1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

vấn đề kế thừa giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ tỉnh bến tre hiện nay

94 635 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề kế thừa giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ tỉnh Bến Tre hiện nay
Tác giả Nguyễn Trúc Hạnh
Người hướng dẫn TS. Trần Sỹ Phán
Trường học Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2005
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 296 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Truyền thống ấy đợc kế thừa và phát triển một cách sáng tạo trongsuốt chiều dài lịch sử, làm hồi sinh lại cuộc sống của quê hơng sau những nămtháng chiến tranh khốc liệt, làm phong phú t

Trang 2

Mục lục

Trang

Chơng 1: Giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ Bến Tre

và tính tất yếu của việc kế thừa chúng trong

1.1 Giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ Bến Tre 71.2 Tính tất yếu của việc kế thừa giá trị đạo đức truyền thống của phụ

Chơng 2: kế thừa giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ

tỉnh Bến Tre hiện nay - thực trạng và giải pháp 522.1 Thực trạng của việc kế thừa các giá trị đạo đức truyền thống của phụ

2.2 Một số giải pháp cơ bản đảm bảo việc kế thừa và phát huy giá trị

đạo đức truyền thống của phụ nữ tỉnh Bến Tre 83

Kết luận

105

Danh mục tài liệu tham khảo

107

Trang 3

các chữ viết tắt trong luận văn

CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóaCNXH : Chủ nghĩa xã hội

XHCN : Xã hội chủ nghĩa

UBND : ủy ban nhân dân

Trang 4

mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong bất cứ giai đoạn lịch sử nào, phụ nữ luôn luôn giữ một vai tròhết sức quan trọng Họ vừa là ngời công dân, ngời lao động, vừa là ngời mẹ,ngời thầy đầu tiên của con ngời Khả năng và điều kiện lao động, trình độ vănhóa, vị trí xã hội, đời sống vật chất và tinh thần của phụ nữ có ảnh h ởng sâusắc đến sự phát triển của thế hệ tơng lai, đến sự phồn vinh của quê hơng, đấtnớc

Chiếm hơn 50% dân số của tỉnh, phụ nữ Bến Tre đã góp phần quantrọng tạo nên sự rạng rỡ của vùng đất “ba dải cù lao” anh hùng Đặc biệt d ới

sự lãnh đạo của Đảng, phụ nữ Bến Tre đã viết nên những trang sử vô cùngoanh liệt, phát huy mạnh mẽ truyền thống “anh hùng, bất khuất, trung hậu,

đảm đang” Truyền thống ấy đợc kế thừa và phát triển một cách sáng tạo trongsuốt chiều dài lịch sử, làm hồi sinh lại cuộc sống của quê hơng sau những nămtháng chiến tranh khốc liệt, làm phong phú thêm nội dung các giá trị đạo đứctruyền thống của ngời phụ nữ Việt Nam

Đứng trớc nhiệm vụ của giai đoạn cách mạng mới, đòi hỏi ngời phụ nữBến Tre phải phấn đấu vơn lên đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của cuộc sốnghiện đại, với đầy đủ những phẩm chất: yêu nớc, có tri thức, có sức khoẻ, năng

động, sáng tạo, có lối sống văn hoá, có lòng nhân hậu, quan tâm đến lợi ích xãhội và cộng đồng; xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc

“Ngời phụ nữ mới” là sản phẩm của quá trình lịch sử, đ ợc lịch sử hun đúc nên,kết hợp hài hoà yếu tố truyền thống với hiện đại Trong những năm qua, Đảng

bộ và chính quyền tỉnh luôn quan tâm động viên, bồi d ỡng lực lợng và khảnăng của ngời phụ nữ, phát huy truyền thống của ngời phụ nữ Bến Tre, tạomọi điều kiện thuận lợi vì sự tiến bộ của phụ nữ Trong điều kiện đó, phụ nữBến Tre đã có những bớc tiến đáng kể so với trớc đây

Bến Tre là một trong những tỉnh nghèo của miền Tây Nam Bộ, lại phảigánh chịu hậu quả hết sức nặng nề của chiến tranh để lại Chính điều đó đã

ảnh hởng không nhỏ đến đời sống vật chất cũng nh tinh thần của nhân dânBến Tre nói chung, ngời phụ nữ Bến Tre nói riêng, nhất là việc kế thừa và pháthuy những giá trị đạo đức truyền thống trong điều kiện mới Mặt khác, trong

Trang 5

xu thế hội nhập và giao lu quốc tế, sự phát triển của nền kinh tế thị trờng vớinhững mặt trái của nó đã tác động mạnh mẽ đến các tầng lớp xã hội đặc biệt

là phụ nữ Vấn đề việc làm, sự đói nghèo, trình độ học vấn, sự hởng thụ vănhoá; tệ nạn xã hội, buôn lậu, ma tuý, mại dâm, hiện tợng bạo lực đối với phụnữ đang là những vấn đề bức bách, nhất là ở những vùng nông thôn trong đó

có Bến Tre Một bộ phận phụ nữ có đạo đức, lối sống không lành mạnh, thiếuthuỷ chung, vô trách nhiệm với gia đình, đi ngợc lại giá trị đạo đức truyềnthống của ngời phụ nữ Việt Nam Những tồn tại trên đã và đang làm mai mộtdần giá trị đạo đức của phụ nữ Bến Tre nói riêng và đạo đức ng ời phụ nữ ViệtNam nói chung Giải quyết vấn đề này là trách nhiệm của tất cả các cấp, cácngành, trách nhiệm của mọi tầng lớp xã hội, đặc biệt là của chính các thế hệ

phụ nữ Bến Tre hôm nay và mai sau Do vậy, việc nhận thức đúng đắn “ Vấn

đề kế thừa giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ tỉnh Bến Tre hiện nay ”

là vấn đề cần thiết và cấp bách, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với sựnghiệp giải phóng phụ nữ, xây dựng ngời phụ nữ mới đáp ứng yêu cầu sựnghiệp CNH, HĐH đất nớc ngay trên mảnh đất "quê hơng Đồng khởi - BếnTre"

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Cho đến nay, về giá trị đạo đức truyền thống dân tộc, giá trị đạo đứctruyền thống của phụ nữ Việt Nam và việc kế thừa chúng đã có nhiều côngtrình nghiên cứu, tiêu biểu nh sau:

- "Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam" của

GS Trần Văn Giàu, Nxb Khoa học xã hội, 1980

- "Đạo đức mới" GS Vũ Khiêu chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, Hà

- "Phụ nữ Việt Nam qua các thời đại" của Lê Thị Nhâm Tuyết - ủy

ban Khoa học Xã hội Việt Nam - Viện Dân tộc học, Nxb Khoa học xã hội, HàNội, 1973

Trang 6

- "Truyền thống phụ nữ Việt Nam" của GS Trần Quốc Vợng, Nxb Văn

- "Việc làm và đời sống phụ nữ trong chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam "

của GS Lê Thi, Nxb Khoa học xã hội

- "Phụ nữ tham gia lãnh đạo quản lý", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997.

Nhìn chung, các công trình này chủ yếu nghiên cứu vai trò của phụ nữtrong lĩnh vực kinh tế, chính trị và các lĩnh vực hoạt động xã hội khác nhau

Ngoài ra còn có một số bài viết liên quan đến vấn đề giá trị truyềnthống dân tộc và giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ, nh:

"Vấn đề khai thác các giá trị truyền thống vì mục tiêu phát triển "

-GS Nguyễn Trọng Chuẩn, Tạp chí Triết học, số 2/1998

- "Giá trị truyền thống - nhân lõi và sức sống bên trong của sự phát triển

đất nớc, dân tộc" của PGS Nguyễn Văn Huyên, Tạp chí Triết học, số 4/1998.

- "Sự biến đổi của thang giá trị đạo đức trong xã hội ta hiện nay và việc nâng cao phẩm chất đạo đức của cán bộ' của PGS.TS Nguyễn Chí Mỳ và

Trang 7

- "Các giá trị truyền thống và con ngời Việt Nam hiện nay", Đề tài

KX.07.02

- "Kế thừa và đổi mới các giá trị đạo đức truyền thống trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trờng ở Việt Nam hiện nay" của Nguyễn Văn Lý,

Luận án tiến sĩ Triết học, Hà Nội, 2000

- "Kế thừa và phát huy giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam trong tình hình hiện nay" của Lê Thị Minh Hiệp, Luận văn thạc sĩ Triết

học, Hà Nội, 2000

- "Phát huy giá trị đạo đức truyền thống dân tộc trong việc xây dựng

đạo đức mới cho ngời phụ nữ Việt Nam hiện nay" của Nguyễn Thị Lan, Luận

văn thạc sĩ Triết học, Hà Nội, 2001

Năm 2000, tác giả Thạch Phơng đã công bố kết quả nghiên cứu về phụ

nữ tỉnh Bến Tre qua cuốn sách "Phụ nữ Bến Tre" ở một mức độ khái quát,

tác giả Thạch Phơng bớc đầu đã giới thiệu và phân tích truyền thống phụ nữBến Tre qua từng thời kỳ lịch sử, giúp cho ngời đọc có đợc một bức tranh vềtruyền thống phụ nữ Bến Tre

Tuy nhiên, cho đến nay vẫn cha có công trình nào nghiên cứu "Vấn đề kế

thừa giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ tỉnh Bến Tre hiện nay" Chính vì

vậy, tôi lấy đó làm đề tài nghiên cứu cho bản luận văn thạc sĩ của mình

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Mục đích của luận văn: Trên cơ sở phân tích thực trạng việc kế thừa

giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ tỉnh Bến Tre, đ a ra một số giải phápcơ bản để kế thừa và phát huy có hiệu quả các giá trị đạo đức truyền thống củaphụ nữ Bến Tre trong giai đoạn hiện nay

- Nhiệm vụ của luận văn: Để đạt đợc mục đích trên, luận văn tập

trung giải quyết những nhiệm vụ sau:

+ Nêu một cách khái quát giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ BếnTre và cơ sở hình thành của chúng

+ Bớc đầu làm sáng tỏ nét đặc thù cũng nh tính tất yếu của việc kếthừa các giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ tỉnh Bến Tre trong giai đoạnhiện nay

+ Phân tích thực trạng của việc kế thừa các giá trị đạo đức truyền thốngcủa phụ nữ Bến Tre, tìm ra những vấn đề còn tồn tại và nguyên nhân của nó

+ Đề xuất một số giải pháp cơ bản giúp cho việc kế thừa các giá trị đạo

đức truyền thống của phụ nữ Bến Tre đạt hiệu quả hơn nữa

- Phạm vi nghiên cứu của luận văn:

Trang 8

+ Vấn đề kế thừa các giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ ở phạm

vi Phụ nữ tỉnh Bến Tre.

+ Chỉ kế thừa những giá trị đạo đức truyền thống nổi bật của phụ nữBến Tre

4 Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu của luận văn

- Cơ sở lý luận: Thực hiện luận văn này, tác giả dựa trên quan điểm

của chủ nghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộngsản Việt Nam về đạo đức, về phụ nữ, nhất là về vấn đề kế thừa giá trị đạo đứctruyền thống của phụ nữ Việt Nam

- Phơng pháp nghiên cứu: Luận văn chủ yếu sử dụng phơng pháp duy

vật biện chứng và duy vật lịch sử, phơng pháp lịch sử - lôgíc, phân tích - tổnghợp, diễn dịch - quy nạp

5 Đóng góp mới của luận văn

- Luận văn nêu lên nét đặc thù của những giá trị đạo đức truyền thốngnổi bật ở ngời phụ nữ Bến Tre và tính tất yếu của việc kế thừa chúng tronggiai đoạn hiện nay

- Góp phần làm rõ sự vận động và phát triển về nội dung của các giá trị

đạo đức truyền thống phụ nữ Việt Nam thông qua việc kế thừa chúng của phụnữ tỉnh Bến Tre

6 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Luận văn góp phần nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của việc kếthừa và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ Bến Tre trong sựnghiệp CNH, HĐH đất nớc

- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các cấp ủy đảng, chínhquyền, các ngành của tỉnh Bến Tre trong việc xây dựng chiến lợc, sách lợcphát huy truyền thống phụ nữ Bến Tre trong phong trào "Đồng khởi mới"

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văngồm 2 chơng, 4 tiết

Trang 9

Chơng 1

Giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ Bến Tre

và tính tất yếu của việc kế thừa chúng

trong giai đoạn hiện nay

1.1 Giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ Bến Tre

1.1.1 Giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam

Quan niệm về giá trị và giá trị đạo đức

Những hiểu biết đầu tiên về giá trị xuất hiện tơng đối sớm trong lịch sửnhận thức của nhân loại và gắn liền với triết học Đến cuối thế kỷ XIX, giá trịhọc mới tách ra thành một khoa học độc lập và thuật ngữ giá trị đợc dùng để chỉmột khái niệm của khoa học độc lập Theo một số từ điển nớc ngoài và trong nớc,khái niệm "giá trị" thờng tập trung vào những nhận thức sau:

Từ điển Triết học của Liên Xô (cũ) định nghĩa:

Giá trị - những định nghĩa về mặt xã hội của khách thể trong thếgiới chung quanh, nhằm nêu bật tác dụng tích cực hoặc tiêu cực củacác khách thể ấy đối với con ngời và xã hội (cái lợi, thiện và ác, cái

đẹp, cái xấu nằm trong những hiện tợng của đời sống xã hội hoặc tựnhiên) Xét bề ngoài, các giá trị là các đặc tính của sự vật hoặc củahiện tợng, tuy nhiên, chúng không phải là cái vốn do thiên nhiên bancho sự vật, hiện tợng, không phải đơn thuần do kết cấu bên trong củabản thân khách thể, mà do khách thể bị thu hút vào phạm vi tồn tại xãhội của con ngời và trở thành cái mang những quan hệ xã hội nhất

định Đối với chủ thể (con ngời), các giá trị là những đối tợng lợi íchcủa nó, còn đối với ý thức của nó thì chúng đóng vai trò những vật

định hớng hằng ngày trong thực trạng vật thể và xã hội, chúng biểu thịcác quan hệ thực tiễn của con ngời đối với các sự vật hiện tợng chungquanh [59, tr.52]

Theo Từ điển Bách khoa toàn th Xô viết:

Giá trị là sự khẳng định hoặc phủ định ý nghĩa của các đối tợngthuộc thế giới chung quanh đối với con ngời, giai cấp, nhóm hoặc toàn

bộ xã hội nói chung Giá trị đợc xác định không phải bởi bản thân cácthuộc tính tự nhiên, mà là bởi tính chất cuốn hút (lôi cuốn) của cácthuộc tính ấy vào phạm vi hoạt động sống của con ngời, phạm vi cáchứng thú và nhu cầu, các mối quan hệ xã hội, các chuẩn mực và phơng

Trang 10

thức đánh giá ý nghĩa nói trên đợc biểu hiện trong các nguyên tắc vàchuẩn mực đạo đức , trong lý tởng, tâm thế và mục đích [59, tr.51-52].Trong Từ điển Tiếng Việt, giá trị đợc định nghĩa nh sau:

