BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG KHOA CÔNG TÁC XÃ HỘI TIỂU LUẬN CUỐI KỲ ĐẠO ĐỨC NGHỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI Hà Nội, 2020 Câu I Hãy trình bày và phân tích các nguyên tắc đạo đức nghề công tác xã hội Lấy ví dụ cụ thể Chấp nhận thân chủ Chấp nhận đòi hỏi việc tiếp nhận thân chủ, không tính toán, không thành kiến và không đưa ra phán quyết nào về hành vi của họ Thân chủ phục vụ của ngành công tác xã hội là con người, đặc biệt là nhóm người yếu thế, nhóm người có hoàn cảnh và nhu cầu cơ.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
***
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG KHOA CÔNG TÁC XÃ HỘI
TIỂU LUẬN CUỐI KỲ ĐẠO ĐỨC NGHỀ
CÔNG TÁC XÃ HỘI
Hà Nội, 2020
Trang 2Câu I: Hãy trình bày và phân tích các nguyên tắc đạo đức nghề công tác xã hội Lấy
ví dụ cụ thể
- Chấp nhận thân chủ:
Chấp nhận đòi hỏi việc tiếp nhận thân chủ, không tính toán, không thành kiến và không đưa ra phán quyết nào về hành vi của họ Thân chủ phục vụ của ngành công tác xã hội là con người, đặc biệt là nhóm người yếu thế, nhóm người có hoàn cảnh và nhu cầu
cơ bản chưa được đáp ứng Mỗi con người đều có nhân phẩm, có giá trị riêng và có
quyền được tôn trọng, bình đẳng Chính vì vậy trong các hoạt động trợ giúp, nhân viên công tác xã hội cần có thái độ tôn trọng phẩm giá con người và chấp nhận họ Sự thực hiện nguyên tắc này giúp cho nhân viên công tác xã hội tạo được lòng tin từ thân chủ, qua
đó thúc đẩy sự hợp tác và chia sẻ của họ, đó là nền tảng cho thiết lập mối quan hệ tương tác trong quá trình giúp đỡ
Ví dụ: Thân chủ là trẻ vị thành niên đi trộm cắp để lấy tiền chơi game, nhân viên công tác
xã hội không phán xét mà đối xử với thân chủ một cách công bằng vì mỗi cá nhân đều có nhân phẩm, giá trị riêng, bất kể địa vị xã hội
- Tạo điều kiện để thân chủ tham gia giải quyết vấn đề:
Vấn đề là của thân chủ, họ sẽ hiểu hoàn cảnh của mình hơn ai khác nếu được trợ giúp,
vì vậy họ là người cần tham gia chủ yếu tất cả quá trình từ việc đánh giá vấn đề, quyết định, lựa chọn, thực hiện, lượng giá giải pháp đó Việc thân chủ tham gia vào hoạt động giải quyết vấn đề sẽ giúp họ tăng cường khả năng đối phó với tình huống có vấn đề Nhân viên công tác xã hội chỉ đóng vai trò định hướng trong quá trình trợ giúp thân chủ thực hiện giải pháp cho vấn đề mà không làm thay, làm hộ và chủ yếu là khích lệ họ có niềm tin để giải quyết vấn đề
Ví dụ: Thân chủ là phụ nữ bị bạo hành gia đình và tìm đến nhân viên công tác xã hội, nhân viên xã hội phải cùng đưa ra ý kiến, thảo luận từng vấn đề với thân chủ, không được phép tự quyết định hay làm hộ thân chủ bất kỳ vấn đề gì
Trang 3- Tôn trọng quyền tự quyết của thân chủ:
Mỗi cá nhân có quyền quyết định về các vấn đề thuộc về cuộc đời, những quyết định cảu người khác có thể hướng dẫn họ nhưng không nên áp đặt trên họ Trong các tình huống, nhân viên công tác xã hội không nên quyết định, chọn lựa hay lên kế hoạch cho thân chủ, ngược lại thân chủ có thể được hướng dẫn và họ có khả năng tự quyết định về mình
Trong một số trường hợp đặc biệt thân chủ không tự quyết định được như trường hợp trẻ còn quá nhỏ, người có rối loạn tâm thần NVCTXH cần lấy ý kiến từ người bảo trợ của họ Trong trường hợp quyết định của thân chủ có nguy cơ tổn hại tới tính mạng của bản thân thân chủ hay của người khác thì NVCTXHcũng không cần phải chấp thuận quyết định của thân chủ mà cần thông báo cho thân chủ về quy định của luật pháp
Ví dụ: Thân chủ là phụ nữ bi bạo hành tìm đến nhân viên công tác xã hội, trong trường hợp này nhân viên xã hội không nên khuyên bảo thân chủ về vấn đề nên ly dị mà chỉ nên phân tích những mặt có lợi và hại nếu như thân chủ ly hôn, từ đó thân chủ sẽ có cơ sở để đưa ra quyết định riêng mà không phụ thuộc vào người khác
