1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

189 giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại NH TMCP đầu tư và phát triển VN luận văn thạc sỹ

88 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 95,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

-I- Theo Luật TCTD 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010 “Cấp tín dụng làviệc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kếtcho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có

Trang 2

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG

NGUYỄN THỊ DUNG ANH

GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG

TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CO PHẦN ĐẦU TƯ

VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG

NGUYỄN THỊ DUNG ANH

GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG

TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CO PHẦN ĐẦU TƯ

VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

Chuyên ngành : Tài chính - Ngân hàng

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS BÙI THỊ THANH TÌNH

HÀ NỘI - 2018

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên cứu độc lậpcủa bản thân với sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn Các số liệu đưa ra trongluận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thị Dung Anh

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 9

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 11

1.1 HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

11 1.1.1 Khái niệm cho vay ngân hàng 11

1.1.2 Bản chất hoạt động cho vay của ngân hàng 12

1.2 RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 13

1.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay 13

1.2.2 Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay 14

1.2.3 Phân loại rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay 17

1.2.4 Dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay 19

1.2.5 Hậu quả khi xảy ra rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay 22

1.3 QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 23

1.3.1 Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay 23

1.3.2 Nội dung quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay 24

1.4 NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 35

1.4.1 Nhân tố chủ quan 35

1.4.2 Nhân tố khách quan 36

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 38

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 38

Trang 6

2.1 KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ

VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 39

2.1.1 Sơ lược về hệ thống Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam 39

2.1.2 Giai đoạn phát triển 2013-2017 39

2.1.3 Các lĩnh vực hoạt động và một số kết quả kinh doanh chủ yếu 43

2.2 THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 45

2.2.1 Thực trạng rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam 45

2.2.2 Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam 49

2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 58

2.3.1 Những kết quả đạt được 58

2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 59

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 66

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 66

3.1 QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY THỜI GIAN TỚI 67

3.1.1 Định hướng phát triển cho vay của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam 67

Trang 7

Từ viết tắt Nguyên nghĩa

BIDV Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam

^CIC Trung tâm thông tin tín dụng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

QTRRTD Quản trị rủi ro tín dụng

3.1.2 Định hướng quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay tại Ngân

hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam 68

3.2 GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 68

3.2.1 Xây dựng và hoàn thiện chính sách tín dụng 69

3.2.2 Nâng cao hiệu quả thực thi quy trình tín dụng, quy trình quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam 70 3.2.3 Hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ 75

3.2.4 Nâng cao chất lượng nhân sự và cơ cấu tổ chức 76

3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 79

3.3.1 Kiến nghị đối với Chính phủ 79

3.3.2 Kiến nghị đối với Ngân hàng nhà nước 80

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 82

KẾT LUẬN 83

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 9

DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ

Bảng 2.1: Lợi nhuận trước thuế của BIDV giai đoạn 2015 - 2017 44

Bảng 2.2: Phân loại nợ theo thời gian của BIDV 45

Bảng 2.3: Phân loại nợ theo đối tượng khách hàng của BIDV 46

Bảng 2.4: Bảng phân loại nợ theo chất lượng nợ vay 47

Bảng 2.5: Số tiền trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của BIDV 57

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ quy trình thẩm định rủi ro của BIDV 50

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam có nhiều biến chuyểntích cực, đời sống xã hội kinh tế ngày càng mở rộng và nâng cao về năng lựcsản xuất, kinh doanh cũng như sức cạnh tranh của hàng hoá Đóng góp vào sựphát triển chung của đất nước, không thể không nhắc tới vai trò của ngànhngân hàng

Hoạt động ngân hàng là một hoạt động kinh doanh đặc biệt, kinh doanhtiền tệ nên hoạt động này có tính chất, đặc trưng riêng, luôn tiềm ẩn và khôngthể tránh khỏi nguy cơ rủi ro Nguy cơ này phát sinh ngay từ khi phát tiền rakhỏi ngân hàng, hay nói một cách khác, rủi ro là một bộ phận hợp thành trong

cơ chế kinh doanh của ngân hàng Cuộc khủng hoảng của hệ thống tài chínhquốc tế cũng là bài học cảnh báo dành cho các ngân hàng thương mại, nhất làtrong công tác quản trị rủi ro tín dụng

Đứng trước những thời cơ và thách thức của tiến trình hội nhập kinh tếquốc tế, vấn đề nâng cao chất lượng tín dụng, giảm thiểu rủi ro tại NHTM đãtrở nên cấp thiết Sau hơn 60 năm hoạt động, Ngân hàng TMCP Đầu tư vàPhát triển Việt Nam đã vượt qua những khó khăn thử thách của thị trường,từng bước lớn mạnh, đổi mới về cả chất và lượng và tạo vị thế trên thị trườngtài chính - ngân hàng Việt Nam và quốc tế, đóng góp chung vào sự phát triểncủa đất nước Tuy vậy, hoạt động kinh doanh của ngân hàng hiện còn bộc lộnhiều hạn chế, đặc biệt trong lĩnh vực tín dụng - lĩnh vực đem lại thu nhậpchủ yếu cho ngân hàng Trong các năm 2014, 2015, 2016 lợi nhuận trước dựphòng lần lượt đạt 13.283 tỷ đồng; 13.625 tỷ đồng và 16.907 tỷ đồng, nhưngchi phí dự phòng rủi ro trong hoạt động cho vay luôn chiếm khoảng 50% dẫntới lợi nhuận các năm chỉ đạt tương ứng 6.986 tỷ đồng; 5.676 tỷ đồng và9.199 tỷ đồng Trước thực tế đòi hỏi phải có những nghiên cứu mang tính hệthống và sâu sắc nhằm tìm ra biện pháp giảm thiểu rủi ro tín dụng trong hoạtđộng cho vay của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam và là một

Trang 11

cán bộ công tác tại bộ phận Quản lý rủi ro tại Hội sở chính BIDV, tác giả đãchọn đề tài “Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư vàPhát triển Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu trong Luận văn Thạc Sỹ kinh tế.

2 Mục đích nghiên cứu

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động tín dụng, quản trị rủi ro tíndụng nói chung, quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay tại các Ngânhàng thương mại

- Phân tích thực trạng rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay tại BIDV

- Đề xuất các giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại BIDV

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu giải pháp hạn chếrủi ro trong hoạt động cho vay tại BIDV

-I- Theo theo thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân

hàng Nhà nước Việt Nam: “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo

đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sửdụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc

có hoàn trả cả gốc và lãi”

-I- Theo Luật TCTD 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010 “Cấp tín dụng làviệc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kếtcho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp

vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngânhàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”

-I- Do hạn chế về thời gian, luận văn tập trung nghiên cứu: Tình hìnhcho vay của các NHTM, trong đó có BIDV; Quy trình, quy chế cho vay, hệthống quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay tại BIDV; Các hồ sơ tiêu biểu về

Trang 12

hoạt động cho vay, quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay tại BIDV;

Từ đó đưa ra các giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại BIDV.

4 Phương pháp nghiên cứu

- Thu thập, tổng hợp các thông tin về cơ sở lý luận của quản trị rủi rotín dụng trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng thương mại

- Thu thập, tổng hợp các số liệu về hoạt động cho vay, hoạt động quảntrị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay tại BIDV

- Trao đổi kinh nghiệm với các cán bộ có liên quan đến hoạt động chovay, phê duyệt, quản lý khoản vay

- Trên cơ sở lý luận, các số liệu thực tế tổng hợp được, và các ý kiếnnhận định, sử dụng các phương pháp thống kê, đối chiếu, so sánh để phântích, đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng của BIDV, tìm hiểu các nguyênnhân dẫn đến rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay và nghiên cứu đề xuấtgiải pháp hạn chế rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung của Luận văn gồm

ĐỘNG CHO VAY TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1.1 Khái niệm cho vay ngân hàng

Trang 13

Cho vay là mối quan hệ giữa một bên là ngân hàng với một bên làchủ thể khác trong nền kinh tế trong đó ngân hàng đóng vai trò là ngườivừa đi vay vừa là người cho vay hay nói cách khác, ngân hàng là mộttrung gian tài chính luân chuẩn từ nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn.