Cái làm cho một vật có ích lợi, có ý nghĩa, là đáng quý về mộtmặt nào đó

Tác dụng và hiệu lực

Lao động xã hội kết tinh trong sản phẩm hàng hóa

Số đo của một đại lợng [58, tr.407]

Nh vậy, giá trị đợc hiểu theo nhiều nghĩa và đợc tiếp cận dới nhiều góc độkhoa học khác nhau Song, quan niệm về giá trị chủ yếu vẫn đợc xem xét thôngqua lăng kính triết học

Chủ nghĩa Mác - Lênin đã nhấn mạnh bản chất xã hội, tính lịch sử, tínhnhận thức đợc và tính thực tiễn của giá trị, của các lý tởng, các chuẩn mực của

đời sống con ngời Giá trị không phải là ý niệm về sự vật hay chuẩn mực chủquan về sự vật lý tởng mà là những hiện tợng xã hội có tính đặc thù, là ý nghĩahiện thực của sự vật đối với con ngời Giá trị xuất hiện từ mối quan hệ xã hộigiữa chủ thể và đối tợng, nghĩa là từ thực tiễn của con ngời xã hội Mọi giá trị

đều có nguồn gốc từ lao động sáng tạo của quần chúng

Dới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, có thể xem giá trị là nhữngthành tựu của con ngời góp vào sự phát triển đi lên của lịch sử xã hội, phục vụcho lợi ích và hạnh phúc của con ngời Giá trị vì thế đợc xác định bởi sự đánh giá

đúng đắn của con ngời

Giá trị là các ý tởng về các loại mục đích hay các loại lối sốngcủa một cá thể, hay đợc chia sẻ trong một nhóm hay toàn xã hội, đợccá thể, nhóm hoặc xã hội mong muốn coi là có ý nghĩa Đó là nhữngchất lợng cơ bản để bảo đảm con đờng sống các chuẩn tối thợng chỉ

đạo mọi hoàn cảnh thực tiễn Nh vậy, giá trị ở đây đợc coi là các giá trịbảo đảm cuộc sống, nói chung là các giá trị tích cực bảo đảm một cuộcsống tốt đẹp [17, tr.60]

Tuy nhiên, cũng có cách nhìn rộng hơn, coi bất cứ cái gì tốt hay xấu, thậthay giả, đều là giá trị ở góc độ này, giá trị có tính hai mặt: mặt tích cực(những trờng hợp nó định hớng tích cực cho hoạt động của con ngời nhằm đạt tớinhững mục đích nhân đạo, cao đẹp của đời sống), và mặt tiêu cực (ta thờng gọi

Trang 11

là "giá trị trái dấu" hay "phản giá trị") Thờng khi nói "giá trị" ngời ta chỉ quantâm đến mặt tích cực của nó mà thôi.

Qua các khái niệm về giá trị , chúng ta có thể khái quát một số điểm sau:

Mọi sự vật, hiện tợng đều có thể xem là có giá trị, dù là vật thể hay t tởngmiễn nó đợc ngời ta thừa nhận, cần đến nó nh một nhu cầu và góp phần vào sựphát triển xã hội Với ý nghĩa nh thế đã loại trừ những giá trị thuần túy mangtính hởng lạc

Giá trị vừa mang tính khách quan vừa mang tính lịch sử - xã hội Sự xuấthiện hay mất đi của giá trị không phụ thuộc vào ý thức của con ngời (chủ thể)

mà nó do yêu cầu của thực tiễn, của từng thời đại lịch sử trong đó con ngời sống

và hoạt động

Dù mang tính khách quan nh thế nhng giá trị không phải là cái gì có tínhchất cố hữu, vốn nằm ở bản thân các hiện tợng thiên nhiên nh vẻ đẹp của mây, n-

ớc, trăng, hoa, nh lợi ích của núi, sông, rừng, biển Giá trị của sự vật, hiện tợng

là kết quả của mối quan hệ không tách rời của chủ thể và khách thể Thông ờng khách thể là nguồn gốc của sự hình thành và tồn tại giá trị, còn chủ thể vàmối quan hệ giữa chủ thể với khách thể là điều kiện tồn tại, phát triển các giá trịcủa khách thể

th-Có thể nói, giá trị là một phạm trù mang bản chất ngời, nó đợc xác địnhtrong mối quan hệ thực tiễn của con ngời, xuất phát từ thực tiễn và đợc thực tiễnkiểm nghiệm Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý về bản chất và về giá trị củakhách thể Song, trong mọi giá trị đều chứa đựng yếu tố nhận thức, yếu tố tìnhcảm và yếu tố hành vi của chủ thể trong mối quan hệ với sự vật, hiện tợng manggiá trị, thể hiện sự lựa chọn của chủ thể Vì thế, thiên nhiên chỉ trở thành đẹp và

có ý nghĩa giá trị khi nó đợc đặt trong mối quan hệ thực tiễn với con ngời xã hội

Nh vậy, “Nói đến giá trị là muốn khẳng định mặt tích cực, mặt chính diện,nghĩa là bao hàm quan điểm coi giá trị gắn liền với cái đúng, cái tốt, cái hay, cái

đẹp; là nói đến cái có khả năng thôi thúc con ngời hành động và nỗ lực vơn tới"[4, tr.16] Do đó, giá trị đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của con ngời

Nó là cơ sở, chuẩn mực để con ngời dựa vào lựa chọn cách thức suy nghĩ, xác

định mục đích và phơng hớng cho hoạt động của mình phù hợp với cái chungcủa xã hội Giá trị thể hiện ý kiến và hành vi của cả cộng đồng ngời trong việclựa chọn, chấp nhận kế hoạch phát triển xã hội Vì vậy, sự phát triển các giá trịcon ngời là nhân tố cơ bản đối với sự phát triển quốc gia

Trang 12

Trong việc nghiên cứu giá trị, tùy theo mục đích tiếp cận mà ngời ta phânloại giá trị theo cách riêng của mình Căn cứ vào sự thoả mãn nhu cầu vật chấthay nhu cầu tinh thần của con ngời, ngời ta chia thành giá trị vật chất và giá trịtinh thần Đây là cách phân chia khá phổ biến.

Giá trị vật chất thể hiện rõ nhất trong đời sống kinh tế, quyết định sự tồntại và phát triển của xã hội loài ngời Song, con ngời không chỉ biết sống mà cònsống đẹp, vợt lên trên những nhu cầu vật chất, hớng tới những giá trị tinh thầncao đẹp

Trong giá trị tinh thần của xã hội, ngời ta thờng đề cập đến các loại giá trịnh: giá trị khoa học, giá trị thẩm mỹ, giá trị đạo đức, đánh dấu sự phát triển vềmặt chân - thiện - mỹ của đời sống xã hội Đó là những quan hệ tốt đẹp mà xãhội đã đạt đợc nhằm phát triển và hoàn thiện đời sống xã hội Giá trị khoa họcgắn với quá trình con ngời vơn lên nắm bắt bản chất, quy luật của hiện thựckhách quan để ngày càng làm chủ những điều kiện sinh hoạt tự nhiên và xã hộicủa mình Giá trị thẩm mỹ gắn với nhu cầu thởng thức, đánh giá, hởng thụ vàsáng tạo cái đẹp trong cuộc sống và trong nghệ thuật Giá trị đạo đức gắn với nhucầu điều chỉnh quan hệ giữa cá nhân và xã hội theo hớng tạo nên sự thống nhấthài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội

Có thể nói, “ Giá trị đạo đức là những cái đợc con ngời lựa chọn và đánhgiá nh việc làm có ý nghĩa tích cực đối với đời sống xã hội đợc lơng tâm đồngtình và d luận biểu dơng” [44, tr.62]

Bản thân giá trị đạo đức, xét về mặt thời gian có thể chia thành giá trị đạo

đức truyền thống và giá trị đạo đức hiện đại Mỗi dân tộc đều có truyền thốngcủa mình do lịch sử tạo nên Truyền thống là sản phẩm của quá trình phát triểncủa mỗi dân tộc Nó là điều kiện để duy trì và phát triển cuộc sống Đó là những

đức tính hay những thói tục kéo dài nhiều thế hệ, nhiều thời kỳ lịch sử, có nhiềutác dụng, có thể tích cực cũng có thể tiêu cực Nh vậy, truyền thống có cái tốt,cái xấu, vì thế mà C.Mác nói rằng: "Truyền thống của tất cả các thế hệ đã chết

đè nặng nh quả núi lên đầu óc những ngời đang sống" [37, tr.145] Còn Ph

Ăngghen coi "Truyền thống (lạc hậu) còn là thế lực trong khoa học tự nhiênnữa" [39, tr.468] Với Hồ Chí Minh, "thói quen và truyền thống lạc hậu là kẻ địchto; nó ngấm ngầm ngăn trở cách mạng tiến bộ Chúng ta lại không thể trấn áp nó,

mà phải cải tạo nó một cách rất cẩn thận, rất khó chịu, rất lâu dài" [41, tr.287]

Nh-ng khi nói đến “giá trị truyền thốNh-ng” Nh-ngời ta chỉ muốn nói đến cái tốt, bởi lẽ

Trang 13

trong ý nghĩa đích thực của nó chỉ những cái tốt, đẹp mới đợc gọi là giá trịtruyền thống Song, không phải mọi cái tốt đều gọi là giá trị truyền thống màphải là những cái tốt phổ biến, cơ bản có nhiều tác dụng tích cực cho đạo đứcluân lý, có cả tác dụng hớng dẫn sự nhận định và hành động của con ngời chúng

đợc lu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác

Quan niệm về giá trị đạo đức truyền thống

Giá trị đạo đức truyền thống là một bộ phận trong hệ giá trị tinh thần của dântộc Nó chiếm vị trí nổi bật, là yếu tố cốt lõi của hệ giá trị tinh thần truyền thống ViệtNam, thể hiện nét đặc thù của đạo đức Việt Nam với những phẩm chất tốt đẹp đãhình thành và lu truyền qua nhiều thế hệ Các giá trị đạo đức truyền thống là kết quảcủa các mối quan hệ giữa ngời với ngời, của những điều kiện sinh hoạt vật chất nhất

định Mỗi giá trị đều góp phần vào việc tạo nên nét riêng biệt của con ngời Việt Nam,bản sắc Việt Nam Trong suốt mấy nghìn năm dựng nớc và giữ nớc, dân tộc ViệtNam đã trải qua biết bao thử thách, hy sinh để đấu tranh cho sự tồn tại và phát triểncủa mình Đất nớc Việt Nam không chỉ là nơi ở, nơi sinh sống mà còn là thành quảkết tinh từ mồ hôi nớc mắt, xơng máu của biết bao thế hệ ngời Việt Nam Nó thănghoa trong tâm thức ngời Việt Nam thành Tổ quốc thiêng liêng, thành quê hơng yêudấu Những điều kiện lịch sử - xã hội ấy là cơ sở cho sự hình thành và phát triển cácgiá trị đạo đức truyền thống mang bản sắc Việt Nam Lòng yêu quê hơng, đất nớccủa con ngời Việt Nam đợc bắt nguồn từ đó; tinh thần cố kết cộng đồng, lối sống tìnhnghĩa của dân tộc Việt Nam cũng bắt xuất phát từ đây Đó là những giá trị đạo đứctruyền thống bền vững, trờng tồn của dân tộc Việt Nam Nó luôn luôn đợc bồi đắpthêm bởi những tinh hoa văn hóa của nhân loại, nhất là khi có sự du nhập của Chủnghĩa Mác – Lênin, sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh Với ý nghĩa

đó, từ lâu, giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam đã thu hút sự quan tâm của nhiềunhà khoa học trong và ngoài nớc

Giáo s Trần Văn Giàu cho rằng:

Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc là những nguyên lý đạo

đức lớn mà con ngời trong nớc thuộc các thời đại, các giai đoạn lịch sử

đều dựa vào để phân biệt phải trái, để nhận định nên chăng nhằm xâydựng độc lập, tự do và tiến bộ của dân tộc đó Cũng là những nguyên lý

đạo đức đã tàng ẩn trong tâm trí sâu xa của mỗi ngời dân trong nớc,khiến họ tự nhiên phản ứng đúng với lẽ phải, đúng với quyền lợi và danh

dự dân tộc khi phải đụng chạm một sự cố nào [16, tr.50-51]

Trang 14

Và giáo s khẳng định, dù trải qua bao vật đổi sao dời, từ thời Văn Lang xa

xa cho đến thời hiện đại, hễ nói đến giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc ta lànói: yêu nớc, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thơng ngời, vì nghĩa

Giáo s Vũ Khiêu thì cho rằng, giá trị đạo đức truyền thống cao đẹp củadân tộc ta bao gồm: lòng yêu nớc, truyền thống đoàn kết, lao động cần cù vàsáng tạo, tinh thần nhân đạo, lòng yêu thơng và quý trọng con ngời, trong đó yêunớc là bậc thang cao nhất trong hệ thống giá trị đạo đức của dân tộc

Theo GS Nguyễn Hồng Phong, tính cách dân tộc gần nh là tất cả nội dungcủa giá trị đạo đức truyền thống, bao gồm: tính tập thể - cộng đồng; trọng đạo

đức; cần kiệm, giản dị, thực tiễn; tinh thần yêu nớc bất khuất và lòng yêu chuộnghòa bình, nhân đạo; lạc quan [47, tr.453-454]

Ngoài ra, giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cũng đợc đề cập đến trongmột số văn kiện của Đảng Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị đã khẳng định:

"Những giá trị văn hóa truyền thống vững bền của dân tộc Việt Nam là lòng yêunớc nồng nàn, ý thức cộng đồng sâu sắc, đạo lý "thơng ngời nh thể thơng thân",

đức tính cần cù, vợt khó, sáng tạo trong lao động" [10, tr.19] Nghị quyết Hộinghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ơng Đảng (khóa VIII) một lần nữa khẳng

định:

Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoacủa cộng đồng các dân tộc Việt Nam đợc vun đắp nên qua lịch sử hàngngàn năm đấu tranh dựng nớc và giữ nớc Đó là lòng yêu nớc nồngnàn, ý chí tự cờng dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắnkết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung,trọng nghĩa tình đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sựtinh tế trong ứng xử; tính giản dị trong lối sống [12, tr.56]

Từ những quan niệm của các nhà khoa học và quan điểm của Đảng ta về

giá trị đạo đức truyền thống, có thể khẳng định các giá trị đạo đức truyền thống cơ bản của dân tộc ta bao gồm: yêu nớc, anh hùng; lòng nhân ái, khoan dung;

tinh thần đoàn kết; cần cù sáng tạo Trong đó, yêu nớc là giá trị cốt lõi, giá trịhàng đầu của bậc thang giá trị đạo đức truyền thống dân tộc Việt Nam Nó làtiêu điểm của các tiêu điểm, là sợi chỉ đỏ xuyên qua toàn bộ lịch sử của dân tộc

ta, là động lực tình cảm lớn nhất trong đời sống của mỗi con ngời Việt Nam

Đối với ngời phụ nữ Việt Nam, các giá trị đạo đức của họ không tách rờinhững giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Bởi lẽ, truyền thống và tinh hoacủa phụ nữ là sự biểu hiện truyền thống và tinh hoa của dân tộc, cố Tổng Bí th

