1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tìm hiểu thể thơ thất ngôn xen lục ngôn trong quốc âm thi tập

59 3,4K 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu thể thơ thất ngôn xen lục ngôn trong Quốc âm thi tập
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành nghệ thuật, văn học
Thể loại Báo cáo khoa học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 659,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả đặt vấn đề từ việc tìm về nguồn gốc của thể thơ sáu lời ở kinh thi và sở từ, từ đó tác giả khẳng định thể thất ngôn xen lục ngôn là một thể loại mới mà Nguyễn Trãi đã có công đón

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

I Lí do chọn đề tài Trang 1

II Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

III Mục đích nghiên cứu 4

IV Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 4

V Đóng góp của đề tài 4

VI Phương pháp nghiên cứu 5

VII Cấu trúc khoá luận 5

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: THƠ NÔM ĐƯỜNG LUẬT VÀ THỂ THƠ THẤT NGÔN XEN LỤC NGÔN I Khái quát về thơ Nôm đường luật 7

II Những điều kiện cho sự hình thành và phát triển của thơ Nôm Đường luật 8

1 Điều kiện văn học 8

1.1 Về ngôn ngữ 8

1.2 Về thể loại 10

2 Điều kiện ngoài văn học 10

2.1 Điều kiện lịch sử xã hội 10

2.2 Điều kiện văn hoá, tư tưởng 11

III Khái quát quá trình phát triển của thơ Nôm Đường luật trong lịch sử văn học Việt Nam 12

1 Giai đoạn hình thành 12

2 Giai đoạn phát triển 13

3 Giai đoạn cuối 14

IV Thể thơ thất ngôn xen lục ngôn 15

CHƯƠNG II THỂ THƠ THẤT NGÔN XEN LỤC NGÔN TRONG QUỐC ÂM THI TẬP I Nguyễn Trãi – thân thế và sự nghiệp 17

1 Thân thế 17

2 Cuộc đời 18

3 Sự nghiệp 20

Trang 2

1 Cấu trúc 22

2 Nội dung tập thơ Quốc âm thi tập 23

2.1 Lòng yêu thiên nhiên 23

2.2 Tấm lòng ưu dân, ái quốc sâu nặng 24

2.3 Ca tụng cuộc sống trong sạch, thanh bần 24

2.4 Băn khoăn nền đạo đức luân lí 25

3 Nghệ thuật 25

3.1 Ngôn ngữ 25

3.2 Thể thơ thất ngôn xen lục ngôn 25

III Khảo sát chung về câu lục ngôn trong Quốc âm thi tập 26

1 Số lượng 26

2 Vị trí .27

3 Nhịp 29

IV Cách xây dựng thể thơ thất ngôn xen lục ngôn 31

1 Cách xây dựng thể thơ thất ngôn xen lục ngôn 31

1.1 Giảm một chữ từ câu thất ngôn 32

1.2 Xử lí hiện tượng thất niêm từ việc sử dụng câu thất ngôn xen lục ngôn 38

1.3 Cách gieo vần 40

1.4 Cách ngắt nhịp 43

2 Hiệu quả của việc sử dụng câu lục ngôn trong thể thất ngôn xen lục ngôn 46

PHẦN KẾT LUẬN 53

Trang 3

Lời cảm ơn

^Ö]

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học An Giang, Hội đồng Khoa học và đào tạo, các thầy cô trong tổ bộ môn Ngữ văn, thư viện Trường Đại học An Giang đã tạo mọi điều kiện giúp tôi hoàn thành khoá luận này

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thạc sĩ Trần Tùng Chinh Thầy đã nhiệt tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt thời gian nghiên cứu để hoàn thành khoá luận

Đây là lần đầu tôi có cơ hội tiếp cận với công việc nghiên cứu Một công việc đòi hỏi phải có nhiều thời gian, kiến thức và sự nỗ lực của bản thân Do sự hạn chế về mặt thời gian nên tôi còn nhiều lúng túng và thiếu sót Nhưng được sự khích lệ, động viên, giúp đỡ tận tình của các thầy cô, gia đình và bạn bè, tôi đã có thêm nghị lực để tiếp tục nghiên cứu hoàn thành khoá luận

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn !

Long Xuyên, tháng 5, năm 2008 Sinh viên thực hiện

Lê Thị Giang

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

I Lí do chọn đề tài

Văn học Trung đại Việt Nam là một bước chuyển mình mạnh mẽ trong toàn bộ tiến trình phát triển của nền văn học nước nhà Tiếp theo những thành tựu xuất sắc của nền văn học dân gian, bước sang văn học Trung đại, nền văn học viết chính thức ra đời đánh dấu sự trưởng thành về mặt ý thức của dân tộc

Nhìn lại lịch sử thời kì trung đại, chúng ta thật tự hào về thế hệ cha anh với những chiến công rực rỡ gắn liền với tên tuổi của những anh hùng cứu quốc Trong số đó thì Lí Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung vv là những người xuất sắc hơn cả Gắn liền với tên tuổi của

họ không chỉ có những chiến công mà còn có cả những tác phẩm văn học làm rạng danh đất nước đến muôn đời

Đối với Lí Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi… chúng ta chỉ biết sự nghiệp của họ qua những thông tin, sự kiện chính được sử sách ghi chép lại Lí Thường Kiệt với bài thơ thần “ Nam quốc sơn hà” đã làm nên một huyền thoại

về chiến thắng trên sông Như Nguyệt “Dụ chư tì tướng hịch văn” của Trần Hưng Đạo đã kịp thời trấn an lòng binh sĩ, khơi gợi trong họ lòng yêu quê hương đất nước gắn liền với quyền lợi thiết thực của mỗi người Lê Lợi thì chỉ còn vài bài thơ viết trên vách đá và bài tựa trong quyển “Lam sơn thực lục” của Nguyễn Trãi Quang Trung chỉ còn một tờ chiếu viết bằng chữ Nôm cho Nguyễn Thiếp vv

Duy chỉ có Nguyễn Trãi – một vị anh hùng cứu quốc, không những để lại tên tuổi trong sử sách mà còn để lại cả một sự nghiệp văn chương đồ sộ

Đọc các tác phẩm như Bình Ngô đại cáo, Quân trung từ mệnh tập, Lam Sơn thực lục, Dư địa chí, Quốc âm thi tập…, chúng ta thấy Nguyễn Trãi xuất hiện là một nhà văn hóa xuất sắc trên các tư cách: anh hùng dân tộc, nhà tư tưởng, nhà chính trị- quan chức, nhà văn, nhà ngoại giao, nhà sử học và nhà địa lí học Dù ở bất cứ phương diện nào, Nguyễn Trãi cũng thể hiện một tư tưởng chủ đạo “ưu dân, ái quốc”

Văn chương của Nguyễn Trãi thật đặc biệt Đó là “thứ văn chương có

đủ sức để sửa sang việc đời” như Ngô Thế Vinh đã nói Cuộc đời cầm bút của ông phần lớn dành cho mục đích chính trị Điều này được thể hiện qua các tác phẩm bằng chữ Hán nhưng lại chứa chan tình cảm của người Việt Nam với

đầy đủ phẩm chất đáng quý Nguyễn Trãi chỉ có duy nhất tập “Quốc âm thi tập” viết bằng chữ Nôm Có thể nói, với tập thơ này, Nguyễn Trãi đã chính

thức khơi nguồn dòng thơ Quốc Âm, mở ra một dòng hướng đi mới trong nền

thi ca dân tộc Hơn thế nữa, Quốc âm thi tập còn có ý nghĩa là một sự phá

cách, cách tân, khắc phục tính quy phạm, mở rộng đề tài sáng tác thi ca Bằng ngôn ngữ dân tộc, ông đã khắc họa một cách tinh tế hình ảnh của thế giới tự nhiên và nội tâm con người

Trang 5

Một trong những đóng góp tạo nên giá trị nghệ thuật của tập thơ Quốc

âm thi tập đó chính là thể thơ Nguyễn Trãi đã đưa một hình thức nghệ thuật

mới, đặt ngang hàng cùng các hình thức nghệ thuật được coi là mẫu mực lúc

bấy giờ Ông đã có công sáng tạo một thể thơ mới - thể thất ngôn xen lục

ngôn Đó là sự đan xen giữa câu 6 tiếng và câu 7 tiếng trong cùng một bài thất

ngôn bát cú hay thất ngôn tứ tuyệt Chính hiện tượng này đã tạo được một

tiếng vang cho thơ ca Quốc âm Việc sử dụng câu 6 tiếng không những làm

thay đổi cấu trúc thông thường của một bài thơ Đường luật mà còn tác động

trực tiếp tới những tư tưởng, tình cảm mà tác giả gửi gắm

Trước đây, khi tìm hiểu tác phẩm, chúng ta thường đi từ nội dung đến

hình thức Song xu hướng mấy năm gần đây thì ngược lại Việc khai thác, tìm

hiểu cái hay, cái đẹp của một tác phẩm nghệ thuật được triển khai từ chính

hình thức nghệ thuật Đây là một hướng đi mang lại hiệu quả cao nhất khi tiếp

cận tác phẩm nghệ thuật

Thể thất ngôn xen lục ngôn là một thể loại mới so với các thể thơ đã có

của dân tộc Những câu thơ 6 tiếng được nhiều người coi là cái “mã” riêng của

từng bài Tìm cái “mã” riêng ấy để mở ra thế giới tình cảm bên trong tác phẩm

là một công việc hết sức khó khăn Điều này càng khó khăn hơn đối với học

sinh khi tiếp cận hệ thống thơ văn cổ

Do đó, người viết thấy việc tìm hiểu thể thơ thất ngôn xen lục ngôn

trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi là một vấn đề hết sức thú vị Nó đáp

ứng được nhu cầu muốn tìm hiểu sâu sắc thơ Quốc âm, đồng thời cũng mở ra

một cái nhìn tổng quát hơn về thể loại mới mẻ này

Từ những lí do trên, cùng với sự gợi ý của giáo viên hướng dẫn, người

viết đã chọn đề tài nghiên cứu này

II Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Tìm hiểu hình thức nghệ thuật của một tác phẩm là một vấn đề khá mới

mẻ Nó mới được chú ý trong mấy chục năm trở lại đây Quốc âm thi tập ra

đời từ rất sớm song phần lớn các công trình nghiên cứu đều tập trung vào các

khía cạnh nội dung của tập thơ chứ chưa đi sâu nghiên cứu về mặt thể loại

một cách có hệ thống ngoại trừ một số bài viết đăng trên các tạp chí chuyên

ngành Cụ thể là:

ƒ Bài viết “ Mấy suy nghĩ về thể thơ sáu lời (lục ngôn) xen bảy

lời trong Quốc âm thi tập” của Ngô Văn Phú in trong “Nguyễn Trãi về

tác gia tác phẩm”, nhà xuất bản giáo dục [ Nguyễn Hữu Sơn 3002

76-87] Ở bài viết này, tác giả đã đề cập đến hai vấn lớn: ngôn ngữ thơ và

từ vựng; sự hình thành thể thơ sáu lời Tác giả đặt vấn đề từ việc tìm về

nguồn gốc của thể thơ sáu lời ở kinh thi và sở từ, từ đó tác giả khẳng

định thể thất ngôn xen lục ngôn là một thể loại mới mà Nguyễn Trãi đã

có công đóng góp cho thể loại thơ này hình thành và tồn tại.Tiếp đến

Ngô Văn Phú còn đề cập các vấn đề về ngôn ngữ, về từ Hán Việt trong

Trang 6

hai tập thơ Quốc âm thi tập và Hồng Đức quốc âm thi tập chứ chưa

có cái nhìn tổng quát nhất về thể thơ thất ngôn xen lục ngôn

ƒ Trong Tạp chí văn học số 4 -1980, sau được in trong “Nguyễn

Trãi về tác gia và tác phẩm” Ông Phạm Luận có bài viết “Nguyễn Trãi

và thể thơ Việt Nam trong Quốc âm thi tập” [Nguyễn Hữu sơn 2003

839-850] Phạm Luận đã bàn nhiều về các vấn đề trong thơ Nôm của Nguyễn Trãi, hiện tượng dùng câu sáu tiếng xen lẫn câu bảy tiếng trong các bài thơ Đặc biệt, tác giả đã có công tập hợp số lượng câu sáu và vị trí của từng câu sáu trong mỗi bài thơ Nôm của Nguyễn Trãi Từ đó, tác giả đã lí giải hiện tượng thất niêm, một hiện tượng thường thấy trong

Quốc âm thi tập Cũng trong “Nguyễn Trãi về tác gia và tác phẩm”,

ông tiếp tục giới thiệu bài viết “Thể loại thơ trong Quốc âm thi tập của

Nguyễn Trãi và thi pháp Việt Nam” Trong đó, ông đã đề cập đến vấn

đề tên gọi của thể loại này bằng cách dẫn ra các ý kiến khác nhau Bên cạnh đó, ông cũng đưa ra ý kiến của mình về hiện tượng ngắt nhịp trong Quốc âm thi tập và giải quyết được câu hỏi “Phải chăng hiện tượng ngắt nhịp (cả câu 7 với nhịp ¾ và câu 6 với nhịp 2/2/2, 2/4 ) tức nhịp cuối là nhịp chẵn chủ yếu là do tác động của thơ ca dân gian Việt Nam?”

ƒ Trong bài viết “ Trở lại vấn đề xác định vị trí của thể thơ thất

ngôn xen lục ngôn trong văn học Việt Nam thời trung đại” [Tạp chí văn

học số 12- 2001 45-52], Nguyễn Phạm Hùng đã tìm về nguồn gốc của thể thơ thất ngôn xen lục ngôn, từ đó ông đưa ra những kết luận nhằm bác bỏ những quan điểm cho rằng thể thơ này chưa được xem là một thể loại văn học độc lập

ƒ Trên Tạp chí văn học số 1- 2002, Nguyễn Hữu Sơn đã tập hợp những bài viết của các ông Nguyễn Ngọc San, Phạm Luận, Phạm

Phương Thái trong bài “ Vấn đề thể thơ thất ngôn xen lục ngôn” nhằm

bác bỏ lại các kết luận trong bài viết của ông Nguyễn Phạm Hùng Đây là những bài viết tiêu biểu nhất về việc tìm hiểu thể thơ thất ngôn xen lục ngôn Bên cạnh đó, còn có một số ý kiến nhỏ có đề cập đến vấn đề đề tài đang nghiên cứu của các ông Xuân Diệu, Phạm Văn Đồng, Đặng Thai Mai đăng tải trên các công trình nghiên cứu như: Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, Đặng Thai Mai toàn tập

Như vậy, theo những hiểu biết của chúng tôi và những gì chúng tôi sưu tầm được, thể thơ thất ngôn xen lục ngôn mặc dù đã được một vài tác giả nói tới trong một số công trình nghiên cứu, tuy nhiên, họ chỉ điểm qua một vài nét

khái quát nhất về thể thơ thất ngôn xen lục ngôn trong Quốc âm thi tập, nêu

lên những cảm nhận của riêng mình về thể thơ này, chứ chưa có công trình nghiên cứu nào xem thể thơ là đối tượng nghiên cứu trực tiếp để đi sâu vào khám phá và tìm hiểu một cách khoa học, đầy đủ và hệ thống Vì vậy, đề tài

“Tìm hiểu thể thơ thất ngôn xen lục ngôn trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi” là một đề tài khá mới mẻ, chưa từng có công trình nghiên cứu

Trang 7

nào tiến hành với cấp độ và quy mô tương tự Mặc dù vậy, chúng tôi cũng thừa nhận đã tiếp nhận không ít những thành tựu nghiên cứu từ các công trình

đi trước để thực hiện đề tài này Nhưng dù sao, công trình này cũng chỉ là bước khởi đầu tìm hiểu vấn đề với những hiểu biết và năng lực có hạn của người nghiên cứu Do đó, hi vọng thời gian và kinh nghiệm trong tương lai tới đây của bản thân người nghiên cứu sẽ hứa hẹn cho ra đời những thành tựu nghiên cứu hoàn chỉnh hơn

III Mục đích nghiên cứu Thực hiện đề tài “Tìm hiểu thể thơ thất ngôn xen lục ngôn trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi”, người viết hướng vào những mục tiêu

ƒ Tạo điều kiện thuận lợi trong việc học tập nghiên cứu và giảng dạy thơ văn Nguyễn Trãi trong nhà trường

IV Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

1 Phạm vi nghiên cứu

Quốc âm thi tập là một tập thơ đạt được nhiều giá trị về các mặt nội

dung và nghệ thuật Trong phạm vi đề tài này, người viết chỉ tập trung tìm hiểu thể thơ thất ngôn xen lục ngôn trong 254 bài được tâp hợp trong quyển

Nguyễn Trãi toàn tập (Nhà xuất bản Văn sử địa- 1956)

2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu trong đề tài này là những bài thơ dùng thể thất ngôn xen lục ngôn

V Đóng góp của đề tài

Sáng tác của Nguyễn Trãi được nhiều người đón nhận bởi giá trị của nó được khẳng định về nhiều mặt Số lượng tài liệu nghiên cứu về những tác phẩm của Nguyễn Trãi khá nhiều Song tài liệu nghiên cứu một cách có hệ

thống thể thơ thất ngôn xen lục ngôn trong Quốc âm thi tập thì còn khiêm

tốn Do đó, ở bài nghiên cứu này, người viết mong muốn đóng góp một tiếng nói riêng trong viêc tìm hiểu thể thơ thất ngôn xen lục ngôn của Nguyễn Trãi

Trang 8

của Nguyễn Trãi Từ đó, giải mã phần nào tư tưởng, tình cảm của ông thể hiện qua thể thơ độc đáo đã nêu Làm được điều này, đề tài sẽ cố

gắng đóng góp những luận điểm mới liên quan đến Quốc âm thi tập,

làm rõ hơn vai trò và vị trí của Nguyễn Trãi trong tiến trình phát triển của nền văn học dân tộc

ƒ Góp phần vào việc xác định phương pháp tiếp cận thơ văn Nguyễn Trãi, mở ra một hướng đi có thể không mới nhưng đầy thử thách trong việc tìm hiểu, lí giải những đặc điểm thể loại trong thơ cổ điển qua một tập thơ cụ thể, của một tác gia cụ thể

ƒ Phân tích, tìm hiểu những cái hay, cái đẹp trong thể loại thơ độc đáo này nhằm góp phần phục vụ việc giảng dạy các tác phẩm thơ Nôm của Nguyễn Trãi trong nhà trường đạt hiệu quả tốt hơn

VI Phương pháp nghiên cứu

1 Phương pháp thống kê

Tập hợp tư liệu và thống kê tần số xuất hiện của câu lục ngôn ở các tiêu chí: số lượng, vị trí, nhịp… trên cơ sở đó tiến hành phân loại các tư liệu và số liệu trên

trong Quốc âm thi tập, tuỳ theo từng cấp độ, chúng tôi sẽ xâu chuỗi các kết

luận ấy thành một hệ thống hoàn chỉnh, sao cho vừa đảm bảo tính chặt chẽ, vừa đảm bảo tính chuẩn xác hợp logic và đầy đủ cho toàn khoá luận

VII Cấu trúc của khóa luận

Tên đề tài: Tìm hiểu thể thơ thất ngôn xen lục ngôn trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi

Cấu trúc của khoá luận gồm ba phần:

- Phần mở đầu

Trang 9

- Phần nội dung : Gồm 2 chương:

• Chương I: Thơ Nôm Đường luật và thể thơ thất ngôn xen lục ngôn

• Chương II: Thể thơ thất ngôn xen lục ngôn trong Quốc âm thi tập

- Phần kết luận

Ngoài ra đề tài còn có:

- Phần danh mục tài liệu tham khảo

Trang 10

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG I: THƠ NÔM ĐƯỜNG LUẬT VÀ THỂ THƠ THẤT NGÔN XEN LỤC NGÔN

I – Khái quát chung về thơ Nôm Đường luật

Thơ Nôm Đường luật là một thể loại lớn của văn học Trung đại Việt Nam, đạt được nhiều thành tựu rực rỡ cả về nội dung và nghệ thuật Với sự ra đời của thơ Nôm Đường luật, văn học Trung đại Việt Nam đã thật sự trưởng thành hơn đưa văn học viết chữ Nôm phát triển hoàn toàn tự tin, chững chạc

và song hành cùng những thành tựu nổi bật của văn học viết bằng chữ Hán, trên cơ sở tiếp thu thơ Đường luật Trung Quốc để sáng tạo một thể loại văn học mới

Để có một cái nhìn khái quát nhất, trước tiên chúng ta cùng tìm hiểu

khái niệm thơ Nôm Đường luật Thơ Nôm Đường luật bao hàm những bài thơ

viết bằng chữ Nôm theo luật Đường hoàn chỉnh và cả những bài luật Đường phá cách – những bài thơ có xen câu ngũ ngôn, câu lục ngôn.[Lã Nhâm Thìn

2002 9]

Nhìn chung hình thức cơ bản của một bài thơ Đường luật vẫn được giữ lại: số câu trong một bài (8 câu với bài bát cú, 4 câu với bài tứ tuyệt); kết cấu của một bài thơ (đề- thực- luận- kết với bài bát cú, khai- thừa- chuyển- hợp với bài tứ tuyệt), luật đối thơ (câu 3 đối câu 4, câu 5 đối câu 6), luật thơ (nhị tứ lục phân minh, nhất tam ngũ bất luận), về thanh và vần …

Đặc điểm của thơ Nôm Đường luật nói một cách khái quát là sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố Nôm và yếu tố Đường luật Hai yếu tố này xuyên thấm vào nhau, tác động lẫn nhau lại có tính độc lập tương đối nhưng vẫn có thể tách ra để nhận diện

Biểu hiện của yếu tố Đường luật:

ƒ Về đề tài, chủ đề hướng tới những quan niệm, phạm trù Nho giáo, Đạo giáo

ƒ Về mặt ngôn ngữ, đó là hệ thống từ Hán Việt, những điển cố điển tích, cách sử dụng từ trau chuốt, giàu hình ảnh

Trang 11

Biểu hiện của yếu tố Nôm

ƒ Về mặt đề tài, chủ đề vừa hướng tới những vấn đề của đất nước, dân tộc, vừa là những vấn đề đời thường của cuộc sống hàng ngày

ƒ Về ngôn ngữ là ngôn ngữ chữ Nôm, ngôn ngữ bình dân

ƒ Về hình ảnh là những hình ảnh chân thực, bình dị, dân dã, gần gũi với cuộc sống của người dân

ƒ Về câu thơ là những câu năm chữ, sáu chữ đan xen với câu bảy chữ trong cùng một bài, tạo nên hình thức mới mẻ cho bài thơ

ƒ Về nhịp điệu là cách ngắt nhịp mới lạ đa dạng, khác hẳn với cách ngắt nhịp 4/3 của thơ Đường

Như vậy, thơ Nôm Đường luật đã tiếp thu thể loại của Đường thi một cách rõ nét Nó đảm bảo một trong những yêu cầu của đặc điểm văn học trung đại là tính quy phạm với hệ thống ước lệ, tượng trưng, tao nhã

Việc sử dụng các yếu tố Nôm - yếu tố dân tộc vào trong thơ tạo nên một sắc thái mới mẻ cho thơ Nôm Đường luật Với những đặc điểm này, thơ Nôm Đường luật gần gũi hơn với mỗi người dân Việt Nam, khẳng định được cái riêng của dân tộc

Yếu tố Nôm hay yếu tố Đường luật đều có những giá trị đặc trưng riêng, nhưng đều đem lại sự thống nhất trong mỗi bài thơ Một bài thơ Nôm Đường luật thường có cả hai yếu tố Nôm và yếu tố Đường luật Tất nhiên mức

độ đậm nhạt của hai yếu tố này không giống nhau trong từng bài thơ Ta có thể thấy rõ yếu tố Nôm trong thơ Hồ Xuân Hương rất đậm Trong khi đó yếu tố Đường luật là có rất nhiều trong thơ Bà huyện Thanh Quan Cũng là thơ

Nguyễn Khuyến nhưng bài “Bạn đến chơi nhà” cảnh vật, lòng người mộc

mạc, chân tình, hóm hỉnh, còn chùm thơ thu (Thu vịnh, thu ẩm, thu điếu) thì cảnh tình thanh cao, tao nhã mà thâm thúy Từ đó ta thấy sự đối lập giữa bức tranh dân gian quê giản dị, thô sơ với ba bức sơn mài cổ điểm quí phái

II Những điều kiện cho sự hình thành và phát triển của thơ Nôm Đường luật

Trong lịch sử văn học Việt Nam, thơ Nôm Đường luật có một vị trí quan trọng bởi những đóng góp to lớn của nó đối với sự phát triển của văn học dân tộc về cả hai phương diện: thực tiễn sáng tác và ý nghĩa lí luận

Thơ Nôm Đường luật được hình thành là kết quả của những điều kiện văn học và cả những điều kiện ngoài văn học

Trang 12

1 Điều kiện văn học

1.1 Về ngôn ngữ

Tiếng Việt và tiếng Hán có sự gần gũi tương đồng ở ba phương diện cơ bản: không biến hình, đơn âm và tuyến tính.Thêm vào đó là sự gần gũi về thanh điệu Thơ Đường luật có một kết cấu rất chặt chẽ, có tính cố định khá cao về thanh, vần, từ và câu Chỉ cần khác một trong bốn điểm đó thì chắc chắn sẽ không có thơ Nôm Đường luật

Sự tương đồng quan trọng đầu tiên giữa tiếng Việt và tiếng Hán là ở đặc điểm không biến hình Điểm này không có ở ngôn ngữ Ấn Âu mà ngay cả Triều Tiên và Nhật Bản cũng không có Đối với ngôn ngữ biến hình, điều dễ thấy nhất là hình thức âm thanh của từ không cố định Bởi phần căn tố gần như không thay đổi, phần phụ tố luôn luôn biến đổi theo ngữ cảnh Sự biến đổi này dẫn đến sự thay đổi âm thanh

Đối với thơ, sự thay đổi phần đuôi từ - phần tạo nên vần thơ là điều không thể chấp nhận với việc sáng tác thơ Đường luật- một thể thơ có tính cố định rất cao về vần Mặt khác, sự thay đổi của phần phụ tố dẫn tới sự thay đổi

số lượng âm tiết của từ Điều này càng làm rõ sự khác biệt giữa ngôn ngữ đa

âm và ngôn ngữ đơn âm

Sự tương đồng quan trọng thứ hai giữa tiếng Việt và tiếng Hán là chúng cùng thuộc những tiếng đơn âm Tiếng đa âm khó có thể sáng tác thơ Đường luật Bởi vì, thơ Đường luật là thơ có số chữ cố định, mỗi chữ đồng thời là một âm tiết trong câu Thơ ngũ ngôn tứ tuyệt chỉ có 20 âm tiết, thơ bát

cú có 56 âm tiết Tiếng đa âm không thể tuân thủ quy định nghiêm ngặt này của thơ Đường

Sự tương đồng quan trọng thứ ba giữa tiếng Việt và tiếng Hán là cả hai đều tuyến tính Đối với tiếng Việt và tiếng Hán, trật tự trước sau giữa các từ là

vô cùng quan trọng Thơ Đường luật là thơ không chấp nhận bất cứ sự lộn xộn nào dù là nhỏ nhất về trật tự trong câu Bởi vì, không những nó làm đảo lộn hoặc phá vỡ nội dung thông báo mà sẽ không đảm bảo trật tự quy định rất chặt chẽ về niêm và luật Mặt khác, sẽ vi phạm luật bằng trắc nghiêm ngặt của thơ Đường luật

Tiếng Việt có khả năng đáp ứng hoàn toàn luật bằng trắc của thơ Đường luật Sự gần gũi về mặt thanh điệu là đặc điểm thứ tư giữa tiếng Việt

và tiếng Hán Đây là đặc điểm quan trọng đối với sự ra đời của thơ Nôm Đường luật Bởi muốn thỏa mãn luật chuyển đổi bằng trắc trong từng câu thơ,

sự đối lập về thanh trong bốn câu thực và luận, sự giống nhau về thanh của chữ thứ hai của câu chẵn, lẻ tạo thành niêm thì nhất thiết phải dựa vào thanh điệu

Sự gần gũi tương đồng giữa tiếng Việt và tiếng Hán về bốn phương diện như đã phân tích ở trên là điều kiện có ý nghĩa quyết định để người Việt

Trang 13

Nam có thể tiếp thu thơ Đường luật Trung Quốc tạo nên thành thơ Nôm Đường luật

Như vậy, về phương diện ngôn ngữ “tiếng Việt đã cung cấp những điều

kiện quan trọng và quyết định để người Việt Nam có thể sáng tác thơ Nôm Đường luật.[Lã Nhâm Thìn 1997 27]

1.2 Về thể loại

Thơ Đường luật là một trong những thành tựu rực rỡ nhất của nền văn học Trung Quốc, là đỉnh cao của nền nghệ thuật nhân loại Việc lựa chọn thơ Đường luật là đối tượng tiếp nhận để sáng tạo nên thơ Nôm Đường luật – một thành tựu được xem là xuất sắc nhất của nền văn học dân tộc là một điều rất hợp lý

Thơ Đường luật là thơ có kết cấu ổn định và rất chặt chẽ Đặc điểm này khiến cho thơ Đường luật có lợi thế hơn nhiều thể loại khác trong văn học Do tính chất mô hình hóa về mặt kết cấu đã tạo điều kiện dễ dàng cho sự tiếp nhận

và chuyển hóa Tính chất này vừa là thử thách, vừa là lợi thế cho việc sáng tác thơ Nôm Đường luật

Trên đây là những điều kiện văn học có vai trò quyết định với sự hình thành và phát triển của thơ nôm Đường luật Thơ Nôm Đường luật ra đời đáp ứng những nhu cầu của nền văn học dân tộc, đồng thời thể thơ này cũng chỉ có thể ra đời trên cơ sở những tiền đề đã phân tích ở trên

2 Những điều kiện ngoài văn học

2.1 Điều kiện lịch sử xã hội

Vào thế kỉ thứ X, lịch sử Việt Nam có một bước ngoặt hết sức quan trọng và có ý nghĩa to lớn: Độc lập dân tộc và tự chủ đất nước

Sau chiến thắng Bạch Đằng năm 938 của Ngô Quyền, nhiệm vụ lịch sử lớn lao của dân tộc lúc này là khẳng định, xây dựng và bảo vệ nền độc lập dân tộc Nhiệm vụ ấy chi phối mọi tầng lớp, mọi hoạt động xã hội Nhìn vào lịch

sử ta thấy có hai lĩnh vực được nhà nước phong kiến và nhân dân đặc biệt quan tâm và luôn có ý thức khẳng định tính độc lập, tự cường: Đó là chính trị

và văn hóa

Trước thế kỉ thứ X, trong hoàn cảnh mất nước, để khẳng định tính độc lập của văn hóa dân tộc, ý thức của nhân dân chủ yếu hướng vào việc giữ gìn, bảo vệ truyền thống để chống lại âm mưu đồng hóa của kẻ xâm lược Sự đóng cửa trong giao lưu văn hóa là việc làm tích cực và cần thiết Từ thế kỉ X, đất nước giành được quyền tự chủ, bên cạnh ý thức giữ gìn tinh hoa, bản sắc văn hóa dân tộc là ý thức học tập, tiếp thu những thành tựu nước ngoài làm giàu thêm truyền thống, để sáng tạo một nền văn hóa có thể sánh ngang bằng phương Bắc

Tiếp thu phương Bắc trở thành một động lực tinh thần to lớn, một sự

mở cửa có ý thức đầy đủ và sâu sắc hơn Hoàn cảnh lịch sử với những thuận

Trang 14

lợi cơ bản như trên là một tiền đề quan trọng cho sự hình thành của thơ Nôm Đường luật

Bên cạnh đó phải nói đến những thuận lợi về mặt xã hội Có ảnh hưởng trực tiếp đến sự ra đời của thơ Nôm Đường luật là sự hình thành tầng lớp trí thức Việt Nam ngày một đông đảo và ngày càng có vị trí quan trọng trong xã hội Điều đáng lưu ý là những trí thức phong kiến là những người sáng tạo ra văn học Việt Nam Do những đặc điểm riêng về mặt lịch sử, dưới thời phong kiến hầu như không có nhà văn học chuyên nghiệp nào sống bằng hoạt động văn học Họ sống bằng những hoạt động khác nhau như làm vua, làm quan, dạy học, bốc thuốc…nhưng hoạt động văn học vẫn chiếm một phần đáng kể trong công việc của họ Thơ Nôm Đường luật, một hiện tượng văn học đồng thời là một sản phẩm văn hóa chỉ có thể ra đời trong khi xã hội xuất hiện những nhà văn hóa đầy tâm huyết

