1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

111 công tác giám sát từ xa của thanh tra NH đối với các tổ chức tín dụng theo CAMELS luận văn thạc sĩ kinh tế

96 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 577,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Thanh tra, giám sát hoạt động ngân hàng được tổ chức thành hệ thốngthuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam NHNN, thực hiện hoạt động thanh trahành chính và hoạt động

Trang 1

HOÀNG VĂN THẮNG

CÔNG TÁC GIÁM SÁT TỪ XA CỦA THANH TRA NGÂN HÀNG

ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG THEO CAMELS

Chuyên ngành: Kinh tế tài chính- Ngân hàng

Mã số: 60.31.12

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS: NGUYỄN ĐÌNH TỰ

HÀ NỘI- Năm 2011

Trang 2

Học viện ngân hàng, đặc biệt là PGS.TS Nguyễn Đình Tự đã tận tình hướngdẫn và tôi cũng xin cảm ơn các đồng nghiệp trong Cơ quan Thanh tra, giámsát ngân hàng, nơi tôi đang công tác đã tạo mọi điều kiện và giúp đỡ tôi hoàn

thành luận văn này.

Trân trọng cảm ơn!

Trang 3

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi,chưa công bố tại bất cứ nơi nào Mọi số liệu sử dụng trong luận văn này lànhững thông tin xác thực.

Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về lời cam đoan của mình!

Hà Nội, ngày tháng 01 năm 2011

Tác giả luận văn

Hoàng Văn Thắng

Trang 4

Tóm tắt luận văn

LỜI NÓI ĐẦU: 1

1 Sự cấp thiết của đề tài: 1

2 Mục đích nghiên cứu: 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 2

4 Phương pháp nghiên cứu: 2

5 K ết cấu của luận văn: 3

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT TỪ XA ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG THEO CAMELS 1.1 Khái quát về hoạt động thanh tra, giám sát các TCTD: 4

1.1.1 Vai trò và chức năng hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng: 4 1.1.2 Sự cần thiết phải thanh tra, giám sát hoạt động NHTM: 4

1.1.3 Đối tượng thanh tra, giám sát hoạt động ngân hàng: 5

1.2 Nội dung hoạt động thanh tra, giám sát các TCTD theo CAMEL:6 1.2.1 Khái niệm về GSTX: :6

1.2.2 Sự cần thiết sử dụng CAMELS để giám sát đối với các TCTD: 7 1.2.3 Mục tiêu giám sát từ xa hoạt động của các NHTM: 8

1.2.4 Nội dung hoạt động của GSTX theo CAMELS: 8

1.2.5 Phương pháp và quy trình GSTX theo CAMELS: 15

1.3 Chất lượng Giám sát từ xa: 17

1.3.1 Khái niệm về chất lượng: 17

1.3.2 Nội dung đánh giá chất lượng GSTX theo CAMELS: 17

1.4 Một số kinh nghiệm về tổ chức và hoạt động thanh tra, giám sát của ngân hàng một số nước trên thế giới: 20

1.4.1 V ề tổ chức cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng: 20

1.4.2 Về hoạt động GSTX: 20

Trang 5

2.1 Tổng quan về quá trình hình thành và phát triển của TTNH Nhà

nước Việt Nam: 23

2.1.1 Tổng quan về quá trình hình thành và phát triển: 23

2.1.2 Thực trạng hoạt động GSTX theo CAMELS của thanh tra ngân hàng: 29

2.2 Đánh giá tổng quát về chất lượng GSTX theo CAMELS: 61

2.2.1 Những kết quả đạt được: 61

2.2.2 Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân: 62

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GSTX THEO CAMELS CỦA THANH TRA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 3.1 Định hướng hoạt động thanh tra, giám sát của NHNN trong thời gian tới: 66

3.1.1 Định hướng về xây dựng NHNN Việt Nam thành Ngân hàng Trung ương hiện đại: 66

3.1.2 Định hướng hoạt động thanh tra, giám sát của NHNN trong thời gian tới: 68

3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng GSTX theo CAMELS của TTNH Nhà nước Việt Nam đối với các TCTD: 70

3.2.1 Hoàn thiện nội dung và quy trình GSTX theo CAMELS: 71

3.2.2 Tăng cường hệ thống thông tin và công nghệ phục vụ GSTX: 80

3.2.3 Hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động GSTX theo CAMELS: 83

3.2.4 Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực cho TTNH: 83

3.3 Một số đề xuất, kiến nghị 84 3.3.1 Đối với Nhà nước: 84

3.3.2 Đối với Ngân hàng Nhà nước: 84

Trang 6

NHTM: Ngân hàng thương mại

NHNN: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

NHTW: Ngân hàng Nhà nước Trung ương

TTNH: Thanh tra ngân hàng

TTGSNH: Thanh tra, giám sát ngân hàng

GSTX: Giám sát từ xa

NHTMNN: Ngân hàng thương mại Nhà nước

NHTMCP: Ngân hàng thương mại Cổ phần

NHLD: Ngân hàng liên doanh

NHLDNN: Ngân hàng Liên doanh và chi nhánh ngân hàng nước ngoàiCTTC: Công ty tài chính

QTDND: Quỹ tín dụng nhân dân

Trang 7

Bảng 2.2: Nguồn vốn huy động

Bảng 2.3: Cơ cấu vốn huy động theo loại tiền

Bảng 2.4: Cơ cấu vốn huy động theo kỳ hạn

Bảng 2.5: Cơ cấu vốn huy động thị trường II

Bảng 2.6: Cơ cấu dư nợ cho vay theo kỳ hạn

Bảng 2.7: Cơ cấu dư nợ cho vay theo loại tiền

Bảng 2.8: Dư nợ cho vay đầu tư kinh doanh chứng khoán và lĩnh vực bấtđộng sản

Bảng 2.9: Cơ cấu nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu

Bảng 2.10: Tình hình trích lập dự phòng rủi ro

Bảng 2.11: Tình hình nhận gửi, vay và cho vay đối với các TCTD nước ngoàiBảng 2.12: Kết quả kinh doanh

Bảng 2.13: Khả năng thanh khoản toàn hệ thống

Sơ đồ 1.1: Quy trình giám sát các TCTD

Sơ đồ 1.2: Tổ chức của Thanh tra ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Sơ đồ 2.1: Tổ chức thực hiện và báo cáo kết quả phân tích giám sát của Thanhtra ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Sơ đồ 3.1: Mô hình hệ thống truyền tải thông tin phục vụ GSTX

Đồ thị 2.1: Cơ cấu vốn huy động năm 2009-2010

Đồ thị 2.2: Diễn biến vốn huy động TTI qua các quý

Đồ thị 2.3: Thị phần huy động vốn năm 2009-2010

Đồ thị 2.4: Diễn biến dư nợ tín dụng thị trường I

Đồ thị 2.5: Thị phần cho vay năm 2009-2010

Đồ thị 2.6: Diễn biến nợ xấu qua các quý

Đồ thị 2.7: Tỷ lệ dư nợ cho vay so với vốn huy động

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thanh tra, giám sát hoạt động ngân hàng được tổ chức thành hệ thốngthuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), thực hiện hoạt động thanh trahành chính và hoạt động thanh tra, giám sát chuyên ngành ngân hàng trongphạm vi quản lý nhà nước của NHNN về tiền tệ và hoạt động ngân hàng theoquy định của pháp luật

Mục đích hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng nhằm góp phần bảođảm an toàn hệ thống ngân hàng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ngườigửi tiền, phục vụ việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia; phòng ngừa, pháthiện và xử lý các vi phạm pháp luật; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả củahoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng

Nhận thức được tầm quan trọng đó, trong những năm qua, nội dung và

phương pháp giám sát của Thanh tra ngân hàng (TTNH) không ngừng đượcđổi mới theo yêu cầu phát triển của hệ thống Ngân hàng Việt Nam, trong đóhoạt động giám sát từ xa được chú trọng tăng cường và đã từng bước phát huyhiệu quả Thông qua hoạt động giám sát từ xa giúp cho TTNH nói riêng vàNHNN nói chung có được những thông tin, số liệu về hoạt động của các ngânhàng thương mại (NHTM) một cách khá thường xuyên, liên tục, làm cơ sởgóp phần cho chỉ đạo hoạt động thanh tra, giám sát và hoạch định chính sáchtiền tệ được tốt hơn Tuy nhiên, kết quả hoạt động giám sát từ xa chưa đápứng được sự phát triển của hệ thống ngân hàng hiện đại, nội dung và phươngpháp giám sát chưa phù hợp, khả năng kiểm soát toàn bộ thị trường tiền tệ vàgiám sát rủi ro còn yếu Kết quả giám sát chưa đưa ra được những cảnh báohiệu quả, chưa chỉ ra được những rủi ro tiềm ẩn trong trong hoạt động của các

tổ chức tín dụng (TCTD), đặc biệt là cảnh báo sớm Mô hình tổ chức và chuẩn

Trang 9

mực nghiệp vụ của Thanh tra ngân hàng chưa đáp ứng được các chuẩn mực

cơ bản của Thanh tra ngân hàng quốc tế theo quy định của Uỷ ban Bssel

Với nhận thức đó, tác giả đã lựa chọn đề tài " Công tác giám sát từ xa của Thanh tra ngân hàng đối với các Tổ chức tín dụng theo CAMELS" để

nghiên cứu với mong muốn góp phần tìm ra được những mạt mạnh, mặt yếu,những nguyên nhân tồn tại yếu kém, để từ đó đề ra các giải pháp khắc phục,góp phần đưa hoạt động của TTNH, nhất là công tác giám sát từ xa đạt hiệuquả hơn, không ngừng phát triển và hoàn thiện, phù hợp với thông lệ quốc tế

và đáp ứng yêu cầu mới của hệ thống Ngân hàng Việt Nam

theo CAMELS thời gian qua;

- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt độngthanh tra, giám sát của NHNN đối với các TCTD tại Việt Nam theo CAMELSqua công tác giám sát từ xa

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng là các TCTD Nhà nước, TCTD Cổ phần và TCTD nướcngoài hoạt động tại Việt Nam;

- Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động của công tác Giám sát từ xa đối vớicác đối tượng nêu trên từ năm 2008 đến 2010

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp duy vật biện chứng; duy vật lịch sử; suyluận logic; đặc biệt là kết hợp phân tích, đối chiếu giữa lý luận và thực tiễn

Trang 10

hoạt động của TTNH đối với các TCTD để tìm ra những những mặt được, hạnchế, nguyên nhân dẫn đến tồn tại hạn chế để đề xuất các giải pháp cụ thể vàphù hợp.

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungcủa Đề tài được bố trí gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề có tính lý luận cơ bản về hiệu quả hoạt độnggiám sát đối với các tổ chức tín dụng theo CAMELS

Chương 2: Thực trạng công tác giám sát từ xa của Thanh tra ngân hàngNhà nước Việt Nam thời gian qua

Chương 3: Một số giải pháp cơ bản nhằm góp phần nâng cao hiệu quảcông tác giám sát từ xa theo CAMELS đối với các tổ chức tín dụng hoạt độngtại Viêt Nam

Trang 11

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT TỪ XA ĐỐI

VỚI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG THEO CAMELS

1.1 Khái quát về hoạt động thanh tra, giám sát các tổ chức tín dụng

1.1.1 Vai trò và chức năng hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng

Để làm tốt chức năng quản lý, Nhà nước phải sử dụng các công cụ củamình trên các lĩnh vực, trong đó có thanh tra là một công cụ đắc lực

Thanh tra là một phạm trù lịch sử, nó gắn liền với Nhà nước và là công

cụ phục vụ cho giai cấp thống trị xã hội, lịch sử phát triển của xã hội loàingười đã chứng minh điều đó Tuy tên gọi và hình thức tổ chức có thể khácnhau, nhưng thanh tra đều là công cụ để nhà nước kiểm tra, kiểm soát cáchoạt động trong hoạt động quản lý kinh tế xã hội

Về nguyên tắc hoạt động thanh tra chỉ tuân theo pháp luật, bảo đảmchính xác, khách quan, công khai, dân chủ, kịp thời Mặt khác, hoạt độngthanh tra phải gắn bó một cách hữu cơ với các cơ quan quản lý Nhà nước; bởi

vì, nếu trong công tác thanh tra, cơ quan quản lý đứng ngoài cuộc thì hiệu lựcthanh tra không thể có được Đồng thời, thông qua hoạt động thanh tra còn cótác dụng giúp cơ quan quản lý kiểm tra tính đúng đắn của các quyết định quản

lý, góp phần hoàn thiện cơ chế chính sách, khắc phục những sơ hở yếu kémtrong quản lý, giữ vững kỷ cương pháp luật, bảo vệ lợi ích của nhà nước vàcác quyền lợi hợp pháp của công dân

1.1.2 Sự cần thiết phải thanh tra, giám sát hoạt động của Ngân hàng thương mại

Hoạt động ngân hàng là một hoạt động có tính đặc thù khá cao, vì vậycần có sự giám sát khắt khắt khe vì:

Trang 12

Thứ nhất, ngân hàng là nơi nhận tiền gửi của đại bộ phận dân chúng,nếu bị rủi ro mất vốn sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của họ và có thể dẫn đến đổ

vỡ của cả hệ thống ngân hàng Vì vậy, các cơ quan quản lý, mà trực tiếp làNHTW cần phải có trách nhiệm giám sát thường xuyên đối với hoạt động củacác ngân hàng nhằm tăng cường lòng tin của người gửi tiền đối với hệ thốngtài chính nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng

Thứ hai, giám sát thường xuyên của NHTW còn là một hoạt độngnhằm đảm bảo cho các NHTM có các hoạt động kinh doanh lành mạnh, antoàn, ít rủi ro và tránh được sự đổ vỡ

Tại Việt Nam, Cơ quan TTGSNH được tổ chức thành hệ thống thuộcNHNN, thực hiện chức năng thanh tra hành chính và chức năng thanh tra,giám sát chuyên ngành ngân hàng trong phạm vi quản lý nhà nước của Ngânhàng Nhà nước về hoạt động tiền tệ và hoạt động ngân hàng theo qui định củapháp luật

Hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng ở Việt Nam cũng không nằmngoài mục tiêu chung là nhằm góp phần bảo đảm an toàn hệ thống các TCTD,bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền đồng thời phục vụ việcthực hiện chính sách tiền tệ quốc gia; phòng ngừa, phát hiện và xử lý các viphạm pháp luật; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lýnhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng

1.1.3 Đối tượng thanh tra, giám sát hoạt động ngân hàng

1.1.3.1 Đối tượng của Thanh tra ngân hàng

- Cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý trực tiếp của NHNN;

- Các TCTD hoạt động tại Việt Nam;

Trang 13

- Hoạt động ngân hàng của các tổ chức không phải là TCTD đượcNHNN cho phép;

- Tổ chức tài chính quy mô nhỏ được NHNN cấp giấy phép thành lập

và hoạt động;

- Cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam và cơ quan, tổ chức, cá nhânnước ngoài tại Việt Nam trong việc thực hiện các qui định của pháp luật vềtiền tệ và hoạt động ngân hàng thuộc phạm vi quản lý nhà nước của NHNN

Trường hợp Điều ước quốc tế mà cước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam ký kết hoặc tham gia có quy định khác với Nghị định này thì áp dụngĐiều ước quốc tế đó

1.1.3.2 Đối tượng trong giám sát hoạt động ngân hàng

1.2.1 Khái niệm về giám sát từ xa

Phương thức giám sát từ xa là một trong hai phương thức của hoạtđộng của cơ quan Thanh tra ngân hàng được thực hiện ở hầu hết ở các nướctrên thế giới

Trang 14

Giám sát từ xa còn gọi là thanh tra trên báo cáo là quá trình Thanh trangân hàng tổ chức thu thập, xử lý số liệu tiến hành phân tích, đánh giá tìnhhình của NHTM trên cơ sở báo cáo tài chính, báo cáo thống kê gửi đến Thanhtra ngân hàng theo qui định và các nguồn thông tin khác; từ đó lập báo cáo,cảnh báo cho các NHTM những vấn đề cần thiết hoặc kiến nghị biện phápkhắc phục kịp thời.

1.2.2 Sự cần thiết phải áp dụng CAMELS để giám sát đối với các tổ chức tín dụng

CAMELS là phương pháp giám sát khá toàn diện những hoạt động chủyếu của NHTM hiện được sử dụng ở hầu hết các nước trên thế giới;

CAMELS là công cụ quan trọng, theo đó tất cả các nhà giám sát ngânhàng có thể sử dụng một hệ thống xếp hạng chuẩn để đánh giá tình trạng tàichính của một ngân hàng;

Với một hệ thống xếp hạng rõ ràng, giúp cho mọi người, từ ngườiđứng đầu NHTW đến những nhân viên mới nhất của NHTW cũng có thểnhanh chóng hiểu được tình trạng tài chính của một ngân hàng bằng cách ràsoát kết quả xếp hạng ngân hàng đó;

CAMELS đưa ra một cái nhìn toàn diện về tất cả các khía cạnh tàichính quan trọng đối với khả năng thanh toán của ngân hàng và cho biết mức

độ rủi ro tại bất kỳ ngân hàng nào;

CAMELS giúp cho nhà quản lý, giám sát ngân hàng kiến nghị, đềxuất biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý rủi ro, vi phạm pháp luật đểđảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng và thực hiện đúng, đầy đủ các chínhsách, qui định của pháp luật

Trang 15

Ngoài ra giám sát theo CAMELS còn giúp hướng dẫn hoạt động cầngiám sát theo mức độ tăng dần đối với những ngân hàng bị xếp hạng thấp vềtổng thể cần có biện pháp khắc phục.

