1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SẠT lở ở ĐỒNG BẰNG SÔNG cửu LONG

22 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 11,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SẠT LỞ Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG ĐỊA CHẤT MÔI TRƯỜNG ĐẠI CƯƠNG SẠT LỞ Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG THÀNH VIÊN LÊ NGHI 19160007 NGUYỄN BÁ NHẬT DUY 19160015 PHẠM NGUYỄN DUY PHƯƠNG 19160030 TRƯƠNG VĂN QUANG 19160032 GIỚI THIỆU KHÁI NIỆM CHUNG ?Tai biến địa chất Sạt lở đất Yếu tố địa chất địa mạo ở ĐBSCL NỘI DUNG BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG SẠT LỠ Ở ĐBSCL Thuyết trình là công cụ giao tiếp có thể để minh họa, giảng dạy, diễn thuyết, báo cáo và nhiều thứ khác nữa HỆ QUẢ Thuyết trình là công cụ giao tiếp có thể.

Trang 1

ĐỊA CHẤT MÔI TRƯỜNG ĐẠI CƯƠNG

SẠT LỞ Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU

LONG

THÀNH VIÊN:

LÊ NGHI 19160007 NGUYỄN BÁ NHẬT DUY 19160015 PHẠM NGUYỄN DUY PHƯƠNG 19160030

TRƯƠNG VĂN QUANG 19160032

Trang 2

GIỚI THIỆU-KHÁI NIỆM CHUNG

• ?Tai biến địa chất

• Sạt lở đất

• Yếu tố địa chất - địa mạo ở ĐBSCL

NỘI DUNG

BIỆN PHÁP-PHÒNG CHỐNG SẠT LỠ Ở ĐBSCL

Thuyết trình là công cụ giao tiếp có thể để minh họa, giảng dạy, diễn thuyết, báo cáo

và nhiều thứ khác nữa.

HỆ QUẢ

Thuyết trình là công cụ giao tiếp có thể để minh họa, giảng dạy, diễn

thuyết, báo cáo

và nhiều thứ khác nữa.

CÁC YẾU TỐ GÂY SẠT LỞ Ở ĐBSCL

• Yếu tố tác động của dòng chảy

• ?Biến đổi khí hậu

• ?Yếu tố kinh tế - xã hội

Trang 3

TAI BIẾN ĐỊA CHẤT

• Là một dạng tai biến môi trường phát sinh

trong thạch quyển

• Chúng liên quan tới các quá trình địa chất xảy

ra bên trong lòng trái đất Vd: núi lửa phun, động đất, nứt đất, lún đất, trượt lở đất, sạt lở

Trang 4

SẠT LỞ ĐẤT

Là sự di chuyển của các khối đất đá,

một tầng đất hoặc là những khối

mãnh vụn của đất đá bị rời rạc nhau

cùng lúc trượt xuống con dốc ở trên

triền núi hoặc triền đồi cao.

Ảnh: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Trang 5

• Vì vậy, sự ổn định của nền địa chất rất hạn chế

Trang 6

BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Trang 7

Đặc điểm địa hình trũng thấp với độ cao trung bình từ 1,2m cũng tạo ra lợi thế cho xâm thực, nhất là khi triều cường (ở vùng ven biển), mưa lớn và vào mùa nước lên

1-Hướng nghiêng địa hình theo hướng chảy của sông Tiền

và sông Hậu (tây bắc – đông nam) nhưng dọc hai con sông lớn này là mạng lưới kênh rạch kết nối chằng chịt với hướng chảy gần như vuông góc

=> Sức nước ở những nơi hợp lưu sông sẽ tạo ra những xoáy ngầm rất mạnh Khi các xoáy ngầm này di chuyển, chúng sẽ tạo ra các “hàm ếch” ở ngã ba, ngã tư sông và

ăn sâu vào hai bên bờ cho đến khi bờ sông bị sụp đổ

là Vàm Nao (“Vàm” nghĩa là mũi đất nơi hợp lưu hai con sông, “nao” ngụ ý chỉ nước chảy xiết, cuồn cuộn,

khiến dân thương hồ nao núng khi qua lại)

Như vậy, đặc điểm địa chất và địa hình của vùng ĐBSCL bản thân nó cũng tạo ra những hạn chế khiến cho

các con nước có thể dễ dàng xâm thực và gây sạt lở.