Tại Việt Nam, theo thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016

của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: “Cho vay là một hình thức cấp tín

dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoảntiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận vớinguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”

Như vậy, có thể nói rằng lý do cơ bản để ngân hàng hoạt động đó làkhả năng cho vay đối với khách hàng Cho vay là chức năng kinh tế hàngđầu của các ngân hàng - để tài trợ cho chi tiêu của doanh nghiệp, cá nhân

và các cơ quan chính phủ

1.1.2 Bản chất hoạt động cho vay của ngân hàng

Cho vay là một trong những hoạt động đầu tiên và là hoạt động quantrọng nhất của các NHTM Trong tổng tài sản thì hoạt động cho vay làhoạt động chiếm tỷ trọng cao và đem lại thu nhập từ lãi lớn nhất nhưngcũng mang lại rủi ro nhiều nhất cho các NHTM nói riêng và các tổ chứctín dụng nói chung

Đây là hoạt động mà NHTM chấp thuận cho khách hàng vay mộtkhoản tiền với cam kết sử dụng tiền vay đúng mục đích, hoàn trả cả gốc, lãitrong một thời gian nhất định Hoạt động cho vay gắn liền với sản xuất, lưuthông hàng hóa và sự vận động của hoạt động này luôn mang tính chấtđộng lực của các quan hệ kinh tế

Đi sâu tìm hiểu có thể thấy rõ bản chất hoạt động cho vay chính là sựvận động của giá trị vốn, lần lượt trải qua 3 giai đoạn:

- Giai đoạn cho vay: người cho vay chuyển giao quyền sử dụng giá trịvốn tín dụng cho người vay trong một thời gian nhất định

- Giai đoạn sử dụng vốn vay: người vay toàn quyền sử dụng giá trị vốn

Trang 14

tín dụng vào những mục đích đã được dự kiến trước

- Giai đoạn hoàn trả: sau thời gian sử dụng giá trị vốn tín dụng, ngườivay phải hoàn trả lại cho người cho vay đầy đủ giá trị ban đầu và một phầnphụ thêm (lãi)

Như vậy, có thể khẳng định rằng, nét đặc trưng của sự vận động tronghoạt động cho vay là tính hoàn trả

1.2 RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay

Theo thống kê và nghiên cứu cho thấy, rủi ro tín dụng trong hoạt độngcho vay là hoạt động đem lại lợi nhuận lớn cho ngân hàng nhưng cũng lànghiệp vụ tiềm ẩn rủi ro lớn, chiếm đến 70% trong tổng rủi ro hoạt động ngânhàng Hiện nay, tuy ngân hàng đã có nhiều khoản thu nhập khác như kinhdoanh vốn tiền tệ, thu dịch vụ và thu nhập từ hoạt động cho vay có xu hướnggiảm xuống nhưng thu nhập từ cho vay vẫn chiếm phần lớn Bản chất củangân hàng là theo đuổi mục tiêu có lợi nhuận cao và rủi ro chấp nhận được

Vì vậy, rủi ro tín dụng là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây tổn thấtcho ngân hàng và ảnh hưởng đến uy tín, hình ảnh của ngân hàng Có nhiềuđịnh nghĩa khác nhau về rủi ro tín dụng:

Trong tài liệu [1] “Financial Institutions Management - A ModernPerpective” A.Saunder và H.Lange định nghĩa: “Rủi ro tín dụng là khoản lỗtiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năngcác luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng khôngthể được thực hiện đầy đủ về cả số lượng và thời hạn”

Theo Timothy W.Loch: “Một khi ngân hàng nắm giữ tài sản sinh lời,rủi ro xảy ra khi khách hàng sai hẹn - có nghĩa là khách hàng không thanhtoán vốn gốc và lãi theo thỏa thuận Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn củathu nhập thuần khi khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn”

Theo quy định tại Điều 3 Thông tư số 02/2013/TT-NHNN - Quy định

Trang 15

về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro vàviệc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng,chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì “Rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vaycủa Ngân hàng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động cho vay của cácNgân hàng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiệnđầy đủ nghĩa vụ của mình theo đúng cam kết” [5]

Rất nhiều các ý kiến được đưa ra để định nghĩa rủi ro tín dụng nhưngđều thống nhất rằng: Rủi ro tín dụng là nguy cơ mà người đi vay hoặc đối tácngân hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ củamình theo những điều khoản đã cam kết

1.2.2 Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay

1.2.2.1 Nguyên nhân chủ quan

- Công tác kiểm tra nội bộ lỏng lẻo

Kiểm tra nội bộ có điểm mạnh hơn thanh tra của Ngân hàng trung ương

ở tính thời gian, vì nó nhanh chóng, kịp thời ngay khi vừa phát sinh vấn đề vàtính sâu sát của người kiểm tra viên, do việc kiểm tra được thực hiện thườngxuyên với công việc kinh doanh Nếu công tác kiểm tra nội bộ không đượcthực hiện thường xuyên, đặc biệt đối với doanh nghiệp có quan hệ tín dụng lâudài

thường được cán bộ cả nể, tin tưởng và bỏ qua chế độ kiểm tra đột xuất/địnhkỳ

dẫn đến không phát hiện ra các dấu hiệu bất thường của doanh nghiệp

- Cán bộ thiếu đạo đức và trình độ chuyên môn nghiệp vụ kém

+ Rủi ro đạo đức của cán bộ tín dụng: Trong quá trình tác nghiệp, cán

bộ tín dụng có thể gặp rủi ro đạo đức do quan hệ với mờ ám của khách hàng,

bị khách hàng mua chuộc với mục đích che dấu những thông tin xấu củakhách hàng hoặc làm thay đổi biến thông tin xấu thành thông tin tốt, dẫn đếnviệc đưa ra quyết định cho vay không đúng tình hình thực tế của khách hàng

+ Trình độ nghiệp vụ, năng lực của cán bộ tín dụng hạn chế là mộttrong các nguyên nhân chủ quan dẫn đến rủi ro tín dụng Do cán bộ tín dụng

là người tiếp xúc với khách hàng, tiếp nhận và thẩm định hồ sơ khách hàng,

Trang 16

từ đó đề xuất/quyết định quyết định cho vay đối với khách hàng Sự hạn chế

về trình độ, năng lực dẫn đến việc phân tích không chính xác về khách hàng

và đưa ra đề xuất/quyết định cho vay có rủi ro lớn đối với ngân hàng

- Thiếu sự giám sát, quản lý nợ sau khi vay

Việc theo dõi hoạt động của khách hàng là rất cần thiết, trong đó cụ thể

về hoạt động kinh doanh, tiến độ trả nợ, thực tế tài sản bảo đảm và tính tuânthủ nghiêm ngặt các điều khoản đề ra trong hợp đồng tín dụng giữa kháchhàng và ngân hàng Đây cũng là một trong những trách nhiệm quan trọng củacán bộ khách hàng khi thực hiện cho vay

- Sự hợp tác của các ngân hàng thương mại thiếu chặt chẽ

Các ngân hàng cần hợp tác chặt chẽ với nhau khi một khách hàng vaytiền ở nhiều ngân hàng Khi rủi ro xảy ra, tổn thất có thể đến với bất cứ ngânhàng nào nếu trong trường hợp một khách hàng vay vốn tại nhiều tổ chức tíndụng nhưng ngân hàng không đủ thông tin vay vốn của khách hàng tại cácngân hàng khác hoặc không có thông tin về quá trình vay vốn, lịch sử trả nợcủa khách hàng

- Không có săn những thông tin cần thiết cho quá trình ra quyết định

tín dụng

Hiện nay ngân hàng có thể tham khảo thông tin tình hình hoạt động củadoanh nghiệp qua CIC Tuy nhiên dữ liệu này không phải được cập nhậtthường xuyên và đầy đủ Do đó cơ sở dữ liệu về khách hàng và môi trườngkinh doanh của khách hàng không đầy đủ có thể đưa ngân hàng đến nhữngquyết định sai lầm, không phù hợp với thực tế khách hàng

1.2.2.2 Nguyên nhân khách quan

Nguyên nhân khách quan xuất phát từ khách hàng

- Sử dụng vốn sai mục đích

Trong quá trình cho vay, cán bộ ngân hàng sẽ xem xét tính khả thi củacác phương án sử dụng vốn vay của khách hàng và quyết định có cho kháchhàng có vay vốn không, số tiền và thời hạn cho vay Trong trường hợp khách

Trang 17

hàng sử dụng vốn sai mục đích, không đúng với phương án xây dựng khi vayvốn, không nằm trong phương án mà ngân hàng đã xét duyệt hoặc có khảnăng sử dụng vốn vào những mục đích trái quy định của pháp luật thì sẽkhông đảm bảo được việc hoàn trả nợ đầy đủ, đúng hạn, gây ra tổn thất chongân hàng, mất hình ảnh, uy tín của ngân hàng.

