Khi một nền kinh tế có lạm phát ở mức độ cao sẽ dẫnđến sụt giảm tiết kiệm, đầu tư và các luồng vốn huy động từ nước ngoài.Ngoài ra, lạm phát sẽ làm giảm nhịp độ tăng trưởng kinh tế, khả
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng./.
Tác giả luận văn
Lê Thị Ly Anh
Trang 3MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LẠM PHÁT 3
1.1 Khái niệm lạm phát 3
1.2 Đo lường lạm phát 4
1.2.1 Chỉ số giá tiêu dùng 4 1.2.2 Chỉ số giảm phát tổng phẩm quốc nội 5 1.2.3 Chỉ số lạm phát cơ bản 6 1.3 Phânloại lạm phát 7
1.3.1 Lạm phát vừa phải 7
1.3.2 Lạm phát phi mã 7
1.3.3 Siêu lạm phát 7
1.4 Các nguyên nhân và yếu tố làm gia tăng lạm phát 8
1.4.1 Các nguyên nhân làm gia tăng lạm phát 8
1.4.2 Các yếu tố làm gia tăng lạm phát 13
1.5 Tác động của lạm phát đến nền kinh tế: 18
1.5.1 Tác động tích cực của lạm phát đến nền kinh tế 18
1.5.2 Tác động tiêu cực của lạm phát đến nền kinh tế 19
1.6 Kinh nghiệm kiềm chế lạm phát tại một số nước trên thế giới Bài học đối với Việt Nam 21
1.6.1 Kinh nghiệm kiềm chế lạm phát tại một số quốc gia trên thế giới 21
1.6.2 Bài học đối với Việt Nam 25
Kết luận Chương 1 28
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2002-2010 29
2.1 Thực trạng lạm phát của Việt Nam giai đoạn năm 2002-2010 29
2.1.1 Diễn biến mức độ lạm phát của Việt Nam giai đoạn 2002-2010 29
2.1.2 Các nguyên nhân, yếu tố cơ bản của lạm phát Việt Nam giai đoạn năm 2002-2010 ' 34
2.2 Các biện pháp kiểm soát lạm phát giai đoạn năm 2002-2010 38
Trang 42.2.1 về chính sách tiền tệ 38
2.2.2 về chính sách tài khóa 54
2.3 Đánh giá chung 58
2.3.1 Những kết quả đạt được 58
2.3.2 Những hạn chế, tồn tại trong việc kiểm soát lạm phát 61
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại 61
Kết luận Chương 2 68
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP KIỀM CHẾ VÀ PHÒNG NGỪA LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM 69
3.1 Định hướng Chiến lược phát triển KTXH ở Việt Nam giai đoạn 2010-2020 và quan điểm, mục tiêu kiểm soát lạm phát ở Việt Nam 69 3.1.1 Định hướng Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 69
3.1.2 Quan điểm và mục tiêu kiểm soát lạm phát 70
3.2 Giải pháp kiềm chế và phòng ngừa lạm phát ở Việt nam 71
3.2.1 Cải cách hệ thống ngân hàng và doanh nghiệp nhà nước 71
3.2.2 Hoàn thiện và nâng cao hiệu quả điều hành CSTT quốcgia 75
3.2.3 Hoàn thiện các chính sách bổ trợ khác 78
3.2.4 Hoàn thiện và nâng cao chính sách tài khóa 84
3.2.5 Tăng cường hiệu quả phối hợp giữa CSTT và CSTK nhằm đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô 87
3.3 Kiến nghị, đề xuất 91
3.3.1 Đối với Quốc hội 92
3.3.2 Đối với Chính phủ 92
3.3.3 Đối với các Bộ, ngành liên quan 93
Kết luận Chương 3 96
KẾT LUẬN 97 DANH MỤC TÀI LIỆU
Trang 5NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTMNN Ngân hàng thương mại Nhà
nước NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ
Kho bạc Nhà nước Ngân sách Nhà nước
Bộ Tài chính Công nghệ thông tin
Dự trữ bắt buộc Chỉ số giá tiêu dùng Tổng sản phẩm quốc nội
Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 6Hình 1.1 1.4.1 Lạm phát do cầu kéo 9 Hình 1.2 1.4.1 Lạm phát do chi phí đẩy 10 Hình 1.3 1.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ lạm phát 14 Hình 1.4 1.4.2 Mô hình điều chỉnh chống lạm phát 15 Biểu đồ 1.5 1.6.1 Diễn biến lạm phát một số nước từ 12/2005- 12/2007 23 Biểu 2.1 2.1.1 Diễn biến CPI 2002 - 2006 30 Biểu 2.2 2.1.1 Diễn biến CPI 2007 - 2008 31 Biểu 2.3 2.1.1 Diễn biến CPI 2009 - 2010 33
Bảng 2.1 2.1.1 Một số chỉ tiêu kinh tế giai đoạn 2002
59
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ
Trang 7MỞ ĐẦU
I Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Lạm phát luôn là vấn đề nhận được sự quan tâm, chú ý của các nhàhoạch định chính sách, các chuyên gia kinh tế và các tầng lớp nhân dân bởi nó
có ảnh hưởng đến việc điều hành các chính sách kinh tế vĩ mô, đến kế hoạch
và kết quả kinh doanh của các chủ thể kinh tế, đến mức sống và niềm tin củangười dân Tại nhiều nước phát triển, lạm phát được coi là vấn đề kinh tế - xãhội rất nghiêm trọng Khi một nền kinh tế có lạm phát ở mức độ cao sẽ dẫnđến sụt giảm tiết kiệm, đầu tư và các luồng vốn huy động từ nước ngoài.Ngoài ra, lạm phát sẽ làm giảm nhịp độ tăng trưởng kinh tế, khả năng thựchiện những kế hoạch dài hạn của quốc gia gặp khó khăn và tạo nên sự căngthẳng về chính trị và xã hội
Tại Việt Nam, lạm phát (chỉ số giá tiêu dùng) các năm biến động phứctạp
(năm 2002: 4%; năm 2003: 3%; năm 2004: 9,5%, năm 2005: 8,4%; năm 2006:6,6%; năm 2007: 12,63%, năm 2008: 19,89%, năm 2009: 6,52% và năm 2010:
II, 75%) Việc thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp để kiềm chế lạm phátđã
đem lại những kết quả khả quan trong những tháng cuối năm 2008 và năm2009
Năm 2010, lạm phát lại có xu hướng gia tăng đã cho thấy các chính sách kinhtế
vĩ mô kiểm soát lạm phát chưa thực sự hiệu quả và còn nhiều vấn đề cần giảiquyết
Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, việc gia nhập WTO vào năm
2006 của Việt Nam đã mở ra cơ hội để trao đổi, hợp tác quốc tế trong lĩnhvực ngân hàng, nâng cao năng lực và hiệu quả trong điều hành và thực thichính sách tiền tệ; đổi mới cơ chế kiểm soát tiền tệ, lãi suất, tỷ giá trên cơ
sở thị trường, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của thị trường tiền tệ; ápdụng các thông lệ tốt nhất trong quản trị ngân hàng, các chuẩn mực vềthông tin báo cáo tài chính, các tiêu chí trong phòng ngừa rủi ro và an toànhoạt động ngân hàng nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức trong điều hành
Trang 8Mặc dù vấn đề về lạm phát không là vấn đề mới mẻ nhưng luôn là vấnđề
và là mục tiêu kinh tế vĩ mô hàng đầu của mỗi quốc gia, nhất là đối với ViệtNam trong giai đoạn hiện nay để ổn định kinh tế mĩ mô Vì vậy, việc lựa chọn
nghiên cứu đề tài " Vấn đề lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Giải pháp kiềm chế và phòng ngừa " là cần thiết.
2 Mục đích nghiên cứu của Luận văn
- Làm rõ các vấn đề lý thuyết về lạm phát
- Phân tích thực trạng lạm phát của Việt Nam giai đoạn 2002-2010.Trên cơ sở đó Luận văn đã rút ra những kết quả đạt được, những hạn chế cầnkhắc phục và nguyên nhân của những tồn tại
- Đề xuất một hệ thống giải pháp và kiến nghị nhằm kiềm chế và phòngngừa lạm phát ở Việt Nam trong thời gian tới để thực hiện thành công Chiếnlược phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2011-2020
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn
Những vấn đề lý luận chung về lạm phát, thực trạng lạm phát và cácbiện pháp kiểm soát lạm phát của Việt Nam thời gian qua Trên cơ sở đó,Luận văn đề xuất một hệ thống giải pháp kiểm soát lạm phát của Việt Nam,góp phần thực hiện thành công Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở ViệtNam giai đoạn 2011 - 2020
4 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng và phương phápduy vật lịch sử làm cơ sở để nghiên cứu đề tài Ngoài ra, Luận văn còn sửdụng một số phương pháp khác nhau, như đi từ cái chung đến cái riêng, kếthợp lịch sử với lôgíc, thông qua nghiên cứu tài liệu, thực tiễn, kết hợp với cácphương pháp thống kê để tổng hợp phân tích và dự báo để rút ra kết luận
5 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, mục lục, danh mục các từ viết tắt, danh mục tàiliệu tham khảo và kết luận, Luận văn được kết cấu gồm 3 chương như sau:
Chương 1 : Một số vấn đề về lạm phát
Chương 2: Thực trạng lạm phát tại Việt Nam giai đoạn 2002 - 2010
Chương 3: Giải pháp kiềm chế và phòng ngừa lạm phát ở Việt Nam.