Trang 15

Lê Duẩn đã khẳng định: “Phụ nữ là ngời có tính dân tộc hơn ai hết, và cái đẹp đẽ

vĩ đại của dân tộc Việt Nam, trớc hết là của phụ nữ Việt Nam” [57, tr.16] Điều

đó đợc lý giải qua những cơ sở hình thành các giá trị đạo đức truyền thống củaphụ nữ Việt Nam

Giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam

Lịch sử phụ nữ Việt Nam là một bộ phận hữu cơ của lịch sử dân tộc Vì

vậy, đạo đức phụ nữ Việt Nam phải gắn liền với đạo đức dân tộc, nó đợc hình

thành từ hoàn cảnh lịch sử của dân tộc và thông qua vai trò của ng ời phụ nữtrong lịch sử đấu tranh dựng nớc và giữ nớc

Thứ nhất, vai trò của ngời phụ nữ trong lao động sản xuất

Trong thời kỳ nguyên thủy, sức sản xuất thấp kém, con ngời chỉ có thể tồntại và phát triển đợc khi lao động gắn với cộng đồng Mọi ngời cùng săn bắt vàhái lợm nhng ngời phụ nữ giữ vai trò quan trọng Kinh tế hái lợm chủ yếu donhững ngời phụ nữ đảm trách, còn săn bắt dần trở thành chức nghiệp chủ yếu của

đàn ông Sự phân công lao động theo giới tính phát sinh và phát triển dần lêntrong lòng xã hội cộng sản nguyên thủy

Nghề săn bắt muông thú ngày càng gặp nhiều khó khăn, đôi khi ngời đàn

ông không tìm đợc nguồn thức ăn nào cho cộng đồng Khi đó, những ngời đàn

bà hái lợm, đào tìm những hạt, cây, rễ, củ, bắt trai, sò, ốc, hến, tôm cua, lànhững sản vật không quá hiếm trong thiên nhiên nhiệt đới của nớc ta trở nên cóhiệu quả Dần dần, vai trò đảm nhiệm nguồn thức ăn thờng xuyên và quan trọng

về số lợng cho các tập đoàn ngời nguyên thủy chủ yếu thuộc về phụ nữ Ngay từbuổi đầu, vai trò này đã thể hiện tinh thần sẵn sàng gánh vác công việc chungcủa ngời phụ nữ Việt Nam

Ngời phụ nữ còn thể hiện vai trò quan trọng của mình đối với sự sinh tồn củacộng đồng ngời nguyên thủy trong việc phát hiện ra nghề đánh cá, chăn nuôi vànghề gốm Đặc biệt, nghề gốm ra đời đã đánh dấu bớc phát triển, thể hiện sự khéoléo sáng tạo của ngời phụ nữ Việt Nam Đây là sự kiện có ý nghĩa quan trọng vềmặt kinh tế, xã hội, nghệ thuật trong sản xuất vật phẩm tiêu dùng ở nớc ta

Trong nền kinh tế hái lợm, từ chỗ hái lợm tự nhiên, ngời phụ nữ nguyênthủy tiến dần đến hái lợm theo mùa Tiến thêm một bớc nữa, với những công cụlao động bằng lỡi rìu, cuốc đá, gậy nhọn bằng tre, gỗ, ngời phụ nữ đã trồng cácloại cây ăn quả Nghề nông nguyên thủy ra đời, bao gồm cả việc trồng lúa vànhững loại cây lơng thực khác Dới bàn tay của ngời phụ nữ nguyên thủy, nhiều

Trang 16

loại lúa hoang đã trở thành tổ tiên của các giống lúa ngày nay Vì thế, khôngphải ngẫu nhiên mà ở nhiều dân tộc, thần lúa nói riêng và thần nông nghiệp nóichung đều mang hình tợng ngời phụ nữ.

Kinh tế nông nghiệp ra đời đánh dấu bớc phát triển mới của nền kinh tếnguyên thuỷ, cung cấp nguồn thức ăn thờng xuyên và ổn định cho con ngời Tuynhiên, nó vẫn do phụ nữ đảm nhiệm song song với việc hái lợm của mình Nghềnông nguyên thuỷ với quy mô nhỏ, đòi hỏi sự mềm mại, dẻo dai, cần cù, điềunày phù hợp với thể chất và thiên tính của ngời phụ nữ Với sự đảm nhiệm vàchăm sóc của ngời phụ nữ nguyên thuỷ, nông nghiệp dần dần phát triển Sự pháttriển nền kinh tế nông nghiệp là kết quả của quá trình lao động phức tạp và vấtvả mà ngời phụ nữ phải gánh vác Hình ảnh ngời phụ nữ Việt Nam trớc hết làhình ảnh của con ngời lao động chân lấm tay bùn, dãi nắng dầm sơng, chịu đựnggian khổ từ đời này qua đời khác Chính trong hoàn cảnh khó khăn của buổi đầulịch sử đã hình thành nên những phẩm chất đạo đức đặc sắc của ngời phụ nữ Việt

Nam: đảm đang, sáng tạo, cần cù, nhẫn nại, chịu thơng chịu khó, tinh thần làm chủ, ý thức cộng đồng Những phẩm chất, những giá trị đó đợc kế thừa và phát

huy mãi đến ngày nay trở thành một trong những giá trị đạo đức truyền thốngcủa dân tộc Việt Nam nói chung, phụ nữ Việt Nam nói riêng

Thứ hai, vai trò của ngời phụ nữ trong đánh giặc giữ làng, giữ nớc

Trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt của dân tộc Việt Nam, dựng nớc gắn liềnvới giữ nớc Chống xâm lợc, bảo vệ độc lập, tự do, đó là điều kiện tiên quyết đểdân tộc ta tồn tại và phát triển Có thể khẳng định rằng, những ngời đầu tiên

đứng lên giành độc lập cho Tổ quốc là phụ nữ “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”

là truyền thống đặc biệt của phụ nữ Việt Nam từ thời đại Hùng Vơng - Trng

V-ơng dựng nớc đến thời đại Hồ Chí Minh chống Mỹ cứu nớc Lịch sử đã khắc sâumột chân lý: Phụ nữ Việt Nam không chỉ lo việc nhà mà còn lo việc nớc Bởi lẽ,

ở Việt Nam, nớc và nhà, làng và nớc không bao giờ tách rời nhau, đó là nhữngtiếng thân thơng, quen thuộc trong tâm thức của ngời Việt Nam, nó biểu thị rõrệt và cô đúc sự gắn bó của các tổ chức xã hội Việt Nam xa Con ngời ở đây ýthức đợc rằng: nớc mất thì nhà tan Vì thế, cứu nớc không chỉ là nhiệm vụ của

đàn ông mà đàn bà cũng lo cứu nớc Mặt khác, trong các cuộc chiến tranh, bọnxâm lợc trực tiếp đánh vào ngời phụ nữ, chà đạp nhân phẩm, cớp đi quyền sống,quyền làm mẹ của họ, chúng không chỉ “Nớng dân đen trên ngọn lửa hung tàn”

mà còn “Vùi con đỏ xuống dới hầm tai vạ” Trớc tai hoạ trực tiếp đó, ngời phụ

Trang 17

nữ chỉ còn con đờng quyết liệt đấu tranh, đứng lên cầm vũ khí, tham gia vàonhững cuộc đấu tranh chống xâm lợc

Trong suốt chiều dài hơn bốn nghìn năm lịch sử, biết bao thế hệ phụ nữ đãtrở thành chiến sĩ trong những lần vận nớc gặp nguy nan, từ đội ngũ nữ tớng thời

Bà Trng đến “đội quân tóc dài” thời đại mới

Hai Bà Trng và các nữ tớng của hai bà là những ngời mẹ, ngời chị, nhữngngời con gái Việt Nam đã nêu cao tấm gơng “anh hùng, bất khuất, trung hậu,

đảm đang” Đấy là những con ngời “sinh vi tớng, tử vi thần”, những nữ anh hùngtiêu biểu cho tinh hoa dân tộc trong giai đoạn phôi thai của lịch sử

Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trng (năm 41-43) là sự phủ định hiên ngangcái thế “bình thiên hạ” của triều đại nhà Hán, đồng thời khẳng định chắc chắn sựnghiệp giành độc lập tự chủ của dân tộc và mở đờng cho các thế kỷ sau đi tới thắnglợi Sử gia Lê Văn Hơu sau này có viết: "Trng Trắc, Trng Nhị là đàn bà nổi lên đánhlấy đợc 65 thành trì, lập quốc xng vơng dễ nh giở bàn tay" [29, tr.40]

Góp phần vào ngọn nguồn của truyền thống đánh giặc của phụ nữ ViệtNam xa, 200 năm sau cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trng là cuộc khởi nghĩa của

“Vua bà” Triệu Thị Trinh, cuộc khởi nghĩa ấy một lần nữa khẳng định ý chí tựchủ, tinh thần độc lập dân tộc và khí phách của ngời phụ nữ Việt Nam với câunói bất hủ: Tôi muốn cỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá Kình ở biển

Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ chứ tôi không chịukhom lng làm tì thiếp cho ngời

Truyền thống đánh giặc của Bà Trng, Bà Triệu đã đợc phụ nữ Việt Nam kếthừa và phát huy từ thế hệ này qua thế hệ khác Không chỉ có một Trng Vơng,một “Vua bà” mà còn có hàng vạn Trng Vơng, hàng vạn “Vua bà” vô danh khác

đã góp phần xơng máu của mình làm cho dòng truyền thống đánh giặc giữ nớcquý báu này phát triển mạnh mẽ và liên tục

Trong quá trình chiến đấu lâu dài, ngời phụ nữ xa đã rèn luyện và bộc lộkhí phách anh hùng, tinh thần dũng cảm, ý chí bất khuất, kiên cờng, tạo nêntruyền thống quang vinh của phụ nữ Việt Nam Với thứ vũ khí tinh thần không gìsánh nổi ấy, những ngời phụ nữ bị coi là “chân yếu tay mềm” đã trở nên mạnh

mẽ hơn bao giờ hết Đó là những con ngời yêu nớc sâu sắc, sẵn sàng chịu đựngmọi gian khổ, hy sinh Đó là những con ngời bất khuất, kiên cờng không sứcmạnh nào có thể khuất phục đợc Tất cả những đức tính đặc sắc của ngời chiến sĩ

- phụ nữ Việt Nam đã tạo nên hình tợng thơ bi tráng:

Trên đất nớc nghìn năm máu chảy

Trang 18

Nghìn năm ngời con gái vẫn cầm gơm.

Chính hoàn cảnh lịch sử đó đã hình thành nên những giá trị đạo đức phổ

quát và bền vững ở ngời phụ nữ Việt Nam: Lòng yêu nớc nồng nàn, khí phách anh hùng, kiên cờng, bất khuất và ý chí tự cờng dân tộc.

Thứ ba, vai trò của ngời phụ nữ trong gia đình và xã hội

Ngời phụ nữ xa không chỉ là con ngời lao động đảm đang, con ngời chiến

sĩ dũng cảm mà còn là con ngời nội trợ trung hậu, gánh vác mọi công việc gia

đình và xã hội

Trớc khi có sự phân công lao động theo giới tính, đã có sự phân công giữa

đàn ông và đàn bà trong việc bảo tồn và duy trì nòi giống Trong điều kiện sinhhoạt cộng đồng của ngời nguyên thủy, ngời phụ nữ vừa thờng xuyên lao độngsản xuất, đảm nhiệm chức năng kinh tế vừa gánh vác cả chức năng sinh đẻ vànuôi dạy con cái Đấy là chức năng thiêng liêng của ngời phụ nữ, đồng thời cũng

là một loại lao động nặng nhọc không ai có thể thay thế Ngời phụ nữ Việt Nam

là những ngời mẹ hiền, tình cảm dành cho con nh biển trời rộng lớn Con cáikhỏe mạnh, ngoan ngoãn, vui chơi, chăm chỉ học hành là nguồn hạnh phúc lớnlao của ngời phụ nữ Có ai yêu con hơn những ngời mẹ, ngời đã suốt đời tảo tầnkhuya sớm, nhịn ăn, nhịn mặc để nuôi nấng, săn sóc dạy dỗ con cái Ngời đã gửivào con tất cả những ớc mong và hạnh phúc Trong gia đình, phụ nữ là ngời th-ờng xuyên, trực tiếp nuôi dạy con cái, là ngời thầy, nhà giáo dục đầu tiên củacon ngời

Cùng với việc sinh đẻ và nuôi dạy con cái, phụ nữ nguyên thủy còn gánhvác cả những công việc trong nhà Trớc hết là việc sửa sang nơi ăn chốn ở, chếbiến, phân chia và dự trữ thức ăn, từ việc giữ lửa, nấu nớng thức ăn cho cả giatộc, đến việc xây dựng hang ở, cửa nhà Sau đó là đảm nhiệm kinh tế gia đình,cung cấp những nhu cầu vật dụng quan trọng cho xã hội nguyên thủy Với hình

ảnh của nữ Thần Lửa và nữ thần nghề mộc trong thần thoại Việt Nam, nếu lột bỏcái vỏ thần linh đi, sẽ thấy hình ảnh của những con ngời nội trợ đảm đang, gánhvác công việc gia đình và xây dựng cuộc sống gia đình ấm no hạnh phúc Vì vậy,không phải ngẫu nhiên mà ngời Việt Nam ta quan niệm gia đình là “tổ ấm” củamỗi con ngời

Tuy nhiên, vai trò của ngời phụ nữ trong việc đảm nhiệm, phụ trách toàn

bộ thể chế và đời sống tinh thần của gia đình mới là lĩnh vực kết tinh đức tính

đảm đang của ngời phụ nữ Việt Nam ở đây, phụ nữ là những ngời vợ thủy

Trang 19

chung son sắt với chồng, những ngời mẹ hy sinh trọn vẹn cho con cái, những

ng-ời con gái, con dâu nết na thảo hiền đối với bậc trên Đấy là hình ảnh của conngời nội trợ trung hậu, đảm đang Sự trung hậu ở đây thể hiện thông qua vai tròlịch sử của ngời phụ nữ đối với gia đình Việt Nam mà họ đã đảm nhiệm mộtcách tự nhiên và bình dị Đó là cơ sở quan trọng để hình thành nên những giá trị

đạo đức truyền thống: anh hùng, bất khuất, đảm đang, tần tảo, yêu chồng, thơng con, thủy chung son sắt, đức hy sinh cao cả của ngời phụ nữ Việt Nam.