2.2 Những tiền đề văn hóa, tư tưởng

Những tiền đề văn học có ảnh hưởng quan trọng đến sự ra đời của thơ Nôm Đường luật, đáng lưu ý là sự xuất hiện của chữ Nôm và việc đưa thơ Đường luật vào chế độ khoa cử

Chữ Nôm xuất hiện là một tiền đề vật chất quan trọng cho sự sáng tạo văn hóa nói chung và văn học nói riêng Không có chữ Nôm thì không có thơ Nôm Đường luật

Có thể cho rằng, do tính chất hàm súc, cô đọng của thơ Đường luật, do tiết kiệm và chọn lọc từ ngữ ở mức tối đa, do việc ít dùng hư từ nên thơ Đường luật rất phù hợp với chữ Nôm

Trong lĩnh vực văn hóa giáo dục, thơ Đường luật được nhà trường đặc biệt chú ý Ở Việt Nam, thơ Đường luật được đưa vào thi cử từ thế kỉ XIII Bắt đầu từ khoa thi Giáp Thìn (1304) đời Trần Anh Tông, niên hiệu Hưng Long

thứ 12, trong phép thi đã có thi thơ Đường luật “ trước hết chép thiên “Y

quốc” và truyện “Mạc thiên tử”, thứ hai thi kinh nghi, kinh nghĩa cùng bài thơ “Vương đô khoan mãnh” dùng cổ thể Bài thơ “Tài nan”, bài “Xạ bì”

….” [Dương Quảng Hàm 1993 80] Khi đã trở thành môn thi bắt buộc thì

việc làm thơ Đường luật không chỉ là sáng tác văn chương đơn thuần mà nó còn gắn liền với cơm áo và danh vọng Vì vậy, nó càng trở nên quan trọng Số người học làm thơ, biết làm thơ Đường luật ngày một nhiều hơn, trình độ ngày càng thuần thục hơn Việc đưa thơ Đường luật vào thi cử là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển mạnh mẽ của thơ chữ Hán và sau đó là sự ra đời của thơ Nôm Đường luật

Một đặc điểm đáng lưu ý của thơ Đường luật là sự gắn bó khăng khít của nó với tư tưởng Sự gắn bó này thể hiện ở nội dung và hình thức, trong tổng thể cũng như từng chi tiết Thơ Đường luật được xây dựng trên một quan điểm thống nhất về tư tưởng Công thức thơ Đường luật như nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra là sự thể hiện mô hình vũ trụ theo quan niệm người Trung Quốc thời Trung đại Mô hình này được tạo nên bởi những mối quan hệ Bao trùm là

Trang 15

mối quan hệ thống nhất giữa sự vĩnh hằng và sự thay đổi Con người là chủ thể, là đối tượng đồng thời là mục tiêu hướng tới của văn học Con người là tổng hòa của những quan hệ xã hội và thế giới khách quan Trên thực tế, thời

cổ trung đại, giữa Trung Quốc và Việt Nam có những nét tương đồng về tư tưởng nói chung và tư tưởng văn học nói riêng Sự tương đồng này có được hoặc do nguồn gốc bản địa hoặc do tiếp thu, kể cả do áp đặt từ phía ngoại bang

Tuy nhiên, nếu chỉ nói đến sự hòa nhập giữa ta và Trung Quốc thì chúng ta mới chỉ tiếp thu thơ Đường luật chứ chưa có sự sáng tạo Nếu có quá

ít phần sáng tạo thì thơ Nôm Đường luật – một thể thơ mô phỏng nước ngoài, làm sao có được địa vị như các thể loại khác của dân tộc như lục bát, song thất

lục bát – những thể thơ của dân tộc “Phần sáng tạo trong thơ Nôm Đường

luật suy tới cùng, chính là kết quả của sự trưởng thành của ý thức dân tộc Ngược lại, ý thức dân tộc trưởng thành là điều kiện quan trọng cho sự ra đời của thơ Nôm Đường luật.”[Lã Nhâm Thìn 1997 37]

III Khái quát quá trình phát triển của thơ Nôm Đường luật trong lịch sử văn học Việt Nam

Đối với tất cả những thể loại văn học, ta khó có thể nói một cách chính xác thời điểm ra đời và thời điểm kết thúc của nó Với thơ Nôm Đường luật, ta chỉ có thể xác định được nó trải qua ba giai đoạn: giai đoạn hình thành, giai đoạn phát triển và giai đoạn kết thúc

1 Giai đoạn hình thành

Thơ Nôm Đường luật có lẽ ra đời từ cuối thế kỉ XIII Sách Đại Việt sử

kí toàn thư có ghi: “Nhâm Ngọ (Thiên Bảo) năm thứ 4 (1282) mùa thu, tháng

8…Bấy giờ có cá sấu đến sông Lô Vua sai thượng thư bộ hình là Nguyễn Thuyên làm văn ném xuống sông Con cá sấu tự đi mất Vua cho là việc này giống như việc của Hàn Dũ, cho đổi tên là Hàn Thuyên Thuyên lại giỏi làm thơ phú quốc âm Nước ta thơ phú quốc âm dùng nhiều, thực bắt đầu từ đấy”

[Ngô Sĩ Liên 1867 48]

Một trong những văn bản chữ viết còn sót lại của thể thơ này là Quốc

âm thi tập của Nguyễn Trãi Tuy nhiên , Nguyễn Trãi với Quốc âm thi tập là

sáng tác Nôm Đường luật đầu tiên hiện còn chứ không phải là sáng tác đầu tiên bằng Đường luật Nôm Có thể giải thích điều này theo một lý do: Sự xuất

hiện tập Quốc âm thi tập với số lượng rất lớn như vậy thì không thể bắt đầu

từ con số không Chắc chắn đã có sự chuẩn bị, tạo tiền đề cho Quốc âm thi tập ra đời

2 Giai đoạn phát triển

Thơ Nôm Đường luật kéo dài bảy thế kỉ Bắt đầu tính từ Hàn Thuyên (thế kỉ XIII) và kết thúc đầu thế kỉ XX với đại biểu cuối cùng là Nguyễn Khuyến

Trang 16

Từ Nguyễn Trãi đến Hồ Xuân Hương là giai đoạn đi từ thử nghiệm đến

ổn định và đạt được thành tựu rực rỡ nhất Nhờ có giai đọan này mà ngay từ đầu, thơ Nôm Đường luật đã khẳng định đựợc vị trí của mình trong lịch sử văn học Việt Nam

Người đầu tiên có công “xây dựng một lối thơ Việt Nam” (Đặng Thai

Mai) chính là Nguyễn Trãi Với Quốc âm thi tập, lịch sử văn học Việt Nam

trên thực tế đã có thêm một thể loại mới: thơ Nôm Đường luật Bằng vốn hiểu biết và tài năng của mình, ông đã học tập những tinh hoa của Trung Quốc, xây dựng một lối thơ Việt Nam với những điểm khác biệt Đặc biệt Nguyễn Trãi

đã đưa vào thơ của mình những câu sáu chữ - những câu không phải của Đường thi, tạo nên một chấm phá mới lạ Bên cạnh đó việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ, ca dao, những hình tượng quen thuộc mang đậm tính dân tộc như hoa xoan, rau muống, cây mía, con mèo, con lợn, con trâu…đã làm cho thơ ông thêm gần gũi hơn Những cố gắng của ông trong việc dân tộc hóa cả hình thức

và nội dung giúp ông phản ánh một cách bao quát những vấn đề dân tộc

Với Quốc âm thi tập, trên thực tế, Nguyễn Trãi đã sáng tạo một thể

thơ mới, khẳng định sự hiện diện của thơ Nôm Đường luật với tư cách là một thể loại văn học

Hồng Đức quốc âm thi tập là bước phát triển tiếp theo của thơ Nôm Đường luật Hồng Đức quốc âm thi tập đã kế thừa và tìm tòi những con đường mới đã có từ Quốc âm thi tập Song Hồng Đức quốc âm thi tập phát

triển mạnh mẽ hơn ở nội dung phản ánh Điều này có thể hiểu là do tập thơ này của nhiều tác giả nên phạm vi phản ánh xã hội rộng rãi hơn

Về phương diện hình thức, Hồng Đức quốc âm thi tập vẫn tiếp tục lối phá cách của Quốc âm thi tập và có phần mạnh mẽ hơn Tỷ lệ câu sáu chữ không kém gì Quốc âm thi tập Đặc biệt có bài hoàn toàn lục ngôn Điều đáng lưu ý ở đây là các tác giả Hồng Đức quốc âm thi tập hầu hết là những

thành viên của hội Tao Đàn – những người rất am hiểu luật Đường thi Nhưng khi sáng tác thơ Nôm Đường luật vẫn có xu hướng phá cách Điều này chứng

tỏ rằng việc sáng tác thơ Nôm Đường luật đã trở thành một quy luật Bên cạnh

đó, sự tìm tòi, phát triển về nội dung và hình thức trong Hồng Đức quốc âm thi tập còn thể hiện ở việc tìm những chức năng mới cho thể loại thơ Đó là

hiện tượng dùng thơ Đường luật làm phương tiện trào phúng Mặc dù hiện tượng này chưa thật tiêu biểu, nhưng cũng có thể nói, đây chính là tiền đề cho các tác giả giai đoạn sau kế thừa

Nếu so với Quốc âm thi tập và Hồng Đức quốc âm thi tập thì quy

mô và số lượng của Bạch Vân quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm không bằng Nhưng Bạch Vân quốc ngữ thi tập đã nâng tầm khái quát nghệ

thuật của thơ Nôm Đường luật lên một bước Nổi bật trong tập thơ này là những đề tài, chủ đề mang tính chất xã hội Do đó Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tiếp cận cuộc sống vừa cụ thể, sinh động vừa có tầm khái quát rộng lớn hơn

Trang 17

Xu hướng phá cách trong sáng tác thơ Nôm Đường luật vẫn được Nguyễn Bỉnh Khiêm khai thác Tuy nhiên, số lượng câu sáu chữ đã giảm đi

nhiều so với Quốc âm thi tập và Hồng Đức quốc âm thi tập Điều này phản

ánh quy luật phát triển của thơ Nôm Đường luật: Hiện tượng không theo quy cách thơ Đường giảm dần và quá trình phát triển của thơ Nôm Đường luật đã

Sau gần hai thế kỉ phát triển với nhịp điệu bình thường, không có những thành tựu nổi bật, bước vào cuối thế kỉ XVIII nửa đầu thế kỉ XIX, thơ Nôm Đường luật lấy lại vị trí vốn có của mình bằng sự xuất hiện của “Bà chúa thơ Nôm” – Hồ Xuân Hương

Với Hồ Xuân Hương, thơ Nôm Đường luật vẫn tiếp tục xu hướng dân tộc hóa đồng thời chuyển nhanh sang con đường dân chủ hóa cả nội dung và hình thức Đến Hồ Xuân Hương, thơ Nôm Đường luật đã thực hiện một cuộc cách tân đầy ý nghĩa Cuộc sống đời thường, nguyên sơ, chất phác, dân dã đã trở thành đối tượng thẩm mĩ của thơ bà Cái trần tục, vốn xa lạ với phong cách trang trọng, cao quý của thơ Đường luật bỗng trở nên phù hợp với phong cách trữ tình trào phúng của Hồ Xuân Hương