Trang 9CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LẠM PHÁT 1.1 Khái niệm lạm phát
Theo quan điểm của Mác: Lạm phát là sự tràn ngập trong lưu thông
một khối lượng tiền giấy quá thừa, dẫn đến sự mất giá của tiền giấy, dẫn đến
sự phân phối lại thu nhập quốc dân có lợi cho giai cấp thống trị và làm thiệthại quyền lợi của nhân dân lao động
Quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại, theo Paul Samuelson:
Lạm phát xảy ra khi mức chung về giá cả và chi phí thời kỳ này tăng lên sovới thời kỳ trước Điều này có nghĩa là: cứ khi mức giá chung tăng lên là cólạm phát Chẳng hạn như hàng tháng, khi cơ quan thống kê công bố mức giá
cả tháng này tăng bao nhiêu phần trăm (%) so với tháng trước, thì theoP.Samuelson tháng đó có lạm phát
Quan điểm của các nhà kinh tế học theo trường phái trọng tiền hiện đại, đứng đầu là Milton Friedman, đều cho rằng lạm phát không chỉ đơn
thuần là sự tăng lên của mức giá chung như Samuelson khẳng định mà nóphải là sự gia tăng liên tục kéo dài của mức giá chung Có nghĩa là: nếu mứcgiá chung chỉ tăng trong tháng này (có thể do tác động của tính mùa vụ nhưdịp Tết) và ngay lập tức giảm trong những tháng kế tiếp thì đó không phải làlạm phát, chỉ khi mức giá chung gia tăng liên tục trong nhiều tháng, nhiều
năm thì mới gọi là lạm phát Quan điểm này cũng được chia sẻ bởi John
Maynard Keynes.
Trong vài năm gần đây, một khái niệm mới được nhiều người nhắc đến
là “lạm phát cơ bản” Khái niệm này xuất phát từ thực tiễn rằng lạm phát chỉ
số giá tiêu dùng đôi khi biến động rất thất thường, nếu chính sách tiền tệ(CSTT) phản ứng với những biến động này có thể đem lại những hậu quảkhông tốt cho nền kinh tế Lạm phát cơ bản là lạm phát thể hiện sự thay đổigiá cả mang tính dài hạn, loại bỏ những biến động tạm thời, điều đó sẽ giúpcho CSTT phản ứng chính xác hơn với các biến động giá cả Do đó, thước đolạm phát cơ bản được tính bằng lạm phát chỉ số giá tiêu dùng loại trừ các yếu
Trang 10tố biến động tạm thời là năng lượng, lương thực Lạm phát cơ bản tăng chính
là chỉ báo rằng lạm phát dự kiến sẽ còn tăng trong dài hạn và khi đó CSTTcần phải ứng phó kịp thời để kiềm chế lạm phát
Khi định nghĩa lạm phát ta cũng cần quan tâm đến hai khái niệm tươngđối gần với lạm phát đó là giảm phát và thiểu phát Giảm phát là tình trạngmức giá chung của nền kinh tế giảm xuống liên tục Lạm phát và giảm phát làhai hiện tượng khác nhau trong sự vận động ngược chiều của giá cả, còn thiểuphát là sự giảm dần trong sự tăng của mức giá chung, tức là mức giá có tăngnhưng với mức độ chậm hơn Hiện tượng này được xem là một quá trìnhgiảm dần lạm phát do tác động tích cực của chính sách chống lạm phát củachính phủ, và trong một số trường hợp khác, thiểu phát là kết quả thuần túycủa các lực lượng thị trường
1.2 Đo lường lạm phát
Trong thực tế, có nhiều thước đo để đo lường biến động giá cả của cácquốc gia, hay chính là đo lường lạm phát như: Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giásản xuất (Production Price Index - PPI), chỉ số giảm phát GDP (GDPdeflator) nhưng chỉ số giá tiêu dùng vẫn được coi là thước đo phổ biến nhất
để đo lường lạm phát và được quan tâm nhiều nhất vì biến động chỉ số giátiêu dùng phản ánh biến động trong mức sống của người dân Do đó, khi nềnkinh tế có lạm phát có nghĩa là có sự gia tăng liên tục và kéo dài của chỉ sốgiá tiêu dùng
Vì sự thay đổi giá cả các hàng hóa và dịch vụ không đều nhau, có một
số mặt hàng giá tăng nhanh, một số khác tăng chậm, thậm chí có mặt hànggiảm giá, nên để đo lường sự thay đổi mức giá, việc tính mức giá bình quânthông qua các chỉ số giá được sử dụng:
1.2.1 Chỉ số giá tiêu dùng (CPI - Consumer Price Index)
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) được sử dụng một cách phổ biến trong việcđánh giá mức lạm phát CPI đo lường mức giá cả bình quân của một nhómhàng hoá và dịch vụ cần cho tiêu dùng của các hộ gia đình
Để xác định chỉ số giá tiêu dùng, người ta chọn ra một giỏ hàng hóa vàdịch vụ tiêu biểu cho cơ cấu tiêu dùng của các hộ gia đình trong một giai đoạn
Trang 11nhất định, đồng thời xác định mức độ quan trọng của từng hàng hóa và dịch
Tại Việt Nam, chỉ số giá tiêu dùng được tính căn cứ vào giỏ hàng hóa
và dịch vụ bao gồm 10 nhóm cấp I; 32 nhóm cấp II; 86 nhóm cấp III và 237nhóm cấp IV Cứ sau 5 năm, Tổng cục Thống kê lại thực hiện điều tra để điềuchỉnh quyền số cho giỏ hàng hóa
1.2.2 Chỉ số giảm phát tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
Chỉ số này đo lường mức giá bình quân của tất cả các hàng hóa và dịch
vụ tạo nên tổng sản phẩm quốc nội, được xác định theo công thức sau:
Trang 12/-K.∙ Λ _1,A+Λ1TΛΓ> GDP đanh nghĩa iλλo.
nó cũng không tính đến giá các hàng hóa nhập khẩu được tiêu dùng trong giỏhàng hóa CPI
1.2.3 Chỉ số lạm phát cơ bản
Thực tiễn nền kinh tế hiện đại ngày nay đã cho ra đời một loại chỉ sôlạm phát cũng sử dụng chỉ sô giá nhưng có thể khắc phục được những nhượcđiểm và phát huy được những ưu điểm của chỉ sô lạm phát truyền thông, đó làchỉ sô lạm phát cơ bản (core inflation) Loại chỉ sô lạm phát hiện đại này đãđược Ngân hàng Trung ương (NHTW) nhiều nước áp dụng trên cơ sở sử dụngchỉ sô giá cả CPI đã loại trừ hay giảm quyền sô truyền thông một sô yếu tônhư những mặt hàng mà giá cả có tính thay đổi thường xuyên, ít nhạy cảm vớicông cụ chính sách tiền tệ của NHTW như dầu mỏ hay lương thực
Tuy nhiên hiện nay việc sử dụng chỉ sô lạm phát cơ bản chưa được ứngdụng trên phạm vi rộng rãi, vẫn có những ý kiến khác nhau trong việc đồngthuận áp dụng chỉ sô này Trên thế giới, những nước khác nhau có những cáchloại bỏ những mặt hàng khác nhau khi điều chỉnh CPI, chẳng hạn loại bỏ lãisuất cầm cô như ở Anh, Tây Ban Nha và New-Zealand, loại bỏ thuế gián tiếp
ở Canada, Phần Lan và Cộng hòa Séc, loại bỏ trợ cấp chính phủ ở Phần Lan,ngoài ra còn có chi phí nhà ở, lương thực và một sô mặt hàng năng lượng tiêubiểu Ở Việt Nam, việc sử dụng chỉ sô lạm phát cơ bản vẫn đang ở trong giaiđoạn “thai nghén”, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đang bước đầu phôi hợpvới Tổng cục Thông kê để tính toán và đưa vào ứng dụng chỉ sô lạm phát cơbản với định hướng sử dụng chỉ sô này song song với chỉ sô lạm phát truyền
Trang 13thống nhằm đánh giá hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ khi không cónhững ảnh hưởng ngoài phạm vi của NHNN.
Hiện nay trên thế giới có nhiều phương pháp đo lường lạm phát cơ bảnphụ thuộc vào quan điểm cũng như điều kiện cụ thể của từng quốc gia Có thểphân chúng thành 3 nhóm cơ bản là phương pháp cơ học (phương pháp loạitrừ), phương pháp thống kê và phương pháp hồi quy
Lạm phát vừa phải (Moderate inflation) là loại lạm phát phổ biến, có tỷ
lệ dưới 10%, tồn tại thường xuyên trong hầu hết các nền kinh tế Không nhưnhững loại lạm phát khác, tác động tích cực của nó hầu như là lớn hơn nhiều
so với tác động tiêu cực
1.3.2 Lạm phát phi mã
Lạm phát phi mã là loại lạm phát mà mức độ giá chung tăng rất nhanh
từ hai con số đến ba con số, tức là trên 10%/năm đến dưới 100%/năm Tại đâyChính phủ phải có những biện pháp kịp thời và hiệu quả nếu không sẽ dẫnđến siêu lạm phát
1.3.3 Siêu lạm phát
Siêu lạm phát (Hyper inflation) là loại lạm phát trên 1.000%/năm haytheo định nghĩa của Cagan (1956) là trên 50%/tháng với đặc trưng đầu tiên làphá vỡ hoàn toàn hệ thống tài chính - tiền tệ Người dân sẽ thực sự sẵn sàngrời bỏ nội tệ để nắm giữ vàng, ngoại tệ, hàng hóa Đi kèm với nó là thấtnghiệp, suy thoái và bất ổn xã hội nghiêm trọng Lịch sử ghi nhận siêu lạmphát ở Hungary trong giai đoạn sau chiến tranh thế giới thứ II là loại siêu lạmphát cao nhất trong lịch sử, với tỉ lệ lạm phát là 4,19x1016, nghĩa là giá cảtăng gấp đôi mỗi 15 giờ đồng hồ, gây thiệt hại 40% tài sản của Hungary
Trang 14Ngoài việc phân loại lạm phát làm 3 loại chính như trên, các nhà hoạchchính sách, các nhà kinh tế học cũng thường lấy các nguyên nhân, thời gianhoặc hiện tượng lạm phát, phân tích rõ hơn vấn đề của lạm phát để tìm ra cáchđiều trị lạm phát phù hợp, như: căn cứ theo khả năng kiểm soát lạm phát, cólạm phát cân bằng có thể dự tính được và lạm phát không cân bằng, không thể
dự tính được; căn cứ vào tỷ lệ lạm phát và độ dài thời gian, có lạm phát kinhniên, lạm phát nghiêm trọng và siêu lạm phát; căn cứ vào quá trình bộc lộhiện hình lạm phát, có lạm phát ngầm và lạm phát công khai; căn cứ vàonguyên nhân, có lạm phát do cầu kéo, do chi phí đẩy hay do tâm lý
Ta có thể thấy rằng có rất nhiều cách phân chia lạm phát tùy thuộc cácquan điểm khác nhau, quan niệm về thông số lạm phát chỉ mang tính tươngđối vì thế khó có thể đơn thuần chỉ dựa vào một chỉ số lạm phát để đưa ra kếtluận nó thuộc loại lạm phát nào bởi người ta còn dựa vào ảnh hưởng của tốc
độ tăng giá tới sự phát triển kinh tế xã hội, tới các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô cầnđạt được, đây mới là những căn cứ mang tính thực tiễn cao nhất
1.4 Các nguyên nhân và yếu tố làm gia tăng lạm phát
1.4.1 Các nguyên nhân làm gia tăng lạm phát
1.4.1.1 Lạm phát do cầu kéo
Milton Friedman - một nhà kinh tế học thuộc trường phái trọng tiền đãtừng đưa ra ý kiến nổi tiếng “lạm phát bao giờ và ở đâu cũng là một hiệntượng tiền tệ ” Ông ước định rằng nguồn gốc của mọi lạm phát là tỷ lệ tăngtrưởng cao của cung ứng tiền tệ Các nhà kinh tế học theo trường phái tiền tệkhác cũng tin rằng không có bất kỳ một nguyên nhân nào khác ngoài việctăng cung tiền kéo dài gây nên sự tăng giá cả Nhưng nguyên nhân gì gây nênlạm phát thì chúng ta sẽ đi vào phân tích tổng cầu và tổng cung để thấy rõnguồn gốc căn bản và cơ chế truyền dẫn lạm phát bằng lý thuyết về lạm phátcầu kéo và chi phí đẩy
Những nhà kinh tế học thuộc trường phái Keynes chỉ ra rằng nguyênnhân gần như trực tiếp gây ra lạm phát chủ yếu là do tổng cung và tổng cầu,việc giải thích lạm phát do tổng cung và tổng cầu được mô tả như sau (Hình1.1)
Trang 15Trong trường hợp này, lạm phát do cầu kéo, khi cầu của người tiêudùng, hãng kinh doanh và của Chính phủ tăng sẽ kéo đường tổng cầu dịchchuyển về bên phải, xác lập điểm cân bằng mới P2 và tại đó giá cả hàng hóanói chung tăng lên và phát sinh lạm phát.