Ngời phụ nữ xa không chỉ lo cho cuộc sống gia đình mà còn đảm nhiệmcả những công việc xã hội, tổ chức và quản lý xã hội Họ giữ vai trò hòa giải,phân xử những mâu thuẫn trong nội bộ thị tộc, đồng thời giao thiệp và giải quyếtnhững “công việc đối ngoại” với thị tộc khác Chính phụ nữ luôn là sứ giả hòabình bởi họ mềm mại, khéo léo, dịu dàng hơn ai hết Vai trò đó càng tô đậmthêm nét đẹp của những truyền thống quý báu: đảm đang, tinh thần đoàn kết, ýthức cộng đồng, ở ngời phụ nữ Truyền thống ấy ngày càng đợc bồi đắp và pháttriển phong phú, tạo nên danh hiệu cao quý cho ngời phụ nữ Việt Nam hiện đại

“giỏi việc nớc, đảm việc nhà”

Chính vai trò quan trọng của ngời phụ nữ trong suốt mấy ngàn năm lịch

sử, đã hun đúc nên những phẩm chất đạo đức truyền thống cao đẹp ở ngời phụ nữViệt Nam Vai trò ấy là một sự thật khách quan mà cả dân tộc ta đã khẳng định

Có thể hình dung ra ba con ngời khác nhau mà thống nhất, tập trung ở ngời phụnữ Việt Nam: con ngời lao động đảm đang, con ngời chiến sĩ dũng cảm, anhhùng, con ngời nội trợ trung hậu Hình ảnh ấy đợc hình thành và ổn định trongsuốt quá trình lịch sử lâu dài Ngày nay, những ngời phụ nữ hiện đại mang trongmình truyền thống đó và ngày càng tự giác phát huy mạnh mẽ trong hoàn cảnhmới

1.1.2 Những giá trị đạo đức truyền thống nổi bật của ngời phụ nữ Bến Tre

Giá trị đạo đức truyền thống của ngời phụ nữ Bến Tre không nằm ngoài những giá trị đạo đức của ngời phụ nữ Việt Nam Nổi bật vẫn là truyền thống

anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang, thủy chung đợc phụ nữ Bến Tre kếthừa và phát huy trong điều kiện sinh hoạt vật chất xã hội của vùng đất ba dải cùlao Có thể nói, những giá trị đạo đức truyền thống ấy là hệ quả tất yếu của lòngyêu nớc nồng nàn tiềm ẩn trong mỗi con ngời phụ nữ Bến Tre, gắn liền với lịch

Trang 20

sử hình thành và phát triển của quê hơng Nó thẩm thấu và đan xen nhau tạo nênnét độc đáo ở ngời phụ nữ: vừa dịu hiền vừa anh hùng, bất khuất.

Truyền thống trung hậu, đảm đang, thủy chung ở ngời phụ nữ Bến Tre

Bến Tre là một vùng đất mới với những cù lao lớn, đất đai màu mỡ, lạinằm ở cuối dòng Cửu Long, cận biển hội đủ những điều kiện tốt để những ludân đến khai phá sớm định c Tuy nhiên, công cuộc khai hoang, mở đất đâu chỉ

có thuận lợi, những u đãi của thiên nhiên, con ngời nơi đây còn phải đơng đầuvới bao khó khăn và khắc nghiệt Với khát vọng đổi đời, ý chí vơn lên kiến tạomột cuộc sống ấm no hạnh phúc, họ đã vợt lên trên mọi hoàn cảnh Từ một vùng

đất hoang vu, xứ sở lạ lùng, sình lầy đầy thú dữ, đến nỗi “con chim kêu phải sợ,con cá vùng phải kinh”, mảnh đất cù lao đã trở thành một vùng đất kinh tế trùphú, ruộng vờn tơi tốt Đó là kết quả của công sức khai phá và tạo dựng của biếtbao thế hệ ngời Việt Nam nối tiếp nhau bền bỉ và nhẫn nại, bằng sức lực, trí tuệ

và lòng dũng cảm vô song, thậm chí cả bằng sinh mạng của mình

Công cuộc chinh phục vùng đất hoang vu này là cuộc chiến đấu vợt quamọi trở lực, khắc phục mọi hiện tợng tự nhiên bất lợi khi con ngời cha nắm bắt

đợc quy luật của nó Chỉ có những con ngời có ý chí, lòng dũng cảm, mu trí, cầnmẫn, sáng tạo cùng với tinh thần đoàn kết mới có thể vợt qua để tồn tại và pháttriển Chính cuộc đọ sức kiên trì và quyết liệt này là nhân tố thử thách, đào luyệnnên bản sắc và tính cách con ngời nơi đây

Với t cách là một lực lợng xã hội, cùng với nam giới, phụ nữ đã gánh vácmột phần rất quan trọng trong công cuộc mở đất Với thiên chức đặc thù của giớinữ, ngời phụ nữ đã đảm trách những công việc gia đình, chăm lo đời sống vậtchất và nuôi dạy con cái Ngoài ra, phụ nữ còn gánh vác nhiều công việc thuộccác lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Trong điều kiện vật chất còn khókhăn, ngời phụ nữ phải trực tiếp tham gia trồng trọt, chăn nuôi và đánh bắt Họ

là những ngời tần tảo sớm hôm, buôn gánh bán bng, chống chèo trên sông rạch

Đấy là hình ảnh của “thân cò lặn lội”, âm thầm chịu đựng gian khổ để nuôichồng, nuôi con

Với tinh thần tự lực, tự cờng, ý chí phấn đấu vơn lên, ngời phụ nữ nơi đây

đảm nhiệm cả những nghề thủ công, đặc biệt là nghề trồng dâu, nuôi tằm, ơm tơ,dệt lụa Dới bàn tay khéo léo và mềm mại, đức tính kiên trì và nhẫn nại, họ đãtạo nên những sản phẩm nổi tiếng mang dáng dấp của quê hơng xứ dừa Có thểnói, hành trang chủ yếu của những ngời đi khai phá vùng đất mới này chỉ có

Trang 21

những kinh nghiệm sản xuất đã đợc tích lũy nơi quê cũ nhng họ đã tự lực cánhsinh vợt lên mọi hoàn cảnh Khi cuộc sống ổn định, chính họ là những ngời tự tổchức và quản lý đời sống nơi đây Điều kiện sinh hoạt đó đã tôi luyện ở ngời phụnữ, hình thành nên truyền thống đảm đang của họ Đảm đang không chỉ là sựgánh vác, lo toan mọi việc mà nó thể hiện cả sự khéo léo, sắp xếp, tổ chức đờisống gia đình, giáo dục con cái của ngời phụ nữ Họ không những dạy chữ chocon mà còn giáo dục con cái đạo làm ngời, trách nhiệm công dân, lòng yêu quêhơng đất nớc, yêu đồng bào, hớng đến các giá trị chân- thiện- mỹ

Mẹ Lê Thị Mẫn là ngời phụ nữ Bến Tre yêu con hết lòng nhng nghiêmkhắc với con hết mực Mẹ góa chồng từ lúc còn rất trẻ nhng một mình tần tảo locho ba con ăn học thành tài trong điều kiện khó khăn, thiếu thốn Ngời con trailàm quan gửi quà biếu mẹ nhân dịp tết, mẹ nhận quà và đốt thành tro trả lại chocon để nhắc nhở con “Là quan phải thanh liêm để không uổng công mẹ nuôidạy” Tấm gơng sáng ngời về phẩm chất cao đẹp của mẹ đã đợc vua Tự Đứckhen tặng bức trớng với bốn chữ “Hảo Nghĩa Khả Phong” Đây là nét tiêu biểucho truyền thống đảm đang, nhân hậu, mẫu mực của ngời phụ nữ xứ cù lao Sự

đảm đang ở đây gắn liền với đức tính dịu dàng, khéo léo, mềm mại đồng thờikhông tách rời sự kiên quyết và nghiêm khắc của ngời phụ nữ Bến Tre

Truyền thống trung hậu, đảm đang, thủy chung của ngời phụ nữ Bến Trecòn mang một sắc thái khác Đó là sự đóng góp quan trọng của ngời vợ đối với

sự nghiệp của chồng Có thể nói, bất kỳ sự thành công nào của ngời đàn ông ítnhiều đều có vai trò của ngời phụ nữ Lịch sử Bến Tre đã từng khắc ghi hình ảnhngời vợ đảm đang, thủy chung, tận tụy của nhà thơ mù Nguyễn Đình Chiểu Bà

Lê Thị Điền, vừa là “nội tớng” trong gia đình vừa là ngời th ký trung thành, kềvai, sát cánh cùng chồng trên bớc đờng sự nghiệp Hơn thế nữa, với đôi mắtsáng, bà đã quan sát hiện thực xã hội đầy biến động trên quê hơng để cung cấpchất liệu cho chồng sáng tác nên những câu thơ bất hủ đầy nghĩa khí của mộtnhà thơ yêu nớc

Còn biết bao tấm gơng sáng ngời của những ngời mẹ, ngời chị, tất cả đềugóp phần quan trọng tạo nên truyền thống trung hậu, đảm đang của ngời phụ nữBến Tre ngay từ buổi đầu mở đất Truyền thống ấy càng đợc phát huy mạnh mẽtrong thời kỳ đấu tranh bảo vệ quê hơng, đất nớc Nếu trớc kia, phụ nữ Bến Trethể hiện sự đảm đang của mình một cách tự phát, vì lẽ sinh tồn thì trong thời kỳnày, họ đã ý thức rõ trách nhiệm của mình cần gánh vác để chồng, con yên tâmlên đờng giết giặc Hơn thế nữa, họ không chỉ gánh vác việc gia đình mà cần

Trang 22

phải đảm việc nớc cùng nam giới Ngời phụ nữ vừa lo cho con nhỏ, chăm sóc mẹgià, vừa sản xuất để nuôi quân Đồng thời, họ góp sức vào công việc tải lơng, tải

đạn, đào hào, đắp luỹ, xây dựng phòng tuyến Phụ nữ Bến Tre không chấp nhậncái vị trí của ngời “chinh phụ” xa, thụ động chờ chồng trở về, họ thoát khỏinhững ràng buộc phong kiến, vừa sản xuất, vừa tham gia đánh giặc tại quê nhà

Trong mọi thời kỳ cách mạng, đặc biệt là trong những tình thế khó khănnhất, phụ nữ Bến Tre đã nỗ lực tăng gia sản xuất, tiết kiệm, đảm bảo đợc cái ăn,cái mặc cho chiến sĩ cách mạng Họ đã tận tụy, nuôi giấu, chăm sóc chiến sĩ khicòn sống cũng nh lúc hy sinh bằng tấm lòng yêu thơng của ngời mẹ Với tấmlòng nhân hậu, vì nghĩa lớn, mẹ Việt Nam anh hùng Bùi Thị T ở xã An Phớc,huyện Châu Thành, đã tự tay khâm liệm và chôn cất hơn 100 tử sĩ dới bom cày

đạn xới của chiến tranh, bất chấp những gian nan và nguy hiểm, bởi với mẹ “ anh

em chiến sĩ nh con đẻ của mình, nh khúc ruột của mình nằm đó; nó làm xongbổn phận với nớc non, mình phải xử sự cho đúng cái nghĩa ở đời” Ngời chiến sĩtìm thấy ở mỗi ngời mẹ Bến Tre một sự cu mang ấm tình mẫu tử Tình yêu thơng

ấy vừa xuất phát từ thiên chức của ngời phụ nữ, vừa thắm đợm tình dân nghĩa

Đảng Có thể nói, tấm lòng của những ngời mẹ Bến Tre là “căn cứ cách mạng”antoàn nhất cho mọi hoạt động của cán bộ, đảng viên

Các mẹ luôn là ngời chở che cho cán bộ, bảo vệ vững chắc cơ sở Đảng

Đây là nhiệm vụ đầy khó khăn, nguy hiểm nhng cũng rất thiêng liêng mà hơn90% do ngời phụ nữ Bến Tre đảm trách Với truyền thống trung hậu, đảm đang,

tự lực tự cờng, thủy chung son sắt, các má, các chị đã nỗ lực vợt lên mọi hoàncảnh, xứng đáng là “mặt trận lòng dân” “Hội mẹ chiến sĩ” Bến Tre là biểu hiện

đặc sắc của truyền thống ấy Đó là sự biểu hiện tập trung và cao nhất của tình

“quân dân cá nớc” Chính tình yêu nớc mênh mông, đức hy sinh và lòng nhânhậu, thủy chung của các mẹ đã tạo nên một thứ chiến luỹ bền hơn sắt thép khôngbạo lực nào có thể phá vỡ nổi Sự thủy chung của ngời phụ nữ Bến Tre không bóhẹp trong phạm vi gia đình, đối với chồng con mà còn đối với dân, với nớc, nó pháttriển thành lòng trung thành tuyệt đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, ngời phụ nữ BếnTre đảm trách tất cả mọi nhiệm vụ từ nhẹ nhàng đến nặng nhọc, từ dễ dàng đếnkhó khăn, nguy hiểm kể cả những nhiệm vụ tởng chừng nh chỉ thuộc về namgiới Dòng kênh mang tên “phụ nữ” và dòng “Kênh Giải phóng” ra đời khôngphải ngẫu nhiên, nó là sản phẩm tất yếu do bàn tay, khối óc của hàng ngàn chị

Trang 23

em phụ nữ Bến Tre tạo nên suốt mấy tháng dới gầm trời đầy bom đạn Đây lànhững dòng kênh đánh dấu mốc son chói lọi của truyền thống trung hậu, đảm

đang, chịu đựng gian khổ ở ngời phụ nữ Bến Tre Nếu dòng “Kênh phụ nữ” có ýnghĩa đặc biệt trong việc mở ra con đờng giao thông an toàn cho cách mạng, thìdòng “Kênh Giải phóng” cũng có ý nghĩa không kém phần quan trọng Tuyến đêchạy dài theo dòng kênh là phòng tuyến vững chắc ngăn chặn bớc tiến xe tăng

địch và bảo vệ an toàn cho khu căn cứ cách mạng Sự đóng góp to lớn đó của phụnữ Bến Tre không phải là ở số lợng công trình mà ở sự giỏi giang, gánh vácnhững công việc nặng nhọc chẳng kém gì nam giới

truyền thống trung hậu, đảm đang còn là sự hy sinh thầm lặng của nhữngngời con gái, ngời vợ, ngời mẹ Bến Tre Trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt vàtriền miên, ngời phụ nữ nơi đây càng phát huy cao độ đức hy sinh ấy Họ đã bìnhtĩnh, trầm lặng hiến dâng những 2-3 thế hệ ngời thân yêu nhất của mình cho quêhơng, đất nớc Có những ngời mẹ đã tiễn 5-7 ngời thân mà không một lần đón

họ Cái gì đã khiến mẹ phải hy sinh cả hạnh phúc riêng của mình nh thế ? Chỉ cóthể lý giải điều đó bằng tình yêu quê hơng, đất nớc, lòng khát khao cháy bỏng

độc lập tự do ở ngời phụ nữ Bến Tre Tiêu biểu cho đức hy sinh cao cả ấy là tấmgơng sáng ngời của mẹ Việt Nam anh hùng Phan Thị Đầy ở xã Phớc Hiệp, huyện

Mỏ Cày Mẹ đã cống hiến cho Tổ quốc 12 ngời thân yêu nhất của mình Cuộc

đời của mẹ nỗi đau chồng chất những nỗi đau tởng chừng không thể nào chịu

đựng nổi, nhng mẹ đã vợt lên tất cả những nỗi đau, sống vì một lý tởng cao đẹpnhất

Chiến tranh qua đi, hạnh phúc đến với hàng triệu con ngời nhng vết thơnglòng mẹ không gì hàn gắn đợc Con số 2.067 Bà mẹ Việt Nam anh hùng ở vùng