Trang 8

BIẾN ĐỔI KHÍ

HẬU

Ngăn một lượng rất lớn phù sa và lưu lượng nước đổ về ĐBSCL hàng năm Nhằm giảm sự xâm nhập mặn

và hạn chế sức nước tác động lên bờ biển Trước sự xâm lấn gia tăng từ mực biển dâng trong khi nguồn phù sa để bồi hoàn ngày càng cạn kiệt, sự thoái lui của bờ biển ở ĐBSCL là khó tránh khỏi.

Sự ấm lên toàn cầu làm mực nước biển dâng trong khi nhiệt độ gia tăng lại khiến cho các dòng hải lưu bị biến đổi về phạm vi và cường độ di chuyển Đồng thời làm gia tăng lưu lượng và năng lược dòng triều tác động vào

bờ biển khi di chuyển

=> Tạo ra những áp lực lớn vào thành bờ đưa đến sự bào mòn với quy mô lớn Vì vậy, đặc điểm địa chất non trẻ và đường bờ biển lồi lõm theo hướng đi của dòng biển, vùng cửa sông và ven biển từ Tiền Giang đến Mũi Cà Mau trở nên lý tưởng nhất cho sự xâm thực của sóng biển.

Trang 9

KHAI THÁC CÁT

CÁC YẾU TỐ KINH TẾ - XÃ HỘI (CON NGƯỜI)

KHAI THÁC NƯỚC NGẦM NỀN MÓNG XÂY DỰNG CÔNG NGHIỆP HÓA Ở ĐBSCL

mũi tên chỉ khai thác cát, công nghiệp,phân bố dân cư

Trang 10

KHAI

THÁC

CÁT

khi khai thác cát trên dòng chính sông Tiền, sông Hậu tạo

ra những hố sâu Dòng chảy sẽ khỏa lấp và tái phân phối đáy sông làm hạ thấp toàn bộ đáy sông Tiền, sông Hậu

Khi đáy sông của dòng chính sông Tiền, sông Hậu bị sâu thì sẽ rút đáy các sông nhánh ra Sông nhánh bị sâu thì rút đáy sông con ra Vì vậy sạt lở lan tỏa khắp nơi ở đồng bằng, kể cả những kênh rạch nhỏ, nơi không có khai thác cát.

Ảnh: Khai thác cát ở khu vực cù lao Tân Lộc

LÒNG SÔNG TỒN TẠI NHIỀU HỐ SÂU

LÀM ĐỔI HƯỚNG DÒNG CHẢY DƯỚI ĐÁY SÔNG VÀ TẠO RA NHỮNG VA CHẠM ĐỦ LỚN ĐỂ TẠO RA CÁC XOÁY NƯỚC

SINH RA NĂNG LƯỢNG TÁC ĐỘNG LÊN HAI BÊN THÀNH BỜ GẤP

NHIỀU LẦN SO VỚI MỨC BÌNH THƯỜNG

Trang 11

Nguyên nhân cốt lõi của sụt lún nền đất là do phát triển kinh tế và bùng nổ dân số đã kéo theo gia tăng khai thác nguồn nước ngầm tràn lan và mở rộng ồ ạt mạng lưới hạ tầng, tạo ra sức ép rất lớn lên nền đất Khi nền đất bị sụt lún, lớp đất mặt vốn có độ cố kết thấp sẽ bị ép xuống, tiếp xúc với dòng chảy sông ngòi và dòng biển Kết quả là quá trình xói lở, trợt đất trở nên dễ dàng hơn và có xu hướng xảy ra theo hiệu ứng “domino” – nghĩa là một khu vực bị sạt lở, nước sẽ mau chóng tràn ngấm vào vùng lân cận và tiếp tục tạo ra các hố sạt lở tiếp theo.