Nếu Nguyễn Trãi là người đầu tiên thể hiện mạnh mẽ cái tinh thần phá cách thì Hồ Xuân Hương lại là người đầu tiên thể hiện ý muốn trở về hình thức kết cấu vốn có của Đường luật Sau Hồ Xuân Hương, câu lục ngôn không còn là một trong những cơ sở để nhận diện thơ Nôm Đường luật Điều này có thể giải thích rằng: Đến Hồ Xuân Hương, thơ Nôm Đường luật đã đi vào thế

ổn định về cấu trúc Xuân Hương đã đưa một nội dung “bất quy phạm” vào một hình thức “quy phạm” để tạo sức công phá mạnh mẽ cho thơ của mình

Bên cạnh đó phải nói tới Bà huyện Thanh Quan – một gương mặt “hoài cổ” Tuy chỉ có hơn mười bài, song bà có địa vị khá vững chắc trong lịch sử văn học Việt Nam nhờ bà có một tâm hồn dân tộc được biểu hiện trong một hình thức Đường thi nhưng lại không bị rơi vào công thức sáo mòn

Đến hai nữ sĩ này, ta thấy dòng thơ Nôm Đường luật đã xuất hiện phong cách tác giả Nếu trước đó, ta chỉ thấy phong cách thời đại và phong cách thể loại thì với Hồ Xuân Hương và Bà huyện Thanh Quan đã có một phong cách riêng mặc dù số lượng tác phẩm của họ không nhiều

Trang 18

3 Giai đoạn cuối

Nguyễn Khuyến và Tú Xương là hai tác giả tiêu biểu đã chuyển thơ Nôm Đường luật từ văn học trung đại sang văn học cận – hiện đại Ở hai ông, tầm khái quát của thơ Nôm Đường luật đã được mở rộng và nâng cao hơn Cuộc sống đã được các tác giả phản ánh với những chi tiết hiện thực sinh động, phong phú

Tuy nhiên, hoàn cảnh lịch sử đã chấm dứt sinh mệnh lịch sử của một thể loại ở thời kì vẫn đang còn nhiều thành tựu Ngày Tú Xương trăn trở về

việc “vứt bút lông đi giắt bút chì” cũng là lúc báo hiệu thời kì suy sụp của thơ

Nôm Đường luật Lúc này, chữ Nôm đã mất hẳn vai trò trong cuộc sống và trong văn học Thay vào đó là hệ thống chữ Quốc ngữ Như vậy, ngoài giai

đoạn hình thành chúng ta chưa biết rõ, “diện mạo thơ Nôm Đường luật là diện

mạo không có tuổi già” [Lã Nhâm Thìn 1997 39]

Suốt bảy thế kỉ, thơ Nôm Đường luật tồn tại với tư cách là một thể loại của văn học dân tộc Nó đứng cùng các thể loại lục bát, song thất lục bát – như những thể loại đặc trưng nhất, độc đáo nhất của dân tộc

IV Thể thơ thất ngôn xen lục ngôn

Trong “Việt Nam văn học sử yếu”, ông Dương Quảng Hàm gọi thể thơ

này là loại lục ngôn thể Ông định nghĩa “thơ lục ngôn là thể thơ có các câu

lục ngôn xen với các câu thất ngôn” [Dương Quảng Hàm 1993 136] Thực tế,

trong Quốc âm thi tập là loại thơ câu sáu chữ xen lẫn câu bảy chữ chứ không hoàn toàn có những bài lục ngôn thể đúng nghĩa như trong Hồng Đức quốc

âm thi tập

Trong “Thơ ca Việt Nam hình thức và thể loại”, Bùi Văn Nguyên và

Hà Minh Đức cho rằng đó là “một trong các thể đặc biệt của thơ Đường luật”

[Bùi Văn Nguyên 2000 307] Điều này được lí giải bởi hệ thống tương đồng

về thi pháp như sau : Tương đồng về số câu trong một bài (8 câu đối với bài bát cú, 4 câu với bài tứ tuyệt), tương đồng về số vần và lối hiệp vần (bài 8 câu

5 vần, bài 4 câu 3 vần, chữ cuối của các câu thứ nhất, hai, bốn, sáu, tám hiệp vần với nhau), tương đồng về lối đối ngẫu (bài 8 câu thì câu 3 và 4, câu 5 và 6 đối nhau) Bên cạnh đó, các tác giả còn cho rằng, chữ thứ 3 của câu 6 sẽ làm nhiệm vụ của chữ thứ 4 trong câu để niêm với chữ thứ 4 của câu 7, và chữ thứ

5 trong câu 6 phải làm nhiệm vụ của chữ thứ 6 để niêm với chữ thứ 6 trong câu 7 Nhưng nếu xét theo thơ Đường luật, khi đã có câu 6 chữ xen với câu 7 chữ trong cùng một bài tất yếu sẽ dẫn đến hiện tượng thất niêm hoặc thất luật

Ông Phạm Luận đưa ra giả thiết “thể 6-7 là một thể đặc biệt của lối thơ

cổ phong mà người Trung Quốc gọi là thể tạp ngôn” [Nguyễn Hữu Sơn 2003

853] Nhưng sau đó, Phạm Luận lại bác bỏ ý kiến này vì ông cho rằng “Giữa

thể 6 -7 trong Quốc âm thi tập với thể tạp ngôn của Trung Quốc có những điểm khác nhau rất cơ bản về số câu và số chữ trong mỗi câu [Nguyễn Hữu

Sơn 2003 854]

Trang 19

Như vậy, khi nói thể 6-7 là do bắt chước của Tàu hoặc khẳng định nó là một thể đặc biệt của các thể thơ Trung Quốc, cổ phong hay luật Đường là điều thiếu căn cứ

Theo Từ điển văn học Việt Nam bộ mới: “Thất ngôn xen lục

ngôn là một thể thơ độc đáo của văn học trung đại Việt Nam, đan xen những câu lục ngôn trong bài thất ngôn bát cú hay thất ngôn tứ tuyệt” [Đỗ Đức Hiểu

2004 1654]

Vị trí của câu lục thường khá đa dạng Có khi ở đầu bài, có khi ở cuối bài hoặc giữa bài Cũng có khi kết hợp thành từng cặp liên kết nối tiếp hoặc ngắt quãng Số câu lục có thể biến đổi từ 1 đến 8 trong tổng số 8 câu thất ngôn bát cú Sự đan xen câu lục ngôn mặc dù đã làm biến động ở những mức độ nhất định về mặt niêm luật nhung nhìn chung vẫn có xu hướng tuân thủ tính chất quy phạm của một bài thơ Đường luật

- Về vần: đảm bảo yêu cầu độc vận và cước vận

- Về luật: hầu hết đều tuân thủ nguyên tắc nhị tứ lục phân minh, hình thành sự liên kết bằng trắc của các tiếng 2, 4, 6

- Về đối: sử dụng tiểu đối ở các câu lẻ, liên đối ở các câu thực, luận Tuy nhiên điểm mạnh của thể thơ này so với thơ Đường luật là ở khả năng ngắt nhịp đa dạng Câu lục ngôn có các lối ngắt nhịp: 2/2, 2 /4, 2/1/3, 4/2, 1/2/3, 1/2 /1/2, 3/1/2 Từ đó kéo theo sự biến động về tiết tấu của những câu thất ngôn tương ứng, làm cho bài thơ khắc phục kiểu tiết tấu đơn nhất 4/3 của thơ Đường

Lối thơ này xuất hiện từ thời Trần, có thấy trong một vài sáng tác bằng

chữ Hán như bài Vĩnh Giang nguyệt phiếm (Chơi thuyền trên sông Vĩnh Giang) của Nguyễn Trung Ngạn trong Giới hiên thi tập:

“ Thương xuý cao phàm thượng hạ

Lạo sơ lạc thuỷ tung hoành”

(Mua bán xong thuyền buôn giương buồm nhấp nhô cao thấp

Lụt mới về nên nước chảy khắp nơi) Nhưng thể thơ này chủ yếu được sáng tác bằng chữ Nôm Bài thơ thất ngôn xen lục ngôn sớm nhất còn sót lại là bài thơ của nàng Điểm Bích – cung phi dưới triều Trần Anh Tông (1293- 1330) chép trong “Lĩnh Nam chích quái”, nói về tâm trạng của những kẻ vướng vào đường tình ái với khát vọng

sôi nổi, tha thiết:

Vằng vặc trăng mai ánh nước Hiu hiu gió trúc ngâm sênh

Người hòa tươi tốt, cảnh hòa lạ

Trang 20

Mâu thích ca nào thuở hữu tình

Kể từ đó, thơ Nôm thất ngôn xen lục ngôn trở thành một “hiện tượng bất bình thường” của văn học Việt Nam Nó gắn liền với tên tuổi nổi tiếng như

Nguyễn Trãi với Quốc âm thi tập, Lê Thánh Tông và hội Tao Đàn với Hồng Đức quốc âm thi tập, Nguyễn Bỉnh Khiêm với Bạch Vân quốc ngữ thi tập…

Điều quan trọng là ở chỗ, thể thơ này lần đầu tiên đem đến những cách tân hết sức to lớn cả về nội dung tư tưởng lẫn hình thức nghệ thuật Nó ít nhiều làm thay đổi diện mạo văn học đương thời, thể hiện một khả năng vô cùng phong phú và dồi dào của thơ ca Tiếng Việt trong việc diễn tả những cung bậc hết sức khác nhau của đời sống tâm hồn con người trước những biến động của cuộc sống

Như vậy, ta có thể khẳng định, thể thơ trong Quốc âm thi tập là một

thể thơ do Nguyễn Trãi sáng tạo ra trên nền văn học dân tộc “Thành tựu lớn

nhất của Nguyễn Trãi không phải ở chỗ đồng hóa kho từ vựng và văn liệu Hán học mà là ở chỗ xây dựng ngôn ngữ văn học dân tộc trên cơ sở ngôn ngữ của nhân dân và ngôn ngữ của văn học dân gian” [Lã Nhâm Thìn 1997 404]

Chúng tôi xin mạnh dạn đưa ra khái niệm về thể thơ thất ngôn xen lục ngôn như sau: Thể thơ thất ngôn xen lục ngôn là một thể thơ dùng xen lẫn những câu thơ lục ngôn với những câu thất ngôn trong cùng một bài thơ

Chương II THỂ THƠ THẤT NGÔN XEN LỤC NGÔN

TRONG QUỐC ÂM THI TẬP

I Nguyễn Trãi – thân thế và sự nghiệp

1 Thân thế

Nguyễn Trãi sinh 1380, hiệu Ức Trai Cha là Nguyễn Ứng Long, sau đổi thành Nguyễn Phi Khanh tên hiệu là Nhị Khê, vốn gốc ở làng Chí Ngại, huyện Phượng Nhỡn (nay thuộc huyện Chí Linh, Hải Dương) Mẹ là Trần Thị Thái, con gái tư đồ Trần Nguyên Đán