- Khả năng quản lý kinh doanh kém

Đối với khách hàng là doanh nghiệp, quản lý cũng là một yếu tố sốngcòn Nếu năng lực quản lý hạn chế kèm theo việc thiếu thông tin về thịtrường, nhà cung cấp sẽ làm ảnh hưởng đến khả năng sản xuất, kinh doanhcủa khách hàng Từ đó dẫn đến rủi ro không hoàn trả đúng thời hạn đối vớicác khoản vay của ngân hàng

- Tình hình tài chính của doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch

Nhiều khách hàng hoạt động với quy mô nhỏ, không có năng lực sảnxuất kinh doanh và số liệu kế toán cung cấp không chính xác làm kết quảphân tích tín dụng của ngân hàng khi đó cũng thiếu chính xác Nguyên nhânnày kết hợp cùng các nguyên nhân khác như trình độ chuyên môn của cán bộkhách hàng kém dẫn đến rủi ro không thu hồi được nợ của ngân hàng

- Thiếu thiện chí trong việc trả nợ vay

Đây là vấn đề liên quan đến đạo đức của người đi vay Nhiều trườnghợp khách hàng kinh doanh có lãi nhưng cố tình chây ỳ không trả nợ ngânhàng nhằm chiếm dụng vốn để quay vòng trong hoạt động kinh doanh Vìviệc thẩm định khách hàng cố tình lừa đảo sẽ khó khăn hơn so với các kháchhàng khác nên vấn đề này đòi hỏi cán bộ khách hàng phải có sự nhạy bén vàcũng như sự tuân thủ chặt chẽ các quy trình cấp tín dụng cũng như quản lý rủi

ro tín dụng của ngân hàng

Nguyên nhân khách quan từ môi trường bên ngoài

- Môi trường kinh tế không ổn định

Sự biến động của kinh tế thị trường luôn khó có thể dự đoán một cáchchính xác Do đó để đảm bảo thành công khách hàng cần cần được nghiên

Trang 18

cứu kỹ càng trước khi đưa ra định hướng kinh doanh và ngân hàng cũng cầnphải có sự hiểu biết để có thể đưa ra quyết định cấp tín dụng chính xác.

- Môi trường tự nhiên biến đổi nhanh chóng

Việt Nam là một trong năm nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biếnđổi khi hậu khi phải chịu nhiều trận bão lụt và hạn hán Với tần suất xảy radày đặc nên khi xảy ra thiên tai, thiệt hại không thể đo lường được và ảnhhưởng nghiêm trọng đến cả khách hàng vay vốn cũng như ngân hàng là đơn

vị cho vay

- Môi trường pháp lý chưa đầy đủ và chồng chéo

Việt Nam là một nước đang phát triển nên hệ thống pháp luật thực tếchưa hoàn chỉnh, còn nhiều bất cập và nhiều điều khoản chưa được cập nhậttình hình thực tế, dẫn đến việc ngân hàng cũng như khách hàng đều khó thựchiện Bên cạnh đó, có nhiều cơ quan quản lý ban hành văn bản chồng chéonhau càng gây khó khăn hơn đối với các bên liên quan trong quá trình thực thipháp luật

1.2.3 Phân loại rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay

Có nhiều cách phân loại rủi ro tín dụng với những theo tiêu chí khácnhau

như nguyên nhân phát sinh rủi ro, tính khách quan của nguyên nhân, thời gian,phạm vi và tính chất của rủi ro, cụ thể:

Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay được phân chia thành các loại sau đây:

- Rủi ro giao dịch (Transaction risk): là một hình thức của rủi ro tíndụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch

và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng Rủi ro giao dịch có ba bộ phậnchính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ

+ Rủi ro lựa chọn là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phântích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả

để ra quyết định cho vay

+ Rủi ro bảo đảm phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều

Trang 19

khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo,hình thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo.

+ Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay

và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và

kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề

- Rủi ro danh mục (Porfolio risk): là một hình thức của rủi ro tín dụng

mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục chovay của ngân hàng, được phân chia thành hai loại là rủi ro nội tại (Intrinsicrisk) và rủi ro tập trung (Concentration risk)

+ Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mangtính

riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế Nóxuất

phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vayvốn

+ Rủi ro tập trung là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quánhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt độngtrong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhấtđịnh; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao

Căn cứ theo tính khách quan hay chủ quan của nguyên nhân gây ra rủi ro thì rủi ro tín dụng hoạt động cho vay bao gồm:

- Rủi ro khách quan và rủi ro chủ quan Rủi ro khách quan là rủi ro docác nguyên nhân khách quan như thiên tai, địch họa, người vay bị chết, mấttích và các biến động ngoài dự kiến khác làm thất thoát vốn vay trong khingười vay đã thực hiện nghiêm túc chế độ chính sách

- Rủi ro chủ quan do nguyên nhân thuộc về chủ quan của người vay vàngười cho vay vì vô tình hay cố ý làm thất thoát vốn vay hay vì những lý dochủ quan khác

Ngoài ra còn nhiều hình thức phân loại khác như phân loại căn cứ theo

cơ cấu các loại hình rủi ro, phân loại theo nguồn gốc hình thành, theo đốitượng sử dụng vốn vay

Căn cứ vào thời gian của khoản vay:

Trang 20

Tương tự như tín dụng ngân hàng có thể phân chia theo thời hạn thànhtín dụng ngắn hạn, trung hạn và dài hạn thì rủi ro tín dụng cũng có thể phânchia thành rủi ro tín dụng ngắn hạn, rủi ro tín dụng trung hạn và rủi ro tíndụng dài hạn.

Căn cứ vào tính chất rủi ro:

- Rủi ro ứ đọng vốn, thiếu hụt vốn: trong đó rủi ro ứ đọng là loại rủi roxảy

ra khi vốn huy động được bị tồn đọng lớn không cho vay hoặc đầu tư được.Còn

rủi ro thiếu hụt vốn là loại rủi ro xảy ra khi ngân hàng sử dụng vốn vượt quámức

mà ngân hàng có thể huy động được, để bù đắp mức thiếu hụt này ngân hàngphải huy động tại các nguồn khác đắt hơn làm giảm thu nhập của ngân hàng

- Rủi ro nợ quá hạn: xảy ra khi đến hạn thanh toán mà người vay chưatrả đủ bị chuyển sang nợ quá hạn

1.2.4 Dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay

Một số chỉ tiêu dùng để nhận biết và đo lường rủi ro tín dụng hoạt độngcho vay của NHTM gồm:

- Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR)

Tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu là thước đo độ an toàn vốn của ngân hàng

Nó được tính theo tỉ lệ phần trăm của tổng vốn cấp I và vốn cấp II so với tổngtài sản đã điều chỉnh của ngân hàng

CAR= Vốn tự có/Giá trị tài sản có x 100%

Tỉ lệ này thường được dùng để bảo vệ những người gửi tiền trước rủi rocủa ngân hàng và tăng tính ổn định cũng như hiệu quả của hệ thống tài chính

Trang 21

toàn cầu Bằng tỉ lệ này người ta có thể xác định được các khả năng của ngânhàng thanh toán khoản nợ có thời hạn và không thời hạn và đối mặt với cácloại rủi ro khác như rủi ro,tín dụng rủi ro vận hành Hay nói cách khác, khingân hàng đảm bảo được tỉ lệ này tức là nó đã tự tạo ra một tấm đệm chốnglại những cú sốc về tài chính, vừa tự bảo vệ mình, vừa bảo vệ những ngườigửi tiền Chính vì lý do trên, các nhà quản lý ngành ngân hàng các nước luônxác định rõ và giám sát các ngân hàng phải duy trì một tỉ lệ an toàn vốn tốithiểu, ở Việt Nam tỉ lệ này hiện đang là 8%, giống như chuẩn mực Basel màcác hệ thống ngân hàng trên thế giới áp dụng phổ biến.