- Đảm bảo tính cá nhân hóa:
Mỗi cá nhân có những nhu cầu cơ bản giống nhau nhưng mỗi người do hoàn cảnh khác nhau, tính cách khác nhau, những nguyện vọng mong muốn không giống nhau vì vậy nên cần cá biệt hoá trường hợp của thân chủ (cá nhân, gia đình hay cộng đồng) giúp nhân viên công tác xã hội đưa ra phương pháp giúp đỡ thích hợp với từng trường hợp cụ thể Việc đảm bảo tính khác biệt trong trợ giúp thân chủ thể hiện ở việc tìm hiểu và phát hiện những nét đặc thù của trường hợp đó, linh hoạt trong giải quyết vấn đề, không áp dụng cách giải quyết giống nhau cho các trường hợp Giải pháp cho mỗi trường hợp cần được cân nhắc trên cơ sở nhu cầu, đặc điểm, khả năng và nguồn lực mà họ có Thực hiện nguyên tắc này trong hoạt động của mình sẽ cho phép nhân viên công tác xã hội đảm bảo lợi ích thiết thực của các nhóm thân chủ, đáp ứng đúng nhu cầu của thân chủ và rèn luyện
Trang 4khả năng ứng phó linh hoạt trong giải quyết vấn đề, khắc phục sự bảo thủ, quan liêu, cứng nhắc trong quá trình trợ giúp
Ví dụ: Ông A và ông B đều ở trại dưỡng lão và đều gặp tổn thương về mặt tình cảm từ con cháu, tuy nhiên ông A có hoàn cảnh khác ông B và họ có điều kiệ giải quyết vấn đề khác nhau Vì vậy không thể lấy cách giải quyết của ông A đặt lên ông B, như thế vấn đề
sẽ không được giải quyết hiệu quả
- Đảm bảo tính riêng tư, kín đáo các thông tin về trường hợp của thân chủ:
Tiết lộ bí mật của người khác là hành vi vi phạm quyền con người Nhân viên công tác xã hội cần tôn trọng sự riêng tư và những thông tin của thân chủ, đảm bảo tính riêng
tư của trường hợp bằng cách bảo mật lưu trữ hồ sơ Có thể tiết lộ thông tin mật khi cần thiết trong một số trường hợp ngoại lệ nếu như những hành vi của thân chủ đe doạ tính mạng của bản thân họ hay của những người khác thì nhân viên công tác xã hội có quyền trao đổi thông tin với những người có thẩm quyền hoặc với sự đồng ý của thân chủ hay của người được quyền hợp pháp thay mặt thân chủ Việc đảm bảo bí mật thông tin của thân chủ sẽ giúp cho thân chủ tin tưởng vào nhân viên xã hội, từ đó họ sẵn sàng chia sẻ
và hợp tác
Ví dụ: Thân chủ là trẻ em đã từng có hành vi xấu trong quá khứ và đang muốn hòa nhập cộng đồng, nhân viên công tác xã hội không được tiết lộ bất kỳ thông tin gì về vấn đề của thân chủ ra bên ngoài kể cả cho người thân nếu không được sự đồng ý của thân chủ
- Đảm bảo mối quan hệ nghề nghiệp:
Do thân chủ tác động của nhân viên công tác xã hội là con người, nhân viên công tác
xã hội cần có phẩm chất đạo đức, tác phong nghề nghiệp Những hành vi thể hiện mối quan hệ nghề nghiệp của mình như tôn trọng quan điểm giá trị, nguyên tắc nghề nghiệp; không lợi dụng cương vị công tác của mình để đòi hỏi sự hàm ơn của thân chủ, không nên có quan hệ nam nữ trong khi thực hiện sự trợ giúp Mối quan hệ giữa nhân viên công tác xã hội và thân chủ cần đảm bảo tính thân thiện, tương tác hai chiều, song khách quan
Trang 5và đảm bảo yêu cầu của chuyên môn Nguyên tắc này giúp cho nhân viên công tác xã hội đảm bảo tính khách quan trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, đảm bảo sự công bằng trong giúp đỡ mọi thân chủ
Ví dụ: Nhân viên công tác xã hội là khi giải quyết vấn đề cho thân chủ là người có chức quyền không được phép lợi dụng cương vị của mình để đòi hỏi sự hứa hẹn từ thân chủ một chức vụ, vị trí cao hơn trong công việc
- Tự ý thức về bản thân:
Trong khi thực thi nhiệm vụ, với tư cách là người đại diện của cơ quan xã hội nhân viên công tác xã hội cần ý thức rằng vai trò của mình là hỗ trợ thân chủ giải quyết vấn đề Phục vụ thân chủ là trách nhiệm của nhân viên xã hội, vì vậy cần tránh lạm dụng quyền lực, vị trí công việc để mưu lợi cá nhân Đồng thời nhân viên công tác xã hội cũng cần phải ý thức được khả năng trình độ chuyên môn của bản thân có đáp ứng yêu cầu của công việc được giao hay không (tức là cần nhận biết được trình độ kiến thức, kỹ năng chuyên môn của mình tới đâu)… Khi gặp trường hợp quá phức tạp và vượt quá giới hạn khả năng cá nhân thì nhân viên công tác xã hội chuyển giao trường hợp đang thụ lý cho nhân viên công tác xã hội khác giúp đỡ
Ví dụ: Thân chủ là trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật, nhân viên công tác xã hội không được sử dụng quyền lực của mình để giảng dạy hay giáo huấn thân chủ về những hành vi sai trái của thân chủ đã làm trước đây
Trang 6Câu II: Hãy trình bày những nguyên tắc đạo đức khi làm việc với một trong các nhóm đối tượng sau: Nhóm thân chủ là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
I Tìm hiểu vấn đề:
1 Định nghĩa về trẻ em:
Theo Hiệp ước về Quyền Trẻ em của Liên hiệp quốc định nghĩa một đứa trẻ là "mọi con người dưới tuổi 18 trừ khi theo luật có thể áp dụng cho trẻ em, tuổi trưởng thành được quy định sớm hơn Luật Bảo vệ và chăm sóc trẻ em của Việt Nam năm 2004 quy định trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi
Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm
2004 thì trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được hiểu là trẻ em có hoàn cảnh không bình thường về thể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện để thực hiện quyền cơ bản và hòa nhập với gia đình, cộng đồng
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt gồm các nhóm sau:
- Trẻ em mồ côi, không nơi nương tựa, bị bỏ rơi
- Trẻ em khuyết tật, tàn tật
- Trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học
- Trẻ em nhiễm HIV/AIDS
- Trẻ em lao động sớm
- Trẻ em lang thang
- Trẻ em bị xâm hại tình dục
- Trẻ em nghiện ma túy
- Trẻ em vi phạm pháp luật
Trang 72 Xâm hại trẻ em:
- Định nghĩa:
Theo Tổ chức Y tế Thế giới: “Xâm hại trẻ em bao gồm mọi hình thức ngược đãi về thể chất và tinh thần, xâm hại tình dục, xao nhãng, bóc lột gây ra những thương tổn về sức khỏe, tính mạng, khả năng phát triển hay phẩm giá bằng cách lợi dụng chức phận, lòng tin hoặc quyền hạn” “Xâm hại tình dục trẻ em là việc ai đó dùng quyền lực hoặc lợi dụng lòng tin để lôi kéo trẻ em tham gia vào các hoạt động tình dục, bao gồm: sờ mó, làm tranh/ảnh/video tình dục có trẻ em; ép buộc trẻ em quan hệ tình dục với nhau hoặc với người lớn”
Theo điều 4 Luật Trẻ em 2016, xâm hại tình dục trẻ em là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ trẻ em tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với trẻ em và sử dụng trẻ em vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức
- Các hình thức xâm hại trẻ em:
+ Xâm hại về thể chất: Là khi một người chủ đích gây thương tổn hoặc đe dọa gây thương tổn về mặt thể chất cho trẻ bao gồm: đánh, đấm, quăng quật, đá, giam hãm,… + Xâm hại về tinh thần: Là việc ai đó lặp đi lặp lại các hình thức ngược đãi tình thần trẻ em trong một thời gian dài, gây tổn hại đến lòng tự trọng của trẻ, bao gồm: dọa dẫm chế nhạo, khủng bố tinh thần, cô lập trẻ,…
+ Xâm hại tình dục: Là việc ai đó dùng quyền lực hoặc lợi dụng lòng tin để lôi kéo trẻ
em tham gia vào các hoạt động tình dục, bao gồm: sờ mó, làm tranh/ảnh/video tình dục
có trẻ em; ép buộc trẻ em quan hệ tình dục với nhau hoặc với người lớn
+ Xao nhãng: Là việc không đáp ứng những hình thức chăm sóc cơ bản đối với trẻ, bao gồm: bỏ mặc trẻ trước những nguy cơ, từ chối chăm sóc y tế hoặc các nhu cầu thiết yếu đối với sự phát triển của trẻ