Các nhà trọng tiền nhấn mạnh vai trò tiền tệ là nguyên nhân chủ yếucủa lạm phát cầu kéo, họ giả thiết rằng đường tổng cung là cố định, nền kinh
tế luôn luôn ở mức sản lượng tiềm năng và nếu cung tiền tăng lên sẽ làm tăngcầu về hàng hóa và dịch vụ nhưng cung không thể tăng do nền kinh tế đã ởmức toàn dụng, kết quả cuối cùng là giá tăng cùng với tốc độ tăng cung tiền
và lạm phát thực sự xảy ra
Nhưng J.M Keynes lại không cho rằng nền kinh tế luôn ở mức toàndụng nhân công, bởi vì trước khi có toàn dụng nhân công thì mọi khoản tài trợlàm tăng cầu xã hội không những là cần thiết để tăng tổng cầu, tăng sản lượng
và công ăn việc làm mà còn chưa gây lạm phát, hay chỉ tạo ra lạm phát lànhmạnh Nhưng khi tổng cầu, sản lượng và công ăn việc làm tăng hơn nữa, quy
Trang 16luật thu nhập giảm dần và sự khan hiếm nguồn lực bắt đầu phát huy tác dụng,giá cả bắt đầu tăng lên, sự tăng giá này là lạm phát ngầm.
Nếu cung tiền vượt quá mức toàn dụng nhân công, sản lượng khôngtăng và giá tăng cùng với mức tăng cung tiền Theo Keynes đây mới là lạmphát thực sự, nhưng ông cho rằng lạm phát trong giai đoạn toàn dụng nhâncông là có ích vì nó cứu vãn nền kinh tế khỏi suy thoái và thất nghiệp
Keynes còn cho rằng lạm phát cầu kéo là quốc sách và chủ trương lạmphát để tăng đầu tư cho nền kinh tế, và tạo ra cầu dư thừa là động lực pháttriển cho nền kinh tế
1.4.1.2 Lạm phát do chi phí đẩy
Trong trường hợp này đường cung dịch chuyển sang trái do chi phí sảnxuất tăng nhanh hơn năng suất lao động, chi phí ở đây chủ yếu là lương côngnhân và giá các yếu tố đầu vào như dầu lửa, nguyên vật liệu, khi ấy các doanhnghiệp sẽ đối phó lại bằng cách tăng giá cả hàng Iioa, đẩy đường AS1 sangđường AS2 khiến cho giả cả hình thành điểm cân bằng mới tại điểm P2, làmcho giá cả tăng lên và phát sinh lạm phát, đồng thời khiến cho sản lượng giảm
từ Q1 về Q2 Khi đó, Chính phủ theo đuổi mục tiêu công ăn việc làm cao sẽtác động để đẩy đường AD1 sang phải AD2 để giữ cho sản lượng và thấtnghiệp ở mức tiềm năng và lạm phát xuất hiện càng mạnh tại P3 dù sản lượngkhông tăng (Hình 1.2)
Hình 1.2 Lạm phát do chi phí đẩy
Q 1 Q 2
Trang 17Như vậy, nếu như lạm phát cầu kéo xuất hiện do cầu vượt cung khi nềnkinh tế đi tới hoặc vượt quá mức sản lượng tiềm năng, có sự toàn dụng nhâncông và máy móc thì lạm phát phí đẩy lại phát sinh ngay cả khi tài nguyêncòn chưa sử dụng hết, lạm phát phí đẩy được coi là hiện tượng mới ở nhữngnước đang phát triển và khó đối phó nhất hiện nay.
Tuy nhiên, một số nhà kinh tế lại không chấp nhận việc tách biệt lạmphát cầu kéo và chi phí đẩy, họ cho rằng quá trình lạm phát thực sự chứa đựngnhân tố ở cả hai phía, nhân tố dư cầu và nhân tố chi phí đẩy hoạt động đồngthời và độc lập trong một quá trình lạm phát Do đó lạm phát kết hợp cả cầukéo và phí đẩy khi mức giá thay đổi do do sự chuyển dịch lên trên của cả haihàm tổng cầu và tổng cung Ngoài ra, giữa lạm phát cầu kéo và chi phí đẩycòn tồn tại mối quan hệ tuyến tính, tăng giá do cầu kéo dẫn đến tăng giá dochi phí đẩy mà cụ thể là: nếu tổng cầu về hàng hóa - dịch vụ tăng lên, sẽ dẫnđến mở rộng sản xuất của các doanh nghiệp làm cho nhu cầu về nguyên vậtliệu tăng lên khiến chi phí sản xuất tăng lên, giá thành hàng hóa tăng lên, lạmphát xảy ra
Ở trên là cách giải thích trực tiếp về lạm phát vì nó nêu lên nhữngnguyên nhân trực tiếp dẫn đến lạm phát Trong khi những trường phái kháclại đi xa hơn nghiên cứu những điều kiện mà trong đó lạm phát xảy ra Đó là
lý thuyết của các nhà cơ cấu và các nhà tiền tệ
Cuối cùng thì dù xuất phát từ những quan điểm kinh tế khác nhau đểphân tích nguyên nhân gây lạm phát thì các nhà kinh tế đều thừa nhận lạmphát xảy ra khi tổng cầu vượt quá tổng cung về hàng hóa và dịch vụ Sau đâyxin tổng kết những nhân tố tác động đến tổng cầu và tổng cung
a) Nhóm các nhân tố tác động đến tổng cầu
- Tăng cung tiền: Lạm phát gây ra bởi tăng cung tiền dẫn đến tăng tổngcầu Các nhà trọng tiền không tin rằng lạm phát chỉ thực sự bắt đầu khi nềnkinh tế đạt được mức toàn dụng nhân công, đây là quan điểm có tính thực tếđược minh chứng bằng tỷ lệ lạm phát cao và tỷ lệ thất nghiệp cao song hànhcùng nhau trong nền kinh tế của nhiều nước
Trang 18Khi mở rộng tín dụng sẽ làm tăng cung tiền do đó dẫn đến tăng cầu tiền
và làm tăng cầu về hàng hóa, dịch vụ Nó cũng làm tăng thu nhập bằng tiềncủa người đi vay và làm tăng tổng cầu tương đối so với tổng cung
- Tăng thu nhập khả dụng: Khi thu nhập khả dụng của dân chúng tănglên thì có xu hướng gia tăng nhu cầu về hàng hóa, dịch vụ và lúc này tổng cầugia tăng Thu nhập khả dụng tỷ lệ thuận với thu nhập quốc dân và tỷ lệ nghịchvới thuế
- Tăng chi tiêu công cộng: Chi tiêu công cộng là chi tiêu của Chính phủcho những nhu cầu phúc lợi xã hội, chi tiêu này tăng làm gia tăng đáng kể chotổng cầu Hiện nay, tại hầu hết các quốc gia đều có xu hướng gia tăng cáckhoản chi tiêu này lên nhằm nâng cao cơ sở hạ tầng và chất lượng cuộc sống
- Tăng tiêu dùng: Khi tiêu dùng cá nhân tăng lên sẽ làm tăng tổng cầu
về hàng hóa, dịch vụ Họ tiêu dùng nhiều hơn khi suy giảm động cơ dựphòng, an tâm về tương lai, khi họ được cấp những khoản tín dụng mua hàngtrả góp
- Mở rộng khu vực kinh tế tư nhân: Đây là nguyên nhân làm tăng đầu tư
về hàng hóa, dịch vụ, tăng thu nhập cho công nhân dẫn đến tăng tiêu dùng của
họ về hàng hóa và dịch vụ Trong khi lượng tăng cung tương ứng lại diễn rachậm hơn
- Tăng hàng xuất khẩu: Khi cầu về hàng hóa sản xuất trong nước tănglên ở nước ngoài sẽ làm tăng thu nhập của các ngành sản xuất hàng xuất khẩu
và làm tăng tổng cầu cho nền kinh tế
- Tiền bất hợp pháp: Nguồn tiền này có từ buôn lậu, trốn thuế, thamnhũng và các hoạt động phi pháp khác Các khoản tiền này được chi xa xỉ dẫnđến lượng cầu không cần thiết về hàng hóa, dịch vụ trong nền kinh tế
b) Nhóm các nhân tố ảnh hưởng đến tổng cung
- Thiếu các yếu tố sản xuất: Khi doanh nghiệp khan hiếm yếu tố sảnxuất hoăc ràng buộc về năng lực tài chính sẽ dẫn đến giảm khả năng sản xuất,kết quả là đường tổng cung dịch sang trái và phát sinh lạm phát
Trang 19- Các nhân tố khách quan: Các nhân tố khách quan như tai họa thiênnhiên, dịch bệnh cũng là những nhân tố có ảnh hưởng xấu đến việc cungứng sản phẩm cho nền kinh tế dẫn đến thiếu hàng hóa, dịch vụ gia tăng lạmphát.