- Kết cấu dư nợ tín dụng

Dựa vào kết cấu dư nợ tín dụng mà ta có thể xác định rủi ro tín dụngcủa ngân hàng cao hay thấp Nếu kết cấu dư nợ quá tập trung vào một sốdoanh nghiệp hoặc thành phần kinh tế chuyên sản xuất kinh doanh trongmột hoặc một số lĩnh vực nhất định sẽ có rủi ro lớn do tập trung vốn cao.Dựa vào kết cấu tín dụng (theo thành phần, đối tượng, ngành nghề, thờihạn) kết hợp với việc phân tích các yếu tố liên quan tới khách hàng, thịtrường của Ngân hàng và của khách hàng ta có thể đánh giá được mức độrủi ro của doanh nghiệp

- Tỷ lệ Nợ quá hạn / Dư nợ tín dụng

Hoạt động của Ngân hàng và doanh nghiệp đều tránh tình trạng nợ quáhạn Về phía doanh nghiệp đi vay vốn, nếu quá hạn không trả được nợ sẽ mấtuy

tín, phải chịu một lãi suất quá hạn cao hơn lãi suất trong hạn, đối với ngânhàng,

nợ quá hạn sẽ làm tăng tỷ lệ quá hạn/ Dư nợ tín dụng Tỷ lệ này gián tiếp chothấy quy mô của các khoản vay có vấn đề của ngân hàng Nếu tỷ lệ này quálớn

chứng tỏ chất lượng tín dụng của ngân hàng kém, ngân hàng phải xem xét lạikhả năng đánh giá lại các khoản cho vay của mình, đánh giá lại qui trình thủtục

cho vay, đặc biệt là xem xét lại khả năng thực hiện nhiệm vụ của các Cán bộkhách hàng

Tuy nhiên, nợ quá hạn không phải là tổn thất của Ngân hàng, đây vẫn là

Trang 22

chỉ tiêu gián tiếp Bởi vì không phải tất cả các khoản nợ quá hạn này sẽ dẫnđến rủi ro.

của khách hàng để hạch toán các khoản vay vào các nhóm thích hợp

Nợ xấu là nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5, là những khoản nợ mà khả năngtrả nợ của khách hàng không còn cao (phải cơ cấu lại thời hạn trả nợ nhiềulần, nợ quá hạn lâu ngày không trả)

Tỷ lệ nợ xấu là chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng mà ngân hàng đặc biệtquan tâm Công thức tính tỷ lệ nợ xấu:

Tỷ lệ nợ xấu mà cao so với trung bình ngành và có xu hướng tăng lên

có thể là dấu hiệu cho thấy ngân hàng đang gặp khó khăn trong việc quản lýchất lượng các khoản cho vay

Ngược lại, tỷ lệ này thấp so với các năm trước cho thấy chất lượng cáckhoản cho vay được cải thiện Hoặc cũng có thể ngân hàng có chính sách xóacác khoản nợ xấu hay thay đổi các phân loại nợ Theo NHNN Việt Nam,Ngân hàng chỉ được cấp tín dụng dưới hình thức cho vay, chiết khấu giấy tờ

có giá đối với khách hàng khi đáp ứng được có tỷ lệ nợ xấu dưới 3%

- Hệ số rủi ro tín dụng

Hệ số rủi ro tín dụng = Tổng dư nợ/Tổng tài sản có x 100%

Hệ số này cho ta thấy tỷ trọng của khoản mục tín dụng trong tài sản

Trang 23

có,khoản mục tín dụng trong tông tài sản càng lớn thì lợi nhuận sẽ lớn nhưngđồng thời rủi ro tín dụng cũng rất cao Thông thường, tông dư nợ cho vay củangân hàng được chia thành các nhóm:

+ Nhóm dư nợ của các khoản tín dụng có chất lượng xấu: là nhữngkhoản cho vay có mức độ rủi ro lớn nhưng có thể mang lại thu nhập cao chongân hàng Đây là khoản tín dụng chiếm tỷ trọng thấp trong tông dư nợ chovay của ngân hàng

+ Nhóm dư nợ của các khoản tín dụng có chất lượng tốt: là nhữngkhoản cho vay có mức độ rủi ro thấp nhưng có thể mang lại thu nhập khôngcao cho ngân hàng Đây cũng là những khoản tín dụng chiếm tỷ trọng thấptrong tông dư nợ cho vay của ngân hàng

+ Nhóm dư nợ của các khoản tín dụng có chất lượng trung bình: lànhững khoản cho vay có mức độ rủi ro có thể chấp nhận được và thu nhậpmạng lại cho ngân hàng là vừa phải Đây là khoản tín dụng chiếm tỷ trọng ápđảo trong tông dư nợ cho vay của ngân hàng

1.2.5 Hậu quả khi xảy ra rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay

1.2.5.1 Đối với ngân hàng

- Giảm lợi nhuận của Ngân hàng: Khi rủi ro tín dụng xảy ra sẽ phát

sinh làm ứ đọng vốn của ngân hàng và dẫn đến giảm vòng quay vốn củangân hàng Mặt khác, khi phát sinh nợ quá hạn sẽ phát sinh các khoản chiphí quản lý, giám sát, thu nợ Bên cạnh đó, ngân hàng vẫn phải trả lãicho các khoản tiền huy động từ nguồn khác Từ những lý do trên khiến lợinhuận của ngân hàng bị giảm so với kế hoạch

- Giảm khả năng thanh toán: Khi khách hàng không thanh toán khoản

vay đầy đủ và đúng hạn sẽ dẫn đến mất cân đối giữa dòng tiền ra và dòng tiềnvào Các khoản tiền gửi, tiền tiết kiệm của khách hàng vẫn phải thanh toánđúng kỳ hạn trong khi các khoản tiền vay của khách hàng lại không đượchoàn trả đúng hẹn Điều này ảnh hưởng đến khả năng chi trả của ngân hàng

và ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong khâu thanh toán

Trang 24

- Giảm uy tín: Nếu tỷ lệ rủi ro tín dụng của ngân hàng quá lớn và thông

tin này bị lộ thì uy tín của ngân hàng trên thị trường tài chính cũng như uy tínđối với các khách hàng sẽ bị giảm sút

- Phá sản ngân hàng: Trong trường hợp ngân hàng không được kịp

thời trả nợ đối với những khoản vay rất lớn và không đủ khả năng đáp ứngnhu cầu rút tiền quá lớn trong một thời gian dài thì sẽ có khả năng mất khảnăng thanh toán, dẫn đến sự sụp đổ của ngân hàng

1.2.5.2 Đối với khách hàng

Lãi vay ngân hàng được hạch toán vào chi phí sản xuất của doanhnghiệp Doanh nghiệp đang gặp khó khăn trong tình hình tài chính, ảnh hưởngđến chi phí sản xuất kinh doanh, nguy cơ không có đủ tiền để trả nợ cho ngânhàng là điều không thể tránh khỏi Khi đó ngân hàng có thể xem xét việc chovay thêm để giảm tình trạng mất cân đối tài chính nhưng nếu tình trạng mấtcân