1.2.3 Mục tiêu giám sát từ xa hoạt động của các Ngân hàng thương mại

Giám sát việc các Ngân hàng có đảm bảo an toàn trong hoạt động haykhông? từ đó giúp các Ngân hàng giữ uy tín với khách hàng, đây là tài sảnquý nhất trong kinh doanh ngân hàng

Giám sát việc Ngân hàng có thực hiện nghiêm túc luật pháp và quy chếngân hàng hay không? trong đó, quan trọng nhất là các quy chế quản lý vĩ mô

và các công cụ trong điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương

Giám sát việc các ngân hàng kinh doanh có hiệu quả hay không? bởi vì,

đã kinh doanh là phải có lãi, nếu bị thua lỗ dẫn đến việc cổ đông không nhữngkhông được hưởng quyền lợi mà còn bị hụt vốn, ảnh hưởng đến quá trìnhkinh doanh Nếu lỗ nặng và kéo dài sẽ dẫn đến sự sụp đổ ngân hàng

1.2.4 Nội dung hoạt động của giám sát từ xa theo CAMELS

Giám sát từ xa theo CAMELS chứa đựng đầy đủ những nội dung cầnthiết để tiến hành đánh giá, xếp hạng các ngân hàng Các thành phần củaCAMELS là:

C (Capital): Vốn;

A (Assets): Chất lượng Tài sản có;

M (Management): Chất lượng quản lý và hoạt động;

E (Earnings): Thu nhập;

L (Liquidity): Hoạt động quản lý thanh khoản;

S (Sensitivity): Hoạt động quản lý độ nhạy

Trang 16

Cụ thể:

a- Mức đảm bảo vốn (C): Vốn ở đây được hiểu theo một nghĩa rộng hơn

không chỉ đơn thuần là vốn tự có của ngân hàng Vốn tự có của một ngânhàng chỉ là thành phần được đưa ra đầu tiên để giám sát sự đủ vốn của ngânhàng đó Một ngân hàng hoạt động trong môi trường kinh doanh bình đẳng,

có đủ vốn là một yêu cầu bắt buộc đông thời cũng là một lợi thế Một ngânhàng cần duy trì một mức vốn đảm bảo chống đỡ với các loại rủi ro đặc trưngcủa ngân hàng và khả năng quản lý để xác định, đo lường, kiểm soát và điềuchỉnh những rủi ro này Các loại hình và mức độ rủi ro tác động đến hoạtđộng của ngân hàng sẽ quyết định đến mức vốn cần duy trì thêm trên mứcvốn tối thiểu theo qui định để từ đó có thể đề phòng những hậu quả xấu mànhững rủi ro này có thể có đối với mức vốn của ngân hàng

Mức đảm bảo vốn được xếp hạng dựa trên những yếu tố đánh giá sau:

- Mức vốn, chất lượng vốn và khả năng tài chính tổng thể của ngânhàng;

- Khả năng quản lý để có thể xác định những nhu cầu cho nguồn vốnbổ

- Các rủi ro tiềm ẩn đối với hoạt động ngoại bảng của ngân hàng;

- Chất lượng và mức thu nhập, sự hợp lý của mức cổ tức;

Trang 17

- Khả năng tiếp cận với thị trường vốn và các nguồn vốn khác bao gồm

cả sự hỗ trợ vốn của các cổ đông hiện tại và cổ đông triển vọng trong tươnglai

b- Chất lượng Tài sản có (A): Tài sản có của ngân hàng được xem là có chất

lượng, khi ngân hàng quản lý được rủi ro, tránh sự tập trung tín dụng hoặcđầu tư, tỷ lệ nợ bị phân loại trong tổng dư nợ ở mức thấp Chất lượng Tài sản

có được đánh giá dựa trên mức độ, sự phân bổ và trạng của các tài sản, mức

độ và sự phân bổ của các tài sản không tính cộng dồn và tài sản được giảm lãisuất; mức độ đảm bảo dự phòng nợ, năng lực quản lý và điều hành việc xử lý

và thu hồi những khoản nợ có vấn đề Mức đảm bảo dự phòng nợ và khả năng

có thể xử lý và thu hồi các khoản nợ có vấn đề chính là yếu tố tác động tốt, ởmột chừng mực nào đó, đến khả năng khắc phục những khó khăn có thể xảy

Thứ ba là: Mức độ đảm bảo dự phòng cho mất nợ và các dự phòng tàisản khác;

Thứ tư là: Khả năng đa dạng hóa và chất lượng của các khoản nợ vàcác danh mục đầu tư;

Thứ năm là: Mức độ tập trung hóa tài sản;

Trang 18

Thứ sáu là: Số lượng và bản chất của những hồ sơ tín dụng đặc biệt;Thứ bảy là: Tính hợp lý của chính sách cho vay, đầu tư cũng như cácthủ tục có liên quan

c- Chất lượng quản lý và hoạt động (M): Cấu phần quản lý cần được đánh

giá dựa trên tất cả các yếu tố được cho là cần thiết đối với hoạt động của ngânhàng trong một môi trường an toàn và các hoạt động ngân hàng được chấpnhận Do vậy, cấu phần quản lý được đánh giá dựa trên trình độ học vấn, nănglục điều hành và lãnh đạo; các chính sách và qui trình quản lý rủi ro, khả năngtuân thủ pháp luật và các qui định, khả năng lên kế hoạch và đối phó vớinhững biến động của môi trường, và những kết quả và sự thành công trongquản lý Việc đánh giá cấu phần quản lý cũng cần xem xét đến những chấtlượng của những hoạt động kinh doanhvà tất cả các chính sách cho vay, đầu

tư và kinh doanh, cũng như sự tham gia của Ban giám đốc và các cổ đông

Căn cứ vào đặc trưng và phạm vi hoạt động của ngân hàng, hoạt độngquản lý có thể cần xem xét đến một số hoặc tất cả những rủi ro sau: rủi ro tíndụng, rủi ro thị trường, rủi ro hoạt động Hoạt động quản lý tốt được theo dõichặt chẽ bởi Ban giám đốc và Hội đồng quản trị; tính hợp lý của các chínhsách, tác nghiệp và kiểm soát sẽ cần xem xét thêm với qui mô và vai trò củangân hàng; hệ thống quản lý thông tin và quản lý rủi ro hiệu quả

e- Thu nhập (E): Cấu phần thu nhập được đánh giá dựa trên khả năng xử lý

với các khoản mất nợ và khả năng đảm bảo mức vốn cần thiết; xu hướng tăngtrưởng của thu nhập, so sánh trong nhóm đồng hạng, chất lượng và các cấuphần của thu nhập ròng; mức độ thu nhập của nguồn vốn nhạy cảm với lãisuất Việc đánh giá cũng cần xem xét mối quan hệ với tỷ lệ chi trả cổ tức, vớitốc độ tăng trưởng lợi nhuận để lại và mức độ đảm bảo vốn của ngân hàng.Mức đảm bảo dự phòng mất nợ và đề phòng với những bất thường, với các

Trang 19

giao dịch chứng khoán và với các tác động của thuế cũng cần được xem xétkhi đánh giá cấu phần này.

d- Mức độ thanh khoản (L): Mức độ thanh khoản được đánh giá theo khả

năng thanh toán nhanh chóng các khoản tiền gửi; tần suất và mức độ sửdụngnguồn vốn đi vay của ngân hàng; năng lực chuyên môn liên quan đến cơcấu tài sản nợ; mức độ sẵn có của tài sản có thể chuyển đổi thành tiền mặt vàmức độ tiếp cận với thị trường tiền tệ hoặc những nguồn vốn khác Mức độthanh khoản của một ngân hàng phải được đánh giá theo từng giai đoạn vàtừng thời điểm cụ thể Cũng cần phải xem xét đến hiệu quả nói chung củachiến lược quản lý tài sản có - tài sản nợ của ngân hàng cũng như mức độtuân thủ và mức độ đầy đủ của các chính sách về thanh khoản Về bản chất,

số lượng và sử dụng trước các cam kết về tín dụng và bảo lãnh cũng là nhữngyếu tố cần được đưa vào xem xét

đ- Độ nhạy với rủi ro (S): Mức độ nhạy cảm với rủi ro phản ánh mức độ tại

đó những thay đổi về lãi suất, tỷ giá hối đoái, giá tiêu dùng hoặc giá vốn cóthể ảnh hưởng đến thu nhập hoặc vốn của ngân hàng Khi đánh giá hạng mụcnày, nên xem xét cả các vấn đề sau: khả năng của ban lãnh đạo ngân hàngtrong việc xác định, đo lường, giám sát và kiểm soát rủi ro thị trường; quy môngân hàng; bản chất và mức độ phức tạp về các hoạt động kinh doanh củangân hàng; và mức độ đầy đủ về vốn và thu nhập liên quan đến mức rủi ro thịtrường

Đối với nhiều ngân hàng, các rủi ro thị trường chủ yếu xuất phát từtrạng thái đầu tư theo đúng kỳ đáo hạn và mức độ nhạy cảm với những thayđổi về lãi suất ở một số ngân hàng lớn hơn, các hoạt động ở nước ngoài cóthể là nguyên nhân chủ yếu về rủi ro thị trường và một số khác thì các hoạtđộng về kinh doanh ngoại hối lại là nguyên nhân chính về rủi ro thị trường

Trang 20

Độ nhạy được đánh giá dựa vào các yếu tố sau:

- Độ nhạy về thu nhập của ngân hàng hoặc giá trị kinh tế về vốn đối vớinhững thay đổi bất lợi về lãi suất, tỷ giá hối đoái, giá thị trường hoặc giá vốn

- Khả năng của ban lãnh đạo ngân hàng trong việc xác định, đo lườnggiám sát và kiểm soát rủi ro đối với rủi ro thị trường dựa vào quy mô ngânhàng, mức độ phức tạp và các rủi ro trong quá khứ

- Bản chất và mức độ phức tạp của rủi ro lãi suất xuất phát từ trading positions

non Nếu phù hợp, bản chất/mức độ phức tạp của rủi ro thị trường xuấtphát từ hoạt động kinh doanh

Trên cơ sở phân tích những tiêu chí như trên, cơ quan Thanh tra Giámsát ngân hàng sẽ tiến hành việc xếp hạng đối với từng ngân hàng Việc tổnghợp xếp hạng được thực hiện theo quy định của NHTW Việc đánh giá dựatrên thang điểm với mức động tăng dần của mức độ cần giám sát Mức xếphạng tổng hợp sẽ là kết quả tổng hợp của việc xếp hạng cấu phần theo quyđịnh Việc tổng hợp xếp hạng không phải là công việc tính trung bình của cáccấu phần xếp hạng, mặc dù kết quả thực tế thường trùng với kết quả của việctính toán trung bình đơn giản này Việc xếp hạng cho từng cấu phần được tiếnhành độc lập nhưng cũng cần xem xét mối quan hệ với các cấu phần khác.Mức xếp quá cao hoặc quá thấp cho một cấu phần có thể dẫn đến điều chỉnhtăng hoặc giảm xếp hạng cho các cấu phần khác Các mức xếp hạng thườnglà:

- Xếp hạng 1: Các ngân hàng tốt ở mọi hạng mục trong CAMELS Cácngân hàng ở trong tình trạng tài chính mà có thể đối phó với những khó khănhoặc những thay đổi trong nền kinh tế nói chung hoặc trong khu vực ngânhàng nói riêng Được các cán bộ thanh tra giám sát nhận định, đánh giá tích

Trang 21

cự; chỉ có những vấn đề nhỏ và có thể khắc phục thông qua hoạt động hàngngày Các ngân hàng không cho thấy lý do cần phải giám sát hoặc lo ngại chongân hàng Trung ương.

- Xếp hạng 2: Các ngân hàng về cơ bản tôt trong hầu hết các hạng mụcthuộc CAMELS Các ngân hàng có tình trạng tài chính về cơ bản là ổn định,

có khả năng điều chỉnh trước những điều kiện thay đổi trong môi trường kinh

tế hoặc trong hoạt động ngân hàng Các nhận định hoặc kết luận tổng thể củacác cán bộ thanh tra, giám sát cho thấy có sự lo ngại nhưng những lo ngại này

là nhỏ và có thể khắc phục một cách trình tự trong quá trình kinh doanh bìnhthưừong Các ngân hàng cần giám sát để đảm bảo rằng các nhận định từ kếtquả thanh tra hoặc phân tích giám sát từ xa được ban lãnh đạo ngân hàng khắcphục trong quá trình kinh doanh bình thường

- Xếp hạng 3: Các ngân hàng nhìn chung bị suy yếu do các vấn đề vềtài chính, tác nghiệp hoặc tuân thủ (luật pháp hoặc qui chế của nội bộ) mà cácvấn đề này trong mức độ từ hơi xấu đến không thỏa mãn Dễ suy yếu th êmnếu tình hình kinh tế xấu đi hoặc những thay đổi bất lợi diễn ra trong khu vựcngân hàng Có khả năng suy giảm nếu các hành động không được thực hiệnnhanh chóng và/hoặc các hành động đó không hiệu quả trong việc khắc phụccác yếu kém

- Xếp hạng 4: Các ngân hàng trong tình trạng tài chính mà nếu không

có biện pháp khắc phục có thể làm giảm khả năng tồn tại của ngân hàng Cónguy cơ cao về khả năng sụp đỗ trong tương lai Các ngân hàng cần phải giámsát và theo dõi chặt chẽ cũng như cần có một kế hoạch rõ ràng về việc khắcphục tất cả các khiếm khuyết đã được ghi nhận Các ngân hàng cần đượcNgân hàng Trung ương đặt trong một chương trình khắc phục

Trang 22

- xếp hạng 5: Các ngân hàng có khả năng sụp đổ trong tương lai gần.Vốn bị suy yếu và ngân hàng có thể tuyên bố giải thể Các ngân hàng cho thấynhiều khiếm khuyết nghiêm trọng và những khiếm khuyết này quan trọng tớimức cần có ngay sự trợ giúp về tài chính từ chủ sở hữu hoặc các nguồn tàichính khác Nếu không có ngay các hành động khắc phục và/hoặc sự hỗ trợ

về tài chính sẽ có thể phải sáp nhập, bán lại hoặc thanh lý

1.2.5 Phương pháp và quy trình giám sát từ xa theo CAMELS

a Phương pháp giám sát từ xa theo CAMELS

Phương thức giám sát từ xa được ra đời từ hệ thống Ngân hàng Mỹ vàonhững năm cuối thập kỷ 70, thời kỳ có nhiều ngân hàng lớn ở Mỹ rơi vào tìnhtrạng khủng hoảng mặc dù ở Mỹ có Hệ thống thanh tra của Ngân hàng Trungương và cơ quan bảo hiểm tiền gửi rất mạnh Thời gian sau tình trạng tương

tự lại diễn ra tại Tây Ban Nha Qua nghiên cứu, các nhà quản lý ngân hàngphát hiện những hiện tượng không bình thường và dẫn đến khủng hoảng nóitrên phần lớn đều phát sinh trong thời gian “khoảng trống” giữa hai kỳ thanhtra tại chỗ Tình trạng này cũng diễn ra khá phổ biến ở các nước trên thế giới

Để khắc phục những hiện tượng này, các nhà quản lý đã đưa ra một phươngpháp nhằm giám sát thường xuyên hoạt động của các NHTM, đó là phươngthức giám sát từ xa, được áp dụng hầu như phổ biến đối với hoạt động thanhtra của Ngân hàng Trung ương các nước và trở thành một biện pháp nghiệp

vụ thiết yếu không thể thiếu trong quá trình giám sát, thanh tra hoạt động cácNHTM

Phương pháp CAMELS được xây dựng dựa trên việc giám sát đối vớitừng hoạt động chủ yếu (C-A-M-E-L-S) của NHTM bao gồm hoạt động đảmbảo mức độ an toàn vốn (C), hoạt động đánh giá chất lượng tài sản có (A),

Trang 23

hoạt động quản lý của NHTM (M), hoạt động thu nhập (E), hoạt động quản lýthanh khoản (L), và hoạt động quản lý độ nhạy (S).

Trên cơ sở giám sát từng hoạt động của NHTM Cơ quan TTGSNH cóthể đưa ra những nhận xét, đánh giá , xếp hạng cho từng hoạt động và từ đóđưa ra những kết luận chung cho hoạt động tổng thể của ngân hàng như đã đềcập ở trên

Định kỳ (hàng tháng, hàng quý), trên cơ sở phân tích các báo cáo tàichính của các TCTD và các nguồn số liêu khác, Cơ quan TTGSNH xây dựngbáo cáo giám sát theo CAMELS

Báo cáo giám sát theo CAMELS là cầu nối giữa báo cáo phân tích của

bộ phận giám sát từ xa và các thông tin của bộ phận thanh tra tại chỗ Báo cáonày bao gồm các cả tính toán các chỉ số và các đồ thị phân bố tần suất chotừng ngân hàng được cung cấp bởi bộ phận giám sát từ xa và những phân tích

có tính diễn giải từ những thông tin mang tính chủ quan của bộ phận thanh tratại chỗ và các nguồn thông tin khác Đây cũng là bản báo cáo mà trong đómỗi NHTM cụ thể sẽ được xếp loại theo CAMELS Việc xếp hạng theoCAMELS của một NHTM cụ thể nào đó có thể được coi là dấu hiệu đầu tiên

để lên kế hoạch thanh tra và thiết lập nội dung thanh tra của các lần thanh tracho ngân hàng đó Các số liệu và chỉ số trong báo cáo này được cung cấp bởi

bộ phận giám sát từ xa, trong khi đó những đánh giá định tính và xếp hạngđược thực hiện bởi bộ phận thanh tra tại chỗ

b Qui trình giám sát từ xa theo CAMELS

Hàng tháng, Thanh tra ngân hàng chuẩn bị dữ liệu, như: thu thập số liệuthông qua báo cáo của các NHTM và những nguồn thông tin khác (ở các bộphận thanh tra tại chỗ hoặc qua các phương tiện thông tin đại chúng ), số liệulưu trữ; lựa chọn những thời kỳ so sánh ban đầu; tiến hành phân tích và đánh

Trang 24

giá các NHTM theo các cấu phần của CAMELS Sau khi có liệu đánh giá,

phân tích, cán bộ giám sát xây dựng Báo cáo giám sát vĩ mô; xây dựng báo

cáo giám sát theo CAMELS hàng quí; báo cáo Hệ thống cảnh báo sớm.