Thời đại và gia đình là hai môi trường thuận lợi cho sự hình thành và phát triển nhân cách, tài năng của Nguyễn Trãi

Nét chủ yếu của thời đại Nguyễn Trãi là sự khẳng định độc lập dân tộc

và khẳng định chế độ phong kiến Độc lập dân tộc được khẳng định qua những khó khăn thử thách đặt ra cho đất nước Nhân dân Đại Việt sau bốn thế kỉ độc lập tự chủ, năm 1407 lại rơi vào thảm họa mất nước Sự xâm lăng của giặc Minh – kẻ xâm lược tàn bạo nhất lịch sử trung đại Việt Nam, không làm thuyên giảm ý thức về dân tộc mà nó càng mạnh mẽ hơn bao giờ hết Truyền thống yêu nước được phát huy với sức mạnh chưa từng thấy mà đỉnh cao là khởi nghĩa Lam Sơn – cuộc khởi nghĩa gian khổ nhất mà cũng thắng lợi huy

Trang 21

hoàng nhất trong lịch sử trung đại Thắng lợi này đã mở ra kỉ nguyên mới cho đất nước kỉ nguyên độc lập dân tộc Trong không khí hào hùng của lịch sử, các

nhân tài đua nhau góp “sức hèn tài mọn” để cứu đời giúp nước Một môi

trường như vậy là điều kiện thuận lợi để Nguyễn Trãi bộc lộ tài năng và nhân cách của ông

Truyền thống gia đình cũng là cái nôi nuôi dưỡng tài năng và nhân cách của Nguyễn Trãi Ông sinh ra trong một gia đình bên nội cũng như bên ngoại đều có truyền thống yêu nước và trân trọng giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Dòng họ nội từ cụ tổ Nguyễn Bặc đến đời thứ mười một là thân phụ Nguyễn Phi Khanh đều có những người xả thân vì đại nghĩa Dòng họ ngoại từ cụ tổ Trần Quang Khải đến ông ngoại là Trần Nguyên Đán đã từng có những đóng góp to lớn cho nền độc lập đất nước Lòng yêu nước, thương dân sâu sắc từ

ông ngoại đến cha đã là “tấm gương báu” soi suốt cuộc đời Nguyễn Trãi

Dòng họ Nguyễn Trãi là dòng họ có nhiều công lao đối với sự phát triển truyền thống văn hóa dân tộc Về bên nội, Nguyễn Thuyên là một trong những người đầu tiên có công dùng chữ Nôm trong việc sáng tác thơ phú Nguyễn Phi Khanh là nhà thơ lớn dưới triều Trần Bên ngoại có Trần Quang Khải không chỉ là một tướng anh hùng mà còn là một thi sĩ tài hoa Trần Nguyên Đán không chỉ là một vị quan tư đồ uyên thâm mà còn là một nhà thơ nổi tiếng

Nguyễn Trãi hội đủ điều kiện để có thể dấn thân gánh vác những trọng trách lớn lao và góp phần giải quyết những thử thách đang đặt ra trước mắt của dân tộc

2 Cuộc đời

Cuộc đời Nguyễn Trãi gắn liền với giai đoạn lịch sử sôi động cùng với những biến cố có tầm vóc lớn lao của dân tộc Cuộc đời ông có thể chia làm các giai đoạn:

Nguyễn Trãi trước khởi nghĩa Lam Sơn (1380 - 1418)

Đây là giai đoạn “nợ nước thù nhà” đã hun đúc lòng yêu nước và ý chí

của người anh hùng

Thuở nhỏ, Nguyễn Trãi được nuôi dạy trong hoàn cảnh gia đình có nhiều thuận lợi về vật chất và môi trường giáo dục Ông ngoại là quan tư đồ Phụ thân là nho sinh nổi tiếng hay chữ, từng dạy học trong dinh quan tư đồ, được Trần Nguyên Đán yêu mến gả con gái cho Tuy nhiên, tuổi thơ ông cũng phải chịu nhiều mất mát đau thương Năm sáu tuổi, mẹ ông qua đời Sau đó là tang ông ngoại khi ông vừa tròn mười tuổi Chính những vui buồn của thời niên thiếu đã ảnh hưởng sâu sắc đến tâm hồn Ức Trai, đặc biệt là những ảnh hưởng tốt đẹp từ truyền thống gia đình

Tuổi thành niên, Nguyễn Trãi chứng kiến nhiều thay đổi của triều đình phong kiến Lúc này, ông buộc phải lựa chọn con đường đi riêng cho mình để vượt qua những khó khăn thử thách

Trang 22

Thử thách đầu tiên là việc Hồ Quý Li cướp ngôi nhà Trần năm 1400, và cũng chính lúc này, ông thi đỗ Thái học sinh Cũng năm ấy, ông cùng cha ra nhận chức quan dưới triều nhà Hồ Nguyễn Phi Khanh giữ chức Viện hàn lâm kiêm tư nghiệp ở Quốc Tử Giám còn Nguyễn Trãi được bổ dụng chức Ngự sử đài chánh chưởng ở Tây Đô (kinh đô mới ở Thanh Hóa) Ông theo nhà Hồ chứ không theo nhà Trần bởi bản thân ông chỉ có một tâm nguyện muốn đem tài năng của mình ra giúp đời, giúp nước Mặt khác, nó thể hiện cái nhìn tiến bộ của ông

Thử thách thứ hai là khi giặc Minh xâm lược, Nguyễn Trãi trên con đường cứu nước đã không tham gia vào các cuộc khởi nghĩa của con cháu nhà Trần mà tìm đến cuộc khởi nghĩa Lam Sơn Trong khoảng mười năm (1407 -1417) sau khi nhà Hồ thất bại, Nguyễn Trãi sống cùng những cảnh đau thương của cả dân tộc cũng như nỗi đau riêng của gia đình Đất nước bị tàn phá dưới gót giày của bọn xâm lược, cha bị giải sang Trung Quốc Ông luôn khắc sâu

lời dặn của cha “con trở về lập chí, rửa thẹn cho nước, trả thù cho cha, như

thế mới là đại hiếu” Mười năm phiêu bạt, lúc bị bắt, lúc phải lẩn tránh ông

luôn canh cánh trong lòng lời dặn của cha Hiểu rõ tư tưởng của Lê Lợi, ông

đã tham gia vào cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, dùng hết tài năng của một nhà chiến lược, một anh hùng dân tộc cùng nghĩa quân đánh đuổi lũ giặc hung tàn Với cái nhìn sáng suốt, đến với khởi nghĩa Lam Sơn, ông đã sống những ngày đầy ý nghĩa và đẹp đẽ nhất trong cuộc đời

Nguyễn Trãi trong khởi nghĩa Lam Sơn (1418 – 1428)

Đây là mười năm gian khổ nhưng cũng là mười năm hạnh phúc nhất của Nguyễn Trãi Mười năm tài năng của ông được phát huy ở mức cao nhất

để phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân Có thể coi, đây là giai đoạn nhà thơ - chiến sĩ trong cuộc đời Nguyễn Trãi

Thời kì đầu của khởi nghĩa Lam Sơn, Nguyễn Trãi dâng lên Lê Lợi

“Bình Ngô sách” với kế hoạch “mưu phạt tâm công”, được Lê Lợi chấp nhận

và tiến hành thắng lợi

Giai đoạn tiếp theo, Nguyễn Trãi được giao nhiệm vụ quan trọng bên chủ tướng, giúp Lê Lợi soạn thảo các văn kiện chính trị, ngoại giao Thời gian này, Nguyễn Trãi không quản gian khổ, hi sinh, góp phần to lớn cùng nghĩa quân làm nên nhiều thắng lợi Đây cũng là thời kì hồn thơ Ức Trai mở rộng, bay bổng tuyệt vời với tâm hồn của người chiến sĩ:

Thừa chỉ ai rằng thời khó ngặt Túi thơ chứa hết mọi giang san

Chiến tranh sắp kết thúc, Nguyễn Trãi được bổ nhiệm chức Nhập nội hành khiển, phụ trách thượng thư bộ lại kiêm khu mật viện sự Ông kiên trì, bền bỉ, kiên quyết và khôn khéo viết thư luận chiến với Vương Thông thuyết phục bọn chúng rút quân về nước chấm dứt chiến tranh

Trang 23

Cuối năm1427 đầu 1428, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng Lê Lợi giao cho Nguyễn Trãi viết “Bình Ngô đại cáo” Bản tuyên ngôn này được công bố ngày 17 tháng chạp năm Đinh Mùi (đầu năm 1428)

Nguyễn Trãi sau khởi nghĩa Lam Sơn (1428 -1442)

Sau những năm tháng đẹp đẽ, mang túi thơ đi khắp giang san là những năm tháng đầy đau buồn cũng không kém phần ý nghĩa đối với Nguyễn Trãi

Đây là giai đoạn “tùng bách kiên trinh” và “ tiếng thơ kêu xé lòng” trong cuộc

đời nhà thơ

Khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi, Lê Lợi – lúc này là Lê Thái Tổ đã nghe những lời sàm tấu của bọn nịnh thần sát hại những công thần như Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo Bản thân Nguyễn Trãi cũng bị nghi kị và bỏ tù tương truyền khoảng năm 1430 Mặc dù ngay sau đó ông được tha Nhưng từ đây, lí tưởng, tài năng của ông không được xã hội phong kiến chấp nhận

Cuối năm 1437, do bất đồng ý kiến giữa các đại thần và đau lòng trước những cảnh trái tai gai mắt, Nguyễn Trãi xin về ở ẩn tại Côn Sơn Khi Lê Thái Tông lớn lên, hiểu việc nước, việc đời, đã vời Nguyễn Trãi ra gánh vác công việc quốc gia với những chức tước quan trọng Ông mừng đến chảy nước mắt Mừng không chỉ cho bản thân mà mừng cho nước, cho dân Ông cùng bạn bè một chí hướng mở lớp giảng sách, chủ trì khoa thi và trù tính nhiều việc ích nước lợi nhà

Rủi thay cho đất nước, Lê Thái Tông đi duyệt binh ở Chí Linh về ghé thăm Nguyễn Trãi ở Côn Sơn, lệnh cho Nguyễn Thị Lộ - một người thiếp của Nguyễn Trãi, hộ giá vua về Thăng Long Khi đi qua Trại Vải (Lệ Chi Viên) thì

bị cảm đột ngột rồi chết Bọn gian thần sẵn ghét vợ chồng ông, bèn vu cho ông tội giết vua và khép vào tội tru di tam tộc Đó là ngày 16 – 8 – 1442 Năm ấy ông vừa tròn sáu mươi ba tuổi Ông chết mà không thực hiện được trọn vẹn lí tưởng và tài năng của mình

Nguyễn Trãi suốt một đời đấu tranh cho độc lập của đất nước, hạnh phúc của nhân dân cuối cùng lại phải chịu rơi đầu dưới lưỡi dao của chính triều đình mà ông từng đem tâm huyết, sức lực để vun đắp, xây dựng