Việc xuất hiện liên tiếp các điểm sạt lở báo động khác cách khu vực sạt lở ở sông Vàm Nao không xa cho thấy sạt lở

và sụt lún nền đất có mối liên hệ ở mức độ nhất định Chính vì vậy, trong các nghiên cứu để đánh giá nguyên nhân sạt lở ở ĐBSCL, cần đề cập và nghiên cứu sâu hơn về mối liên hệ này.

PHÂN BỐ

DÂN CƯ

Trang 12

PHÂN BỐ

DÂN CƯ

Bùng nổ dân số và sự mở rộng mạng lưới hạ tầng xây dựng (đường xá, nhà xưởng, khu công nghiệp…) ở những nơi này đã làm gia tăng tốc độ sụt lún nền đất như vừa đề cập bên trên, trong khi các nền móng xây dựng thường tự tạo ra sự cô lập với tầng đất xung quanh Khi có sự kết hợp tác động từ các yếu tố khác, như khai thác cát chẳng hạn, các hồ nước xoáy “đói” phù sa sẽ có xu hướng dịch chuyển đến các điểm đô thị này và mau chóng hình thành các “hàm ếch” với độ sâu (âm) hàng chục mét dưới đáy sông

Chính vì vậy, việc quy hoạch các điểm dân cư ven sông đã đến lúc cần tính toán đến các yếu tố tải trọng và khả năng chịu lực của nền địa chất tại chỗ để tránh việc người dân và doanh nghiệp tổ chức xây dựng dựa trên khả năng tài chính của mình hơn là chú ý đến khả năng sụt lún của nền đất

Ảnh: Sạt lở bờ sông ở sông Hậu

Trang 13

• Gia tăng hoạt động công nghiệp hóa cũng đồng nghĩa với sự thu hẹp các dải rừng tự nhiên ven sông.

• Một số địa phương như Cà Mau đã chọn phá đi các vạt rừng dừa nước, đước, mắm ven sông Ông Đốc – nơi có nguy cơ sạt lở cao – để phát triển các khu đô thị và sản xuất công nghiệp Về lâu dài, sự thay thế các vạt rừng này bằng các

bờ kè bê-tông không chỉ kết thúc tiến trình tích

tụ bồi lắng tự nhiên hai bên bờ sông, mà còn làm gia tăng sức nước và sóng tác động vào bờ

đê do sức gió đã không còn bị cây rừng cản trở

Trang 14

HỆ QUẢ CỦA SẠT LỠ Ở ĐBSCL

HÀNG CHỤC KM BỜ BIỂN VÀ HÀNG

TRĂM HECTA ĐẤT BỊ SẠT LỞ, CUỐN

TRÔI RA BIỂN MỖI NĂM, DIỆN MẠO

ĐBSCL ĐANG BỊ BIẾN ĐỔI NHANH

CHÓNG HƠN BAO GIỜ HẾT

TRONG BỐI CẢNH CÁC NƯỚC Ở PHÍA THƯỢNG NGUỒN VÀ TRUNG LƯU SÔNG MÊ KÔNG ĐANG RA SỨC CHIA SẺ NGUỒN NƯỚC QUA CÁC DỰ ÁN THỦY ĐIỆN VÀ XÂY DỰNG KÊNH DẪN NƯỚC, LƯỢNG PHÙ SA ÍT ỎI CÒN LẠI KHI ĐẾN ĐBSCL CHẮC CHẮN SẼ KHÔNG

ĐỦ ĐỂ DUY TRÌ SỰ TỒN TẠI CỦA ĐƯỜNG BỜ

BIỂN HIỆN TẠI

KHI ĐÓ, VIỄN CẢNH VỀ THU HẸP DIỆN TÍCH ĐỒNG BẰNG HAY MẤT ĐI MỘT PHẦN BÁN ĐẢO CÀ MAU CÓ THỂ SẼ ĐẾN SỚM HƠN NHIỀU SO VỚI DỰ BÁO NHƯNG NGUY CƠ TRƯỚC MẮT CHÍNH LÀ NHỮNG NGUY CƠ VỀ

AN NINH TRẬT TỰ, SINH KẾ VÀ AN NINH LƯƠNG THỰC DO VẤN NẠN SẠT LỞ BỜ

SÔNG GÂY RA.