đất cù lao đã chứng minh cho sự hy sinh to lớn của những ngời phụ nữ nơi đây.Tuy nhiên, so với con số 35.000 liệt sĩ và hơn 18.000 thơng binh của vùng đấtnày vẫn cha phản ánh đầy đủ sự cống hiến lớn lao của hàng vạn ngời mẹ BếnTre Còn có biết bao những bà mẹ liệt sĩ, tuy không nằm trong tiêu chí qui định

"lạnh lùng" về những ngời thân hy sinh, nhng các mẹ vẫn là những tấm gơngtuyệt vời về đức hy sinh cao cả, vì độc lập tự do của Tổ quốc

Có thể thấy rằng, sự cống hiến vô giá của ngời mẹ cũng chính là niềm tựhào nhng ẩn chứa trong đó lớp lớp nỗi đau Nếu năm tháng không làm giảm điniềm tự hào về sự hy sinh của mỗi ngời mẹ Bến Tre thì cũng không thể xoá đinhững nỗi đau gần nh triền miên trong lòng mẹ

Trang 24

Và vẫn còn đó lớp lớp nữ thanh niên đã tình nguyện cống hiến tuổi thanhxuân của mình cho Tổ quốc Họ đã góp phần làm rạng rỡ trang sử hào hùng củaquê hơng Nhng riêng những ngời con gái ấy đã trở nên “quá lứa lỡ thì”, sống cô

đơn với khát khao mãnh liệt một cuộc sống rất đời thờng: đợc làm vợ, làm mẹnhng không thể có đợc Đó là một thực tế đúng với câu ca dao:

Bến Tre nhiều gái ch

Không tin xuống chợ Mỹ Lồng mà xem ”Nói đến đức hy sinh của ngời phụ nữ, chúng ta không thể quên những tấmgơng đã hy sinh trong ngậm ngùi cay đắng, trong sự khinh miệt của mọi ngời

Đó là những ngời phụ nữ không có niềm vinh dự lớn lao của ngời vợ, ngời mẹliệt sĩ, họ bị coi là “phản bội ” chồng con, “phản bội” quê hơng Mấy ai biếtrằng, đằng sau những thắng lợi vẻ vang là sự hy sinh to lớn của ngời phụ nữ, họ

đã âm thầm gánh chịu những nỗi đau, đánh đổi cái quý giá của đời mình đểgiành lấy cái quí hơn tất cả: độc lập, tự do cho dân tộc

Chiến tranh nào không mất mát đau thơng, nhng mất mát lớn lao nhất baogiờ cũng thuộc về phụ nữ Đó là một thực tế lịch sử sinh động về đức hy sinh caocả, sự nhẫn nại, chịu đựng gian khổ của ngời phụ nữ Bến Tre những đức tính ấyluôn thờng trực ở mỗi con ngời nơi vùng đất đầy ma bom bão đạn Có thể nói,Bến Tre là một trong những tỉnh bị chiến tranh tàn phá khốc liệt nhất ở Nam Bộ.Nếu tính trớc ngày đất nớc đợc thống nhất thì mảnh đất này hầu nh cha có ngàynào bình yên Chính trong hoàn cảnh lịch sử đó của quê hơng, đã sản sinh ranhững thế hệ phụ nữ đảm đang, nhân hậu, chịu đựng gian khổ với một sức bền

kỳ diệu không phải ngời phụ nữ ở nơi nào cũng có Truyền thống ấy ngày càng

đợc phát huy mạnh mẽ, làm phong phú thêm trang sử hào hùng của vùng đất badải cù lao

truyền thống anh hùng, bất khuất của ngời phụ nữ Bến Tre

Nếu trong khai hoang mở đất, cùng với nam giới, phụ nữ Bến Tre khônglùi bớc trớc mọi khó khăn, trở ngại của tự nhiên thì trong cuộc đấu tranh bảo vệquê hơng, họ không bao giờ khuất phục trớc sức mạnh phi nghĩa của kẻ thù Cóthể nói, khí phách anh hùng, bất khuất, kiên cờng là đức tính phổ biến của ngờiphụ nữ Bến Tre Bởi lẽ, khi cuộc sống mới nơi đây vừa ổn định thì đó cũng là lúcngời dân Bến Tre hết sống trong cảnh nội chiến đến chiến tranh xâm lợc của kẻthù Ngời phụ nữ yêu nớc không thể thụ động trớc tình cảnh đó Họ thoát khỏi

“phòng the”, vợt lên trên tất cả những ràng buộc của lễ giáo phong kiến, tham

Trang 25

gia các phong trào yêu nớc chống giặc ngoại xâm, đấu tranh cho dân sinh, dânchủ và giải phóng dân tộc ở đâu có phong trào cách mạng, thì ở đó phụ nữ thamgia với tinh thần bất khuất, kiên cờng, bất chấp tù ngục súng gơm, bất chấp mọi

đàn áp dã man của kẻ thù Họ chứng tỏ rằng, khi quê hơng, đất nớc bị kẻ thùxâm lợc thì “anh hùng đâu chỉ có mày râu”

Ngay từ buổi đầu của phong trào yêu nớc đấu tranh chống đế quốc vàphong kiến, phụ nữ Bến Tre đã có mặt trong hàng ngũ những ngời cộng sản ChịNguyễn Trung Nguyệt là ngời phụ nữ Nam Bộ đầu tiên đi dự lớp huấn luyệnchính trị của “Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội” năm 1927 tạiQuảng Đông- Trung Quốc Chị khéo léo cải nam trang, vợt qua mọi khó khănthử thách để đi tìm lý tởng giải phóng đồng bào và giải phóng cho giới mình.Khi trở về, chị tiếp tục tham gia cách mạng và bị 8 năm tù đày tra khảo của kẻthù nhng vẫn một lòng trung thành với Đảng, với nhân dân

Đối với ngời phụ nữ Bến Tre, dù bị tù đày gian khổ nhng không ai phảnbội quê hơng, vẫn giữ vẹn lòng trung thành tuyệt đối với cách mạng Trong họluôn âm ỉ một tình yêu quê hơng, đất nớc, một sức chịu đựng phi thờng đợc hìnhthành từ những điều kiện đặc thù của vùng đất ba dải cù lao Có những ngời mẹ,hơn nửa thế kỷ làm công tác giao liên cho cách mạng bằng một tấm lòng chungthủy và trung thành dù phải vào tù ra khám Cuộc đời hoạt động của mẹ NguyễnThị Hạp ở xã Sơn Hòa, huyện Châu Thành là tấm gơng tiêu biểu, là điểm sonngời sáng trên mặt trận giao liên trong những năm tháng chiến tranh ác liệt nhất

ở Nam Bộ Là ngời nữ giao liên tận tụy từ trong giai đoạn chống Pháp đến thời

kỳ chống Mỹ, trong mọi hoàn cảnh, mẹ đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ củamình với ý chí kiên cờng và một trái tim đầy nhiệt huyết

Có thể thấy rằng, phụ nữ Bến Tre luôn kề vai sát cánh cùng các tầng lớpnhân dân trong mọi thời kỳ cách mạng, họ có mặt trên khắp các mặt trận, từ kinh

tế, chính trị đến quân sự, văn hoá Đặc biệt từ khi có Đảng, vai trò của phụ nữngày càng thay đổi về chất và trở thành một lực lợng chính trị quan trọng Chị

em tham gia đông đảo vào lực lợng vũ trang, làm y tá, cứu thơng, công tác hậucần, dân vận Sự cống hiến to lớn của họ đã góp phần tạo những tiền đề vật chất

và tinh thần cho thắng lợi vẻ vang của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 Đến

l-ợt nó, thắng lợi ấy đã củng cố niềm tin, tạo những điều kiện thuận lợi cho phụ nữBến Tre phát huy hết khả năng của mình phục vụ cho hai cuộc kháng chiến trờng

kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lợc những ngời phụ nữ Bến Tre đã

Trang 26

thống nhất lòng yêu nớc, yêu chồng con, yêu chiến sĩ thành một tình yêu thơngvô bờ bến Tình yêu ấy là động lực lớn lao làm bật dậy sức lực và trí tuệ của họ.

ở mỗi ngời phụ nữ, cái hiền dịu và cái anh hùng tởng chừng nh đối lập nhng lạithống nhất không tách rời nhau Đối với chồng con, đối với đồng bào, chiến sĩ,

họ luôn là ngời dịu dàng, nhân hậu, thủy chung nhng trớc kẻ thù, những con ngời

ấy bao giờ cũng tỏ rõ một khí phách hiên ngang, ý chí kiên cờng, bất khuất Từnhững em bé đến những ngời mẹ già nua, trớc cái chết họ không hề run sợ Giữanhững cuộc đàn áp dã man của kẻ thù, khí phách hiên ngang của phụ nữ Bến Trecàng ngời sáng Không ai có thể quên đợc sự hy sinh can trờng với câu trả lời

đầy khí phách của mẹ Trần Thị Kế: “Chồng con tao ở trong trái tim tao Chúngbay mổ ra mà kiếm” Hình ảnh ấy đã tiếp thêm sức mạnh và động viên các cán

bộ đảng viên giữ vững ý chí bất khuất trớc bạo lực của kẻ thù

Chỉ trong 21 năm dới chế độ thực dân mới, hàng ngàn phụ nữ Bến Tre bịgiam cầm tù tội Cứ 5 tù nhân thì có 1 ngời phụ nữ, họ có mặt khắp các nhà tùmiền Nam, chịu đòn roi tra tấn dã man của kẻ thù Bao nhiêu bản án khổ sai,chung thân là bấy nhiêu tấm gơng kiên cờng, bất khuất của ngời phụ nữ Chị D-

ơng Thị Chẩn là tấm gơng tiêu biểu cho sự kiên cờng đó Chị đã trải qua 9 nhà tù

và 19 lần chuyển lao bởi sự đấu tranh quyết liệt của mình Chị kiên quyết chống

đối, chống học tập tố cộng, chống chào cờ "ba que", không chịu “suy tôn Ngôtổng thống” Đặc biệt ở nhà lao Côn Đảo, chị cùng tập thể tù nhân nữ tuyệt thực

11 ngày để phản đối chính sách khủng bố, đàn áp của kẻ thù, buộc chúng phảinhợng bộ

ý chí kiên cờng, bất khuất của ngời phụ nữ Bến Tre cứ nh những đợt sóngHàm Luông không dứt, lớp lớp xô nhau để nhấn chìm bè lũ bán nớc và cớp nớc.phụ nữ tham gia ngày càng đông đảo các cuộc đấu tranh với mọi hình thức:chính trị, vũ trang, binh vận bằng một khí thế tiến công quyết liệt Khí thế ấy

đã làm nên cuộc Đồng khởi vang dội ngày 17/01/1960 Nếu trớc đây, ngời ta biết

đến Bến Tre là quê hơng của những rừng dừa bạt ngàn hay quê hơng thứ hai củanhà thơ yêu nớc Nguyễn Đình Chiểu, thì ở thời kỳ chống Mỹ, hai tiếng Bến Trethu hút sự ngỡng mộ của hàng triệu trái tim yêu chính nghĩa bằng ngọn lửa Đồngkhởi bùng lên từ đất Mỏ Cày Nh con chim báo bão xuất hiện trên bầu trời vần vũmây đen, ngọn lửa Đồng khởi là tín hiệu của những cơn rung chuyển sấm sét làmsụp đổ chế độ Mỹ ngụy ý nghĩa và giá trị thực tiễn của cuộc Đồng khởi Bến Tre đ-

ợc Đại tớng Hoàng Văn Thái đánh giá:

Trang 27

Phong trào Đồng khởi ở Bến Tre đã mở đầu cho cuộc tấn côngnổi dậy lần thứ nhất của cách mạng miền Nam, mở đầu cho cuộckhủng hoảng triền miên của chính quyền Mỹ, Diệm Rõ ràng, phongtrào Đồng khởi ở Bến Tre đã đi vào lịch sử nh một ngọn cờ đầu, nó đã

có một vị trí xứng đáng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc ởmiền Nam và xứng đáng đợc gọi là quê hơng Đồng khởi với tất cảnhững nội dung và tính chất của nó [50, tr.1091]

Phong trào Đồng khởi ở Bến Tre không chỉ có nghĩa đơn giản là cuộc nổidậy đồng loạt của nhân dân từ tay không cớp đồn địch, giành chính quyền mà làmột quá trình liên tục tiến công, liên tục nổi dậy và liên tục giành thắng lợi Đó

là một hình thức đấu tranh độc đáo, là kết quả sáng tạo của t duy quân sự đạt đếntầm cỡ nghệ thuật chiến tranh thế giới của những ngời lãnh đạo cách mạng trênmảnh đất Bến Tre và hàng vạn những tấm gơng anh dũng hy sinh, kiên cờng, bấtkhuất trên mảnh đất này

Hai tiếng Bến Tre còn gắn liền với sự ra đời của “đội quân tóc dài”, mộtsáng tạo lịch sử của chiến tranh nhân dân ở miền Nam, một đội quân đặc biệt cóthể nói là độc nhất vô nhị trên thế giới Về mặt số lợng, đó là một đội quân hùnghậu càng tăng lên qua mỗi cuộc chiến tranh vệ quốc Về chất lợng, đây là mộtlực lợng nữ có bớc trởng thành đáng kể, có tổ chức chặt chẽ, có tuyển lựa, cóhuấn luyện, có chỉ huy, có hợp đồng chiến đấu, biết hợp tan khi cần thiết Lúcbình thờng, những ngời phụ nữ ấy gắn bó với thôn xóm, ruộng đồng, thay chồngnuôi con, phụng dỡng cha mẹ già và nuôi giấu cán bộ Họ có mặt ở hầu hết cácphong trào cách mạng ở hậu phơng, xây dựng xã ấp chiến đấu, tham gia du kích,bảo vệ làng mạc Lúc có giặc càn vào thôn xóm, họ là lực lợng đứng ra đấutranh ngăn chặn bớc tiến của quân thù, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân

Vũ khí đấu tranh chủ yếu của họ không phải là súng đạn mà là chính nghĩa, làlòng yêu nớc, khí phách anh hùng, kiên cờng, bất khuất không lùi bớc trớcnhững cuộc khủng bố, đàn áp của kẻ địch Họ vận dụng lý lẽ một cách thôngminh, khôn khéo để đấu tranh trực diện với đối phơng Vận dụng “3 mũi giápcông” đánh vào chỗ yếu làm phân hoá hàng ngũ, ngăn chặn và phá vỡ âm muthâm độc của Mỹ, ngụy Không hiếm những tấm gơng anh hùng, bất khuất, vớitay không nhng đầy mu trí, sáng tạo đã hạ đợc đồn bót giặc, vô hiệu hoá từng

đơn vị chiến đấu của địch Chính những ngời phụ nữ dịu hiền lại là những ngờichiến sĩ anh hùng diệt ác ôn ngay trên đờng phố Trong những năm 1960, cả

Trang 28

miền Nam không ai không biết đến cái tên Bảy Tranh- ngời nữ chiến sĩ xungkích tiêu biểu, ngời nữ chỉ huy xuất sắc của “đội quân tóc dài” với hơn 300 trận

đấu tranh trực diện với kẻ thù, là ngọn cờ tập hợp quần chúng ở Bến Tre Haythành tích “Tay không hạ bót, cắm cờ” của tổ du kích mật xã An Thạnh- Mỏ Càygắn liền với tên tuổi Anh hùng lực lợng vũ trang nhân dân Tạ Thị Kiều đã đi vàothơ ca một cách hào hùng:

Xa cô du kích Mỏ Cày, Còn mê câu chuyện ban ngày đánh tua “ ”

Tay không hạ bót, cắm cờ Bến Tre ơi, một bài thơ tuyệt vời.