Những báo cáo này được gửi cho Ban lãnh đạo NHTW, Ban lãnh đạo Cơquan TTGSNH và các bộ phận thanh tra tại chỗ, sau cùng là cập nhật, lưu trữ

số liệu

Nguồn: Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng

Sơ đồ 1.1: Qui trình giám sát các tổ chức tín dụng

1.3 Chất lượng giám sát từ xa

1.3.1 Khái niệm về chất lượng

Có những cách tiếp cận khác nhau về khái niệm chất lượng và mỗi kháiniệm đều có căn cứ khoa học của nó Tuy nhiên, hiện nay Tổ chức quốc tế về

tiêu chuẩn hóa (ISO) đã đưa ra định nghĩa như sau:” Chất lượng là mức độ

đáp ứng yêu cầu của một tập hợp các đặc tính vốn có ”.

1.3.2 Nội dung đánh giá chất lượng giám sát từ xa theo CAMELS

Trang 25

a Quan niệm chung về chất lượng giám sát từ xa

Chất lượng GSTX là vấn đề khó, bởi vì công tác thanh tra giám sát làkhá phức tạp, do đó việc xác định chất lượng của hoạt động này cũng khó cóquan điểm thống nhất Tuy nhiên, qua nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn

có thể rút ra: Chất lượng GSTX là mức độ đạt được mục tiêu, yêu cầu và nội

dung của hoạt động này”.

Đối với NHNN nói chung và TTNH Nhà nước nói riêng , việc đánh giáchất lượng của công tác GSTX là việc Cơ quan TTGSNH thông qua phươngpháp phân tích làm rõ những mặt được, cũng như phát hiện kịp thời nhữngyếu kém, nhất là những nguy cơ dẫn đến rủi ro trong hoạt động của TCTD đểkịp thời cảnh báo và chấn chỉnh nhằm đưa hoạt động của TCTD vào nề nếp

và đạt hiệu quả cao hơn Mặt khác, thông qua việc này, TTNH còn góp phầngiúp cho NHNN trong việc bổ xung, sử đổi những quy định không phù hợp,góp phàn làm tố hơn công tác quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngânhàng

b Nội dung cụ thể về chất lượng giám sát từ xa của Thanh tra ngân hàng

- Thứ nhất, phân tích và đánh giá đúng tình hình tài chính và các hoạt

động khác của từng TCTD cũng như của toàn hệ thống ngân hàng;

- Thứ hai, thông qua báo cáo giám sát từ xa thể hiện đầy đủ những nộidung cảnh báo về tình hình của từng TCTD và toàn hệ thống ngân hàng, giúpcho Lãnh đạo NHNN chỉ đạo hoạt động quản lý nhà nước về tiền tệ và ngânhàng kịp thời hơn;

- Thứ ba, thông qua nội dung cảnh báo về tình hình của TCTD để cungcấp thường xuyên những vấn đề cần thiết cho bộ phận thanh tra tại chỗ, nhất

là những cảnh báo về rủi ro trong hoạt động của TCTD từ đó nâng cao hiệuquả các cuộc thanh tra tại chỗ;

Trang 26

- Thứ tư, khi tiếp nhận những nội dung cảnh báo từ TTNH, các TCTDtiếp thu và có biện pháp khắc phục kịp thời những tồn tại yếu kém, từ đó nângcao hiệu quả hoạt động kinh doanh.

c Những nhân tổ ảnh hưởng đến chất lượng giám sát từ xa theo CAMELS

* Nhân tố chủ quan

- Hệ thống công nghệ ngân hàng nói chung và công nghệ phục vụ chohoạt động GSTX cũng như việc truyền dẫn thông tin của NHNN cần được cảitiến phù hợp để phục vụ việc tập hợp và phân tích được thuận lợi, khẩntrương và chính xác, từng bước phù hợp với thông lệ quốc tế về thanh tragiám sát ngân hàng;

- Trình độ của cán bộ trực tiếp thực hiện công tác GSTX ngày càngđược nâng cao, trong đó chú trọng việc phân tích, đánh giá, xếp hạng ngânhàng

- Sự quan tâm của ban Lãnh đạo NHNN trong việc chỉ đạo một cáchthường xuyên hoạt động của TTNH nói chung, đối với công tác GSTX nóiriêng về: trang bị kỹ thuật, đào tạo cán bộ và thái độ đối với những sai phạmcủa TCTD

Trang 27

Mặt khác, hoạt động quản trị ngân hàng nói chung và quản trị rủi ro nói riêngcủa TCTD phải được quan tâm đúng mức.

1.4 Một số kinh nghiệm về tổ chức và hoạt động thanh tra, giám sát của ngân hàng một số nước trên thế giới

1.4.1 Về tổ chức cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng

Tham khảo kinh nghiệm tổ chức Cơ quan thanh tra của TTNH một sốnước trong khu vực và trên thế giới cho thấy hoạt động thanh tra giám sátngân hàng được các nước đặc biệt chú trọng Mặc dù có sự khác nhau về môhình tổ chức, nội dung và cách thức hoạt động, song hoạt động thanh tra giámsát ngân hàng ở các nước đều có mục tiêu chung, đó là , đánh giá sự ổn định,phát triển, việc tuân thủ luật pháp của các TCTD, qua đó bảo vệ lợi ích chínhdáng của người gửi tiền

Tại Nhật Bản: Bộ trưởng Bộ Tài chính bổ nhiệm Tổng Kiểm soát ngân

hàng để giám sát hoạt động ngân hàng của các TCTD Hoạt động thanh tra tạichỗ của ngân hàng đặc biệt chú trọng đến việc đánh giá chất lượng tài sản cócủa TCTD

Tại Hàn Quốc: Tổng Thanh tra ngân hàng theo sự phân công của Bộ

trưởng Bộ tài chính tiến hành thanh tra, giám sát hoạt động các TCTD báocáo Bộ Tài chính và Hội đồng tiền tệ quốc gia Hiện nay, Hàn Quốc đã vàđang xây dựng tổ chức Thanh tra dộc lập như tổ chức thanh tra thị trường vốn

ở Hunggari và một số nước khác

Tại Trung Quốc: Thành lập Ủy ban Quản lý Ngân hàng Trung Quốc

để giám sát lĩnh vực ngân hàng, tách biệt chức năng giám sát của ngân hàngNhân dân Trung Hoa Là cơ quan độc lập, chịu trách nhiệm cấp phép vàThanh tra ngân hàng

Trang 28

Tại Thái Lan: Luật Ngân hàng thương mại Thái Lan trao quyền cho

Bộ trưởng Bộ Tài chính bổ nhiệm các Thanh tra viên Thực tế, việc Thanh trangân hàng do Ngân hàng Trung ương Thái Lan tiến hành Bộ trưởng Bộ Tàichính có quyền chỉ định người điều tra một ngân hàng hoặc uỷ quyền choNgân hàng Trung ương Thái Lan cử người điều tra ngân hàng

1.4.2 về hoạt động giám sát từ xa

Tại Anh: Ngân hàng Trung ương Anh không thực hiện định kỳ các

cuộc thanh tra tại chỗ Việc thanh tra hoạt động của TCTD được tiến hànhdựa trên các báo cáo định kỳ, thường gọi là GSTX, thông qua các cuộc phỏngvấn thường xuyên theo phạm vi rộng và thảo luận với các nhà quản lý cao cấpcủa ngân hàng đó Các thông tin bổ sung không có báo cáo thống kê cũngthường xuyên được hỏi đến thông qua việc Ngân hàng Trung ương thườngxuyên duy trì mối liên hệ chặt chẽ với các cơ quan giám sát nước ngoài

Tại Mỹ: Hoạt động GSTX được coi là hòn đá tảng trong giám sát

phòng ngừa và là cơ sở xếp loại các ngân hàng theo 5 yếu tố: an toàn vốn,chất lượng tài sản, quản lý, khả năng thanh toán và khả năng sinh lời(CAMEL)

Hiện nay ở nhiều nước trên thế giới (Hàn Quốc, Hungari, Cộng hòaPháp, Cộng hòa Liên bang Đức ) , tổ chức và hoạt động thanh tra giám sátđối với NHTM nằm trong cơ quan Giám sát thị trường tài chính Ở đây chủyếu tổ chức việc giám sát từ xa đối với các đơn vị thuộc thẩm quyền, thôngqua kết quả giám sát sẽ tổ chức việc thanh tra tại chỗ đối với những đơn vị cụthể Việc thanh tra tại chỗ có thể do cơ quan Thanh tra Thị trường tài chínhthực hiện hoặc chuyển cho tổ chức TTNH thực hiện, điển hình như ở Cộnghòa Pháp( do Vụ TTNH thực hiện), hay ở Cộng hòa Liên bang Đức ( thuêcông ty Kiểm toán độc lập thực hiện)