Trang 15

• Theo đánh giá của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh: Từ năm 2010 đến năm 2019, sạt lở kênh, rạch, bờ sông tại Đồng bằng sông Cửu Long diễn ra ngày càng gia tăng, với mức độ nghiêm trọng

• Năm 2010, toàn vùng chỉ xuất hiện 99 điểm sạt lở thì đến năm 2019 số điểm sạt lở kênh, rạch, bờ sông tăng lên gấp 7 lần với 681 điểm Vấn đề sạt lở kênh, rạch, bờ sông ở Đồng bằng sông Cửu Long đã đến hồi báo động, đòi hỏi các tỉnh, thành trong vùng phải có biện pháp hành động cụ thể để bảo vệ Đồng bằng sông Cửu Long không bị đe dọa bởi sạt lở

• Theo Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam:

• Tại Đồng bằng sông Cửu Long, hai tỉnh đầu nguồn sông Tiền, sông Hậu là An Giang và Đồng Tháp được ghi nhận xảy ra nhiều điểm sạt lở nghiêm trọng nhất

• Thống kê tại An Giang, từ năm 1970 đến năm 2000, khu vực huyện Tân Châu (nay là thị xã Tân Châu) sạt lở đã cướp đi gần 60 ha đất, khiến trên 30 người chết và mất tích;

• tháng 4/2017, khu vực ngã ba sông Hậu và sông Vàm Nao, tại khu vực ấp Mỹ Hội, xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, sạt lở bờ đã kéo theo 16 căn nhà xuống dưới lòng sông Hậu, cắt đứt tuyến đường giao thông liên xã Mỹ Hội Đông - Nhơn Mỹ, gây thiệt hại tài sản ước tính 90 tỷ đồng

• Ngày 1/8/2019, cũng tại An Giang một nửa mặt đường Quốc lộ 91 (đoạn thuộc ấp Bình Tân, xã Bình Mỹ, huyện Châu Phú) bị sạt xuống sông Hậu gây thiệt hại hàng trăm tỷ đồng

Trang 16

TÁC ĐỘNG BỞI TÌNH TRẠNG LÚT SỤT ĐẤT

26%

Ảnh: Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn

Trang 17

BIỆN PHÁP-PHÒNG CHỐNG SẠT

LỠ Ở ĐBSCL

Những nguyên nhân phân tích trên đây một mặt cho thấy thực trạng sạt lở đang gây ra bởi sự cộng hưởng của nhiều nguyên nhân, do đó sạt lở sẽ trở nên có quy mô lớn gấp nhiều lần so với thông thường và khó khăn hơn trong dự báo Vì vậy, bên cạnh việc lập bản đồ sạt lở để xác định và cảnh báo khu vực tiềm năng, việc tổng hợp các yếu tố nguy cơ từ những nguyên nhân gây sạt lở bên trên có thể là một cơ sở khả thi cho phép nhận diện sớm những khu vực dễ tổn thương và có nguy cơ sạt lở cao

Trang 18

Biện Pháp-Phòng Chống

• Yếu tố con người là then chốt trong bức tranh sạt lở ở ĐBSCL hiện nay

• Dư luận trong nước và quốc tế đang phản đối các dự án xây đập và chuyển dòng trên thượng nguồn sông Mê Kông Những nguyên nhân bên trong – do chính chúng ta gây ra

• Rõ ràng, tình trạng thiếu hụt quy hoạch bền vững trong khai thác tài nguyên, cụ thể là cát sông

và nước ngầm, cùng với sự hạn chế trong quản lý của các ngành chức năng địa phương suốt thời gian dài đã tạo ra những tác động địa chất cực đoan (sụt lún nền đất, hình thành các hố sâu dưới đáy sông, thay đổi chế độ dòng chảy…) gần như không thể khôi phục, khiến tình hình sạt lở diễn biến phức tạp và ngày một nghiêm trọng hơn

Trang 19

• Trong khi thúc đẩy các nỗ lực bảo vệ nguồn nước và lượng phù sa còn lại trên sông Mê Kông, chính sách tự lực cần thiết cho ĐBSCL lúc này là quy hoạch đô thị hóa và công nghiệp hóa bền vững,