Nhìn chung, vai trò to lớn của phụ nữ Bến Tre không chỉ trong đấu tranh

chính trị mà xuất sắc cả trên 3 mũi giáp công: chính trị, quân sự và binh vận.

Tham gia chiến đấu ở mũi quân sự, ngoài hàng ngàn nữ du kích địa phơng làmnhiệm vụ đánh giặc giữ làng, Bến Tre còn có “tiểu đoàn nữ thanh niên xungphong”, những đơn vị bộ đội nữ gắn liền với tên tuổi ngời nữ chỉ huy “Bộ độiThu Hà”, đơn vị “đặc công nữ” và đơn vị “pháo binh nữ” Đó là những tổ chứcbán quân sự chiến đấu bên cạnh lực lợng vũ trang trong nửa phần cuối của cuộcchiến tranh chống Mỹ Những ngời phụ nữ Bến Tre đã đảm nhiệm đầy đủ vai tròcủa ngời lính trợ chiến, một nhiệm vụ khá nặng nề tởng chừng nh không thể đảm

đơng nổi Nhng sức mạnh tinh thần đã giúp họ mạnh mẽ hơn bao giờ hết, họkhiêng vác nòng pháo, mâm pháo, đạn pháo vợt qua sông rạch, đầm lầy, cầukhỉ, trong các cuộc hành quân tạo nên những thành tích đáng tự hào

Trong điều kiện khó khăn của một chiến trờng bốn bề sông nớc, kênh rạchchằng chịt, phải chống lại “Chiến thuật hạm đội nhỏ trên sông” của Mỹ, mộtsáng tạo độc đáo của “đội quân tóc dài” đã ra đời Đó là “đội nữ đặc công thủy”,một đại đội hoàn toàn do chị em điều khiển, từ đại đội trởng, đến chính trị viên

và tổ trởng Khi thì độc lập tác chiến, lúc thì phối hợp hoạt động với các tổ nam

đặc công, họ đã vật lộn với sóng gió bao la, hoạt động trên khắp sông nớc BếnTre một cách thầm lặng nhng tạo nên những chiến công vang dội Đó là hình ảnhnổi bật của những nữ chiến sĩ đặc công thủy anh dũng, thông minh đã “cỡi sóngHàm Luông, nhận chìm hạm Mỹ”, góp phần cống hiến to lớn cho sự nghiệp giảiphóng quê hơng, đất nớc

Từ đó, “đội quân tóc dài” của Bến Tre đã lan ra khắp miền Nam, bao gồmnhững phần tử trung kiên, u tú, dũng cảm và mu trí, đủ mọi lứa tuổi, mọi thành

Trang 29

phần xã hội, có cơ sở khắp nông thôn, rừng núi và đô thị Cách thức hoạt độngcủa họ cha hề đợc ghi trong “binh th” nào từ trớc đến nay nhng đã đơng đầu vớicác loại vũ khí tối tân, hiện đại vào loại bậc nhất lúc bấy giờ, bẽ gãy cái “quốcsách ấp chiến lợc”- xơng sống của “chiến tranh đặc biệt” cũng nh “chiến tranhcục bộ” và “Việt Nam hoá chiến tranh” của Mỹ Sức mạnh của binh chủng đặc biệtnày không những làm cho kẻ thù khiếp sợ mà còn vang dội khắp thế giới nh một sựkiện lạ lùng Nữ ký giả ngời Pháp, sau chuyến đi thăm vùng giải phóng miền Nam

đã viết:

Quả là ở miền Nam đang tồn tại một đội quân kỳ lạ, không súng ống,

có mặt ở khắp nơi, thành thị cũng nh thôn quê, một đội quân mà các bảntin của các hãng thông tấn hầu nh không bao giờ nói đến, song lại đóngvai trò to lớn trong cuộc chiến đấu của nhân dân miền Nam Việt Namchống xâm lợc, ngay cả trớc khi ngời du kích đầu tiên cầm lấy vũ khí đó

là “đội quân búi tóc” tập hợp hàng triệu nữ chiến sĩ [49, tr.455]

Nếu hai tiếng Bến Tre gắn liền với phong trào Đồng khởi, với sự ra đời của

“đội quân tóc dài”, thì nó cũng gắn liền tên tuổi của “ngời con gái Bến Tre”, vịnữ tớng, Phó tổng T lệnh quân giải phóng miền Nam Nguyễn Thị Định Có nhàviết sử đã nói một cách hình tợng, nữ tớng Nguyễn Thị Định là “bà đỡ” của binhchủng độc đáo có một không hai trên thế giới này Từ đó đã tạo nên một “dáng

đứng Bến Tre” đi vào lịch sử

Song, có lẽ mọi ngời biết đến và yêu thơng, kính trọng “ngời con gái xứdừa” ấy không vì danh hiệu, chức vụ, địa vị mà bởi cái mộc mạc, chân chất, đằmthắm, nhân ái, phúc hậu toả sáng trong hành vi đời thờng cũng nh lúc thi hànhcông vụ Vì thế trong lòng nhân dân, vị nữ tớng bao giờ cũng là “chị ba” với tấtcả những tình cảm thân thơng, trìu mến “Ba” đã trở thành cái tên thân quen, gầngũi với mọi ngời, không chỉ là tên một con ngời cụ thể, mà là tên của một cuộc

đấu tranh, tên một phẩm chất, một tấm lòng và một tâm hồn, một nhân cách

Chị Ba Định là ngời phụ nữ tiêu biểu cho ý chí kiên cờng, bất khuất, làtấm gơng sáng ngời cho các thế hệ phụ nữ noi theo Dù sinh thời, chị cha hề đợcphong danh hiệu anh hùng nhng giữa lòng nhân dân chị luôn là một nữ anh hùngchẳng những của dân tộc mà còn của thời đại Bởi lẽ, trên thế giới cha từng cóngời phụ nữ nào nh chị Từ chốn ruộng đồng thấm đẫm máu và nớc mắt, từ mảnh

đất kéo lê những cỗ máy chém, ngời nữ chiến sĩ rừng dừa đã dựng nên một kỳ

Trang 30

tích vang dội của đêm Bến Tre bừng lửa đuốc Thật xứng đáng với lời khen ngợicủa Chủ tịch Hồ Chí Minh:

Miền Nam anh hùng có đội quân đấu tranh chính trị gồm hàngvạn chiến sĩ toàn là phụ nữ Họ rất mu trí và dũng cảm làm cho địchphải khiếp sợ và gọi là “đội quân tóc dài” Phó tổng T lệnh giải phóngmiền Nam là cô Nguyễn Thị Định Cả thế giới chỉ có nớc ta có vị tớngquân gái nh vậy Thật là vẻ vang cho cả miền Nam, cho cả dân tộc [19,tr.61]

ý chí anh dũng, kiên cờng của chị Ba nghe nh một huyền thoại Anh dũng

từ lúc vị thành niên, chị đã đứng lên chống áp bức, bất công Anh dũng, bấtkhuất trong ngục tù Bà Rá, chị không hề run sợ trớc những phát súng thị uy của

kẻ thù Càng anh dũng hơn khi ngời con gái xứ dừa ở tuổi 26, đã là một cán bộ

đầu tiên trong đoàn cán bộ của nam Bộ thời đánh Pháp, vợt muôn trùng sóng gióvới những ngày đêm đấu trí căng thẳng, đầy thông minh và gan dạ, để ra Hà Nộixin chi viện vũ khí Cũng chính ngời phụ nữ ấy, đã len lỏi trong bóng đêm khủng

bố khốc liệt của Mỹ- Diệm, xây dựng cơ sở để rồi một đêm lịch sử, cùng các

đồng chí lãnh đạo tỉnh Bến Tre làm nên cuộc “Đồng khởi” vĩ đại Anh dũng,kiên cờng là vậy, nhng chị Ba lại là ngời rất giàu tình cảm, tấm lòng chị luôn h-ớng về trẻ em, những ngời nghèo, bất hạnh Vì thế, hình ảnh của chị sống trongmọi ngời không phải là hình ảnh uy nghi của vị nữ tớng mà là hình ảnh dịu dàng

và đôn hậu của ngời phụ nữ Nam Bộ với áo bà ba và chiếc khăn rằn quấn cổ Conngời chị là sự kết hợp hài hoà giữa đức tính can trờng, dũng cảm với lòng nhân

ái, bao dung; giữa chất hùng của ngời lính chiến với nữ tính dịu dàng, đồng thờicũng rất rạch ròi phân minh giữa cái đúng cái sai, giữa yêu thơng và căm giận

Có thể nói, hình ảnh của chị Ba là hình ảnh tiêu biểu nhất, hội tụ đầy đủnhất những giá trị độc đáo của ngời phụ nữ Bến Tre, vừa hiền dịu vừa anh hùng:

Lúc tiến lệnh điều trăm đội ngũ

đêm về ngồi vá áo chiến binh.

Đó là hình ảnh của vị nữ tớng đồng thời là ngời mẹ, ngời chị ngồi trênchiếc võng dã chiến vá áo cho chiến sĩ ở Bộ T lệnh miền, chị vừa đảm nhiệmchức trách của một vị Phó tổng T lệnh, vừa là nữ chủ nhân của một gia đình gồmtớng lĩnh và binh sĩ Chị quan tâm đến những trắc trở trên đờng đời của các nữchiến binh anh dũng và xinh đẹp Chị dành tình cảm sâu nặng đối với cán bộ,chiến sĩ miền Bắc và thông cảm sâu sắc đối với những ngời vợ, ngời mẹ tiễn

Trang 31

chồng con đi chiến đấu Chị là hiện thân của bếp lửa hồng sởi ấm cho những nỗi

xa nhà Không thể tìm đâu hình ảnh một vị nữ tớng nh chị Ba Định

Hơn thế nữa, ở con ngời chị còn có một sức chịu đựng phi thờng Chị đãgánh trọn nỗi đau của ngời dân mất nớc, mất tự do, bị đày ải, hành hạ; nỗi đaucủa ngời vợ trẻ xa chồng và mất chồng; nỗi đau của ngời mẹ mất con Cuộc đờichị chỉ còn lại tình yêu quê hơng, đất nớc, yêu chiến sĩ, đồng bào Với chị “tuykhông có con nhng có rất nhiều con, tuy không có cháu nhng có rất nhiều cháu”.Tất cả, đã thể hiện đức hy sinh cao cả, lòng nhân ái bao la của ngời phụ nữ BếnTre Chính chị là ngời phụ nữ tiêu biểu nhất trong những ngời phụ nữ tiêu biểucủa xứ sở cù lao, giống nh cây dừa xanh mợt dịu dàng và thân vẫn kiên cờngbám chặt lấy quê hơng dù bao lần máu đổ, giống nh cây lau mềm mại nhng câylau đó lại là bằng thép Đó là nét đặc sắc của những giá trị đạo đức truyền thống

ở ngời phụ nữ Bến Tre

1.2 Tính tất yếu của việc kế thừa giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ Bến Tre hiện nay

1.2.1 Kế thừa là quy luật tất yếu của việc giữ gìn và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống

Kế thừa là một trong những vấn đề có tính quy luật của phủ định biệnchứng, là cầu nối giữa cái cũ với cái mới Với ý nghĩa đó, tìm hiểu vấn đề "kếthừa" có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận lẫn thực tiễn

Theo Từ điển Tiếng Việt, kế thừa là sự thừa hởng, giữ gìn và tiếp tục pháthuy những cái có giá trị tinh thần [58, tr.509]

Trong Bách khoa th Triết học “Kế thừa là mối liên hệ giữa những giai

đoạn hay nấc thang phát triển khác nhau mà bản chất của mối liên hệ đó là bảotồn những yếu tố này hay yếu tố khác của chỉnh thể” [1, tr.360]

Đại bách khoa toàn th Liên Xô (cũ) cho rằng “Kế thừa là mối liên hệ giữacác hiện tợng trong quá trình phát triển trong đó cái mới lột bỏ cái cũ, giữ lạitrong mình một số yếu tố của cái cũ” [7, tr.514-515]

Nh vậy, khi nói đến kế thừa đã bao hàm trong nó yếu tố của sự phát triển

Lý luận kế thừa của chủ nghĩa duy vật biện chứng sẽ giúp ta hiểu rõ hơn về thựcchất của sự phát triển

Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin, mọi sự vật, hiện tợng trongthế giới khách quan luôn tồn tại trong trạng thái vận động và biến đổi khôngngừng Nhng khuynh hớng chung của toàn bộ đời sống tự nhiên, xã hội và t duy

Trang 32

là phát triển phát triển là sự vận động theo một khuynh hớng nhất định, theo con

đờng đi lên từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn, nhằm tạo ra

sự đổi mới

Sự phát triển của các sự vật, hiện tợng trong thế giới khách quan đợckhái quát thông qua những quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật.Trong đó, quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về l ợng thành những thay

đổi về chất và ngợc lại vạch ra phơng thức của sự phát triển Quy luật thốngnhất và đấu tranh của các mặt đối lập chỉ ra nguồn gốc của sự vận động vàphát triển Quy luật phủ định của phủ định khái quát con đờng của sự phát triển

Khi bàn về sự phủ định, quan điểm siêu hình xem phủ định nh là sự canthiệp của những lực lợng bên ngoài, làm phá hủy, thủ tiêu sự vật, chấm dứt sựphát triển của nó

Đối lập hoàn toàn với quan điểm siêu hình, phủ định biện chứng khôngphải là sự thủ tiêu, sự phá hủy hoàn toàn cái bị phủ định Để dẫn tới sự ra đời củacái mới, quá trình phủ định biện chứng bao hàm trong nó nhân tố giữ lại nhữngnội dung tích cực của cái bị phủ định Đó là sự phủ định mang tính kế thừa, phủ

định đồng thời cũng là khẳng định, là mắt khâu tất yếu của bất kỳ sự phát triểnnào Tính phổ biến của các quá trình phủ định diễn ra trong tự nhiên cũng nhtrong xã hội là sự phủ định làm mất đi cái cũ và xuất hiện cái mới tiến bộ hơn.V.I.Lênin viết:

Không phải sự phủ định sạch trơn, không phải sự phủ địnhkhông suy nghĩ, không phải sự phủ định hoài nghi, không phải sự do

dự, cũng không phải sự nghi ngờ là cái đặc trng và cái bản chấttrong phép biện chứng mà là sự phủ định coi nh là vòng khâu củaliên hệ, vòng khâu của sự phát triển, với sự duy trì cái khẳng định[31, tr.245]

Nh vậy, kế thừa là một trong những đặc trng cơ bản, phổ biến của quy luậtphủ định của phủ định giá trị của sự kế thừa biện chứng đợc quy định bởi vaitrò của nó trong sự ra đời của cái mới Không có cái mới nào ra đời từ h vô màbao giờ cũng từ một nguyên nhân, nguồn gốc nhất định Nhờ việc giữ lại nhữngnhân tố tích cực của cái bị phủ định mà cái mới có tiền đề cho sự xuất hiện củamình

Trang 33

Một trong những hình thức quan trọng của cái đợc kế thừa chính là truyềnthống truyền thống là cái chứa đựng trong bản thân mình những năng lực tolớn để tạo ra cái mới Nh vậy, kế thừa là “cầu nối”, là “khâu trung gian” giữatruyền thống và hiện đại Có thể nói, truyền thống là tiền đề, nền tảng củahiện đại và hiện đại là sự kế thừa, là sự tiếp nối của truyền thống, là truyềnthống đã đợc “hiện đại hoá” Không có sự phát triển nào của xã hội lại khôngliên hệ gì đến quá khứ trớc đó, đến truyền thống đã có từ lâu đời những giátrị đạo đức truyền thống là động lực tinh thần, tạo nên sức mạnh và bản lĩnhcủa dân tộc, giúp dân tộc vơn lên trong mọi hoàn cảnh, trong chống kẻ thùxâm lợc cũng nh trong điều kiện xây dựng đất nớc đầy khó khăn, phức tạphiện nay.