- Tích trữ và đầu cơ: Sự khan hiếm giả tạo này làm lượng cung hànghóa giảm đi gây nên lạm phát
- Những hiện tượng như bãi công, đình công: Nhân tố này diễn ra ởnhiều nước có tổ chức công đoàn hiệu quả nhằm gây áp lực tăng lương sẽ gâynên sản xuất đình đốn, giảm lượng cung hàng hóa Nếu phương pháp nàythành công sẽ dẫn đến việc tăng lương, tăng chi phí sản xuất làm đường tổngcung dịch chuyển sang trái
- Độc quyền: Sự độc quyền về một loại hàng hóa nào đó có thể dẫn đếnhiện tượng giảm cung hàng hóa nhằm mục đích gia tăng lợi nhuận biên chonhà độc quyền
- Theo đuổi lợi nhuận trước mắt: Ám chỉ hiện tượng nhà sản xuất theođuổi việc sản xuất những mặt hàng cao cấp hoặc thấp cấp mà bỏ qua việc sảnxuất những mặt hàng thiết yếu dẫn đến thiếu hàng hóa tiêu dùng gây nên lạmphát
- Ảnh hưởng của quy luật thu nhập giảm dần: Quy luật này phát huy tácdụng khi doanh nghiệp thêm vào ngày càng nhiều những đầu vào biến đổi chomột đơn vị đầu vào cố định làm cho năng suất lao động giảm, giá thành sảnxuất tăng lên, giá sản phẩm tăng lên
- Nhân tố quốc tế: Việc lan truyền ảnh hưởng của nhân tố này xảy ravới những nguyên liệu chính cho mọi quốc gia như dầu mỏ, khí đốt, thép.Với xu hướng những quốc gia công nghiệp lớn hay những quốc gia có sở hữunhững tài nguyên này ảnh hưởng sang những nước có giao dịch với họ, khinhững hàng hóa này tăng giá sẽ khiến cho hàng hóa của các quốc gia kháccũng tăng theo
1.4.2 Các yếu tố làm gia tăng lạm phát
Thực tế cũng đã chứng minh, ảnh hưởng của lạm phát đến sự phát triểnkinh tế không hoàn toàn giống nhau, nó phụ thuộc vào từng mức độ Khi lạmphát ở mức độ vừa phải, nó sẽ thúc đẩy sản xuất, làm giảm tỷ lệ thất nghiệp
và tạo điều kiện cho Chính phủ có thêm thu nhập Mặt khác, sẽ rất bất lợi và
Trang 20Bản chất của lạm phát là hiện tượng mất giá trị của đồng tiền, nói cáchkhác, đồng tiền không còn nguyên đủ giá trị, giảm sức mua so với hàng hoácủa một đơn vị tiền tệ dẫn đến hệ quả mất cân đối trong lưu thông tiền tệ.Hiện tượng lạm phát ngày nay có thể xuất phát từ rất nhiều yếu tố: từ trongnước đến quốc tế, từ tình hình kinh tế đến chính trị, từ thâm hụt ngân sách đến
sự thất bại của thị trường tài chính Từ quan điểm nghiên cứu các yếu tố gây
ảnh hưởng và làm gia tăng quá trình lạm phát, có thể hệ thống các yếu tố cơ
bản ảnh hưởng đến lạm phát như sau (Hình 1.3).
5 Tình trạng bãi công
Với sơ đồ mô tả tại hình 1.3, chúng ta có thể phân tích, nhận diện rõhơn các yếu tố dẫn đến quá trình gia tăng của lạm phát, phân loại nguyênnhân dựa trên gốc rễ xuất phát của các yếu tố: từ tiền tệ hay phi tiền tệ, từkinh tế hay tâm lý hoặc chính trị, từ trong nước hay quốc tế để có những giảipháp xử lý thích hợp
Như chúng ta đều biết, lạm phát là hệ quả của sự mất cân đối giữa tổngkhối lượng hàng và tổng khối lượng tiền, vì vậy, chính sách chống lạm phát
Trang 21(hiệu quả) đối với các
dự án thuộc NSNN
tối đa chi tiêu Nhà nước
phải dựa trên việc điều hành song song tổng khối lượng tiền, hàng Điều nàychỉ có thể thành công khi có mối tương hỗ chặt chẽ của hai chính sách cơ bảnnhất: chính sách tiền tệ và chính sách tài chính Một mặt, NHNN thông quakhối lượng tiền cung cứng có thể ảnh hưởng đến chính sách hoạt động (chínhsách huy động vốn và tín dụng) của các ngân hàng thương mại (NHTM), gâyảnh hưởng gián tiếp đến cung ứng tín dụng của các NHTM và nhu cầu tíndụng của các chủ thể kinh tế khác Mặt khác, một chính sách tài khoá hợp lý
sẽ thúc đẩy phát triển sản xuất và có thể bão hoà thị trường hàng hoá nội địa.Như vậy, một mặt điều hành tổng lượng tiền, mặt khác điều hành cung ứnghàng hoá cộng với việc quản lý tốt việc hình thành giá và có một chính sáchthương mại hợp lý có thể sẽ mang lại hiệu quả cao trong việc điều chỉnh chốnglạm phát Mô hình điều chỉnh chống lạm phát được trình bày tại Hình 1.4
Hình 1.4 Mô hình điều chỉnh chống lạm phát
▼ Tổng khối lượng hàng Tổng khối lượng tiền
Nghiệp
vụ thị trường mở
Tái cấp vốn
Nghiệp
vụ tái chiết khấu
Nghiệp vụ tiền gửi
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc
Mục tiêu cuối cùng - Kiềm chế lạm phát và tăng trưởng kinh tế
-► Ảnh hưởng trực tiếp
Trang 22► Ảnh hưởng gián tiếp
1.4.2.1 Lạm phát do mất cân đối trong cơ cấu kinh tế
Lạm phát trong trường hợp này xuất phát từ nguyên nhân chí phí đẩy doviệc xác định cơ cấu nền kinh tế không hợp lý bởi ý chí chủ quan hoặc kháchquan của Chính phủ trong quá trình phát triển nền kinh tế nội địa không dựatrên tiềm năng lợi thế của đất nước Ví dụ như trong giai đoạn chuyển đổi cơcấu nền kinh tế, do ý chí chủ quan của Chính phủ muốn đẩy mạnh phát triểnmột ngành công nghiệp nào đó trong một giai đoạn ngắn đã dồn phần lớnnguồn lực của nền kinh tế đó Điều này dẫn đến toàn bộ chi phí về nguyên vậtliệu, công nghệ, nhân công thuộc ngành công nghiệp đó gia tăng đột biến dosức cầu bỗng nhiên tăng dữ dội Ngoài ra, việc phát triển càng bất cân đối sẽkhiến cho giá cả hàng hóa phục vụ nhu cầu thiết yếu cuộc sống của một sốngành lĩnh vực khác cũng gia tăng bởi sản lượng sụt giảm vì thiếu nguồn lựccho chúng do đã có sự dịch chuyển đáng kể sang ngành công nghiệp cần pháttriển Kết quả là, giá cả hàng hóa sẽ càng gia tăng nếu sự bất cân đối cơ cấunền kinh tế này càng lớn và kéo dài Đây chính là nguyên nhân dẫn đến lạmphát gia tăng trong nền kinh tế
1.4.2.2 Lạm phát do xuất khẩu
Trong trường hợp này, giả thiết khi tổng lượng hàng hóa xuất khẩu tăngdẫn tới tổng cầu trên thì nội địa cũng tăng, đến một lúc nào đó hoạt động xuấtkhẩu tăng mạnh sẽ dẫn đến hai khả năng: (i) tổng cầu nội địa cao hơn tổngcung hoặc sản phẩm được huy động cho xuất khẩu khiến lượng cung sảnphẩm trên thị trường trong nước giảm (làm cho AD > AS) Hệ quả của quátrình này sẽ khiến cho hàng hóa bắt đầu tăng giá, nếu không có một chínhsách tỷ giá hợp lý sẽ làm cho mức độ lạm phát dần trở nên nan giải, trầmtrọng và tác động ngược lại đến hoạt động xuất khẩu của chính quốc gia đó
1.4.2.3 Lạm phát do nhập khẩu
Ngược lại với nguyên nhân của lạm phát từ hoạt động xuất khẩu, nếuhoạt động nhập khẩu không phù hợp với thực tiễn của nền kinh tế đi kèmchính sách tỷ giá không hợp lý cũng được coi là nguyên ngân gián tiếp gâynên lạm phát Bởi do sản phẩm, hàng hóa không tự sản xuất được trong nước
mà phải tìm kiếm hỗ trợ từ hoạt động nhập khẩu Khi giá nhập khẩu tăng (do
Trang 23nhà cung cấp nước ngoài tăng giá như OPEC quyết định tăng giá dầu, hay dođồng tiền trong nước xuống giá) thì giá bán sản phẩm đó trong nước cũngtăng Lạm phát hình thành khi mức giá chung bị giá nhập khẩu đội lên Đáng
lo ngại hơn đối với trường hợp này là nhập khẩu lạm phát và muốn kéo mức
độ lạm phát về mức độ chấp nhận được phải chấp nhận tổng sản lượng sụtgiảm Nói cách khác, lạm phát từ nguyên nhân này nhiều khi khiến Chính phủcác nước đứng trong tình huống tiến thoái lưỡng nan
1.4.2.4 Lạm phát tiền tệ
Một nguyên nhân được xem như cốt lõi, sâu xa nhất gây áp lực cho lạmphát là hiện tượng cung tiền lưu thông quá mức của cơ quan điều hành CSTTkhiến cho lượng tiền trong lưu thông (NHTW mua ngoại tệ vào để giữ chođồng tiền ngoại tệ khỏi mất giá so với trong nước, mua công trái theo yêu cầucủa nhà nước) tăng vượt quá nhu cầu, năng lực sản xuất của nền kinh tế nộiđịa Dễ hiểu hơn, lạm phát chính là hệ quả của việc bất cân đối tiền - hàngtrong nền kinh tế
1.4.2.5 Lạm phát do tâm lý
Tâm lý là nguyên nhân của lạm phát khó xử lý đối với mọi quốc giathời kỳ chớm có lạm phát phát sinh, bởi lẽ khi nhận thấy có dấu hiệu lạm phátnếu năng lực điều hành tiền tệ của NHTW hạn chế sẽ tác động đến tâm lý củacông chúng sẽ không tin vào khả năng điều hành của Chính phủ và dẫn đếnviệc công chúng sẽ dự tính giá cả hàng hóa sẽ rơi vào vòng xoáy tăng giá, làmcho tổng cầu trở nên cao hơn tổng cung Cuối cùng, gây ra lạm phát cho nềnkinh tế cho dù thực trạng không đến nỗi trầm trọng như dự tính của côngchúng
Tại bất cứ quốc gia nào, chính sách tiền tệ của NHTW đều ít nhiều phụthuộc vào sự điều hành của Chính phủ Vì vậy, niềm tin của các doanh nghiệp
và dân chúng vào Chính phủ sẽ tạo thêm sự vững chắc cho lưu thông tiền tệ
Để gây dựng tâm lý, niềm tin tốt vào đồng nội tệ trước hết cần phải có một sựphát triển vững chắc về kinh tế, ổn định về chính trị Chính phủ cần khắc phụctối đa mọi khủng hoảng về kinh tế cũng như chính trị của đất nước Ngoài ra,
để gây dựng được niềm tin của công chúng, góp phần đưa đến thành công thìviệc học hỏi, tiếp thu kinh nghiệm của thế giới trong việc nâng cao tính
Trang 24chuyên nghiệp trong khâu quản lý, trong cơ cấu điều hành nền kinh tế thịtrường, kiểm soát lạm phát và tranh thủ các phương tiện thông tin đại chúngcũng đóng vai trò không nhỏ.