• Gia tăng diện tích rừng che phủ để gia tăng lượng nước ngầm và hạn chế tối đa các hoạt động thăm dò, khai thác cát nhất là trên các sông Tiền và sông Hậu

• Ở các khu vực cửa sông và ven biển nơi chưa hoặc ít bị sạt lở cần đẩy mạnh các hoạt động trồng các loại cây có khả năng chắn sóng và lấn biển tốt như đước, mắn, dừa nước…

• Ở vùng sạt lở, các phương án xây đê chắn sóng cần kết hợp lồng ghép với phương pháp xây bunker để giữ chân phù sa thay vì chỉ tập trung dựng lên bức tường bê-tông chắn sóng thuần túy

như hiện nay

Trang 20

Hàng rào hình chữ T ở Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng, hạn chế sóng biển đánh trực tiếp vào thân đê nhằm bảo vệ rừng phòng hộ, khu dân cư và sản xuất khu trong đê.

Xây dựng bờ kè chống sạt lở bờ biển tại xã Thạnh Hải

(huyện Thạnh Phú, Bến Tre)

Trang 21

PHÒNG SẠT LỠ BẰNG RỪNG NGẬP

MẶN

Theo Viện Quy hoạch Thủy lợi Miền Nam, để phòng chống, kiểm soát sạt lở khu vực ĐBSCL nói chung và cả nước nói riêng cần phải áp dụng

nhiều biện pháp kỹ thuật Theo đó, biện pháp bảo vệ bờ biển bằng công trình cứng và sử dụng rừng ngập mặn giảm sóng, bảo vệ bờ biển là

rất quan trọng Bởi vì, các khu vực rừng ngập mặn có hệ thống rễ dày đặc trên mặt đất như: rễ hình chân nôm của các loài đước, đứng, rễ

hình đầu gối của các rễ vẹt, rễ thở hình chông của các loài mấm, bần, ngăn cản xung lực của sóng Với lớp tán lá dày, thân và cành cây, tạo

thành lớp rào bằng vật liệu mềm, giảm sức chống phá của sóng triều Mặt khác, các lớp thảm thực vật cản sóng, lượng phù sa và mùn bã

hữu cơ được tích lũy phù sa cùng mùn bã thực vật tại chỗ làm cho mặt đất được cố định và nâng cao Từ đó, các trụ mầm và quả, hạt của

các loài cây ngập mặn nhanh chóng tái sinh chiếm cứ vùng bãi bồi Đối với biện pháp bảo vệ bờ biển bằng công trình,

Trang 22

DIỆN TÍCH RỪNG ĐƯỢC QUẢN LÝ ĐỂ BẢO VỆ ĐẤT

VÀ NƯỚC Ở CHÂU Á

33%

DIỆN TÍCH RỪNG ĐƯỢC QUẢN LÝ ĐỂ BẢO VỆ ĐẤT VÀ NƯỚC Ở BẮC VÀ

TRUNG MỸ

71%

Ngày đăng: 23/04/2022, 21:55

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đặc điểm địa hình trũng thấp với độ cao trung bình từ 1- 1-1,2m cũng tạo ra lợi thế cho xâm thực, nhất là khi triều  cường (ở vùng ven biển), mưa lớn và vào mùa nước lên - SẠT lở ở ĐỒNG BẰNG SÔNG cửu LONG
c điểm địa hình trũng thấp với độ cao trung bình từ 1- 1-1,2m cũng tạo ra lợi thế cho xâm thực, nhất là khi triều cường (ở vùng ven biển), mưa lớn và vào mùa nước lên (Trang 7)
Hàng rào hình chữ Tở Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng, hạn chế sóng biển đánh trực tiếp vào thân đê nhằm bảo vệ rừng phòng hộ, khu dân cư và sản xuất  khu trong đê. - SẠT lở ở ĐỒNG BẰNG SÔNG cửu LONG
ng rào hình chữ Tở Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng, hạn chế sóng biển đánh trực tiếp vào thân đê nhằm bảo vệ rừng phòng hộ, khu dân cư và sản xuất khu trong đê (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w