Tuy nhiên, sự kế thừa phải gắn liền với sự phê phán và có cải biến nhữngyếu tố tích cực của cái cũ cho phù hợp với điều kiện mới Có nh thế mới đảm bảo

đợc tính truyền thống và tính hiện đại trong sự phát triển của đời sống xã hội Vìvậy, xã hội muốn phát triển cần phải biết kế thừa, đổi mới và phát huy những giátrị truyền thống của dân tộc, biến nó thành yếu tố nội lực, đồng thời phải lọc bỏnhững yếu tố truyền thống đã trở nên lạc hậu, không còn phù hợp với điều kiệnmới Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra nguyên tắc kế thừa và đổi mới: “đời sốngmới không phải cái gì cũng bỏ hết, không phải cái gì cũng là mới”, “cái gì cũ màxấu thì phải bỏ đi”, “phải loại dần ra”, “cái gì cũ mà không xấu nhng phiền phứcthì phải sửa đổi lại cho hợp lý”, “cái cũ mà tốt thì phát triển thêm”, “cái gì mới

mà hay là ta phải làm” [41, tr.94-95] ngời đã vận dụng một cách nhuần nhuyễn

và sáng tạo quan điểm kế thừa của phép biện chứng duy vật mác - xít trong quátrình kế thừa, phát triển các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc T tởng củangời chính là kết quả sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong điềukiện cụ thể của nớc ta, là sự kết hợp hài hoà giữa cái truyền thống và cái hiện

Trang 34

ở đây, kế thừa bao hàm sự tiếp thu có chọn lọc, có phê phán những thành tựutrong nền văn minh nhân loại nhng đồng thời phải cải biến cho phù hợp vớitruyền thống của dân tộc Những yếu tố ngoại sinh chỉ có thể làm cho truyềnthống tự đổi mới chứ không thể thay thế đợc truyền thống điều này đã đợc

Đảng ta khẳng định: “Tiếp thu những tinh hoa của nhân loại, song phải luôncoi trọng những giá trị truyền thống và bản sắc dân tộc, quyết không đ ợc tự

đánh mất mình trở thành bóng mờ hoặc bản sao chép của ngời khác” [11,tr.30]

Nếu kế thừa về mặt thời gian đòi hỏi phải đảm bảo tính truyền thống vàhiện đại, thì kế thừa theo không gian đặt ra yêu cầu phải kết hợp hài hoà giữayếu tố dân tộc với yếu tố nhân loại; không đảm bảo sự kết hợp hài hoà đó, hoặc

đánh mất bản sắc của dân tộc mình hoặc là không phát triển Giáo s Vũ Khiêu đãnhận xét:

Chỉ dựa vào nhân tố nội sinh mà đóng cửa không tiếp nhận gì từbên ngoài, thì một con ngời dù lành mạnh, một dân tộc dù có truyềnthống lâu đời cũng sẽ dần dần suy yếu đi và không còn sinh khí nữa.Ngợc lại chỉ chú ý đến nhân tố ngoại sinh, không chuẩn bị đầy đủnhững nhân tố nội sinh thì nhân tố ngoại sinh dù hay đến đâu cũng bịbật ra ngoài Đó là điểm rất quan trọng trong quan hệ bên trong, bênngoài [26, tr.175-176]

Có thể thấy, những yếu tố của truyền thống, những thành tựu của nhânloại không bao giờ tái hiện một cách nguyên xi Nó có thể tồn tại dới hình thứcmới hoặc hình thức cũ nhng nội dung đã đợc cải biến Có nh vậy truyền thốngmới trở thành cái mang giá trị hiện đại, gia nhập vào đời sống hiện đại, cái ngoạisinh mới trở thành nội lực của dân tộc Nếu có yếu tố nào đó của truyền thốngkhông đủ sức hoà nhập vào đời sống hiện đại, yếu tố ngoại sinh không đủ sứchoà nhập vào đời sống dân tộc thì bản thân nó tất yếu sẽ bị đào thải

Nh vậy, quan niệm về kế thừa đã đợc mở rộng, nó vừa là sự tiếp thu cóchọn lọc toàn bộ giá trị tinh thần của dân tộc và nhân loại đã có trong lịch sử,vừa tiếp thu có chọn lọc và cải biến những giá trị tinh thần đơng đại từ bên ngoàivào, thể hiện mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, giữa dân tộc và nhânloại Quan niệm này đặt ra yêu cầu tất yếu chống lại hai khuynh hớng cực đoantrong quan niệm về kế thừa

Có ngời cho rằng, kế thừa và phát triển là hai quá trình loại trừ nhau, khiphủ định, có nghĩa là phủ định sạch trơn, là bác bỏ hoàn toàn cái cũ Thực chất,

Trang 35

đây là thái độ h vô chủ nghĩa, xem truyền thống là đối tợng cần phủ nhận trongquá trình đổi mới, truyền thống chỉ bao gồm những nhân tố bảo thủ, là những gìnhất thành bất biến đối lập với sự đổi mới Quan điểm đó đã phủ nhận hoàn toàn,phủ định sạch trơn tất cả những giá trị tốt đẹp của truyền thống Tiêu biểu choloại quan điểm này là những ngời thuộc phái “văn hoá vô sản” tồn tại trongnhững năm đầu của cách mạng Tháng Mời Nga Họ chủ trơng xây dựng một nềnvăn hoá vô sản hoàn toàn mới không hề liên quan đến các thành tựu văn hoá trớc

đó, phải xoá bỏ tất cả những nền văn hoá của “giai cấp quý tộc và t sản” và xâydựng lại từ đầu một nền văn hoá mới “thuần túy vô sản” Bác bỏ quan điểm sailầm trên, V.I.Lênin khẳng định:

văn hoá vô sản không phải bỗng nhiên mà có, nó không phải donhững ngời tự cho mình là chuyên gia về văn hoá vô sản phát minh ra

Đó hoàn toàn là điều ngu ngốc văn hoá vô sản phải là sự phát triểnhợp quy luật của tổng số những kiến thức mà loài ngời đã tích lũy đợcdới ách thống trị của xã hội T Bản, xã hội của bọn địa chủ và xã hộicủa bọn quan liêu [32, tr.361]

đối với quan điểm biện chứng, cái quá khứ không bao giờ biến đi mà không

để lại một dấu ấn nào trong dòng chảy vô tận của thời gian Nó đã tham gia vàoviệc tạo ra cái hiện tại và tạo thành mối liên hệ sống động trong thời gian: quá khứ-hiện tại- tơng lai Vì vậy, tôn trọng lịch sử và quá khứ luôn là tiêu chí của đổi mới,Gam- da- tốp, nhà thơ nổi tiếng của Liên Xô (cũ) đã có câu nói bất hủ: nếu anh bắnvào quá khứ bằng súng lục thì tơng lai sẽ bắn vào anh bằng đại bác

Một khuynh hớng cực đoan khác trái ngợc với thái độ h vô chủ nghĩa là thái

độ bảo thủ trì trệ Quan điểm này xem kế thừa là bê nguyên xi những yếu tố củatruyền thống, không phê phán, không cải tạo, kh kh giữ lấy cả những cái lỗi thời cảntrở sự phát triển của lịch sử Họ lắp ghép một cách máy móc cái cũ vào cái mới Sự

kế thừa nh thế không tạo nên một sự phát triển nào trong thế giới khách quan

Nh vậy, kế thừa biện chứng phải là sự kế thừa có phê phán, có chọn lọcnhững yếu tố tích cực của cái cũ, đồng thời cải biến nó cho phù hợp với điềukiện của cái mới Đó là quy luật tất yếu của sự phát triển trong tự nhiên,xã hội và

t duy Chính vì vậy, muốn phát triển đạo đức, ngời phụ nữ tất yếu phải kế thừa vàphát huy các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc và của giới mình Song, khinghiên cứu vấn đề kế thừa trong sự phát triển của đạo đức, cần vạch rõ nhữngbiểu hiện đặc thù của nó với tính cách là một hình thái ý thức xã hội phản ánhtồn tại xã hội và trong tơng quan với các hình thái ý thức xã hội khác

Trang 36

đặc thù của kế thừa các giá trị đạo đức truyền thống

đạo đức là một hình thái ý thức xã hội bao gồm hệ thống những quan

điểm, quan niệm, quy tắc, chuẩn mực nhờ đó con ngời điều chỉnh hành vi củamình cho phù hợp với lợi ích xã hội trong mối quan hệ giữa con ngời với con ng-

ời, giữa cá nhân và xã hội

Nghiên cứu sự hình thành và phát triển của các học thuyết đạo đức đã cótrong lịch sử từ trớc tới nay, chúng ta thấy rằng, kế thừa những giá trị đạo đứctruyền thống chịu sự quy định của điều kiện kinh tế, xuất phát từ tồn tại xã hội

mà trực tiếp là quan hệ lợi ích của con ngời Nếu chính trị phản ánh kinh tế mộtcách khá trực tiếp thì đạo đức phản ánh và chịu sự chi phối của các quan hệ kinh

tế thông qua các khâu trung gian Trong đó quan hệ lợi ích là cái trực tiếp qui

định bản chất, đặc trng riêng của đạo đức, tạo ra các định hớng giá trị đạo đức ởmỗi ngời Vì vậy, nội dung, tính chất của việc kế thừa, phát triển đạo đức đềuchịu sự quy định của điều kiện kinh tế - xã hội

những giá trị đạo đức truyền thống không phải là cái có sẵn bên ngoài áp

đặt vào xã hội, không phải từ trên trời rơi xuống mà nó là sản phẩm của hoàncảnh lịch sử cụ thể, của những điều kiện sinh hoạt vật chất xã hội nhất định.những giá trị ấy không nhất thành bất biến mà luôn biến đổi cùng với sự thay

đổi của tồn tại xã hội Xét đến cùng, mọi học thuyết về đạo đức đã có từ trớc đếnnay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế - xã hội lúc bấy giờ Nếu không thấyvai trò của kinh tế đối với việc kế thừa, phát huy các giá trị đạo đức truyền thống

sẽ rơi vào quan điểm duy tâm Song, sự kế thừa đó không phải phụ thuộc hoàntoàn vào điều kiện kinh tế mà có tính độc lập tơng đối của nó Do đó, kế thừa vàphát huy các giá trị đạo đức truyền thống còn chịu ảnh hởng bởi đặc điểm dântộc và tính giai cấp khá rõ nét

đạo đức bao giờ cũng gắn liền với quá trình hình thành và phát triển củalịch sử dân tộc Mỗi dân tộc là một cộng đồng ngời ổn định, đợc hình thànhtrong lịch sử trên một lãnh thổ nhất định, có chung mối liên hệ về kinh tế, cóchung một ngôn ngữ và một nền văn hoá Đặc điểm này của dân tộc in dấu ấnlên đời sống đạo đức, làm cho sự phát triển đạo đức mang tính dân tộc khá đậmnét Lịch sử dựng nớc và giữ nớc của dân tộc Việt Nam cũng chính là lịch sửhình thành các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc điều kiện khó khăn củabuổi đầu lịch sử là những thử thách lớn lao đối với các giá trị đạo đức truyềnthống nhằm khẳng định sự trờng tồn của các giá trị ấy cho đến hôm nay

Trang 37

Trong xã hội có giai cấp, sự kế thừa các giá trị đạo đức mang tính giai cấp,phục vụ cho lợi ích của giai cấp giai cấp thống trị ra sức truyền bá những t tởng,quan điểm đạo đức của mình dới hình thức những qui tắc, chuẩn mực chung chotoàn xã hội nhằm bảo vệ sự thống trị của mình.

ở giai đoạn đầu của một hình thái kinh tế- xã hội thờng có những quan

điểm đạo đức tiến bộ, phù hợp với những yêu cầu phát triển sản xuất và tiến bộxã hội Về sau, do bị chi phối mạnh mẽ bởi lợi ích giai cấp mà nó có những quan

điểm đạo đức đi ngợc lại lợi ích của nhân dân lao động Tuy nhiên, khi đấu tranhgiai cấp phát triển đến đỉnh cao vẫn có một bộ phận tiên tiến trong giai cấp thốngtrị có những quan điểm đạo đức ít nhiều phù hợp với xu thế chung của lịch sử.Chỉ đến khi đạo đức cộng sản chủ nghĩa ra đời, trên cơ sở kế thừa và nâng caocác giá trị đạo đức đã hình thành trong quá trình tiến hoá lâu dài của nhân loại,

nó trở thành một nền đạo đức có ý nghĩa phổ quát toàn nhân loại Đó là một nền

đạo đức thật sự có tính ngời, đứng trên những đối lập giai cấp, xoá bỏ tất cảnhững đối lập ấy trong đời sống thực tiễn

Việc kế thừa các giá trị đạo đức truyền thống còn chịu sự tác động của cáchình thái ý thức xã hội khác, bởi sự tồn tại của đạo đức không thể tách rời với ýthức chính trị, ý thức pháp luật, khoa học

Trong đời sống xã hội, đạo đức và chính trị thờng tồn tại đan xen, có quan

hệ chặt chẽ và bổ sung cho nhau Các quan điểm đạo đức có thể lẫn vào chính trị

và đồng thời, những quan điểm chính trị phản ánh và chịu ảnh hởng bởi nhữngquan điểm đạo đức nhất định Nếu một chế độ xã hội đợc định hớng phát triểnbởi những quan điểm chính trị tiến bộ thì những yếu tố đạo đức lành mạnh đợchình thành trong quá khứ sẽ đợc kế thừa và phát triển Đối với chế độ xã hộiXHCN, mục tiêu chính trị là giải phóng con ngời, giải phóng xã hội Mục tiêuchính trị ấy tự bản thân nó đã mang lý tởng đạo đức cao đẹp nhất của loài ngời

đạo đức và pháp luật đều là sự tổng hợp những qui tắc, chuẩn mực nhằm

điều chỉnh hành vi con ngời sao cho hành vi đó phải phù hợp với yêu cầu xã hội.Nhng việc thực hiện pháp luật đợc đảm bảo bằng sức mạnh cỡng chế của Nhà n-

ớc Đối với những qui tắc, chuẩn mực đạo đức đợc mọi ngời thực hiện một cách

tự nguyện, tự giác Có thể nói, đó là chuẩn mực pháp luật tối đa trong đời sốngxã hội Nếu chế độ xã hội với một hệ thống pháp luật chặt chẽ, thực hiện nghiêmtúc và có hiệu quả, sẽ có tác dụng tích cực trong việc duy trì và phát triển các giátrị đạo đức truyền thống Ngợc lại, khi pháp luật lỏng lẻo, việc thực thi kém hiệu

Trang 38

lực, hiệu quả, chẳng những khó duy trì và phát triển các giá trị đạo đức mà còntạo điều kiện gia tăng những yếu tố phản đạo đức trong xã hội.