Như vậy, có nhiều nguyên nhân, yếu tố làm gia tăng quá trình lạm pháttrong nền kinh tế, từ yếu tố tiền tệ đến yếu tố tâm lý, từ yếu tố trong nước đếnyếu tố bên ngoài, từ yếu tố kinh tế đến yếu tố chính trị, hay từ thâm hụt ngânsách đến sự sụp đổ của thị trường tài chính, Do vậy, một khi nền kinh tế rơivào vòng xoáy gia tăng sẽ gây nên nhiều tranh cãi về nguyên nhân của nó,nhưng mọi ý kiến đều thống nhất rằng bản chất của lạm phát là hiện tượngmất giá trị của đồng tiền Nói cách khác, đồng tiền không còn giữ nguyên giátrị vốn có so với hàng hóa, là hệ quả của mất cân đối tiền - hàng trong nềnkinh tế
1.5 Tác động của lạm phát đến nền kinh tế
Về phương diện lý thuyết, nếu lạm phát ở mức có thể dự đoán được thì
đa số các hệ quả tiêu cực là có thể tránh được Còn nếu lạm phát là không thể
dự đoán được thì hậu quả sẽ ghê gớm và khó có thể lường hết trước được.Tuy nhiên, lạm phát không phải lúc nào cũng là một tai họa đối với mọingười, bởi nhiều khi nếu lạm phát ở mức độ vừa phải sẽ mang lại lợi ích chonền kinh tế, nó sẽ giúp cho nền kinh tế có khả năng thoát khỏi tình trạng suythoái cũng như tạo sự thay đổi cần thiết vừa phải cho hàng hoá từ phươngdiện nâng cao chất lượng sản phẩm Sau đây chúng ta sẽ đề cập đến nhữngtích cực và hạn chế của lạm phát đối với nền kinh tế
1.5.1 Tác động tích cực của lạm phát đến nền kinh tế
Không phải bao giờ lạm phát cũng gây ra những tác hại to lớn, thậm chínếu lạm phát ở mức hợp lý sẽ tốt cho nền kinh tế Với tốc độ lạm phát vừaphải (thường từ 2% đến dưới 5%/năm ở những nước phát triển, dưới10%/năm ở những nước kém phát triển) và bằng việc “chỉ số hoá” lạm phátcùng các kỹ thuật thích ứng khác, người ta nhận thấy lạm phát có thể đem lạimột số lợi ích sau:
- Lạm phát tựa như dầu mỡ giúp “bôi trơn” nền kinh tế Trong điều kiệnnào đó, có thể thông qua lạm phát từ 2% - 4%/năm để bỏ ngỏ khả năng cónhững lãi suất thực âm, do đó giảm bớt thất nghiệp xã hội, kích thích tăng
Trang 25trưởng kinh tế.
- Cho phép các Chính phủ có thêm khả năng lựa chọn các công cụ kíchthích đầu tư vào những lĩnh vực kém ưu tiên thông qua mở rộng tín dụng vàtài trợ lạm phát, giúp phân phối lại thu nhập và các nguồn lực xã hội theo cácđịnh hướng mục tiêu và trong khoảng thời gian nhất định có chọn lọc Tuynhiên, cần khẳng định, đây là một công việc khó, đầy mạo hiểm, nếu không
đủ thực lực và bản lĩnh làm chủ được “công nghệ điều tiết” lạm phát sẽ gây rahậu quả nghiêm trọng, thậm chí trái ngược với mục tiêu đề ra
Như vậy, là căn bệnh “mãn tính” của nền kinh tế thị trường, lạm phát có
cả tác hại lẫn ích lợi Nếu một nước nào đó có thể duy trì, kiềm chế được mứclạm phát vừa phải phù hợp và có lợi cho thúc đẩy tăng trưởng kinh tế củamình, thì ở đó lạm phát không còn là căn bệnh nguy hiểm đối với nền kinh tếnữa Khi đó, lạm phát trở thành công cụ điều tiết kinh tế khá đắc dụng Ngượclại, lạm phát phi mã hay siêu lạm phát, không thể dự đoán và điều tiết được đãgây tác hại rõ rệt cho nền kinh tế và trở thành căn bệnh hiểm nghèo cần điềutrị tích cực và đúng cách
1.5.2 Tác động tiêu cực của lạm phát đến nền kinh tế
1.5.2.1 Tác động đến tính hiệu quả của nền kinh tế
- Lạm phát làm biến dạng cơ cấu đầu tư: Lạm phát khuyến khích cácdoanh nghiệp đầu tư vào những lĩnh vực đầu tư có thời gian thu hồi vốn ngắn
do e ngại rủi ro và nhường phần còn lại cho Nhà nước Ngoài ra lạm phátcũng khuyến khích nhà đầu tư nước ngoài rút vốn về do e ngại tính hiệu quảcủa nguồn vốn trong một môi trường không an toàn Tác động này làm giảmtính hiệu quả sử dụng các nguồn lực của nền kinh tế trong dài hạn
- Lạm phát làm suy yếu thị trường vốn: Nếu lạm phát lên cao làm cholãi suất thực của các khoản tín dụng giảm xuống, thậm chí là thực âm, điềunày khiến cho khả năng huy động vốn của các tổ chức giảm xuống, khả năngcung cấp vốn cho nền kinh tế cũng giảm theo, làm cho đầu tư sụt giảm, sảnlượng giảm, thất nghiệp tăng
- Lạm phát làm sai lệch tín hiệu giá: Trong nền kinh tế thị trường, giá cả
là tín hiệu quan trọng nhất của thị trường Lạm phát làm giá cả tăng cao, bóp
Trang 26méo tín hiệu giá, tạo nên những kỳ vọng ảo tưởng cho nền kinh tế và giảmtính hiệu quả những quyết định mua bán.
- Lạm phát làm phát sinh chi phí điều chỉnh giá và lãng phí thời gian:Một thực tế không thể chối cãi là khi đối mặt với lạm phát cao sẽ làm phátsinh chi phí điều chỉnh giá và lãng phí thời gian của Chính phủ cho việc đốiphó với tình trạng tăng giá của tiền tệ Đó là chi phí cho việc báo giá, sửa giá,sửa thực đơn , đi kèm với nó là thời gian cho việc đến ngân hàng rút tiền vàđiều chỉnh kế hoạch
- Lạm phát làm giảm sức cạnh tranh với nước ngoài: Tác động nàyđược thực hiện thông qua việc tăng tỷ giá hối đoái, làm giảm sức mua củađồng tiền, khuyến khích nhập khẩu và gây bất lợi đối với xuất khẩu và nềnsản xuất trong nước Nói chung lạm phát làm giảm tính cạnh tranh của nềnkinh tế
1.5.2.2 Tác động đến nghèo đói và phân phối thu nhập
Tác động này của lạm phát đặt cơ sở trên khả năng ảnh hưởng của nótới giá trị thực tế của tài sản:
Lãi suất thực tế = lãi suất danh nghĩa - tỷ lệ lạm phát
- Phân phối lại giữa người đi vay và người cho vay: Khi trong nền kinh
tế xảy ra lạm phát nếu lạm phát là dự kiến được thì của cải có xu hướngchuyển từ tay người đi vay đến người cho vay, người cho vay có lợi hơn, nếumức lạm phát là không dự kiến được thì của cải có xu hướng chuyển từ tayngười cho vay sang người đi vay, người cho vay sẽ bị thiệt hơn vì họ sẽ đượcnhận về một khối lượng tiền không tăng mà thậm chí sức mua bé hơn cả lúcđầu
- Phân phối lại giữa người hưởng lương và người trả lương: Lạm phátxảy ra làm tiền lương thực tế của người lao động giảm xuống cho dù tiềnlương danh nghĩa có thể tăng lên tuyệt đối Bởi mức tăng của tiền lương luônchậm và thường nhỏ hơn mức độ tăng giá, điều này làm cho mức sống củangười lao động giảm xuống vì của cải có xu hướng chạy từ tay người hưởnglương sang người trả lương
- Phân phối lại giữa người mua và người bán: Nếu hàng hóa mua bán làtài sản tài chính như những loại trái phiếu có lãi suất thường cố định thì phần
Trang 27thiệt thòi thuộc về người nắm giữ những tài sản này vì mức lạm phát đã đẩylãi suất thực của những tài sản này xuống Nếu hàng hóa mua bán là tài sảnthực hoặc là tiền mặt thì với mức lãi suất tính trước và lạm phát dự kiến thấphơn thì người bán tài sản luôn bị thiệt thòi kể cả là bán trả góp Phần thiệt từtay người bán chuyển đến tay người mua.