Hơn hai mươi năm sau (1464), Lê Thánh Tông xuống chiếu giải oan cho Nguyễn Trãi, truy tặng tước bá trù tán, bổ dụng Anh Vũ (con trai với người vợ lẽ Phạm Thị Mẫn trốn thoát sau vụ thảm hoạ) ra làm quan và cho người sưu tập lại thơ văn của ông

Về cái chết của Nguyễn Trãi, Phạm Văn Đồng bình luận: “Đối với

triều đình nhà Lê lúc bấy giờ, sau khi “bốn biển đã yên lặng”, Nguyễn Trãi nhân nghĩa quá, trung thực quá, thanh liêm quá! Nguồn gốc sâu xa của thảm

án vô cùng đau thương của Nguyễn Trãi bị tru di ba họ là ở đó” [Trần Tùng Chinh 2003 47]

Trang 24

3 Sự nghiệp

Sau khi mẹ mất, Nguyễn Trãi về Nhị Khê ở với cha Cha ông thường

khen: “Lục tuế nhi đồng phả ái thư” (con thơ sáu tuổi đà ham sách) Như vậy,

ngay từ nhỏ, Nguyễn Trãi là người ham sách vở Sự nghiệp sáng tác của ông gắn liền với các hoạt động chính trị Mỗi tác phẩm ra đời, đánh dấu một chặng đường lịch sử của đất nước và cả những biến động trong cuộc sống của ông

Sau thảm họa tru di, tác phẩm của Nguyễn Trãi bị thất lạc hoặc bị thiêu huỷ Song vẫn có nhiều người vì quý mến tài đức của ông mà cất giấu Nhờ đó

mà Trần Khắc Kiệm khi được Lê Thánh Tông giao cho việc sưu tập lại thơ văn của Nguyễn Trãi đã có điều kiện tập hợp các tác phẩm còn lại của ông Nhưng rồi, bộ sưu tập của Trần Khắc Kiệm cũng bị thất lạc Mãi đến thế kỉ XIX, Dương Bá Cung mới sưu tập lại và cho khắc in vào năm 1868, dưới tên

Ức Trai di tập, bao gồm 7 quyển

Những tác phẩm của Nguyễn Trãi còn giữ lại tuy chưa phải là tất cả sự nghiệp văn chương của ông, nhưng có phần chắc chắn đó là những tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Trãi

Quân trung từ mệnh tập khoảng 70 bài Đây là những bức thư gửi

cho tướng giặc và những tờ giấy giao thiệp với triều đình nhà Minh nhằm thực

hiện kế “mưu phạt tâm công” Ở đây cũng có một số bài chiếu viết theo lệnh

Lê Thái Tổ để răn dạy thái tử và các quan lại hãy lấy việc chăm lo cho nước cho dân là đạo đức cao nhất

Năm 1428, cuộc khởi nghĩa chống quân Minh thắng lợi, Nguyễn Trãi

thay Lê Lợi viết Bình Ngô đại cáo nổi tiếng Bình Ngô đại cáo là lời tuyên bố

trước nhân dân về chính nghĩa quốc gia, dân tộc, về quá trình chiến đấu gian khổ để đi đến chiến thắng cuối cùng giành lại hòa bình cho đất nước

Lam Sơn thực lục do Nguyễn Trãi viết về Lê Lợi do Lam Sơn động

chủ đề tựa năm 1432 Có thể nói, đây là một tập lịch sử kí sự về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và cuộc trường kì kháng chiến chống quân Minh Những sự kiện lịch sử mà tác giả chứng kiến được trình bày một cách hệ thống với lối văn súc tích, ngắn gọn mà chứa chan tình cảm chân thành

Chí Linh sơn phú và Vĩnh Lăng bi kí đã nêu bật công trạng của Lê

Lợi trong sự nghiệp cứu nước từ những ngày đầu gian khổ ở núi Chí Linh Đồng thời, tác phẩm còn là lời nhắc nhở mọi người lúc hưởng thụ thái bình thì đừng quên lúc chiến đấu gian khổ

Năm 1434, theo yêu cầu của Lê Thái Tông, Nguyễn Trãi làm sách Dư địa chí Sách chỉ viết trong vòng mười ngày mà nói rất cụ thể, tỉ mỉ từng địa

phương, sông núi, sản vật đến con người như thể Nguyễn Trãi đã từng sinh sống ở đó

Tình hình triều chính phức tạp đã ảnh hưởng trực tiếp đến công việc của ông Biết rằng ở lại triều đình cũng chỉ chuốc vạ vào thân, ông bèn xin cáo

quan về ở ẩn tại Côn Sơn Nơi đây, ông đã cho ra đời tác phẩm Côn Sơn ca nổi tiếng cùng phần lớn các tác phẩm trong Quốc âm thi tập

Trang 25

Biểu tạ ơn chính là bài văn Nguyễn Trãi dâng lên Lê Thái Tông khi

nhà vua vời ông ra làm việc trở lại năm 1439 Tác phẩm nói lên nỗi vui mừng được phục vụ nhà vua, phục vụ đất nước

Tập Ức Trai thi tập là tập thơ chữ Hán duy nhất của Nguyễn Trãi

Ngoài ra, Nguyễn Trãi còn thay vua viết nhiều chiếu, chế ban bố cho

thần dân Những chiếu, chế này sau được gọi tên chung là Ngọc Đường di cảo hay Ngọc Đường di phạm Đến nay, Ngọc Đường di cảo cũng không còn trọn vẹn, chỉ còn một số bài trong phần văn của bộ Ức Trai di tập

II Khái quát về tập thơ Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi

1 Cấu trúc

“Quốc âm thi tập là tập thơ Nôm xưa nhất, dài nhất vào bậc hay nhất,

cũng là tiêu biểu nhất cho bước khai sáng thời đại thơ Tiếng Việt và cho đại

nghiệp văn chương của Ức Trai” [Bùi Duy Tân 2001 214 ] Quốc âm thi tập

không rõ nguyên bản gồm bao nhiêu bài nhưng trải qua nhiều biến động lịch

sử, nhất là sau thảm án tru di tam tộc xảy ra với gia đình Nguyễn Trãi năm

1442 Cũng như nhiều tác phẩm khác, số lượng các bài thơ trong tập thơ này

có lẽ cũng bị rơi rụng nhiều

Quốc âm thi tập hiện có hai loại văn bản: một loại gồm 254 bài thơ ở

Viện nghiên cứu Hán Nôm, một loại gồm 70 bài ở thư viện Viện sử học Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng loại văn bản thứ nhất Văn bản này do các ông Trần Văn Giáp và Phạm Trọng Điềm phiên âm và chú giải – nhà xuất bản Văn sử địa -1956 Trần Văn Giáp và Phạm Trọng Điềm đã căn cứ vào công trình sưu tập toàn bộ thi văn của Nguyễn Trãi do các nhà nho Dương Bá Cung, Nguyễn Định, Ngô Thế Vinh làm về đời Tự Đức và ấn hành năm 1868

dưới nhan đề Ức Trai di tập Toàn bộ có 7 quyển Quốc âm thi tập chép vào

quyển thứ 7 gồm 254 bài, chia ra làm 4 phần

ƒ Phần Vô đề: gồm 192 bài (từ bài 1 đến bài 192) là những bài thơ viết không có tựa đề riêng nhưng sắp xếp thành 14 tiểu mục Đây là những bài tác giả giãi bày tâm trạng

ƒ Phần Môn thì lệnh : gồm 21 bài (từ bài 193 đến bài 213) viết về

đề tài thời tiết, khí hậu, cảnh sắc bốn mùa trong 9 tiểu mục

ƒ Phần Môn hoa mộc: 34 bài trong 23 tiểu mục (từ bài 214 đến bài 247) viết về đề tài các loại cây cỏ, thảo mộc

ƒ Phần Môn cầm thú: 7 tiểu mục có 7 bài (từ bài 248 đến bài 254)

đề tài về các loại thú vật

Trong mỗi phần lại có nhiều đề mục, tất cả có 53 đề mục Một đề mục

có thể chỉ gồm một bài thơ, nhưng có đề mục lại gồm một chùm thơ Ví dụ như đề mục Ngôn chí có 21 bài, đề mục Mạn thuật có 14 bài Những chùm thơ như vậy được sáng tác theo một mạch, rất có thể là trong cùng một giọng

Và trong từng chùm thơ, số bài nhiều hoặc ít có lẽ tuỳ thuộc vào nguồn cảm

Trang 26

hứng của tác giả về mỗi loại vấn đề Trong các chùm thơ Nôm thì Bảo kính cảnh giới là lớn hơn cả: 61 bài; Tự thán lớn thứ hai: 41 bài Ngoài những bài không có đầu đề, cũng có một số bài có đầu đề riêng và những cụm bài cùng chung một đầu đề như Thuật hứng, Tự thán, Bảo kính cảnh giới, Tùng, Cúc…Qua đó, có thể thấy trong thơ Nôm, Nguyễn Trãi chỉ muốn để lại trong

thơ Nôm một “tấm gương báu” để “tự răn mình”, biết tu dưỡng, giữ vững

phẩm chất không bị ngả theo những thói xấu của thế gian và dè chừng những

sự hiểm độc

Những bài thơ này không ghi chép về thời điểm sáng tác, song nếu căn

cứ vào nội dung từng bài, ta có thể đoán định rằng đa số các bài thơ trong

Quốc âm thi tập được làm trong thời kì Nguyễn Trãi về ở ẩn tại Côn Sơn

Căn cứ vào hình thức tổ chức chất liệu ngôn ngữ, ta thấy Nguyễn Trãi làm thơ Nôm theo ba thể:

ƒ Thể luật Đường: 42 bài (29 bài thất ngôn bát cú, 13 bài thất ngôn

tứ tuyệt)

ƒ Thể thất ngôn trong đó kiểu tiết tấu đường luật 4-3 dùng xen tiết tấu 3- 4 gồm 26 bài (loại thất ngôn bát cú 18 bài, loại tứ tuyệt 8 bài)

ƒ Thể thất ngôn xen lục ngôn :186 bài (loại thất ngôn bát cú 161 bài, loại tứ tuyệt 25 bài)

2 Nội dung tập thơ Quốc âm thi tập

Nguyễn Trãi không những là nhân chứng cho những biến động bão táp của lịch sử thế kỉ XV mà còn là người trực tiếp tham gia vào chính những biến động đó Ngay cả cuộc đời ông cũng là một cuộc đời đầy những bão táp, thăng trầm Vì vậy, thơ ông thể hiện rõ một vốn sống đã ở độ chín, một suy nghĩ sâu sắc về cuộc đời phức tạp, một tình cảm nhân hậu với thiên nhiên, con người Qua thơ Nguyễn Trãi, ta hiểu thêm rất nhiều điều về ông với những khát vọng lớn lao và những tâm trạng u uất về thời thế