Trang 29

Tuy luận văn chỉ mới đề cập được kinh nghiệm về hoạt động GSTXcủa Ngân hàng trung ương của một số nước khác nêu ở trên, nhưng cũng cóthể rút ra được một số kinh nghiệm cho Việt Nam như sau:

Một là, do điều kiện kinh tế thế giới ngày càng diễn biến phức tạp khólường, như khủng hoảng tài chính toàn cầu vừa qua, làm khó khăn cho hoạtđộng, gây rủi ro ngày càng lớn cho hoạt động ngân hàng Vì vậy cần phải cónhững cơ chế kiểm soát đối với thị trường tài chính nói chung và đối vớiNHTM nói riêng một cách kịp thời và phù hợp

Hai là, hoạt động thanh tra giám sát phải toàn diện để có thể nắm bắtđầy đủ và cập nhật hơn tình hình tài chính, đặc biệt là tình hình rủi ro của cácngân hàng, vì vậy phương pháp GSTX theo CAMELS ở nước ta hiện nay làphù hợp, song phải nâng cấp và hoàn thiện nhằm nâng cao hơn hiệu quả củaphương pháp này, bao gồm cả nội dung, phương pháp và quy trình trongGSTX và cả các điều kiện khác như: nguồn nhân lực, công nghệ phục vụgiám sát

Ba là, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa Cơ quan TTGSNH với các cơquan chức năng có liên quan như: Thanh tra Nhà nước, các đơn vị kiểmtoán để nâng cao hiệu quả trong công tác thanh tra giám sát ngân hàng

Kết luận chương 1

Thanh tra, giám sát nói chung và hoạt động GSTX của NHNN ViệtNam nói riêng đóng vai trò quan trọng trong việc phân tích, đánh gía tình hìnhhoạt động và cảnh báo sớm những rủi ro có thể xảy ra đối với hoạt động củacác TCTD Việc không ngừng hoàn thiện nghiệp vụ GSTX là việc làm thườngxuyên để góp phần đảm bảo an toàn hệ thống tài chính tiền tệ quốc gia của Cơquan Thanh tra, giám sát ngân hàng

Trang 30

Chương 2

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIÁM SÁT TỪ XA CỦA THANH TRA NGÂN HÀNG 2.1 Tổng quan về quá trình hình thành và phát triển của Thanh tra ngân hàng Nhà nước Việt Nam

2.2.1 Từ khi thành lập đến trước khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 83/2009/QĐ-TTg ngày 27/5/2009

Ngày 26/5/1956, căn cứ vào Sắc lệnh số 261/SL ngày 28/3/1956 vàtheo đề nghị của Tổng Giám đốc Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, Thủ tướngChính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ký ban hành Quyết định số900- TTg thành lập Ban Thanh tra ngân hàng Quốc gia Việt Nam- tổ chứctiền thân của Cơ quan TTGSNH thuộc NHNN Việt Nam hiện nay

Bước đầu đi vào hoạt động, TTNH gặp không ít những khó khăn vướngmắc, nhất là việc xây dựng các định chế và quy chế hoạt động thanh tra phùhợp với thực tế hoạt động Mặc dù là một tổ chức mới được thành lập với vôvàn những khó khăn ban đầu, song cùng với nỗ lực của Ban lãnh đạo và tậpthể cán bộ công nhân viên, TTNH đã từng bước xác định được phương hướngnhiệm vụ của mình, khắc phục khó khăn, dần tạo dựng được nền tảng pháttriển

Tuy nhiên, do bất cập về nhận thức lại hoạt động trong một nền kinh tếbao cấp nặng nề nên tổ chức và hoạt động của TTNH không được Lãnh đạoNHNN quan tâm đúng mức

Từ khi thành lập đến đầu năm 1990, Cơ quan TTGSNH chỉ là một tổchức trực thuộc Tổng giám đốc (nay là Thống đốc) NHNN Việt Nam, chủ yếulàm nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra hành chính( chủ yếu là xét khiếu nại, tố cáocủa cán bộ trong Ngành) theo chỉ đạo của Ban Lãnh đạo NHNN Tổ chức của

Trang 31

TTNH hồi đó rất đơn giản, cán bộ lại bao gồm hầu hết những người khôngđảm nhận tốt nhiệm vụ hoặc khó bố trí ở các đơn vị chuyên môn khác đượcđiều động đến.

Từ năm 1990, cùng với quá trình đổi mới của nền kinh tế cũng như của

hệ thống Ngân hàng Việt Nam, tổ chức và hoạt động của TTNH cũng đượcđổi mới Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, NHNN từng bước đổi mới côngtác của TTNH Từ đây, TTNH là tổ chức Thanh tra nhà nước chuyên ngành

về ngân hàng, được tổ chức thành hệ thống thuộc bộ máy của NHNN ViệtNam TTNH được tổ chức và hoạt động theo Nghị định số 91/1999/NĐ-CPcủa Thủ tướng Chính phủ, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, góp phầnbảo đảm an toàn hệ thống các TCTD, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củangười gửi tiền, phục vụ việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia TTNH cócác nhiệm vụ và quyền hạn sau:

- Thực hiện việc giám sát thường xuyên và tiến hành các cuộc thanh tratrực tiếp về tổ chức và hoạt động của TCTD, về hoạt động ngân hàng của các

tổ chức khác, về hoạt động ngoại hối và kinh doanh vàng thuộc chức năngquản lý Nhà nước của NHNN, nhằm phát hiện, ngăn chặn các vi phạm; kiếnnghị biện pháp bảo đảm thi hành pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng

- Kiến nghị Thống đốc NHNN áp dụng các biện pháp xử lý như: ĐặtTCTD và tình trạng kiểm soát đặc biệt; Đình chỉ một số hoạt động ngân hàngcủa TCTD; Thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng của TCTD,thu hồi giấy phép hoạt động ngân hàng của tổ chức khác

- Xử phạt vi phạm hành chính và kiến nghị xử phạt vi phạm hành chínhtrong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp luật;

- Kiến nghị Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chấp thuận hoặc khôngchấp thuận tổ chức kiểm toán vào kiểm toán tổ chức tín dụng;

Trang 32

- Được bảo lưu ý kiến, nếu thủ trưởng cơ quan Ngân hàng Nhà nướccùng cấp không nhất trí với kết luận của Thanh tra ngân hàng và chịu tráchnhiệm về ý kiến đó, đồng thời phải báo cáo cơ quan Nhà nước có thẩm quyềntheo quy định của pháp luật về thanh tra;

- Thẩm tra, xác minh, kết luận, kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý cáckhiếu nại, tố cáo liên quan đến ngành ngân hàng; tham mưu cho Thống đốcNgân hàng Nhà nước về chỉ đạo, kiểm tra việc phòng ngừa và đấu tranhchống tham nhũng theo quy định của pháp luật trong ngành ngân hàng;

- Bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra cho cán bộ, công chức thuộc hệ thốngThanh tra ngân hàng;

- Quản lý, chỉ đạo việc thực hiện chương trình, kế hoạch và nghiệp vụcông tác thanh tra trong ngành ngân hàng;

- Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn theo Pháp lệnh Thanh tra và cácnhiệm vụ khác do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước giao

Trong thời kỳ này, tổ chức của TTNH cũng được sắp xếp lại cho phùhợp với yêu cầu mới, TTNH đã thành lập các Phòng, gồm có: Phòng Thanhtra các ngân hàng Quốc doanh, Phòng Thanh tra các ngân hàng Cổ phần,Phòng thanh tra các ngân hàng Nước ngoài và Liên doanh, Phòng giám sát vàPhân tích, Phòng Chế độ thanh tra Phòng Giám sát và Phân tích được thànhlập vào năm cuối năm 1994 trên cơ sở nghiên cứu phương pháp hoạt động củamột số Ngân hàng nước ngoài Căn cứ vào quy chế và các quy định củaNHNN Việt Nam, TTNH đã xây dựng được hệ thống thông tin báo cáo đốivới các TCTD và chương trình GSTX, nhưng mới dừng ở 4 chỉ tiêu theoCAMELS Ở tất cả các Chi nhánh NHNN tỉnh, thành phố đều có tổ chứcTTNH, trong đó có bộ phận làm GSTX Việc đổi mới tổ chức và hoạt độngThanh tra ngân hàng đã khẳng định được tính đúng đắn của một chủ trương

Trang 33

về củng cố một tổ chức có tầm quan trọng trong hoạt động quản lý của

NHNN nhằm bảo đảm an toàn hoạt động của hệ thống Ngân hàng Việt Nam.