đạo đức và khoa học thống nhất nhau ở mục đích và lý tởng, vì sự tiến bộxã hội, đem lại tự do và hạnh phúc cho con ngời Tri thức khoa học giúp con ng-

ời nhận thức, đánh giá, lựa chọn đúng đắn các giá trị đạo đức và điều chỉnh hành

vi của mình phù hợp với giá trị đó Đồng thời những quan điểm đạo đức cũng

ảnh hởng mạnh mẽ đến việc định hớng sự phát triển của khoa học Đặc biệt,trong lĩnh vực công nghệ sinh học, công nghệ gen, quan hệ giữa đạo đức và khoahọc đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ hơn bao giờ hết

Quá trình kế thừa, phát huy các giá trị đạo đức truyền thống nếu đợc xéttheo chiều không gian thì nó còn gắn liền với quá trình giao lu văn hoá giữa cácquốc gia, dân tộc trên thế giới Trên cơ sở những giá trị đạo đức truyền thống đợchình thành trong chiều dài lịch sử, các quốc gia, dân tộc thông qua giao lu vănhoá có thể chọn lọc những tinh hoa văn hoá của nhân loại, của các dân tộc khác

bổ sung vào hệ giá trị của mình Có thể nói rằng, giao lu văn hoá là điều kiệnkhông thể thiếu của quá trình kế thừa và phát triển các giá trị đạo đức truyềnthống của từng dân tộc, góp phần bồi đắp, làm phong phú thêm các giá trị đạo

đức của nhân loại Đồng thời, việc kế thừa và phát huy những giá trị đạo đứctruyền thống trong điều kiện phát triển kinh tế thị trờng hiện nay sẽ góp phần giữvững định hớng XHCN, bảo tồn đợc bản sắc văn hoá và giữ gìn các giá trị đạo

đức truyền thống của dân tộc ta

Nhìn chung, giữa đạo đức và các hình thái ý thức xã hội khác có sự tác

động lẫn nhau, bổ sung cho nhau nhng việc kế thừa các giá trị đạo đức truyềnthống còn mang những nét riêng của nó

Thứ nhất, sự truyền bá các quan điểm đạo đức trong đời sống xã hội

không nhất thiết phải có những tổ chức chuyên biệt để thực hiện mà có thể thôngqua các tổ chức xã hội để đạo đức đi vào cuộc sống

Thứ hai, kế thừa các giá trị đạo đức chịu ảnh hởng mạnh mẽ của yếu tố

truyền thống dân tộc

Thứ ba, kế thừa giá trị đạo đức truyền thống là một quá trình lâu dài và

phức tạp, đòi hỏi phải có sự tác động thờng xuyên, liên tục và bền bỉ của mọitầng lớp trong xã hội

Có thể nói, đó là những nét đặc thù của sự kế thừa trong phát triển đạo

đức Nó là cơ sở quan trọng để chủ thể đạo đức chủ động xác định đúng đắn ph

Trang 39

-ơng hớng, nội dung của quá trình kế thừa và phát huy các giá trị đạo đức truyềnthống đáp ứng yêu cầu của từng thời kỳ cách mạng.

1.2.2 Sự cần thiết phải kế thừa và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống của ngời phụ nữ Bến Tre hiện nay

Sau khi thống nhất đất nớc, Bến Tre là một trong những tỉnh bị chiến tranhtàn phá nặng nề nhất và hậu quả để lại thật là nghiêm trọng Vừa phải lo hàn gắnvết thơng chiến tranh, Bến Tre vừa tập trung phát triển kinh tế - xã hội, xây dựnglại quê hơng góp phần vào công cuộc xây dựng CNXH

Với diện tích đất đai thuộc loại nhỏ nhất so với các tỉnh khác ở Nam Bộ,lại bị chất độc hoá học của chiến tranh tàn phá, cơ sở kinh tế yếu kém gần nhkhông có gì, Bến Tre gặp rất nhiều khó khăn, thử thách Càng khó khăn hơn khibớc vào giai đoạn phát triển kinh tế thị trờng, đẩy mạnh CNH, HĐH theo định h-ớng XHCN Đến nay, Bến Tre vẫn còn là một tỉnh nông nghiệp nghèo, lạc hậu,xuất phát điểm rất thấp Vì thế, muốn sánh vai cùng các tỉnh bạn, Bến Tre phảiphát huy mạnh mẽ nội lực của mình, khơi dậy truyền thống của quê hơng, nổibật là truyền thống quý báu của ngời phụ nữ để tạo nên đòn bẩy cho quá trìnhphát triển Thủ tớng Phan Văn Khải đã nhấn mạnh: “Để giúp Bến Tre đi nhanhhơn không bị tụt hậu so với các địa phơng khác, cần tiếp tục phát huy truyềnthống cách mạng của Bến Tre trong thời kỳ xây dựng, khai thác tốt những lợi thếcủa tỉnh nhất là lực lợng lao động” [2, tr.47]

Hiện nay, cùng với cả nớc, Bến Tre đang trong quá trình đẩy mạnh CNH,HĐH Thực chất, đó là quá trình cải biến một cách căn bản nền kinh tế cũ, lạc hậu,dựa trên lao động thủ công, năng suất lao động thấp sang nền kinh tế hiện đại,năng suất lao động xã hội cao Vì thế, đẩy mạnh CNH, HĐH là từng bớc tạo ra tiền

đề vật chất cần thiết để mọi ngời đặc biệt là phụ nữ có cơ hội thuận lợi tiếp cậnnhững dịch vụ xã hội ngày càng hoàn thiện về giáo dục - đào tạo, chăm sóc sứckhoẻ, việc làm, nâng cao mức sống CNH, HĐH đã giúp nhiều phụ nữ nông thôntrở thành công nhân công nghiệp và các ngành sản xuất, dịch vụ khác Có thể nói,CNH, HĐH là điều kiện khách quan để giải phóng phụ nữ, đảm bảo cho họ có đợcquyền bình đẳng với nam giới, nâng cao vị thế và địa vị trong xã hội Ph Ăngghen

đã nhấn mạnh: “Sự giải phóng ngời phụ nữ, địa vị bình đẳng của ngời phụ nữ vớinam giới, là không thể có đợc và mãi mãi sẽ không thể có đợc, chừng nào mà phụnữ vẫn còn bị gạt ra ngoài lao động xã hội có tính chất sản xuất và còn phải khuônmình trong lao động t nhân của gia đình” [40, tr.241]

Trang 40

Đồng thời CNH, HĐH cũng đặt ra những yêu cầu xây dựng con ngời mới,ngời phụ nữ hiện đại với đầy đủ những phẩm chất “yêu nớc, có tri thức, có sứckhoẻ, năng động, sáng tạo, có lối sống văn hoá, có lòng nhân hậu, quan tâm đếnlợi ích xã hội và cộng đồng” Bởi lẽ, chính họ là chủ thể của quá trình CNH,HĐH Đúng nh Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Muốn xây dựng chủnghĩa xã hội, phải có con ngời xã hội chủ nghĩa, tức là phải có những con ngời

có đạo đức xã hội chủ nghĩa” [43, tr.67]

Trong sự nghiệp CNH, HĐH, ngời phụ nữ trớc hết cần có trí tuệ, có trình

độ học vấn, kiến thức cao để đi vào cơ giới hoá, tự động hoá sản xuất, sử dụngmạng lới thông tin điện tử Đi vào hiện đại hoá còn đòi hỏi ngời lao động nữ cótri thức ở tầm quốc tế để tiếp cận với các thành tựu khoa học thế giới, có kiếnthức đa dạng nhng lại hớng về mục tiêu thống nhất là chuyên môn nghiệp vụ củamình Đối với Bến Tre, là tỉnh có trên 75% lực lợng lao động nữ ở nông thôn,càng đòi hỏi phải đợc nâng cao mặt bằng tri thức đồng thời phải có những nữchuyên gia có trình độ khoa học - công nghệ cao Đáp ứng yêu cầu thực tế đóngời phụ nữ phải nỗ lực phấn đấu, quyết tâm nâng cao năng lực bản thân, tranhthủ cơ hội, điều kiện để học tập một cách có hiệu quả Học tập chính là chìakhoá mở đờng cho phụ nữ vơn lên

Mặt khác, năng động sáng tạo là một yêu cầu mới không thể thiếu trongcông việc của ngời phụ nữ hiện đại Cần cù, chịu khó, chịu đựng gian khổ là đứctính truyền thống quý báu của ngời phụ nữ nhng cha đủ đối với thời đại mới.Ngày nay nhiều sự kiện, nhiều tình huống mới xuất hiện, trực tiếp hoặc gián tiếptác động đến công việc của mọi ngành, mọi giới Do đó để giải quyết công việctrong điều kiện mới, ngời phụ nữ cần năng động sáng tạo, có cách nghĩ, cách làmkhác trớc, không thể duy trì tác phong lao động nông nghiệp nh trớc đây mà phảiphát huy tính độc lập, sáng tạo của cá nhân, t duy nhạy bén, dám nghĩ, dám làmtrên cơ sở kiến thức khoa học Có nh thế, ngời phụ nữ mới có thể làm giàu cho gia

đình và cho xã hội, góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu chung của đất nớc “dângiàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”

ngời phụ nữ với chất lợng trí tuệ cao, kỹ năng lao động giỏi không thểtách rời những phẩm chất đạo đức cao đẹp, lối sống văn hoá và lòng nhân hậu,không chỉ quan tâm lợi ích cá nhân mà cả lợi ích cộng đồng; kết hợp hài hoàgiữa yếu tố truyền thống và hiện đại, nhân loại và dân tộc Ngày nay, lối sốngvăn hoá đợc biểu hiện ngay trong tác phong sống, làm việc khoa học, từ những

Ngày đăng: 19/02/2014, 14:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Huỳnh Văn Be (2005), "Phát huy tinh thần Đồng khởi, Bến Tre đổi mới công tác xây dựng Đảng để thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển", Tạp chí Cộng sản, (7), tr.7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy tinh thần Đồng khởi, Bến Tre đổi mớicông tác xây dựng Đảng để thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển
Tác giả: Huỳnh Văn Be
Năm: 2005
4. Nguyễn Trọng Chuẩn (1998), "Vấn đề khai thác các giá trị truyền thống vìmục tiêu phát triển", Tạp chí Triết học, (2), tr.16-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề khai thác các giá trị truyền thống vìmục tiêu phát triển
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 1998
5. Nguyễn Trọng Chuẩn (2002), Giá trị truyền thống trớc những thách thức của toàn cầu hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Trọng Chuẩn (2002), "Giá trị truyền thống trớc những thách thứccủa toàn cầu hóa
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
6. Nguyễn Trọng Chuẩn - Nguyễn Văn Phúc (2003), Mấy vấn đề đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trờng ở nớc ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Trọng Chuẩn - Nguyễn Văn Phúc (2003), "Mấy vấn đề đạo đứctrong điều kiện kinh tế thị trờng ở nớc ta hiện nay
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn - Nguyễn Văn Phúc
Nhà XB: Nxb Chính trị quốcgia
Năm: 2003
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), "Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1991
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cơng lĩnh xây dựng đất nớc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), "Cơng lĩnh xây dựng đất nớc trong thời kỳquá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1995), Nghị quyết 09 Bộ Chính trị về một sốđịnh hớng lớn trong công tác t tởng hiện nay Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (1995), "Nghị quyết 09 Bộ Chính trị về một số
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1995
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), "Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ơng (khóa VIII), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), "Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấphành Trung ơng (khóa VIII)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), " Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
14. Đảng Cộng sản Việt Nam, Tỉnh ủy Bến Tre (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bến Tre lần thứ VI Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam, Tỉnh ủy Bến Tre (1996)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam, Tỉnh ủy Bến Tre
Năm: 1996
15. Đảng Cộng sản Việt Nam, Tỉnh ủy Bến Tre (2000), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bến Tre lần thứ VII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam, Tỉnh ủy Bến Tre (2000)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam, Tỉnh ủy Bến Tre
Năm: 2000
16. Trần Văn Giàu (1980), Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Văn Giàu (1980), "Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1980
17. Phạm Minh Hạc (1994), Vấn đề con ngời trong công cuộc đổi mới, Chơng trình khoa học - công nghệ KX.07, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Minh Hạc (1994), "Vấn đề con ngời trong công cuộc đổi mới
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Năm: 1994
18. Lê Thị Minh Hiệp (2000), Kế thừa và phát huy giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam trong tình hình hiện nay, Luận văn thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Thị Minh Hiệp (2000), "Kế thừa và phát huy giá trị đạo đức truyền thốngcủa phụ nữ Việt Nam trong tình hình hiện nay
Tác giả: Lê Thị Minh Hiệp
Năm: 2000
20. Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam (2002), Văn kiện Đại hội đại biểu phụ nữtoàn quốc lần thứ IX, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam (2002), "Văn kiện Đại hội đại biểu phụ nữ"toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2002
21. Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam tỉnh Bến Tre (2001), Văn kiện Đại hội phụ nữ tỉnh Bến Tre lần thứ VI, nhiệm kỳ (2001-2006) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam tỉnh Bến Tre (2001), " Văn kiện Đại hội phụnữ tỉnh Bến Tre lần thứ VI
Tác giả: Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam tỉnh Bến Tre
Năm: 2001
22. Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam tỉnh Bến Tre (2004), Báo cáo đánh giá giữa nhiệm kỳ kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội phụ nữ toàn quốc lần thứ IX (02/2002 - 06/2004) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam tỉnh Bến Tre (2004)
Tác giả: Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam tỉnh Bến Tre
Năm: 2004
23. Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam tỉnh Bến Tre (2004), Báo cáo thành tích cán bộ, hội viên và phong trào phụ nữ tỉnh Bến Tre (2000-2004) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam tỉnh Bến Tre (2004)
Tác giả: Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam tỉnh Bến Tre
Năm: 2004
24. Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam tỉnh Bến Tre (2004), Báo cáo tổng kết công tác hội và phong trào phụ nữ năm 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam tỉnh Bến Tre (2004)
Tác giả: Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam tỉnh Bến Tre
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w