- Phân phối lại giữa Chính phủ và dân chúng: Trong trường hợp xảy ralạm phát thì phần thiệt thòi thường nghiêng về phía công chúng vì họ cho nhànước vay một lượng lớn tài sản tài chính với lãi suất ấn định trước trong mộtthời gian khá dài từ 1 đến 5 năm chủ yếu là trái phiếu chỉnh phủ, công trái Thứ hai là các khoản chi trả cho công chúng như tiền lương và trợ cấp thường
ấn định trước trong một thời gian dài, nếu có thay đổi thì cũng không theo kịpmức độ lạm phát Thứ ba là thu nhập của chính phủ từ các loại thuế lũy tiếnnhư thuế thu nhập và thuế tiêu thụ đặc biệt sẽ tăng lên do lạm phát đội mứcgiá của hàng hóa và thu nhập danh nghĩa của người lao động lên
Nói chung lạm phát không dự kiến được có xu hướng chuyển của cải từtay người cho vay sang người đi vay và nếu lạm phát giảm xuống không dựkiến được thì có xu hướng ngược lại Tuy nhiên, lạm phát chỉ có tác dụng xáotrộn tài sản trong xã hội, phân phối lại thu nhập giữa các nhóm dân cư mộtcách ngẫu nhiên, nhưng nó không gây thiệt thòi đáng kể với riêng một nhómnào vì trong xã hội mỗi nhóm luôn vừa là người mua lại vừa là người bán
1.5.2.3 Tác động đến tình trạng cán cân thanh toán quốc tế
Nếu tỉ lệ lạm phát trong nước cao hơn tỉ lệ làm phát nước bạn hàng thìgiá hàng xuất khẩu trong nước tăng lên, trong khi giá hàng xuất khẩu củanước ngoài lại trở nên rẻ đi, thúc đẩy hoạt động nhập khẩu, làm xấu đi tìnhtrạng của tài khoản vãng lai, gây áp lực đối với tỉ giá Tỉ lệ lạm phát cao cùngvới bội chi tài khoản vãng lai có thể tạo nên tâm lý trông đợi một sự giảm giácủa đồng nội tệ so với ngoại tệ, tạo nên áp lực mạnh hơn đối với tỉ giá
1.6 Kinh nghiệm kiềm chế lạm phát tại một số nước trên thế giới Bài học đối với Việt Nam
1.6.1 Kinh nghiệm kiềm chế lạm phát tại một số nước trên thế giới
Do lạm phát có nguyên nhân sâu xa từ việc gia tăng cung tiền đối vớinền kinh tế nên các biện pháp mang tính dài hạn đều tập trung vào việc xây cơ
Trang 28cấu kinh tế hợp lý, thực thi CSTT hiệu quả và chính sách tài khóa (CSTK)bền vững Trong giải pháp CSTT, việc lựa chọn điều tiết cung tiền và tỷ giácũng đem lại những thành công chống lạm phát trong nhiều thập kỷ qua Tuynhiên thập kỷ cuối thế kỷ 20, nhóm 7 nước kinh tế cấp tiến (New Zealand,Canada, Phần Lan, Thụy Điển, Anh, Úc, Tây Ban Nha) đã không điều hànhCSTT theo phương pháp truyền thống mà điều hành CSTT theo cách tiếp cậnmới là hướng tới mục tiêu lạm phát ổn định ở mức hợp lý để đối phó vớinhững khó khăn mà họ mắc phải trong chống lạm phát bằng phương pháptruyền thống Việc chuyển sang thực hiện khuôn khổ lạm phát mục tiêu đòihỏi phải thay đổi cấu trúc nền kinh tế, như: tính độc lập của NHTW trongthực thi CSTT; Hiệu quả và tính minh bạch trong điều hành CSTT; cơ chếđiều hành tỷ giá (chuyển sang thả nổi hoàn toàn); mức độ lành mạnh của hệthống tài chính - ngân hàng; năng lực dự báo lạm phát; uy tín và khả năngthực thi áp dụng lạm phát mục tiêu của NHTW; CSTK bền vững, mà cácChính phủ hướng tới là giảm thâm hụt, chấm dứt sử dụng tiền phát hành bùđắp cho hoạt động ngân sách; xây dựng một chính sách thuế hợp lý đảm bảokhuyến khích mọi thành phần kinh tế trong nước phát triển; mức chi tiêuthường xuyên không vượt quá xa mức thu từ thuế; cơ cấu chi tiêu của Chínhphủ hợp lý, hiệu quả
Các giải pháp mang tính ngắn hạn đối phó với từng trường hợp cụ thểthì được ứng dụng rất đa dạng ở các quốc gia khác nhau, do quy mô và mức
độ lạm phát của mỗi nước phụ thuộc vào cấu trúc rổ hàng hoá tiêu dùng, chế
độ tỷ giá, phản ứng chính sách và uy tín của cơ quan tiền tệ, do đó việc sửdụng CSTT thắt chặt hay CSTK thắt chặt có đem lại thành công hay không vàthành công ở mức độ nào lại cũng phụ thuộc chủ yếu vào các nhân tố này.Hơn nữa, nhận thức được rằng việc giảm lạm phát là rất tốn chi phí và có thểgây tổn thương cho nền kinh tế, đặc biệt là người dân lao động, trên thực tiễn,các Chính phủ luôn cố gắng cân bằng giữa việc chống lạm phát và giảm thiểunhững tác động tiêu cực của việc chống lạm phát đến đời sống nhân dân Do
đó, bên cạnh CSTT và CSTK, các chính sách kinh tế vĩ mô cũng được ápdụng phổ biến như chính sách tỷ giá, nâng cao uy tín của cơ quan tiền tệ, cácbiện pháp hành chính về tăng cường lưu thông hàng hoá, chống đầu cơ, cáchành vi vi phạm về giá cả, đồng thời thực hiện các giải pháp hỗ trợ chi phí
Trang 29cuộc sống cho dân chúng.
Trong năm 2007, giá dầu và giá lương thực thực phẩm tăng cao đã tácđộng làm lạm phát gia tăng ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt từ nửa cuốinăm 2007 Để ổn định lạm phát, CSTT và CSTK cùng với các giải pháp nhằmđẩy mạnh lưu thông hàng hoá đã được áp dụng tại nhiều quốc gia, xin điểm rađây một số quốc gia (Biểu đồ 1.5)
Biểu đồ 1.5 Diễn biến lạm phát của một số nước từ 12/2005 - 12/2007
Nguồn: Tổng cục Thống kê [1.6.1]
a) Tại Liên bang Nga:
Năm 2007, tỉ lệ lạm phát bình quân ở Nga là 8,7%, trong đó lạm pháttháng 12/2007 đã lên đến 11,9% Để kiểm soát giá cả, đặc biệt là giá lươngthực tăng vọt, ngay từ đầu năm 2007, Chính phủ Nga đã đưa ra hàng loạt cácbiện pháp:
- Thắt chặt CSTT thông qua tăng lãi suất, kiểm soát việc lưu thônglượng tiền lớn quá lớn;
- Chính sách tài khoá: tăng thuế xuất khẩu lúa, hạt mạch từ 0-10-30%;giảm thuế nhập khẩu các mặt hàng như sữa, rau quả, dầu ăn từ 15% xuống5%, đồng thời xóa bỏ những hạn chế việc nhập khẩu thịt hộp đến từ Trun gQuốc, Mỹ và Brazil;
- Các giải pháp khác như tung ra thị trường 1,5 triệu tấn lương thực dựtrữ nhằm giảm bớt áp lực tăng giá lương thực; trực tiếp can thiệp về giá cả,thông qua việc chính phủ thỏa hiệp giá cả hàng hóa với các hãng sản xuất,
Trang 30kinh doanh hàng hóa lớn trong nước đồng thời hỗ trợ tài chính cho các doanhnghiệp liên quan; tấn công các hành vi vi phạm giá cả, sử dụng biện pháptrừng phạt kinh tế và sử lý hành chính với các doanh nghiệp vi phạm việcnâng giá; tăng lương hưu cơ bản và tuyên bố vào nửa cuối năm 2008 tiếp tụctăng lương để giải quyết khó khăn trong sinh hoạt của người hưu trí.