Ngay từ giai đoạn đầu của quá trình đổi mới, Thanh tra ngân hàng đãxác định mục tiêu của công tác này trong chương trình 3 năm (1991-1993) là:

- Giữ vững tính pháp lý, tính an toàn, tính vững chắc để các ngân hàng,

TCTD hoạt động đúng pháp luật, hạn chế rủi ro

- Giữ cho các ngân hàng và TCTD hoạt động ổn định và tăng thêm lòng

tin của nhân dân và các tổ chức này

Trong gần 40 năm hoạt động trong điều kiện ngành Ngân hàng mộtcấp, đến đầu năm 1990, tổ chức bộ máy của TTNH mới bắt đầu được quantâm đúng mức, cán bộ làm công tác thanh tra đã không ngừng được tăngcường, cả về số lượng cũng như chất lượng Cán bộ Thanh tra toàn hệ thốngNHNN đã tăng từ vài chục người lên khoảng 500 người Hệ thống tổ chứcTTNH bao gồm: Thanh tra NHNN ở Trung ương ( gọi là TTNH Nhà nước)

và Thanh tra chi nhánh NHNN tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi tắt

là Thanh tra chi nhánh NHNN) Tại Thành phố Hồ Chí Minh và Hà nội cũngđược tăng cường, mỗi nơi có tới vài chục người TTNH Nhà nước ở các Chinhánh được chia thành các tổ: Tổ Thanh tra tại chỗ, Tổ Giám sát và phân tích.Tuy nhiên, theo yêu cầu công việc có thể trưng dụng cán bộ của các phòngban khác tham gia đoàn thanh tra theo quyết định của Giám đốc chi nhánh

2.1.2 Từ khi có Quyết định 83 của Thủ tướng Chính phủ

Triển khai chủ trương xây dựng NHNN Việt Nam trở thành NHTW hiện đại,Chính phủ đã ban hành Nghị định số 96/2008/NĐ-CP ngày 26 tháng 8 năm

2008 “quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức củaNHNN Nhà nước Việt Nam “, trong đó có tổ chức lại Cơ quan TTGSNHtrước đây thành cơ quan Thanh tra Giám sát ngân hàng Đây chính là bước

Trang 34

tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của TTNH Trên cơ sở đó ngày27/5/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 83/2009/QĐ-TTg quy định về tổ chức và hoạt động của Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân

hàng Theo Quyết định 83 nói trên, TTNH sáp nhập với Vụ Các Ngân hàng,

Vụ Tổ chức tín dụng hợp tác, Cục Phòng chống rửa tiền để thành lập Cơ quanThanh tra, giám sát ngân hàng Đến nay, cơ cấu tổ chức của Cơ quan Thanhtra, giám sát ngân hàng được bố trí như sau: Cơ quan TTGSNH ở Trung ương

và bộ phận TTGS ngân hàng ở NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộcTrung ương (gọi tắt là Thanh tra chi nhánh)

Cơ quan TTGSNH chịu sự điều hành trực tiếp của Thống đốc NHNN,giúp Thống đốc NHNN thực hiện chức năng Thanh tra ngân hàng trên phạm

vi cả nước Hiện nay, số cán bộ của Cơ quan TTGSNH được tăng cường khámạnh để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của hoạt động thanh tra, giám sátngân hàng Tại Thanh tra ngân hàng Trung ương đến nay đã có gần 350 cán

bộ, tại Chi nhánh đã bố trí số cán bộ thanh tra bình quân từ 6 đến 12 người,riêng tại Thành phố Hà Nội 68 người, tại Thành phố Hồ Chí Minh là 73người, được chia thành các tổ: Tổ Thanh tra tại chỗ, Tổ Giám sát và phân tích

Tại Cơ quan TTGSNH ở Trung ương được bố trí các đơn vị như sau:(i) Vụ Thanh tra các ngân hàng thương mại Nhà nước;

(ii) Vụ Thanh tra các TCTD nước ngoài;

(iii) Vụ Thanh tra hành chính, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng,chống tham nhũng;

(iv) Vụ Giám sát ngân hàng;

(v) Vụ Chính sách an toàn hoạt động ngân hàng;

(vi) Vụ Quản lý cấp phép các TCTD và hoạt động ngân hàng;

Trang 35

(vii) Văn phòng;

(viii) Cục Phòng, chống rửa tiền;

Hệ thống tổ chức TTGSNH ở nước ta hiện nay cũng được bố trí thành 2cấp: Cơ quan TTGSNH ở Trung ương và Thanh tra NHNN chi nhánh tỉnh,thành:

Nguồn: Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng

Sơ đồ 2.1: Tổ chức của Thanh tra ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Nhìn vào sơ đồ trên ta thấy Cơ quan TTGSNH dường như chịu sự lãnhđạo song trùng của cả Thống đốc NHNN và Tổng Thanh tra Chính phủ, cónghĩa là tổ chức của TTNH vẫn chưa độc lâp hoàn toàn Do đó tổ chức và cơchế điều hành hoạt động của TTNH còn chồng chéo và kém hiệu lực Mặt

Trang 36

khác, bộ phận TTNH Nhà nước tại Chi nhánh tỉnh, thành phố cũng có sự songtrùng lãnh đạo, vừa chịu sự quản lý trực tiếp của Giám đốc NHNN chi nhánh,vừa chịu sự quản lý về nghiệp vụ của Chánh Thanh tra cơ quan TTGSNH.

2.2 Thực trạng hoạt động giám sát từ xa theo CAMELS của Thanh tra ngân hàng

2.2.1 Một số nét chính về hoạt động thanh tra tại chỗ

Thanh tra tại chỗ là phương pháp thanh tra truyền thống, là việc thanhtra được tổ chức tại nơi làm việc của đối tượng thanh tra và tại các tổ chứckinh tế, cá nhân là khách hàng của ngân hàng trên cơ sở kiểm tra, xem xét cácvăn bản, thông tư chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện cơ chế, quy chế của ngành;các báo cáo kế toán, thống kê, các chứng từ, tài liệu, sổ sách, hợp đồng cóliên quan đến hoạt động huy động vốn - sử dụng vốn và công tác kế toán - tàichính của đối tượng được thanh tra

Hiện nay, TTNH vẫn thực hiện quy trình thanh tra tại chỗ như sau:Đầu năm, TTNH xây dựng chương trình công tác thanh tra trong năm và gửilên Thống đốc NHNN Sau khi chương trình công tác thanh tra được Thốngđốc phê duyệt thừa lệnh Thống đốc, Chánh Thanh tra NHNN cụ thể hóachương thanh tra đến các chi nhánh NHNN tỉnh, thành phố và trực tiép chỉđạo thực hiện tại Cơ quan TTGSNH ở Trung ương Các chi nhánh NHNN căn

cứ vào chương trình này để xây dựng kế hoạch thanh tra cho chi nhánh mình

Hoạt động thanh tra tại chỗ có thể thực hiện theo chương trình kế hoạch

đã được duyệt hoặc có thể tiến hành thanh tra đột xuất khi phát hiện có dấuhiệu rủi ro lớn hoặc có hành vi vi phạm pháp luật

Nội dung của thanh tra tại chồ theo định kỳ bao gồm:

- Thanh tra quản trị điều hành;

Trang 37

- Thanh tra nguồn vốn;

- Thanh tra chất lượng tín dụng;

- Thanh tra nghiệp vụ bảo lãnh;

- Thanh tra hoạt động kinh doanh ngoại tệ;

- Thanh tra hùn vốn liên doanh;

- Thanh tra nghiệp vụ tài chính, kế toán

Nội dung thanh tra đột xuất có thể giống nội dung thanh tra định kỳ, cóthể chỉ là một trong những nội dung của thanh tra định kỳ, tức là tùy yêu cầuthực tế phát sinh vụ việ để xác định nội dung thanh tra

Quy trình 1 cuộc thanh tra tại chồ gồm 6 bước:

- Bước1: Chuẩn bị thanh tra thanh tra;

- Bước2: Tiến hành thanh việc thanh tra;

- Bước3: Tổng hợp kết quả và lập biên bản;

- Bước 4: Thông qua biên bản kết luận thanh tra;

- Bước 5: Báo cáo kết quả lên Lãnh đạo;

- Bước 6: Theo dõi việc tiếp thu, chỉnh sửa của đối tượng thanh tra và

xử lý khi cần thiết

Nội dung thanh tra tại chỗ gồm:

- Xác định rủi ro trong hoạt động của TCTD Căn cứ là Quyết định số

493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc NHNN với nội dung làxem xét việc phân loại nợ theo các nhóm, qua đó xác định chất lượng tín dụng

và mức độ rủi rovề tín dụng của mỗi TCTD và Quyết định số NHNN ngày 19/2005 của Thống đốc NHNN mục đích là để xem xét việcthực hiện các quy định an toàn trong hoạt động của TCTD như: Tỉ lệ an toànvốn tố thiểu; giới hạn tín dụng; tỉ lệ về khả năng chi trả

Trang 38

457/2005/QĐ Kiểm tra việc thực hiện các hoạt động khác như: bảo lãnh, hoạt động

dịch vụ của TCTD

Qua việc tiến hành thanh tra tại chố, nếu phát hiện TCTD vi phạm cácquy định bảo đảm an toàn hoặc những vi phạm khác về tiền tệ và hoạt độngngân hàng thì yêu cầu chấn chỉnh hoặc xử lý theo các quy định của pháp luật

Một số kết quả đạt được qua công tác thanh tra tại chỗ:

Trên cơ sở các nhiệm vụ được giao, trong năm 2009 và năm 2010, Cơquan Thanh tra, giám sát ngân hàng đã triển khai 58 cuộc thanh tra, kiểm tra(28 cuộc thanh tra, kiểm tra theo kế hoạch và 30 cuộc thanh tra, kiểm tra độtxuất) Trong đó, đã triển khai thử nghiệm phương pháp thanh tra trên cơ sởrủi ro đối với NHTM Cổ phần Ngoại Thương Việt Nam và Ngân hàngMizuho chi nhánh Hà Nội Đây là những bước chuẩn bị cho việc chuyển đổiphương pháp thanh tra, áp dụng phương pháp thanh tra trên cơ sở rủi ro của

Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng

Các sai phạm phát hiện qua thanh tra, kiểm tra:

- Sai phạm trong công tác quản trị, điều hành; kiểm tra, kiểm toán nội

bộ: Phát sinh chủ yếu tại các QTDND và một số Công ty tài chính

- Sai phạm trong huy động vốn: Ký hợp đồng huy động vốn trên 12

tháng nhưng cho khách hàng rút trước hạn và hưởng lãi suất theo thỏa thuận,

Trang 39

hàng sử dụng vốn vay sai mục đích, khách hàng không hoàn trả nợ gốc và lãiđúng thời hạn thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.