đối tài chính diễn ra trong thời gian dài sẽ khi dẫn việc khách hàng phá sản

1.2.5.3 Đối với nền kinh tế

Kết quả kinh doanh của ngân hàng phản ánh kết quả sản xuất kinhdoanh của nền kinh tế, tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp vàđời sống của các khách hàng cá nhân vì hoạt động kinh doanh ngân hàng liênquan đến toàn bộ thành phần trong nên kinh tế Do vậy, phòng ngừa và hạnchế rủi ro tín dụng là vấn đề sống còn đối với ngân hàng và là yêu cầu cấpthiết của nền kinh tế góp phần vào sự phát triển, ổn định của toàn xã hội

1.3 QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY

CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.3.1 Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay

Theo giáo trình Ngân hàng thương mại, 2013, NXB Kinh tế quốc dân:

“Quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay là một hệ thống các hoạtđộng hoàn chỉnh qua đó ngân hàng xác định, đánh giá và kiểm soát rủi ro khicấp tín dụng (cho vay) cũng như lợi nhuận có thể thu được, từ đó đưa ra cácquyết định nhằm đảm bảo lợi ích tối đa cho mình”

Trang 25

Như vậy, quản lý rủi ro tín dụng là quá trình xây dựng và thực thi cácchiến lược, các chính sách quản lý và kinh doanh tín dụng nhằm đạt được cácmục tiêu an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững; tăng cường các biện phápphòng ngừa, hạn chế và giảm thấp nợ quá hạn, nợ xấu trong hoạt động tíndụng, từ đó tăng doanh thu, giảm chi phí và nâng cao chất lượng hiệu quảhoạt động kinh doanh cả trong ngắn hạn và dài hạn của NHTM.

Quản lý rủi ro tín dụng gắn liền với quản trị và kinh doanh tín dụng,một trong những hoạt động chủ đạo của NHTM Cụ thể quản lý rủi ro tíndụng phải nhằm vào việc hạ thấp rủi ro tín dụng, nâng cao mức độ an toàntrong kinh doanh của mỗi NHTM bằng các chính sách, các biện pháp quản lý,giám sát các hoạt động tín dụng một cách khoa học và hiệu quả

1.3.2 Nội dung quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay

Quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay của ngân hàng thươngmại gồm có 4 nội dung chính là: Nhận dạng rủi ro tín dụng; Đo lường rủi rotín dụng; Báo cáo rủi ro tín dụng và Xử lý rủi ro tín dụng

1.3.2.1 Nhận dạng rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay

* Nhóm dấu hiệu liên quan đến mối quan hệ giữa khách hàng với ngânhàng

Trong quá trình cho vay, ngân hàng thường xuyên tiếp xúc với kháchhàng thông qua việc ngân hàng theo dõi các tài khoản tiền vay, tiền gửi củakhách hàng, theo dõi nhu cầu vay vốn và sử dụng vốn vay của khách hàng,theo dõi những thay đổi biến động về pháp lý, kinh doanh hay nhân sự củakhách hàng Vì vậy, các dấu hiệu rủi ro tín dụng biểu hiện và có thể nhận biếtnhư sau:

- Về tài khoản của khách hàng: giảm sút số dư cũng như số lượng giaodịch của tài khoản tiền gửi thanh toán, không có hoặc có rất ít các Hợp đồnggửi tiền có kỳ hạn so với thời gian trước, số dư bình quân của tài khoản tiềnvay gia tăng Những biểu hiện này cho thấy doanh số bán hàng/các nguồn thucủa khách hàng bị giảm sút hoặc khách hàng có dấu hiệu chuyển doanh thusang các TCTD khác mà không chuyển về để trả nợ ngân hàng

Trang 26

- Thường xuyên cần nguồn hỗ trợ/vay vốn lưu động (VLĐ) từ nhiềunguồn

khác nhau, số lần đề nghị vay gia tăng bất thường Hoặc đề nghị các khoảnvay

với các ngân hàng vượt nhu cầu dự kiến của phương án kinh doanh

- Không thanh toán được các khoản nợ đến hạn gốc và lãi, thường xuyên

đề nghị ngân hàng cho cơ cấu lại thời hạn trả nợ Có dấu hiệu chấp nhận chịulãi suất vay cao và mọi điều kiện tín dụng miễn là ngân hàng cho vay vốn; cóbiểu hiện bất hợp tác, trì hoãn, cản trở ngân hàng thực hiện kiểm tra vốn vaytại đơn vị

* Nhóm dấu hiệu liên quan đến hoạt động kinh doanh, điều hành củakhách hàng

- Về hoạt động kinh doanh: khách hàng không đạt kế hoạchtháng/quý/năm về sản xuất và bán hàng; các sản phẩm của khách hàng tiêuthụ chậm; cắt giảm các chi phí khấu hao, sửa chữa tài sản, chi phí nghiên cứusản phẩm; chịu tác động mạnh từ các yếu tố thuộc môi trường kinh doanhnhư: tỷ giá, lãi suất thay đổi theo chiều hướng bất lợi, thay đổi trong chínhsách của Nhà nước, xuất hiện các đối thủ cạnh tranh mới, xuất hiện các sảnphẩm thay thế, thay đổi trong thị hiếu người tiêu dùng

- Về hoạt động điều hành, môi trường nhân sự của khách hàng: có sựthay đổi đột xuất nhiều lần về nhân sự cấp cao (hội đồng quản trị, ban điềuhành, các chức vụ chủ chốt); phương thức quản trị/cách thức điều hành khôngthống nhất, thường có sự bất đồng, tranh chấp trong quá trình quản lý; đề bạtnhững vị trí điều hành là những người ít có kinh nghiệm, quản lý có tính giađình trị; thuyên chuyển nhân viên diễn ra thường xuyên, không xác định được

sự phù hợp của nhân viên với từng vị trí công tác; thiếu quan tâm đến lợi íchcủa cổ đông, chủ nợ

* Nhóm dấu hiệu liên quan đến báo cáo tài chính của khách hàng

Những dấu hiệu tiềm ẩn rủi ro tín dụng thông qua báo cáo tài chính gồm:không cung cấp đầy đủ số liệu tài chính hoặc chậm trễ/trì hoãn trong việc nộpbáo cáo tài chính, không thực hiện kiểm toán độc lập trong một thời gian dài

Trang 27

Phân tích báo cáo tài chính nhận thấy một số chỉ tiêu hoạt động của kháchhàng có dấu hiệu đi xuống như: sự gia tăng không cân đối về tỷ lệ nợ thườngxuyên, tiền mặt giảm mạnh, tăng doanh số bán nhưng lãi ít hoặc gần nhưkhông có, tài khoản hạch toán vốn điều lệ không khớp, thay đổi về tỷ lệ lãigộp và lãi ròng trên doanh số bán, phải thu khách hàng tăng nhanh và thờigian thanh toán của các khoản nợ bị kéo dài, sử dụng nguồn vốn ngắn hạn đểđầu tư trung dài hạn quá lớn

Căn cứ những dấu hiệu tiềm ẩn rủi ro tín dụng mà ngân hàng nhận diệnđược trong quá trình vay vốn của khách hàng, phân tích cụ thể từng dấu hiệu

sẽ giúp ngân hàng có những biện pháp thích hợp để xử lý nhằm hạn chế rủi rotín dụng xảy ra

1.3.2.2 Đo lường rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay bằng phương pháp xếp hạng tín dụng nội bộ

Có nhiều phương pháp để đo lường và phân tích rủi ro tín dụng tronghoạt động cho vay như:

+ Mô hình 5C: Mô hình phân tích tín dụng 5C dựa trên 5 đặc điểm tàichính và phi tài chính của khách hàng để đưa ra và đánh giá về rủi ro tíndụng 5 đặc điểm - 5 chữ C của phương pháp này bao gồm: Tư cách ngườivay (Character), Năng lực của người vay (Capacity), Dòng tiền (Cash flow),Bảo đảm tiền vay (Collateral), Các điều kiện khác (Conditions)

+ Mô hình 6C: Mô hình 6C được xây dựng và phát triển trên mô hình5C, tuy nhiên thêm yếu tố Kiểm soát (Control)

+ Mô hình điểm số Z: Mô hình này được xây dựng bởi giáo sưI.Altman (1968) phát minh dựa trên cơ sở các nghiên cứu trong quá khứ cáccông ty ở Mỹ Mặc dù chỉ số Z này phát minh ở Mỹ nhưng nó vẫn được sửdụng ở nhiều nước với độ tin cậy khá cao Chỉ số Z là công cụ cảnh báo sớmkhả năng phá sản của công ty và là khả năng mất vốn trong tương lai của ngânhàng Chỉ số Z phụ thuộc vào tình hình tài chính của người vay và tầm quantrọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất vỡ nợ trong quá khứ Có

Trang 28

5 chỉ số thành phần trong việc tính chỉ số Z là X1, X2, X3, X4, X5 Điểm số Zgiá trị tổng hợp của các chỉ số với các trọng số của chúng Các giá trị trọng sốkhông cố định mà có sự thay đổi phụ thuộc vào công ty thuộc ngành nghề sảnxuất hay dịch vụ, đã cổ phần hóa hay chưa Điểm số Z có quan hệ tỷ lệ nghịchvới khả năng phá sản của doanh nghiệp.

+ Mô hình ước tính tổn thất dự kiến: Basel II là Hiệp ước quốc tế vềtiêu chuẩn an toàn vốn, tăng cường quản trị toàn cầu hóa tài chính cũng nhưviệc khai thác tối đa tiềm năng lợi nhuận và hạn chế rủi ro Theo Basel II,ngân hàng có thể xác định được tổn thất dự kiến đối với mỗi món cho vay:

EL = PD x EAD x LGD

Trong đó EL (Expected Loss): Tổn thất có thể ước tính

PD (Probability of Default): xác suất khách hàng không trả được nợ.EAD (Exposure at Default): Tổng dư nợ của khách hàng tại thời điểmkhách hàng không trả được nợ

LGD (Loss Given Default): Tỷ trọng tổn thất ước tính

+ Mô hình giá trị chịu rủi ro (Value at Risk - VaR) Giá trị tới hạn VaRcủa một tài sản (hoặc 1 danh mục tài sản) được định nghĩa là khoản lỗ tối đatrong một khoảng thời gian nhất định nếu loại trừ các trường hợp hiếm khixảy ra Đây là phương pháp đánh giá mức rủi ro của tài sản (hoặc 1 danh mụctài sản) theo hai tiêu chuẩn: giá trị của danh mục đầu tư và khả năng chịuđựng rủi ro của nhà đầu tư

Hiện tại có 4 phương pháp thông dụng để tính VaR là:

Phân tích quá khứ (historical method)

Phương sai - hiệp phương sai (VaRiance - covariance method)

Trang 29

dựng cho từng đối tượng khách hàng khác nhau.

Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ phải được xây dựng theo cácnguyên tắc sau:

- Xây dựng trên cơ sở số liệu, thông tin của tất cả khách hàng đã thuthập được trong thời gian ít nhất 01 (một) năm liền kề trước năm xây dựng hệthống xếp hạng tín dụng nội bộ

- Ít nhất mỗi năm một lần, hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ phảiđược

xem xét, sửa đổi, bổ sung trên cơ sở số liệu, thông tin khách hàng thu thậpđược trong năm

- Có quy định các mức xếp hạng tương ứng với mức độ rủi ro từ thấpđến cao

- Được Hội đồng quản trị (đối với tổ chức tín dụng là công ty cổ phần),Hội đồng thành viên (đối với tổ chức tín dụng là công ty trách nhiệm hữuhạn), Tổng giám đốc hoặc Giám đốc (đối với chi nhánh ngân hàng nướcngoài) phê duyệt áp dụng

Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ được xây dựng trên cơ sở xây dựngcác bảng chấm điểm các chỉ tiêu tài chính và chỉ tiêu phi tài chính của kháchhàng nhằm lượng hóa các rủi ro mà ngân hàng có khả năng phải đối mặt Hệthống xếp hạng rủi ro tín dụng nội bộ sử dụng phương pháp chấm điểm vàxếp hạng riêng đối với từng nhóm khách hàng Thông thường có thể chiathành 2 nhóm đối tượng khách hàng: doanh nghiệp và cá nhân

Mục đích của việc chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng nhằm:

- Ra quyết định cấp tín dụng: xác định hạn mức tín dụng, thời hạn,mức

lãi suất, các biện pháp đảm bảo tiền vay

- Giám sát và đánh giá khách hàng đang còn dư nợ, phát hiện sớm cácdấu hiệu cho thấy khoản vay đang có dấu hiệu xấu đi

- Giám sát và đánh giá chất lượng của toàn bộ danh mục tín dụng

- Ước lượng mức vốn có nguy cơ không thu hồi được để trích lập dựphòng rủi ro tín dụng

Trang 30

Các ngân hàng phải có bộ phận kiểm soát rủi ro tín dụng độc lập chịutrách

nhiệm thiết kế, thực hiện hoạt động các hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ củamình Bộ phận này phải độc lập về chức năng đối với các bộ phận quản lý

Xếp hạng tín dụng (XHTD) là một trong những công cụ quản trị rủi rotín dụng hữu hiệu mà các NHTM đã và đang áp dụng khi cấp tín dụng chokhách hàng Để quản trị rủi ro tín dụng, cần phải xây dựng môi trường rủi rotín dụng phù hợp với quy trình cấp tín dụng lành mạnh; hệ thống quản lý, đolường và theo dõi tín dụng phù hợp; và phải kiểm soát được rủi ro tín dụng.XHTD nói chung và xếp hạng doanh nghiệp nói riêng đề cập đến cả bốn lĩnhvực của quản trị rủi ro tín dụng Trước hết, bằng việc cung cấp các thông tin

và báo cáo chuẩn mực về rủi ro tín dụng ở cấp độ tổng thể như: danh mục đầu

tư tín dụng toàn hàng, chi tiết tới từng vùng, khu vực địa lý, ngành hàng, lĩnhvực kinh tế, loại doanh nghiệp, loại hình tài sản bảo đảm, loại sản phẩm hoặcthậm chí tới từng khoản tín dụng riêng lẻ; sau đó xem xét ở từng thời điểmhay kết quả hoạt động của cả một thời kỳ dài Kết quả XHTD ở mức thấp,thì rủi ro khi cho vay càng cao và ngược lại Vì vậy, để hạn chế rủi ro tíndụng, các NHTM thường lựa chọn những khách hàng có kết quả xếp hạng ởmức nhất định Căn cứ vào kết quả xếp hạng, ngân hàng có thể từ chối ngaynhững khách hàng có mức điểm thấp, dành nhiều thời gian, nhân lực để tiếptục thẩm định các khách hàng vay đạt mức điểm yêu cầu Vì thế, sử dụng xếphạng tín dụng nội bộ (XHTDNB) sẽ tiết kiệm được thời gian, công sức, giảmbớt sự can thiệp từ con người và mang lại lợi ích cho cả ngân hàng và kháchhàng Mặt khác XHTDNB còn là căn cứ để ngân hàng đưa ra các quyết địnhcấp tín dụng mới, bổ sung cho các khách hàng tốt hay “cảnh báo sớm” để

có biện pháp kịp thời đối với các khách hàng có hạng tín nhiệm thấp Ởkhía cạnh kiểm soát rủi ro tín dụng, thì XHTDNB tạo thêm một căn cứđộc lập để ngân hàng đánh giá về hiệu quả quá trình quản trị rủi ro củacác bộ phận có liên quan, bảo đảm chức năng cấp tín dụng được quản lýphù hợp, các tài sản có rủi ro tín dụng nằm trong các giới hạn thống nhất vớicác