Trang 83 Các vấn đề Bảo vệ trẻ em:
- Các vấn đề liên quan đến xâm hại tình dục và bóc lột trẻ em: Những hành vi xâm hại tình dục, bóc lột tình dục vì mục đích thương mại, bạo lực thể chất, tinh thần, tình cảm, lao động trẻ em, buôn bán trẻ em
- Còn thiếu sự hòa nhập cho trẻ em khuyết tật
- Thiếu sự hòa nhập cho các nhóm yếu thế như trẻ em nghèo, tị nạn, nhập cư, dân tộc thiểu số và trẻ nhiễm HIV/AIDS
- Số lượng trẻ em lang thang đường phố lớn
- Việc cho nhận con nuôi trong nước và quốc tế chưa được quản lý một cách hợp lý
- Thiếu chính sách xã hội phòng ngừa/hỗ trợ cho cha mẹ
- Số lượng cán bộ xã hội chuyên nghiệp còn ít
- Cơ sở hạ tầng và dịch vụ công tác xã hội còn hạn chế và chưa đầy đủ
4 Vấn đề pháp lý về Bảo vệ trẻ em:
- Công Ước Quốc tế về Quyền Trẻ em đã nêu các tiêu chuẩn về bảo vệ cho mọi trẻ em khỏi:
+ Bị đối xử bạo lực/xâm hại (thân thể, tâm lý, tình dục)
+ Bóc lột (bao gồm cả bóc lột lao động, bóc lộ tình dục, buôn bán vì mục đích tình dục hoặc các dạng khác)
+ Xao nhãng
+ Bị tước đoạt quyền được cha mẹ chăm sóc
+ Bị tước đoạt tự do
Trang 9- Công Ước Quốc tế về Quyền Trẻ em chỉ rõ những ai là người có trách nhiệm bảo vệ cho trẻ em:
+ Gia đình và những người trực tiếp chăm sóc
+ Cộng đồng và xã hội
+ Nhà nước
II Công tác xã hội đối với trẻ em:
1 Mục đích của công tác xã hội với trẻ em:
- Tuyên truyền, giáo dục gia đình và trẻ em trong việc phòng chống và ngăn ngừa xâm hại tình dục
- Kết nối với các nguồn lực hỗ trợ, dịch vụ xã hội để cải thiện chất lượng cuộc sống cho trẻ
- Hỗ trợ tâm lý – xã hội, luật pháp nhằm ngăn ngừa, phòng ngừa các vấn đề xã hội xảy ra đối với trẻ
- Kết nối với các mạng lưới dịch vụ, cá nhân, tổ chức, gia đình và cộng đồng trong việc giúp đỡ trẻ
- Xây dựng các chính sách chặt chẽ trong việc hỗ trợ và bảo vệ trẻ em
- Đào tạo và tuyển dụng cán bộ xã hội chuyên nghiệp trong lĩnh vực hoạt động giúp đỡ trẻ
2 Những nguyên tắc đạo đức khi làm việc với nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt:
- Trong mọi hoạt động có liên quan đến trẻ em thì lợi ích của trẻ em phải được quan tâm hàng đầu: Luôn quan tâm đến trẻ trong mọi giai đoạn phát triển và mọi bước của công việc và quan tâm đến gia đình ruột thịt hoặc người nuôi hộ của đứa trẻ
- Quyền được bảo vệ của trẻ em phải được tôn trọng và thực hiện
Trang 10- Không phân biệt đối xử với trẻ em vì bất cứ lý do nào Tăng cường phát huy hiệu quả sự tham gia của trẻ em vào các hoạt động có liên quan: Nhân viên công tác xã hội phải tham khảo ý kiến của đứa trẻ trước khi có quyết định
- Ngăn ngừa và bảo vệ trẻ em không bị bạo lực, bóc lột, xâm hại,… là trách nhiệm của mỗi người bao gồm: Cộng đồng và xã hội, gia đình và những người trực tiếp chăm sóc, Nhà nước
- Hành động khẩn cấp, kịp thời để ngăn chặn các vụ việc xâm hại, bạo lực, bóc lột trẻ em
- Đảm bảo bí mật vì lợi ích tốt nhất của trẻ: Nhân viên công tác xã hội không cung cấp những thông tin bí mật mang tính riêng tư cho những người không cần biết và nếu nhận thấy cần chia sẻ với người cần thiết thì tiến trình này phải được bàn bạc, thông báo với đứa trẻ
- Nhân viên công tác xã hội phải luôn sẵn sàng và thấu cảm với trẻ: Khi trẻ biết cách tìm đến nhân viên công tác xã hội thì nhân viên xã hội phải luôn đáp ứng ngay lập tức
- Luôn thể hiện sự quan tâm và nhiệt tình của nhân viên công tác xã hội đối với trẻ
- Nhân viên xã hội cần hiểu được những ước muốn và cảm xúc từ chính đứa trẻ
- Nhân viên cần hình thành mối quan hệ tin tưởng, không được đưa ra những lời hứa hẹn đối với trẻ
- Luôn tôn trọng những ý kiến và quan điểm của trẻ, không nên đối xử với các em như các em không biết gì cả và mình là người biết tất cả