b) Tại Hàn Quốc
Lạm phát bình quân của Hàn Quốc năm 2007 là 2,5%, phá kỷ lục kể từ
5 năm trở lại đây, trong đó lạm phát tháng 12/2007 đạt 3,61% Chính phủ đưa
ra mục tiêu bình ổn giá tiêu dùng và hỗ trợ các gia đình có thu nhập thấp bằngcác giải pháp như:
- Chính sách tiền tệ: 2 lần tăng lãi suất;
- Chính sách tài khoá: miễn, giảm một số dòng thuế tiêu thụ và nhậpkhẩu; tiến hành hỗ trợ trên 1,0 tỷ USD cho nông dân vay vốn ưu đãi nhằmtăng mức cung lương thực và thực phẩm; giảm 50% mức phí giao thông vậntải trên các tuyến đường cao tốc trong một số giờ, sử dụng ngân sách chínhphủ giúp giảm bớt áp lực của các doanh nghiệp vừa và nhỏ;
- Biện pháp khác: Thành lập Ủy ban chống tăng giá và chống đầu cơ;giảm giá điện sinh hoạt và duy trì cho đến năm 2010; tiết kiệm sử dụng nănglượng của Chính phủ, cải cách màng lưới phân phối và dịch vụ, giảm phí dịch
vụ y tế, viễn thông
c) Tại Thái Lan
Lạm phát bình quân năm 2007 đạt 2,2%, mặc dù thấp hơn năm 2006(4,7%) nhưng có xu hướng tăng trở lại trong nửa cuối năm 2007, đến tháng12/2007 đã đạt 3,2% Mặc dù chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá đượcgiữ tương đối ổn định từ nửa cuối năm 2007 và trong những tháng đầu năm
2008 nhằm hạn chế tác động tiêu cực đến nền kinh tế vốn đang phải đối mặtvới các khó khăn về chính trị, nhưng chính phủ Thái Lan đã thực hiện nhữngbiện pháp nhằm góp phần ổn định giá cả như: đưa 4 mặt hàng lương thực,rượu, sữa, bình ắc-quy vào danh sách những mặt hàng bắt buộc chịu sự quản
lý về sản xuất, kinh doanh, bất cứ hành vi tăng giá những mặt hàng này đềuphải được sự cho phép của Bộ Thương mại; Thực hiện kế hoạch "lá cờ xanh”(Blue Flag) yêu cầu các hãng cung ứng hàng hóa phải đưa ra thị trường các
Trang 31loại thực phẩm và đồ đi kèm với sự tiện lợi về dịch vụ giao hàng và giá phải
rẻ hơn những cửa hàng thông thường; tấn công các hành vi vi phạm giá báncủa hàng hóa và bất cứ ai đầu cơ tích trữ, căn cứ vào luật pháp để phạt tiền rấtcao, nếu nghiêm trọng có thể phải chịu trách nhiệm hình sự
d) Tại Trung Quốc
Lạm phát bình quân năm 2007 ở mức 4,8% - mức cao nhất trong vònghơn 10 năm qua chủ yếu do tăng trưởng nóng Để chống lạm phát, Chính phủchủ trương ưu tiên thực hiện các biện pháp:
- Chính sách tiền tệ thắt chặt với 6 lần tăng lãi suất, 10 lần tăng dự trữbắt buộc nhưng với mức tăng không lớn để thị trường tiền tệ không bị sốccũng như không gây khó khăn cho hoạt động ngân hàng, đồng thời thực hiệnhút tiền từ lưu thông về qua phát hành tín phiếu NHTW; kiềm chế cho vayvào thị trường bất động sản thông qua quy định tăng mức đặt cọc khi vay tiềnmua ngôi nhà thứ hai;
- Chính sách tài khoá: tăng thuế xuất khẩu một số nguyên liệu sản xuấtnhư thép, phân bón; giảm mạnh thuế thu nhập đối với lãi tiết kiệm từ 20%xuống còn 5,0%;
- Chính sách tỷ giá: nới rộng biên độ tỷ giá từ +/-3% lên +/-5% nhằmtạo điều kiện để CNY tăng giá mạnh hơn;
- Chính sách khác: tăng lương tối thiểu, tăng cường xử phạt các hành viđầu cơ hàng hoá
1.6.2 Bài học đối với Việt Nam
Từ những kinh nghiệm của các nước, chúng ta rút ra một số bài học choViệt Nam như sau:
a) Lạm phát ở mức cao liên tục trong những năm qua có một nguyênnhân căn bản là chiến lược phát triển kinh tế và cơ cấu của nền kinh tế chưahợp lý dẫn tới tăng trưởng kinh tế chủ yếu theo chiều rộng dựa vào tăng đầu
tư và khai thác tài nguyên, chất lượng tăng trưởng, năng suất, hiệu quả, sứccạnh tranh của nền kinh tế thấp, các cân đối kinh tế vĩ mô chưa vững chắc Để
ổn định kinh tế vĩ mô, chủ động kiểm soát lạm phát ở mức thấp thì nhữngnăm tới cần đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển
Trang 32đổi mô hình tăng trưởng chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triểnhợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô, vừa chú trọngnâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững Theo đó các chính sách kinh tế
vĩ mô cần phối hợp hài hòa để đạt mức tăng trưởng hợp lý trong trung hạn,duy trì ổn định kinh tế vĩ mô làm tiền đề cho tăng trưởng cao, bền vững trongdài hạn
b) Để kiểm soát lạm phát có hiệu quả, cần sự phối hợp đồng bộ, nhịpnhàng giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ Trong những năm qua,khi lạm phát tăng cao, chính sách tiền tệ thắt chặt luôn được Chính phủ và dưluận quan tâm và được coi là biện pháp hàng đầu trong cuộc chiến chống lạmphát, chính sách tài khóa đóng vai trò rất quan trọng trong điều tiết tổng cầucủa nền kinh tế qua đó tác động tới lạm phát thì chưa được quan tâm đúngmức Khi NHNN thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt để kiểm soát lạm phát,chính sách tài khóa không được điều chỉnh theo hướng thắt chặt sẽ tác độngtới hiệu quả của chính sách tiền tệ, đồng thời khiến cho lạm phát tiếp tục giatăng, ảnh hưởng tới lòng tin của công chúng đối với vai trò điều tiết kinh tế vĩ
mô của Chính phủ
c) Lạm phát của Việt Nam có nguyên nhân từ cơ cấu của nền kinh tếchưa hợp lý, cần từng bước thực hiện các giải pháp để giảm dần lạm phát kếthợp với thực hiện cơ cấu nền kinh tế Việc thực hiện đột ngột các biện phápthắt chặt chính sách tiền tệ quá mạnh để giảm lạm phát tức thời có thể cónhững tác động không thuận lợi tới nền kinh tế như giảm tiền lương (co hẹpthu nhập, mức sống của dân chúng) hoặc tăng tỷ lệ thất nghiệp Nếu tình hìnhkéo dài và không có giải pháp thoát khỏi có thể dẫn đến những bất ổn về kinh
tế vĩ mô, thậm chí là sự ổn định chính trị Do vậy, khi lạm phát cao ở mức 2hoặc 3 con số/năm cần được kiểm soát theo hướng kiềm chế giảm dần trongmột quá trình, việc thắt chặt các chính sách tài chính, chính sách tiền tệ haychính sách thu nhập phải được hỗ trợ bằng các biện pháp kiểm soát giá
d) Không nên phá giá quá mạnh vì việc phá giá quá mạnh sẽ dẫn đếnviệc giảm tiền lương (thu nhập dân chúng) thực tế xuống mức quá thấp và rất
dễ rơi vào vòng xoáy gia tăng lạm phát nhập khẩu (nhập khẩu nhiên liệu).Việc gia tăng lạm phát lúc này lại đòi hỏi các chính sách thắt chặt Các chínhsách thắt chặt như lãi luất cao thường không đánh vào các doanh nghiệp nhà
Trang 33nước (chỉ làm tăng sự nợ nần dây dưa giữa các doanh nghiệp) mà nó đánh vàokhu vực kinh tế tư nhân và các doanh nghiệp nhỏ cũng như khu vực nôngnghiệp và gây hại cho sự phát triển của các khu vực này Do đó, việc thựchiện các biện pháp kinh tế vĩ mô để kiểm soát lạm phát nên triển khai cùngvới các biện pháp hỗ trợ cho khu vực dễ bị tổn thương như khu vực nôngnghiệp nông thôn, doanh nghiệp nhỏ và vừa, xuất khẩu.
e) Việc cắt giảm tiền lương thực tế sẽ dẫn đến giảm tổng cầu, qua đó gâyảnh hưởng đến mức sản xuất của nền kinh tế Qua đó, mức đầu tư trong tìnhtrạng này sẽ thường ở mức rất thấp do thiếu chính sách khuyến khích đầu tư,bất ổn trong môi trường kinh doanh Ngoài ra, việc cắt giảm này sẽ làm chothu nhập dân chúng giảm và sẽ khiến tỉ lệ tiết kiệm thấp đi, cùng với đó sẽ là
sự thâm nhập quá lớn của hàng nhập khẩu vào giỏ hàng hóa tiêu dùng của các
hộ gia đình (đây là kết quả của tự do ngoại thương) Bài học rút ra từ tìnhtrạng này là Việt Nam không nên thực hiện cắt giảm tiền lương quá mức vàđồng thời phá giá quá mạnh
f) Các nước nên ổn định lạm phát hoặc cán cân thanh toán, sau đó điềuchỉnh theo hướng tăng sản lượng cân bằng Trong thực tế, hai lĩnh vực phatrộn lẫn nhau: giảm lạm phát có thể không thực hiện được trừ khi và cho đếnkhi sản lượng bắt đầu tăng lên, trong khi phản ứng cung rất yếu trong môitrường bất ổn về tương lai do mất cân đối kinh tế vĩ mô
g) Kinh nghiệm của các nước đang phát triển cho thấy nền kinh tế thànhcông cần tiếp cận nhiều với nguồn ngoại hối (từ sự giúp đỡ của bên ngoài, từxuất khẩu hoặc đi vay ) Tuy nhiên, các nguồn vốn bên ngoài chảy mạnhvào đến lượt nó sẽ làm tăng cầu hoặc ảnh hưởng tới thu nhập gây áp lực lạmphát Do vậy, cần hiểu rằng ngoại tệ không phải là điều kiện đủ cho tăngtrưởng Quan trọng hơn là làm thế nào để chuyển các nguồn ngoại tệ đó vàomột motor cho tăng trưởng sản lượng Để đạt được mục tiêu này, chính phủphải cải tổ khu vực DNNN và tạo điều kiện cho khu vực tư nhân phát triển,khuyến khích họ tiết kiệm, đầu tư và hấp thụ công nghệ mới
h) Yếu tố quan trọng là phải có một chính phủ mạnh, có uy tín với dânchúng, với các chủ thể tham gia thị trường Ngoài ra, Chính phủ phải có khảnăng hoạch định chính sách tốt và hợp lý, điều hành một cách hiệu quả, và để
Trang 34đạt được sự ổn định tiền tệ, NHTW phải được nâng tính độc lập trong việcđiều hành CSTT và ngăn chặn việc tiền tệ hóa thâm hụt NSNN.