Trang 31

tiêu chuẩn thận trọng và các giới hạn nội bộ, phát hiện sớm các khoản tín dụngxấu, các khoản tín dụng có vấn đề.Với vai trò quản trị rủi ro tín dụng,XHTDNB

giúp thu thập, quản lý, khai thác, phân tích thông tin Trên thực tế, thách thứclớn

nhất đối với các NHTM chính là việc thu thập và phân loại thông tin chínhxác,

chi tiết về người vay, về các đặc điểm của các loại hình rủi ro (loại sảnphẩm/ngành kinh tế/khu vực địa lý khác nhau ) và kết quả của đầu tư tíndụng

vào các loại hình rủi ro đó XHTDNB vốn đòi hỏi rất nhiều thông tin đầu vàođể

vận hành, cũng như tạo ra nhiều thông tin đầu ra có giá trị Điều này sẽ tạo rađộng

lực để ngân hàng đầu tư vào hạ tầng công nghệ, hệ thống hóa, lưu giữ và tíchlũy

dần các thông tin cần thiết

Hiện nay, việc xây dựng hệ thống XHTDNB đang trở nên cần thiết vàquan trọng đối với công tác quản trị rủi ro nói chung, đặc biệt là rủi ro tíndụng nói riêng của các ngân hàng Việc thực hiện XHTDNB nhằm mục đích

là phân loại các khoản nợ, đánh giá chất lượng tín dụng, trích lập dự phòngtrong các hoạt động tín dụng của ngân hàng

XHTDNB được xem là một công cụ hữu hiệu trong công tác thẩm định,ra

quyết định cho vay và giúp ngân hàng có thể đánh giá chính xác mức độ rủi rocủa

từng khoản vay, phân loại nợ theo thông lệ quốc tế và cũng là cơ sở để nângcao

chất lượng quản lý tín dụng và trích lập dự phòng phù hợp

1.3.2.3 Báo cáo rủi ro

Dựa vào báo cáo về rủi ro mà ban lãnh đạo ngân hàng có thể đưa rađịnh

hướng cấp tín dụng và kiểm soát tín dụng tốt hơn, đồng thời đây cũng lànguồn

thông tin đầu vào hữu ích để xây dựng chiến lược phát triển trong từng thời kỳ

và trong dài hạn Có nhiều loại báo cáo được lập trong quá trình quản lýRRTD

Đầu tiên, sau khi nghiên cứu hồ sơ khách hàng, bộ phận thẩm định lậpbáo cáo về tính phát lý, tài chính, khả năng quản lý, khả năng trả nợ, và tàisản đảm bảo của khách hàng vay vốn Khi đã cấp tín dụng, ngân hàng cầnthường xuyên cập nhập thông tin về từng khách hàng, từng nhóm khách hàngtheo lĩnh vực, ngành nghề, địa bàn, với tần suất hàng tuần, hàng tháng,

Trang 32

hàng quý hay hàng năm tùy thuộc vào nhu cầu về thông tin Trên cơ sở báocáo, ban lãnh đạo ngân hàng có thể:

- Thấy được bức tranh tổng thể về đặc điểm của cả danh mục tín dụng

- Phát hiện các khu vực tập trung nhiều rủi ro trong danh mục tín dụng,đồng thời phát hiện rủi ro tập trung vào khách hàng hoặc nhóm khách hàng cóliên quan với nhau

- Đánh giá mức độ tập trung rủi ro

- Nêu được sự thay đổi về rủi ro cũng như chất lượng tín dụng khi thayđổi cơ cấu lại nợ cho từng khách hàng

- Đánh giá được rủi ro của tài sản đảm bảo

- Có biện pháp phù hợp để quản lý rủi ro nhằm thu hồi nợ đầy đủ vànhanh nhất

- Trích lập dự phòng rủi ro đầy đủ

1.3.2.4 Xử lý rủi ro

Ngay khi có dấu hiệu xảy ra tổn thất, ngân hàng trích lập dự phòng theomức độ nghiêm trọng của khả năng xảy ra rủi ro để có nguồn bù đắp tổn thấttrong tương lai mà không làm ảnh hưởng đến vốn của ngân hàng Căn cứ vàokết quả của hoạt động đo lường rủi ro, ngân hàng chia danh mục tín dụngthành các nhóm và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng theo tỷ lệ phù hợp vớitừng nhóm Theo Thông tư số 02/2013 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam,quy định về phân loại, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro vàviệc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng đốivới các khoản nợ, bao gồm tài sản có phân loại nợ, các khoản nợ của ngânhàng được chia thành 5 nhóm như sau:

- Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tíndụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ

Trang 33

hạn từ 10 ngày đến 90 ngày và nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu.

- Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chứctín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là không có khả năng thuhồi nợ gốc và lãi khi đến hạn Các khoản nợ này được tổ chức tín dụng, chinhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất Cụ thể, baogồm các trường hợp sau:

+Nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày

+Nợ gia hạn nợ lần đầu

+Nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãiđầy đủ theo hợp đồng tín dụng

+Nợ thu hồi đang theo kết luận thanh tra

- Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tíndụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất cao

+Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày

+Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thờihạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu

+Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai

- Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ được tổchức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là không còn khảnăng thu hồi, mất vốn

+ Nợ quá hạn trên 360 ngày

+ Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theothời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu

+ Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợđược cơ cấu lại lần thứ hai

+ Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạnhoặc đã quá hạn

Sau khi tiến hành phân loại nợ, ngân hàng cần trích lập dự phòng cụ thểvới tỷ lệ như sau:

Trang 34

Nhóm 3 20%

Trang 35

Mức trích lập dự phòng cụ thê:

R=∑7=1 R i

Trong đó:

- R: Tổng số tiền dự phòng cụ thê phải trích của từng khách hàng.

- ∑n= 1 Ri: là tổng số tiền dự phòng cụ thê của từng khách hàng từ số

dư nợ thứ nhất đến thứ n

- Ri: là số tiền dự phòng cụ thê phải trích của từng khách hàng đối với

số dư nợ gốc của khoản nợ thứ i Ri được xác định theo công thức:

- Nếu số tiền dự phòng cụ thê và dự phòng chung còn lại của quý

trước nhỏ hơn số tiền dự phòng cụ thê và dự phòng chung phải trích của quỹtrích lập, ngân hàng phải trích bổ sung phần chênh lệch thiếu

- Nếu số tiền dự phòng cụ thê và dự phòng chung còn lại của quý

Trang 36

trước lớn hơn số tiền dự phòng cụ thể và dự phòng chung phải trích của quỹtrích lập, ngân hàng phải hoàn nhập phần chênh lệch thừa.

Ngân hàng thường sử dụng dự phòng để bù đắp tổn thất và đưa nợ ratheo dõi ngoại bảng khi:

- Khách hàng là tổ chức, doanh nghiệp bị giải thể, phá sản theo quy

định của pháp luật; cá nhân bị chết, mất tích

- Nợ nhóm 5 là các khoản nợ được ngân hàng đánh giá là không còn

khả năng thu hồi và có thể mất vốn

Sau khi đã sử dụng dự phòng (sau khi trừ phần thu hồi từ tài sản đảmbảo) đề bù đắp tổn thất do rủi ro tín dụng, ngân hàng phải nhanh chuyển cáckhoản nợ đã được bù đắp bằng dự phòng từ hạch toán nội bang ra hoạch toánngoại bảng để tiếp tục theo dõi và có biện pháp để thu hồi nợ triệt để Nếu dựphòng đã trích không đủ, ngân hàng phải sử dụng đến Quỹ dự phòng tài chính

để bù đắp phần tổn thất chưa được bù đắp bằng dự phòng (bao gồm cả dựphòng cụ thể và dự phòng chung)

