chăm sóc sức khỏe của người khuyết

tật bị hạn chế, ảnh hưởng tới sức khỏe của họ

- Sự bối rối, hay thay đổi và không thể dự đoán trước trong tính cách Mặc

dù tiến trình của một vài bệnh mãn tính và khuyết tật là khá ổn định và có thể dự

đoán được (ví dụ: bại não), hầu hết các dạng khuyết tật được coi là không ổn định

và khó đoán định (ví dụ: chứng động kinh ở nhiều người mắc khuyết tật tâm thần)

Nói cách khác, trong suốt quá trình dài, tình trạng sức khỏe của người khuyết tật thường xen kẽ những kỳ tăng nặng và thuyên giảm, những biến chứng không thể đoán trước được, ảnh hưởng tới sự trải nghiệm của đau đớn và mất mát trong ý thức, khiến cho người khuyết tật dễ rơi vào trạng thái bất ổn trong tính cách và ứng xử

Trang 25

- Sự suy giảm chất lượng cuộc sống Do ảnh hưởng của bệnh tật, đặc biệt là

bệnh mãn tính và những suy giảm do khuyết tật, chất lượng cuộc sống của người

khuyết tật bị ảnh hưởng Chất lượng cuộc sống có thể kể đến những phạm vi chức

nang (1) bén trong con người, bao hàm sức khỏe, sự hài lòng về cuộc sống, về tình

trạng sức khỏe bản thân; (II) giữa mối quan hệ của con người với con người, thể hiện trong cuộc sống gia đình, họat động xã hội và (HI) bên ngoài con người như việc nhà, công việc Chat lượng cuộc sống có liên kết chặt chẽ với sự tự nhận thức của các cá nhân về hình ảnh cơ thể, với những mắt mát và đau buồn mà mỗi cá

nhân phải gánh chịu do ảnh hưởng của bệnh tật hay do những kì thị và phân biệt đối xử mà họ trải qua trong cuộc sống của mình

Sau đây là các kết quả chính:

NKT có điểm số kỳ thị cao hơn và có nguy cơ bị kỳ thị ở mức độ cao hơn

1,78 lần so với NKKT

Điểm số kỳ thị tăng theo mức độ khó khăn ở tất cả các dạng khuyết tật Những người có khó khăn về giao tiếp, ghỉ nhớ và tự chăm sóc bản thân có

tỷ lệ bị kỳ thị cao hơn những người có khó khăn khác

Người ít tuổi hơn chịu đựng sự kỳ thị ở mức độ cao nhiều hơn và có điểm

số kỳ thị cao hơn so với người nhiều tuổi hơn

Nhóm giàu nhất có điểm số kỳ thị thấp hơn nhóm nghèo nhất

NKT sống ở vùng đô thị có xu hướng có điểm số kỳ thị cao hơn so với NKT

sống ở khu vực nông thôn Giới tính và công việc không tương quan với điểm số

kỳ thị cũng như mức độ kỳ thị cao

4.2 Những khó khăn của người khuyết tật khi hòa nhập cộng đồng

4.2.1 Học tập

Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc 90% trẻ em

khuyết tật ở các nước đang phát triển không được đưa đến trường Quỹ Nhi đồng Liên

Hiệp Quốc thì cho biết 30% số thanh niên đường phố là trẻ khuyết tật

Về trình độ học vấn nghiên cứu của Chương trình hỗ trợ phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP) thực hiện năm 1998 tỉ lệ biết đọc, biết viết ở người trưởng thành

bị khuyết tật trên toàn cầu là dưới 3%, ở phụ nữ khuyết tật chỉ 1% Ở những nước

thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), sinh viên khuyết tật có trình độ

cao vẫn chưa nhiều mặc dù con số này đang có xu hướng tăng

Theo Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Việt Nam, trình độ học vấn của

người khuyết tật ở Việt Nam rất thấp 41% số người khuyết tật chỉ biết đọc biết viết;

19,5% học hết cấp một; 2,75% có trình độ trung học chuyên nghiệp hay chứng chỉ học

nghề, và ít hơn 0.1% có bằng đại học hoặc cao đẳng Nhìn chung, chỉ có khoảng 3%

được đào tạo nghề chuyên môn (Bộ LĐTBXH, 2005)

Trang 26

Nguyên nhân dẫn đến khó khăn trong hòa nhập học tập:

- Tự thân người khuyết tật: Với sự giới hạn của mình, đặc biệt là ở người

khuyết tật về trí tuệ hoặc cơ quan thu nhận cảm giác (khiếm thính, khiếm thị) khả năng tiếp thu tri thức là khá khó khăn, khuyết tật vận động thì bị ảnh hưởng ít hơn

- Rào cản xã hội: Người khuyết tật cần một hình thức giáo dục đặc biệt phù hợp với đặc điểm khiếm khuyết của mình - điều này đôi khi yêu cầu đầu tư về cơ sở vật

chất nhiều hơn so với giáo dục thông thường, do đó nếu sự hỗ trợ từ phía chính quyền,

cơ quan giáo dục và bản thân gia đình không tốt, việc duy trì học tập tiếp lên cao hầu

như là bất khả thi

4.2.2 Việc làm

Theo ước tính của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO-International Labour

Organization) có khoảng 386 triệu người trên thế giới trong độ tuổi lao động bị khuyết tật Tỷ lệ thất nghiệp của người khuyết tật ở một số quốc gia lên đến hơn 80% Năm

2004, cuộc điều tra ở Hoa Kỳ cho thấy chỉ có 35% người khuyết tật trong độ tudi lao

động đang có việc làm (mặc dù con số này cũng đã khá tốt so với các nước khác),

trong khi đó 78% người không khuyết tật trong độ tuổi lao động có việc làm

Hai phần ba trong số người khuyết tật thất nghiệp nói rằng họ muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc

Nguyên nhân dẫn đến khó khăn trong hòa nhập việc làm:

- Tự thân người khuyết tật: khó khăn trong học tập ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng xin việc, trình độ học vấn chung của người khuyết tật thấp hơn tương đối so với cộng đồng Ngoài ra một số công việc có những yêu cầu mà người khuyết tật khó thực

hiện tốt được

- Rào cả xã hội: Thông thường người sử dụng lao động cho rằng người khuyết

tật không thể làm việc đây là rào cản xã hội ngăn người khuyết tật kiếm được việc làm Nghiên cứu của Đại học Rutgers năm 2003 cho biết 1/3 số người sử dụng lao động

được khảo sát cho rằng, người khuyết tật có thể không có hiệu quả thực hiện công việc

theo yêu cầu nhiệm vụ Lý đo phổ biến nhất cho việc không thuê người khuyết tật là

sự sợ hãi phải đầu tư các thiết bị tốn kém.”

4.2.3 Hôn nhân

Nhiều người khuyết tật gặp nhiều cản trở trong tìm kiếm hạnh phúc lứa đôi Người khuyết tật khó lập gia đình hơn người bình thường Sự khó khăn trong hôn nhân

thậm chí được thể hiện cả trong giới tính, và như thường lệ phụ nữ vẫn là người chịu

thiệt thòi nhiều hơn; cùng bị khuyết tật nhưng nam giới có khả năng lập gia đình cao

hơn nữ giới nhiều, theo một báo cáo của Viện Nghiên cứu phát triển xã hội (ISDS) thực hiện:

Ngày đăng: 24/04/2022, 08:42

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w