****************************
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 của Luận văn tập trung vào việc đã đưa ra một số lý luận cơbản nhất về lạm phát Theo đó, lạm phát có nhiều mức độ, cách đo lường vàxuất phát từ nhiều nguyên nhân, yếu tố khác nhau, từ nguyên nhân do cầu kéođến nguyên nhân do chi phí đẩy; từ nguyên nhân tâm lý đến nguyên nhânkinh tế hoặc chính trị; từ yếu tố trong nước đến yếu tố nước ngoài; từ công tácđiều hành CSTT đến điều hành CSTK, Dù xuất phát từ nguyên nhân, yếu tốnào thì lạm phát cũng là hệ quả của việc mất cân đối khối lượng tiền - hàng vàtác động của nó cũng gây ảnh hưởng rất lớn đến đời sống, kinh tế, chính trịcủa xã hội Nó làm giảm nhịp độ tăng trưởng trong dài hạn và hiệu quả củanền kinh tế trong ngắn hạn, giảm sức cạnh tranh của nền kinh tế, tác động đếnđói nghèo và phân phối thu nhập của dân chúng, đặc biệt nó có thể làm xóimòn niềm tin của công chúng đối với khả năng điều hành của cơ quan quản
lý Nhà nước
Trên cơ sở lý luận đó, Chương 2 của Luận văn sẽ kết hợp với nhữngdiễn biến lạm phát tại Việt Nam trong giai đoạn 2002 - 2010 để đi sâu vàophân tích thực trạng lạm phát, các biện pháp kiểm soát lạm phát của ViệtNam, qua đó đánh giá việc thực thi các biện pháp đã thực hiện trong thời gianqua
Trang 35-CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2002 - 2010 2.1 Thực trạng lạm phát của Việt Nam giai đoạn 2002 - 2010
2.1.1 Diễn biến mức độ lạm phát của Việt Nam giai đoạn 2002 - 2010
Trong những năm qua, tình hình lạm phát ở Việt Nam có những biếnđộng phức tạp, tỉ lệ lạm phát không ổn định, tăng giảm thất thường qua cácnăm, cụ thể:
Bảng 2.1 Một số chỉ số kinh tế giai đoạn 2002 - 2010
Đơn vị: %
Nguồn: Tổng cục Thống kê [2.1.1]
a) Giai đoạn 2002-2006Giai đoạn 2002-2006 là giai đoạn lạm phát được kiểm soát ở mức vừaphải, có xen kẽ lạm phát cao vào năm 2004 với mức lạm phát là 9,5% Thậtvậy, năm 2002 đã chấm dứt thời kỳ giảm phát, lạm phát ở mức 4% năm 2002
và 3% năm 2003, tốc độ tăng trưởng GDP là 7,08% năm 2002 và 7,34% năm2003
Đến năm 2004 thì chỉ số giá tiêu dùng tăng đột biến 9,5%, vượt xa dựkiến đầu năm, cao hơn chỉ tiêu 5% Quốc hội đề ra Tuy nhiên, mức tăng chỉ
số giá tiêu dùng có xu hướng giảm dần qua các quý của năm 2004 Mức tăngchỉ số giá tiêu dùng bình quân theo tháng trong Quý 1 là 1,63%/tháng, Quý 2
là 0,73%/tháng, Quý 3 là 0,47%/tháng, Quý 4 là 0,27%/tháng
Năm 2005 là năm có tỷ lệ lạm phát lên tới 8,4%, thấp hơn mức 9,5%của tháng 12 năm 2004, tuy nhiên vẫn cao hơn mục tiêu Quốc hội đặt ra chonăm 2005 là 6,5%, chỉ số giá của tất cả các nhóm hàng hoá đều tăng và lạm
Trang 36phát nhóm phi lương thực thực phẩm tăng 6,4%, cao hơn nhiều so với mứctăng 4,7% của năm 2004.
Năm 2006, mức tăng chỉ số giá tiêu dùng giảm xuống còn 6,6% so vớimức 8,4% của năm 2005, lạm phát bình quân giảm xuống còn 7,4% so vớimức 8,3% của năm 2005
Biểu 2.1 Chỉ số giá tiêu dùng giai đoạn 2002-2006
Nguồn: Tổng cục Thống kê [2.1.1]
Trong giai đoạn 2002-2006, lạm phát bình quân được kiểm soát ở mứcvừa phải 6,3%/năm, đây là mức lạm phát khá hợp lý để tạo điều kiện cho tăngtrưởng kinh tế Để có thể kiểm soát được lạm phát ở mức một con số này, tốc
độ tăng M2 bình quân giai đoạn này được duy trì ở mức 27,07%/năm, bội chiNgân sách Nhà nước/GDP bình quân năm được giữ ở mức 4,88% Do cóđược tỷ lệ lạm phát ở mức vừa phải, tăng trưởng kinh tế GDP giai đoạn 2002-
2006 bình quân đạt 7,78%/năm, tỷ lệ nhập siêu so với xuất khẩu được giữ ởmức 17,44%/năm Như vậy có thể thấy, tỷ lệ lạm phát là một trong nhữngđiều kiện tiên quyết để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô
b) Giai đoạn 2007 - 2008
Giai đoạn 2007 - 2008 là giai đoạn tỷ lệ lạm phát có sự gia tăng độtbiến và đạt ở mức cao Năm 2007, lạm phát vượt xa ngưỡng hai chữ số với
Trang 3712,63%, cao hơn mức 6,6% của năm 2006, lạm phát bình quân cũng tăng từ7,45% lên 8,3%.
Biểu 2.2 Chỉ số giá tiêu dùng giai đoạn 2007-2008 CPI SO vái tháng trước nấm 2007,2008
và CPI loại trừ Lương thực thực phẩm đều có mức tăng cao hơn cùng kỳ
Năm 2008 lạm phát tiếp tục tăng mạnh, bình quân tăng 22,97% Trong
đó, nhóm Lương thực, thực phẩm đều tăng mạnh so với năm 2007, tương ứng
từ 1,52% lên 4,26% và từ 5,33% lên 6,69% Theo đó, nhóm LTTP đã có tácđộng lớn đến mức tăng của lạm phát
Trong giai đoạn 2007-2008, lạm phát bình quân đã có sự gia tăng độtbiến và đứng ở mức cao 16,26%/năm Điều đáng chú ý là trong giai đoạn này,lạm phát liên tục trong 2 năm liền đều đứng ở mức 2 con số, nó cho thấy lạmphát tại Việt Nam đã có dấu hiệu chưa được kiểm soát tốt Lạm phát liên tụcđứng ở mức cao đã tác động rõ rệt đến tăng trưởng kinh tế, trong giai đoạnnày tăng trưởng kinh tế GDP bình quân chỉ đạt 7,39%/năm, đây mặc dù vẫn là
Trang 383 9 5
I Hàng ăn và dịch vụ
ăn uống 2.73 1.34 7.47 5.19 3.39 8.11 13.6
5 2,48 6,461- Lương thực 0.34 0.38 1.87 1.02 1.39 1.52 4.26 0,74 1,47
0.20 0.59 0.92 0.36 0.66 0.59 1,13 0,33VIII Bưu chính viễn
thông _ 0.00 0.00 0.00 0.00
0.05 -0.06 -0.25 -0,09 0,16-
0.05 0.08 0.10 0.13 0.06 0.37 0,08 0,20
và bội chi Ngân sách Nhà nước gây áp lực cho sự gia tăng lạm phát của giaiđọan này Việc tăng M2 (46,12%) và bội chi ngân sách/GDP (6%) trong năm
2007 được xem là nguyên nhân tác động và khiến cho tỷ lệ lạm phát của ViệtNam trong năm ngay đó, năm 2008 là 19,89%, đây là mức cao nhất trong 10năm qua
Bảng 2.2 Mức tăng của các nhóm hàng trong lạm phát CPI
Đơn vị: %
Nguồn: Tổng cục Thống kê [2.1.1]
Trang 39c) Giai đoạn 2009 - 2010
Giai đoạn 2009 - 2010 là giai đoạn lạm phát có những biến động thấtthường Lạm phát năm 2009 ở mức thấp, so với đầu năm đạt 6,52% (2008:19,89%); bình quân đạt 9,13% (so với mức 16,26% của giai đoạn 2007 -2008) là do các biện pháp chống lạm phát cao trong các năm 2007 - 2008 đãphát huy tác dụng
Biểu 2.3 Chỉ số giá tiêu dùng giai đoạn 2009-2010 CPI SO với tháng truức năm 2009, 2010
Trong giai đoạn 2009 - 2010, lạm phát bình quân đã có giảm sút đáng
Trang 40Lương tối thiểu chung 450 540 650 730
DNNN (theo 3 vùng) 450 540-620 690-800 730-980
DN FDI (theo 3 vùng) 710-870 800-1000 920-1.200 1000-1.340
kể, đạt mức 9,13%/năm so với mức bình quân 16,26%/năm của giai đọan2007-2008 Để có được thành quả này, có thể thấy các chính sách kiểm soátlạm phát đã được thực thi đúng đắn và phát huy tác dụng Điều này có thểđược chứng minh, so với giai đọan 2007 - 2008 thì giai đoạn này tốc độ tăngM2 đã được kiểm soát đáng kể, giảm từ 33,22%/năm xuống còn 29,4%/năm.Tuy nhiên, việc vừa tập trung vào kiểm soát đồng thời khuyến khích cầu trongnước do chịu tác động của cuộc khủng hoảng thế giới tại Mỹ trong năm 2008tăng trưởng kinh tế GDP trong giai đoạn này cũng đã giảm rõ rệt, từ mức bình7,39%/năm trong giai đoạn 2007-2008 xuống còn 6,05%/năm trong giai đoạnnày Đây cũng được xem là trong những vẫn đề cần lưu ý cho diễn biến cholạm phát trong năm 2011 và giai đoạn tiếp theo
2.1.2 Các nguyên nhân, yếu tố cơ bản của lạm phát Việt Nam giai đoạn từ năm 2002 - 2010
Nguyên nhân gây ra lạm phát thời kỳ này chủ yếu là do cầu kéo, ch i phíđẩy và các yếu tố khác như luồng vốn nước ngoài vào Việt Nam tăng mạnh,đặc biệt sau khi Việt Nam gia nhập WTO, hiệu quả sử dụng vốn chưa cao, doyếu tố tâm lý
2.1.2.1 Nguyên nhân do cầu kéo
Do chi tiêu dùng của các hộ gia đình tăng: Từ đầu năm 2003 đến nay,
qua nhiều lần tăng lương đồng loạt trong khối cán bộ công chức Nhà nướchưởng lương từ ngân sách, lĩnh vực kinh tế cổ phần, tư nhân, tác dụng làmtăng quỹ mua của xã hội
Bảng 2.3 Mức điều chỉnh tăng lương tối thiểu 2007 - 2010
Đơn vị: 1000đ
Nguồn: http://www.chinhphu.gov.vn [2.1.2]