Bán tài sản đảm bảo

Đối với khách hàng khó khăn về tài chính, kinh doanh thua lỗ khó khắcphục, nợ đã được gia hạn nhưng chưa trả được hoặc chưa xác định đượcnguồn trả, ngân hàng (đa phần là nợ nhóm 5) cần quản lý chặt chẽ khoản vaycủa khách hàng, đồng thời rà soát hồ sơ pháp lý và tình trạng tài sản đảm bảo

để xem xét khả năng phát mại nhằm thu hồi vốn Sau đó phối hợp với các cơquan chức trách của nhà nước để tiến hành thanh lý tài sản đảm bảo tiền vaytheo trình tự quy định trên các văn bản pháp lý

Với những khoản vay không có tài sản đảm bảo, ngân hàng cần kiểmsoát chặt chẽ nguồn tài chính khách hàng, các khoản phải thu, nguồn v ốnthanh toán của các công trình qua thông báo vốn hàng năm đối với lĩnh vựcxây dựng, kỳ thu tiền đối với lĩnh vực khác và yêu cầu khách hàng cùngchủ đầu tư, người mua hàng cam kết thanh toán chuyển khoản về tài khoảncủa khách hàng tại ngân hàng Mặt khác, ngân hàng có thể tư vấn cho

Trang 37

khách hàng bán bớt những tài sản không phát huy hiệu quả, không cần đểtrả nợ tiền vay.

1.4 NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.4.1 Nhân tố chủ quan

Nhân tố chủ quan dẫn tới rủi ro tín dụng trong Ngân hàng thương mại

là những nhân tố bắt nguồn từ chính các Ngân hàng Một số nhân tố chủ quantiêu biểu là:

- Công nghệ thông tin

Những thông tin từ hồ sơ xin vay của doanh nghiệp, những thông tin

do ngân hàng lưu trữ và những thông tin do ngân hàng tìm hiểu bên ngoài cóthể chỉ phản ánh một phần về doanh nghiệp, cần thiết phải phân tích và tìmhiểu kỹ càng hơn mới có thể đánh giá được toàn diện về doanh nghiệp Docông nghệ và trang thiết bị ngân hàng còn yếu kém cho nên việc thu thập và

xử lý thông tin về doanh nghiệp còn nhiều hạn chế dẫn đến những đánh giá

Trang 38

không chính xác làm ảnh hưởng tới quá trình quản lý rủi ro trong hoạt độngtín dụng của ngân hàng.

- Cơ chế giám sát nội bộ

Ngân hàng thực hiện kiểm tra, giám sát tốt sẽ hạn chế và khắc phục kịpthời

những sai sót trong quá trình thực hiện công tác tín dụng qua đó hạn chế đượcrủi

ro Điều này giúp cho các bộ phận trong ngân hàng phối hợp chặt chẽ hơn, vừacó

tác dụng kiểm tra, vừa cung cấp bổ sung những thông tin cần thiết khôngnhững

để giám sát chặt chẽ từng khoản vay giúp giảm thiểu rủi ro tín dụng xảy ra

- Chuyên môn hoá cán bộ khách hàng

Với thực tế các cán bộ khách hàng không được chuyên môn hoá, phầnlớn các bước cũng như các quy trình tín dụng đều do một cán bộ thực hiện.Trong khi các doanh nghiệp vay vốn là những loại hình doanh nghiệp khácnhau với lĩnh vực ngành nghề kinh doanh, quy mô hoạt động khác nhau Điềunày ảnh hưởng rất lớn tới công tác phân tích đánh giá của ngân hàng Bêncạnh

đó, với một loại hình doanh nghiệp khác nhau, ngành nghề khác nhau, thì cán

bộ lại phải thực hiện các phương án khác nhau Điều đó có thể gây khó khănvề

mặt quản lý cho cán bộ khách hàng, qua đó làm tăng rủi ro của khoản vay

khách hàng cần có đạo đức nghề nghiệp, tinh thần trách nhiệm khi làm việc đểkhông câu kết với khách hàng, cố ý làm trái quy định của pháp luật cũng nhưquy

trình của ngân hàng Ngoài ra cán bộ khách hàng cần có sự hiểu biết về kinh tế

xã hội, luật pháp, dự đoán được sự biến động của thị trường để kịp thời đưa ra

tư vấn phù hợp với tình hình thực tế của khách hàng

1.4.2 Nhân tố khách quan

- Quy định về kế toán, kiểm toán

Việc thống nhất và minh bạch tài liệu kế toán kiểm toán là một nhân tố

Trang 39

khách quan liên quan đến công tác quản lý rủi ro của ngân hàng Điều nàygiúp

ngân hàng có góc nhìn toàn cảnh đối với hoạt động kinh doanh của mình và từđó

giám sát được thực tế việc cho vay Từ đó có thể nhận định được tình hìnhhoạt

động của doanh nghiệp và kịp thời có các biện pháp để hạn chế, giảm thiểuđược

rủi ro trong quá trình cho vay đối với khách hàng

- Cơ chế giám sát của NHNN

Việc giám sát của NHNN là rất quan trọng, bởi chỉ khi đặt dưới sựgiám sát chặt chẽ của NHNN, các chính sách, các quy định cũng như quytrình quản lý rủi ro mới được NHTM quan tâm và thực hiện đầy đủ Đặc biệt,hiện nay trên thế giới, các tiêu chuẩn về Basel II, Basel III đã và đang đượccoi là một chuẩn mực cho các ngân hàng quan tâm, nghiên cứu để thực hiện

Vì vậy, việc tăng cường giám sát của NHNN sẽ nâng cao hiệu quả của côngtác quản lý rủi ro tín dụng

- Sự phát triển của thị trường tài chính

Với một thị trường tài chính phát triển, nguồn vốn huy động của ngânhàng không bị quá phụ thuộc vào tiền gửi, tiền thanh toán của các tổ chức, các

cá nhân, Ngân hàng có thể trực tiếp huy động tư việc phát hành cổ phiếuhay trái phiếu ngân hàng

Việc phát triển thị trường tài chính đã giúp nâng cao khả năng quản lýrủi

ro tín dụng của ngân hàng Cụ thể, khi các doanh nghiệp huy động vốn trung,dài

hạn trên thị trường chứng khoán thì lúc này kênh tín dụng ngân hàng sẽ cungcấp

chủ yếu là tín dụng ngắn hạn Từ đó sẽ giảm thiếu rủi ro cho ngân hàng

Hơn nữa, trong một thị trường tài chính hiện đại, ngày càng xuất hiệncác công cụ tín dụng phái sinh như hợp đồng trao đổi tín dụng, hợp đồngquyền tín dụng, hợp đồng trao đổi cộng đồng các khoản tín dụng rủi ro

- Các nhân tố từ phía khách hàng

Khách hàng là người lập phương án vay vốn, là người trực tiếp sử dụngvốn vay vì vậy năng lực tài chính cũng như sự trung thực của khách hàng làcác nhân tốt rất quan trọng, ảnh hưởng đến công tác quản lý rủi ro tín dụng

Trang 40

phân phối và quảng bá sản phẩm thì sẽ không đạt được lợi nhuận như mongđợi

và từ đó ảnh hưởng đến khả năng trả nợ, chất lượng tín dụng của ngân hàng

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Tóm lại, trong kinh doanh, việc đương đầu với rủi ro trong cho vay làmột việc khó tránh khỏi, việc thừa nhận một tỷ lệ rủi ro tự nhiên trong hoạtđộng kinh doanh ngân hàng là yêu cầu khách quan hợp lý Tuy nhiên vấn đề

là làm thế nào để quản lý rủi ro và hạn chế ở một tỷ lệ thấp nhất có thể chấpnhận được Chương 1 trong luận văn đã khái quát các vấn đề cơ bản về rủi rotrong cho vay cũng như đề cập đến các biện pháp hạn chế rủi ro trong cho vay

để làm cơ sở lý luận, sau đây luận văn sẽ đề cập đến thực trạng về cho vay vàrủi ro trong cho vay tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG

TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

Ngày đăng: 23/04/2022, 14:52

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w