Nếu như thơ văn chữ Hán của Nguyễn Trãi nghiêng hẳn về chính trị

với những lập luận đanh thép “có sức mạnh như 10 quân” của một người yêu

nước sâu sắc, mạnh mẽ, tha thiết, với tâm hồn và khí phách của thời đại thì thơ Quốc âm của ông lại nhẹ nhàng, sâu lắng, phản ánh một cách cụ thể và sinh động những tâm sự, tình cảm, khí tiết của ông với thế sự giang sơn, đất nước

2.1 Lòng yêu thiên nhiên

Đối với Nguyễn Trãi, thiên nhiên chính là nơi xuất phát của những tình cảm cao đẹp Thơ ông, thiên nhiên chiếm cái phần phong phú nhất và cũng là thành công nhất Với một tấm lòng yêu quê hương sâu sắc, ông gửi tất cả tình cảm của mình vào việc miêu tả những bức tranh thiên nhiên cùng với sự thay đổi tinh tế của nó Rất nhiều bài vịnh cảnh, vịnh hoa hiện lên với một vẻ đẹp riêng, yêu kiều mà giản dị của quê hương Việt Nam:

Trang 27

Nước biếc non xanh thuyền gối bãi Đêm thanh, nguyệt bạc khách lên lầu

(Bảo kính cảnh giới 26) Với một tâm hồn đa cảm, dễ xúc động, thi nhân đã yêu thương ánh trăng, cành hoa, tiếng chim, dòng sông…thật sâu lắng Nguyễn Trãi coi những vật vô tri ấy dường như có linh hồn, biết hòa điệu với trái tim thi nhân Ông thực sự coi thiên nhiên là bạn hữu, là nguồn vui trong đời:

2.2 Tấm lòng ưu dân, ái quốc sâu nặng

Trong thơ Quốc âm, ta thường bắt gặp những từ “tiên ưu”, “ưu ái”…

Đây chính là nét nổi bật ngời sáng trong tâm hồn Nguyễn Trãi Nhà thơ luôn ý thức được trách nhiệm và bổn phận của một vị tôi hiền, luôn cố gắng vượt qua những thăng trầm của cuộc đời làm quan bị ganh ghét, đố kị Tuy vậy, Nguyễn Trãi vẫn giữ cho mình:

Một tấc lòng son còn nhớ chúa Tóc hai phần bạc bởi thương thu

(Trần tình 7) Vấn đề lớn nhất làm ông quan tâm chính là ưu dân, ái quốc, lo cho đất nước và thương nhân dân Chính điều đó đã làm tỏa sáng nhân cách lớn lao của một người anh hùng, một kẻ sĩ chân chính:

Bui có một lòng trung liễn hiếu Mài chăng khuyết nhuộm chăng đen

(Thuật hứng 24)

2.3 Ca tụng cuộc sống trong sạch, thanh bần

Sống hòa mình vào cuộc sống ở nông thôn, lúc nào Nguyễn Trãi cũng

có thái độ thanh thản, mở rộng tâm hồn đón nhận tất cả những tinh hoa của trời đất

Trong cuộc sống còn nhiều khó khăn của dân tộc, ta phát hiện ra một Nguyễn Trãi bình dị, mộc mạc gắn bó chặt chẽ với đời sống lao động sản xuất:

Ao cạn vớt bèo cấy muống Trì thanh phát cỏ ương sen

(Mạn thuật 24) Quãng đời quy ẩn ở Côn Sơn, ông sống một cuộc sống thanh đạm, giản dị:

Trang 28

Bữa ăn dù có dưa muối

Áo mặc nài chi gấm là

(Ngôn chí 3) Cuộc sống sinh hoạt tuy còn thiếu thốn về vật chất nhưng bù lại, ông có

sự thảnh thơi, vui thú cho tinh thần:

Ngại ở nhân gian lưới trần Thời nằm thôn dã miễn yên thân Trúc mai chẳng phụ lòng quân tử Viên hạc đà quen bạn dật dân

(Răn giận)

2.4 Băn khoăn đến một nền đạo đức luân lí

Là một người sâu sắc, am hiểu lẽ đời, Nguyễn Trãi đưa vào thơ Quốc

âm những bài học có giá trị giáo dục sâu sắc Nó không phải là thứ đạo lí cứng nhắc mà nó phù hợp với đạo lí và truyền thống dân tộc:

Giận làm chi tổn khí hòa Nào từng có ích nhọc mình ta Nếu đua khí huyết quên nhân nghĩa Hòa thất nhân tâm nát cửa nhà

3 Nghệ thuật

Quốc âm thi tập là một trong những tài liệu văn học cổ nhất hiện nay

còn lưu giữ được của nền văn học Quốc âm Giá trị của nó không những được khẳng định ở mặt nội dung mà còn được thể hiện ở cả mặt nghệ thuật Về mặt nghệ thuật, ta có thể thấy rõ nhất những đóng góp đáng trân trọng của Nguyễn Trãi về nhiều phương diện mà tiêu biểu nhất là về mặt ngôn ngữ và thể thơ

3.1 Ngôn ngữ

Bị chi phối bởi quan niệm thẩm mĩ của nền văn chương trung đại, thơ Nôm Nguyễn Trãi vẫn mang tính uyên bác, sử dụng nhiều điển tích, điển cố, các hình ảnh tượng trưng ước lệ

Tuy nhiên, nhờ sử dụng chữ Nôm, thơ Nguyễn Trãi đã ngày càng giản

dị, tự nhiên gần gũi hơn với cuộc sống của người dân lao động Từ ngữ trong thơ ông thường có sức gợi mạnh mẽ và độc đáo

Cũng nhờ sử dụng chữ Nôm, Nguyễn Trãi đã thành công khi đưa vào thơ ca bác học nguồn thi liệu vô cùng quý giá của tục ngữ, ca dao, thành ngữ Tức là dùng kiểu nói của nhân dân hay tác động tới nhân dân bằng việc chuyển tải tư tưởng, tiếng nói của mình bằng tiếng nói của nhân dân

Quốc âm thi tập đánh dấu chặng đường phát triển của ngôn ngữ Việt

Nam, một ngôn ngữ đã uyển chuyển, đã tinh tế trong việc diễn tả mọi tình ý,

tư tưởng một cách độc đáo

Trang 29

3.2 Thể thơ thất ngôn xen lục ngôn

Đây là một thể thơ được sáng tác dựa trên quy cách và cấu trúc của thơ Đường luật Điểm khác biệt là ở hiện tượng xen kẽ những câu 6 tiếng với câu

7 tiếng trong cùng một bài bát cú hay tứ tuyệt

Số lượng các bài thơ được sáng tác theo hình thức này rất lớn (186/254) chứng tỏ Nguyễn Trãi hoàn toàn có ý thức khi vận dụng thể thơ này như một

sự thử nghiệm cho việc tìm ra một thể thơ mới cho dân tộc, phần nào hạn chế những ảnh hưởng quá sâu sắc của thi ca Trung Quốc

III Khảo sát chung về câu lục ngôn trong Quốc Âm thi tập

1 Số lượng

Qua khảo sát và thống kê số liệu cho thấy: Quốc âm thi tập gồm 186

bài có câu lục ngôn dùng xen lẫn câu thất ngôn trên tổng số 254 bài thơ chiếm 73,22% Thể thất ngôn bát cú có 161 bài, chiếm 86,56% Thể tứ tuyệt có 25 bài chiếm 13,44%

Trong 1388 câu thơ của 186 bài có 433 câu lục ngôn chiếm 31,19% Thể thất ngôn bát cú có 398 câu, chiếm 91,91% Thể tứ tuyệt có 35 câu, chiếm 8.08%

Đáng lưu ý là trong Quốc âm thi tập có ba bài xuất hiện 7 câu lục

ngôn trong cùng một bài Không có bài nào hoàn toàn sử dụng câu lục ngôn (kể cả ở hai dạng bát cú và tứ tuyệt)

Đa số các bài thất ngôn xen lục ngôn sử dụng từ hai đến ba câu lục

Số lượng câu lục dùng trong các phần của tập thơ cũng không đồng đều:

ƒ Phần Vô đề: 146 bài thất ngôn xen lục ngôn, chiếm 78,6%

ƒ Phần Môn thời lệnh: 13 bài, chiếm 6,9%

ƒ Phần Hoa mộc môn: 21 bài, chiếm 11,3%

ƒ Phần Môn cầm thú: 6 bài, chiếm 3,2%

Như vậy, số lượng câu lục chiếm hơn 1/3 tổng số các bài trong tập thơ

Quốc âm thi tập Điều này có thể khẳng định: không phải Nguyễn Trãi vô

tình sử dụng các câu lục ngôn trong thơ của mình Phần lớn những câu lục ngôn được sử dụng trong phần vô đề (78,6%) Đây là phần nhà thơ tự giãi bày tâm trạng, tình cảm của mình Một tâm trạng lúc nào cũng băn khoăn, trăn trở

về nhân tình thế thái và một tâm hồn rộng mở với thiên nhiên, con người Nó được phản ánh ngay trên tên của những đề mục như Tự thán, Tự thuật, Bảo kính cảnh giới, Tự sức

Đối chiếu việc sử dụng các câu lục ngôn với các tác giả tiêu biểu của thể thơ Nôm Đường luật, ta thấy: Số bài có câu lục giảm dần từ Nguyễn Trãi

đến Hồ Xuân Hương Trong Hồng Đức quốc âm thi tập có 134 bài thơ làm

Ngày đăng: 19/02/2014, 14:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
21. Nguyễn Phạm Hùng. 2001. Trở lại vấn đề xác định vị trí của thể thơ thất ngôn xen lục ngôn trong văn học thời trung đại. Tạp chí văn học tháng 12 – 2001 Khác
22. Nguyễn Trãi toàn tập. 1956. Nxb Văn sử địa Khác
23. Nguyễn Xuân Đức. 2004. Đi tìm nguồn gốc thể loại lục bát Việt Nam. Tạp chí văn học tháng 6- 2004 Khác
24. Nguyễn Xuân Đức. 2002. Về thể loại lục bát trong ca dao. Tạp chí văn học tháng 2 – 2002 Khác
25. Trần Đình Sử. 2005. Thi pháp văn học trung đại Việt Nam. Nxb đại học quốc gia Khác
26. Trần Ngọc Hưởng. 2003. Luận đề về Nguyễn Trãi. Nxb thanh niên Khác
27. Trần Tùng Chinh. 2002. Tài liệu giảng dạy, lưu hành nội bộ Khác
28. Trương Chính . 1979. Hương hoa đất nước. Nxb văn học Khác
29. Tuấn Thành, Nguyễn Vũ. 2007. Nguyễn Trãi tác phẩm và lời bình. Nxb văn học Khác
30. Xuân Diệu. 2001.Bình luận các nhà thơ cổ điển Việt Nam. Nxb trẻ Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

xác định vị trí và tần số xuất hiện của chúng theo bảng sau: Bài tứ tuyệt: - tìm hiểu thể thơ thất ngôn xen lục ngôn trong quốc âm thi tập
x ác định vị trí và tần số xuất hiện của chúng theo bảng sau: Bài tứ tuyệt: (Trang 31)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w