- Sai phạm về hạch toán, kế toán và thu chi tài chính: Hạch toán không

đúng tính chất tài khoản, hạch toán sai quy định, hạch toán không đầy đủ vàkịp thời các nghiệp vụ kinh tế phát sinh

- Sai phạm về an toàn kho quỹ: Công tác bàn giao kho quỹ còn thiếu

biên bản kiểm tra, thiếu ký nhận bàn giao chìa khoả két sắt; chưa có nội quygiao dịch tiền mặt, chưa mở đầy đủ các loại sổ sách theo quy định

- Sai phạm về hoạt động cho vay đầu tư, kinh doanh chứng khoán, hoạt

động đầu tư góp vốn: Kết quả kiểm tra tại 4 công ty tài chính cho thấy một sốđơn vị không thực hiện trích lập dự phòng giảm giá chứng khoán theo quyđịnh Trong quá trình đầu tư góp vốn có một số tồn tại như: ủy quyền khôngđúng thẩm quyền quy định, hạch toán khoản đầu tư dài hạn không đúng quyđịnh

Kiến nghị xử lý sau thanh tra và xử phạt vi phạm hành chính

- Về xử phạt vi phạm hành chính: Thanh tra ngân hàng toàn hệ thống

đã ban hành 23 Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các TCTD viphạm quy định về quản trị điều hành, hoạt động tín dụng, quản lý ngoại hối;trong đó có 18 Quyết định phạt tiền và 5 Quyết định phạt cảnh cáo; Tổng sốtiền phạt 142 triệu đồng

- Căn cứ kết quả các cuộc thanh tra, kiểm tra trực tiếp tại các TCTD,

các đoàn thanh tra, kiểm tra của NHNN Trung ương và NHNN chi nhánhtỉnh, thành phố đã đưa ra nhiều kiến nghị cụ thể, yêu cầu TCTD khắc phụctồn tại, sai phạm, tập trung vào các lĩnh vực: quản trị, điều hành; hoạt động tíndụng, bảo lãnh; kiểm toán nội bộ; hạch toán kế toán; thu chi tài chính; an toànkho quỹ, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro, hoạt động cho vay đầu tư,kinh doanh chứng khoán, đầu tư góp vốn

Trang 40

2.2.2 Thực trạng chất lượng giám sát từ xa theo CAMELS

a Căn cứ và nội dung giám sát từ xa theo CAMELS

* Căn cứ để thực hiện công tác GSTX của TTNH là số NHNN3 ngày 9 tháng 11 năm 1999 của Thống đốc NHNN về việc ” ban hành

398/1998/QĐ-Qui chế giám sát từ xa đối với các ngân hàng và TCTD hoạt động trên địa bàn ” Qui chế này quy định nội dung và phương pháp GSTX mà chủ yếu là

việc tổng hợp và phân tích các báo cáo để đánh giá hoạt động của các TCTD.Trên cơ sở đó, TTNH có công văn số 1525/CV-TTrl ngày 22/12/1999 về

“Hướng dân thực hiện quy chế giám sát từ xa đối với các TCTD hoạt động tại Việt Nam’”

Phân công trách nhiệm giám sát từ xa trong hệ thống Ngân hàng Nhànước đối với các TCTD hoạt động tại Việt Nam như sau:

Ở TTNHNhà nước thực hiện giám sát toàn hệ thống đối với:

- Tổ chức tín dụng Nhà nước;

- Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài;

- Tổ chức tín dụng liên doanh;

- Tổ chức tín dụng phi ngân hàng 100% vốn nước ngoài;

- Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương.

Thanh tra chi nhánh NHNN tỉnh, thành phố giám sát đối với:

- Tổ chức tín dụng cổ phần của Nhà nước và nhân dân;

- Các chi nhánh của TCTD;

- Chi nhánh của TCTD phi ngân hàng 100% vốn nước ngoài;

- Quỹ tín dụng nhân dân khu vực;

- Quỹ tín dụng nhân dân Cơ sở.

* Nội dung GSTX theo CAMELS đối với hệ thống TCTD theo các đối

tượng giám được tiến hành theo 5 bước sau:

Ngày đăng: 23/04/2022, 14:37

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tài sản có của toàn hệ thống (ngàn tỷ đồng) - 111 công tác giám sát từ xa của thanh tra NH đối với các tổ chức tín dụng theo CAMELS luận văn thạc sĩ kinh tế
Bảng 2.1 Tài sản có của toàn hệ thống (ngàn tỷ đồng) (Trang 50)
Bảng 2.2: Nguồn vốn huy động (ngàn tỷ đồng) - 111 công tác giám sát từ xa của thanh tra NH đối với các tổ chức tín dụng theo CAMELS luận văn thạc sĩ kinh tế
Bảng 2.2 Nguồn vốn huy động (ngàn tỷ đồng) (Trang 51)
Bảng 2.3: Cơ cấu vốn huy động theo kỳ hạn (ngàn tỷ đồng) - 111 công tác giám sát từ xa của thanh tra NH đối với các tổ chức tín dụng theo CAMELS luận văn thạc sĩ kinh tế
Bảng 2.3 Cơ cấu vốn huy động theo kỳ hạn (ngàn tỷ đồng) (Trang 52)
Bảng 2.5: Cơ cấu vốn huy động thị trường II (ngàn tỷ đồng) - 111 công tác giám sát từ xa của thanh tra NH đối với các tổ chức tín dụng theo CAMELS luận văn thạc sĩ kinh tế
Bảng 2.5 Cơ cấu vốn huy động thị trường II (ngàn tỷ đồng) (Trang 54)
Bảng 2.6: Cơ cấu dư nợ cho vay theo kỳ hạn (ngàn tỷ đồng) - 111 công tác giám sát từ xa của thanh tra NH đối với các tổ chức tín dụng theo CAMELS luận văn thạc sĩ kinh tế
Bảng 2.6 Cơ cấu dư nợ cho vay theo kỳ hạn (ngàn tỷ đồng) (Trang 55)
Bảng 2.8: Dư nợ cho vay đầu tư, KD chứng khoán và lĩnh vực bất động sản - 111 công tác giám sát từ xa của thanh tra NH đối với các tổ chức tín dụng theo CAMELS luận văn thạc sĩ kinh tế
Bảng 2.8 Dư nợ cho vay đầu tư, KD chứng khoán và lĩnh vực bất động sản (Trang 57)
Bảng 2.9: Cơ cấu nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu - 111 công tác giám sát từ xa của thanh tra NH đối với các tổ chức tín dụng theo CAMELS luận văn thạc sĩ kinh tế
Bảng 2.9 Cơ cấu nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu (Trang 59)
Bảng 2.11: Tình hình nhận gửi, đi vay và cho vay đối với các TCTD nước ngoài (ngàn tỷ đồng) - 111 công tác giám sát từ xa của thanh tra NH đối với các tổ chức tín dụng theo CAMELS luận văn thạc sĩ kinh tế
Bảng 2.11 Tình hình nhận gửi, đi vay và cho vay đối với các TCTD nước ngoài (ngàn tỷ đồng) (Trang 61)
Bảng 2.12: Kết quả kinh doanh (ngàn tỷ đồng) - 111 công tác giám sát từ xa của thanh tra NH đối với các tổ chức tín dụng theo CAMELS luận văn thạc sĩ kinh tế
Bảng 2.12 Kết quả kinh doanh (ngàn tỷ đồng) (Trang 62)
Đề xuất mô hình: Mô hình tổ chức hệ thống truyền tải thông tin phục vụ GSTX được thực hiện theo hai giai đoạn để phù hợp với cơ sở hạ tầng mạng máy tính của NHNN. - 111 công tác giám sát từ xa của thanh tra NH đối với các tổ chức tín dụng theo CAMELS luận văn thạc sĩ kinh tế
xu ất mô hình: Mô hình tổ chức hệ thống truyền tải thông tin phục vụ GSTX được thực hiện theo hai giai đoạn để phù hợp với cơ sở hạ tầng mạng máy tính của NHNN (Trang 91)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w